Nội dung chính: - Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của phương pháp tiếp cận hệ thống; - Nghiên cứu thực trạng dạy học các môn Kỹ thuật công nghiệp; - Xây dựng quy trình giảng dạy các
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
Tên đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình giảng dạy các môn kỹ thuật công nghiệp theo định hướng tiếp cận hệ thống”.
Chủ nhiệm đề tài: LÊ THỊ QUỲNH TRANG _ Tel.: 0982310379; E-mail:
lq
u y n htra n g @ gmail.c o m
Trang 2DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ
ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1 NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Họ và tên Đơn vị công tác và lĩnh vực chuyên môn
GS.TSKH Nguyễn Văn Hộ Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái
Nguyên
PGS.TS Nguyễn Trọng Khanh Khoa Sư phạm kỹ thuật - Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội
CN Nguyễn Thị Kim Chung Phòng QLKH & QHQT - Trường Đại học Kỹ
thuật công nghiệp, Đại học Thái Nguyên
Trang 3THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7
MỞ ĐẦU 13
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 13
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 16
3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 16
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 16
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 16
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
7 DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 17
CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP 18
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 18
1.1.1 Một số vấn đề về khoa học hệ thống 18
1.1.1.1 Khái niệm về hệ thống 18
1.1.1.2 Những thành phần cơ bản của hệ thống 19
1.1.1.3 Tính chất của hệ thống 21
1.1.1.4 Đặc điểm của hệ thống 22
1.1.1.5 Quy trình của phương pháp phân tích hệ thống 23
1.1.1.6 Khái niệm tiếp cận hệ thống 23
1.1.1.7 Phân loại hệ thống 26
1.1.1.8 Tầm quan trọng của vận dụng lý thuyết hệ thống trong thiết kế bài học môn học Kỹ thuật điện đại cương 28
1.1.2 Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống 29
1.1.2.1 Mục đích dạy học 29
1.1.2.2 Nội dung dạy học 29
1.1.2.3 Phương pháp và phương tiện dạy học 30
1.1.2.4 Thầy giáo và hoạt động dạy, sinh viên và hoạt động học 31
1.1.2.5 Kết quả dạy học 32
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 33
Trang 41.2.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học 33
1.2.1.2 Sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học 34
1.2.1.3 Phân loại các phương pháp dạy học 35
1.2.2 Lý thuyết về phương pháp dạy học hiện đại 36
1.2.2.1 Quá trình nhận thức của sinh viên 36
1.2.2.2 Thực trạng về dạy và học trong hệ thống Đại học Việt nam 36
1.2.2.3 Dạy học đại học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm 39
1.2.2.4 Bài học và cấu trúc bài học 42
1.2.2.5 Bài giảng và cấu trúc bài giảng 45
CHƯƠNG 2 - XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC MÔN KỸ THUẬT ĐIỆN ĐẠI CƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG 46
2.1 PHÂN TÍCH CHUNG VỀ MÔN HỌC KỸ THUẬT ĐIỆN ĐẠI CƯƠNG 46 2.1.1 Mục tiêu của học phần 46
2.1.2 Cấu trúc nội dung chương trình môn học 47
2.1.3 Đặc điểm nội dung môn học 51
2.1.3.1 Tính cụ thể và trừu tượng 51
2.1.3.2 Tính tổng hợp và tính tích hợp 51
2.1.3.3 Tính ứng dụng - thực tiễn 52
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn trong dạy học môn Kỹ thuật điện đại cương tại trường đại học kỹ thuật công nghệp Thái Nguyên 52
2.1.5 Phương tiện dạy học và việc sử dụng phương tiện dạy học trong dạy học Kỹ thuật điện đại cương 54
2.2 XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC MÔN KỸ THUẬT ĐIỆN ĐẠI CƯƠNG THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG 56
2.2.1 Lựa chọn phương pháp dạy học 56
2.2.2 Quy trình dạy học theo phương pháp tiếp cận hệ thống 57
2.3 MỘT SỐ VÍ DỤ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG VIỆC XÂY DỰNG CẤU TRÚC NỘI DUNG BÀI DẠY MÔN KỸ THUẬT ĐIỆN ĐẠI CƯƠNG .59
CHƯƠNG 3 - THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 82
Trang 53.1.1 Mục đích 82
3.1.2 Đối tượng thực nghiệm 82
3.2.NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.2.1 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 82
3.2.2 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm 84
3.2.2.1 Đánh giá định tính 84
3.2.2.2 Đánh giá định lượng 85
3.3 PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN GIA 93
3.1.1 Đánh giá định tính 93
3.2.2 Đánh giá định lượng 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 1 99
PHỤ LỤC 2 102 BẢN SAO THUYẾT MINH ĐỀ TÀI SẢN
PHẨM CỦA ĐỀ TÀI.
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 6Bảng 1.1: So sánh quan điểm dạy học lấy người dạy làm trung tâm và
Trang
quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm 36Bảng 3.1: Kết quả điểm của 3 lần kiểm tra trong thực nghiệm 82Bảng 3.2: So sánh kết quả ở hai nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng qua
các lần kiểm tra trong quá trình thực nghiệm sư phạm 83Bảng 3.3: Phân loại trình độ sinh viên qua các lần kiểm tra trong quá
trình thực nghiệm 83Bảng 3.4: Kết quả điểm kiểm tra sau thực nghiệm 84Biểu đồ 1: So sánh kết quả kiểm tra trong thực nghiệm của hai nhóm lớp
thực nghiệm và đối chứng 84Bảng 3.5: So sánh kết quả ở hai nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng qua
lần kiểm tra sau thực nghiệm sư phạm 85Bảng 3.6: Phân loại trình độ sinh viên qua lần kiểm tra sau thực
nghiệm 85Biểu đồ 2: So sánh kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của hai nhóm lớp
thực nghiệm và đối chứng 85
Trang 7Hình 1.1 - Sắp xếp không gian 22
Hình 1.2 - Sắp xếp dạng cành 22
Sơ đồ 2.1 - Cấu trúc nội dung môn học 44
Hình 2.1 - Quy trình vận dụng phương pháp phân tích hệ thống trong dạy học 54
Hình 2.2 - Cấu tạo máy biến áp 61
Sơ đồ 2.2 - Cấu trúc bài dạy “Cấu tạo và nguyên lý làm việc của máy biến áp” 63
Hình 2.3 - Các bộ phận của máy điện 70
Hình 2.4 - Stato động cơ điện một chiều 73
Hình 2.5 - Rôto động cơ điện một chiều 74
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 8Mã số: B2009-TN-08
Chủ nhiệm đề tài: LÊ THỊ QUỲNH TRANG _ Tel.: 0982310379; E-mail:
lq
u y n htra n g @ gmail.c o m
Cơ quan chủ trì đề tài: Đại học Thái Nguyên
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện: Trường ĐH Kỹ thuật công nghiệp
Thời gian thực hiện: Tháng 5/2009 – 5/2011
1 Mục tiêu:
- Nghiên cứu, xây dựng quy trình giảng dạy theo hướng tiếp cận hệ thống trongdạy học các môn kỹ thuật công nghiệp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của quátrình dạy học
- Vận dụng quy trình dạy học theo phương pháp tiếp cận hệ thống để thiết kếnội dung một số bài dạy môn học Kỹ thuật điện đại cương
2 Nội dung chính:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của phương pháp tiếp cận hệ thống;
- Nghiên cứu thực trạng dạy học các môn Kỹ thuật công nghiệp;
- Xây dựng quy trình giảng dạy các môn Kỹ thuật theo hướng tiếp cận hệ thống;
- Vận dụng quy trình giảng dạy theo hướng tiếp cận hệ thống để thiết kế nội dungmột số bài dạy môn học Kỹ thuật điện đại cương;
- Tổ chức kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả, chất lượng các bài giảng biên soạntheo quy trình đã xuất
3 Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế - xã hội,
v.v )
Sản phẩm khoa học:
- 02 bài báo khoa học đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học
Trang 9+ “Một số kỹ năng thiết kế bài học theo lý thuyết nhận thức linh hoạt”, tạp chíKhoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên , số 3, năm 2009, tr 113-118;
Tóm tắt: Bài báo trình bày một số kỹ năng thiết kế bài học theo lý thuyết nhậnthức linh hoạt nhằm phát huy tốt vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viêntrong quá trình dạy học
+ “Phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên trong quá trình thảo luậntheo hướng tiếp cận hệ thống”, tạp chí Khoa học và Công nghệ - Đại học Thái Nguyên ,
số 5, năm 2010, tr 140-144;
Tóm tắt: Đổi mới phương pháp dạy học là một nhiệm vụ cấp bách củangành giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai Đổi mới phươngpháp dạy học được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau Một trong nhữnghướng nghiên cứu nhằm đổi mới phương pháp dạy học đó là vận dụng phương pháptiếp cận hệ thống Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học thảo luận nói riêng làmthế nào để phát triển được kỹ năng giải quyết vấn đề cho sinh viên theo hướng tiếpcận hệ thống là vấn đề mà nhiều giáo viên quan tâm Để thực hiện được điều đó,trong dạy học thảo luận người giáo viên không chỉ chuẩn bị tốt nội dung thảo luận vàhướng dẫn sinh viên chuẩn bị thảo luận mà còn phải điều khiển được quá trình thảoluận Bài bào này sẽ đề cập đến vấn đề nêu trên
- 01 bài báo cáo tại Hội thảo: “Nâng cao năng lực đào tạo giáo viên kỹ thuậttại các trường, khoa Sư phạm kỹ thuật đáp ứng nhu cầu xã hội”, Trường đại học Sưphạm Hà Nội, tháng 11/2010, tr 188-193;
Tóm tắt: Để hoạt động nhận thức của sinh viên có hiệu quả, người giáo viêncần phải tích cực hoá hoạt động nhận thức Một trong các giải pháp là đổi mới phươngpháp dạy học Bài báo cáo đề xuất vận dụng phương pháp dạy học tích cực như:hướng dẫn sinh viên tự học, tự nghiên cứu bài học, đọc tài liệu phục vụ cho mônhọc, phương pháp thảo luận trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng họatđộng nhận thức cho sinh viên
Trang 10- Hướng dẫn 01 đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên: SV2010-41 “Nghiên cứu đềxuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học các môn kỹ thuật công nghiệp”,nghiệm thu tháng 10/2010, đạt loại giỏi.
Ngày 01 tháng 3 năm 2011
Cơ quan chủ trì Chủ nhiệm đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)
Lê Thị Quỳnh Trang
MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING
THAI NGUYEN UNIVERSITY
Trang 11IN FORMATION ON RESEACH RESULTS SUBJECT SCIENCE AND TECHNOLOGY OF MINISTRY
Project Title: “A research on formulating the teaching process of technology
subjects according to the system oriented approach”.
Code number: B2009-TN-08
Coordinator: LE THI QUYNH TRANG
Implementing Institution: Thai Nguyen University
Cooperating Institution(s): Thai Nguyen University of Technology
Duaration: from 2009 to 2011
1 Objecttives:
- to research and construct a teaching process for industrial engineering subjectsaccording to the system oriented approach in order to improve the quality andefficiency of learning and teaching
- to apply this process into designing some concrete lessons of GeneralElectric Technology
2 Main contents:
- Study the theoretical and practical underpinnings of the system oriented
approach
- Study the learning and teaching of some industrial engineering subjects
- Build the teaching process for these subjects acording to the systemoriented approach
- Apply this process into designing some concrete lessons of General
Electric Technology
- Test, evaluate the efficiency and quality of designed lessons
Trang 12- 02 paper in Vietnamese, published in the Journal of Science and Technology,
Thai Nguyen University: “Some skills designing lecture of awreness flexible theory”, Vol 3, 2009; “Develop to skills solving the problem of student in discussion teaching and learning process following system approach”, Vol 5, 2010.
- 01 presentation at Science workshop “Improving the ability of training technology teachers at faculties and universities of Education of Technology to satisfy the needs of society”, Ha Noi University, November 2010
- Supervisor of one student’s research “Ways to improve the learning and teaching of industrial engineering subjects” (October, 2010), graded good.
Day 01 month 3 year 2011
Implementing institution Coordinator
(signed, full name and sealed) (signed, full name)
Le Thi Quynh Trang
Trang 13MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học.
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo là một mục tiêu quan trọng của sựnghiệp đổi mới giáo dục hiện nay ở nước ta, trong đó đổi mới phương pháp dạy họcđược coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược
Trong "Kết luận hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khoá IX về việcthực hiện nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục đàotạo" đã vạch ra định hướng chung của việc đổi mới phương pháp dạy học là: "Đổimới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp và bậc học, kết hợp tốt học với hành, gắnnhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡngcho học sinh những năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề" [2]
Với chiến lược là: "Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục, chuyển từtruyền đạt tri thức thụ động, giáo viên giảng, học sinh ghi sang hướng dẫn người họcchủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tựhọc, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; pháttriển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của họcsinh " [23]
Phát huy tính tích cực học tập của sinh viên 1 là một hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học.
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo của người học; tăng cường thực hành, thực tập; kết hợp chặt chẽ giữa đàotạo, nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin
và các thành tựu khác của khoa học, công nghệ vào việc dạy và học
Tăng cường tính độc lập, tự chủ nhằm phát huy trí sáng tạo của sinh viên.
Hiện nay, xu thế chung của việc đổi mới phương pháp dạy học là sử dụng cácphương pháp dạy học có nhiều tiềm năng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động vàsáng tạo của sinh viên, chuyển từ hình thức giáo viên chỉ giới hạn vào việc truyền đạtthông tin cho sinh viên sang hình thức giáo viên tổ chức hoạt
Trang 14động độc lập nhận thức của sinh viên qua đó phát huy được tính tích cực, độc lập và sáng tạo của sinh viên.
Tổ chức học tập theo hướng học suốt đời nhằm tạo ra một xã hội học tập.
Giáo viên có vai trò tổ chức hoạt động nhận thức của sinh viên theo tiếp cậnhướng vào người học, dạy cách học thông qua quá trình dạy, tạo năng lực học tập chosinh viên, qua đó vừa phát huy tính tích cực nhận thức, vừa rèn luyện phươngpháp tự học, chuyển thành phong cách học tập độc lập sáng tạo, thành năng lực đểhọc suốt đời Thông qua quá trình dạy học bộ môn mà rèn luyện các năng lực tư duysáng tạo, lôgíc biện chứng, công nghệ, kinh tế, thực tiễn Các năng lực tư duy trên chỉđược hình thành một cách định hướng và có kế hoạch gắn liền với sự đổi mớiphương pháp dạy học nhằm hướng dẫn sinh viên phương pháp tự học, tự lĩnh hội trithức, nhờ vậy mà bước vào cuộc sống sau giai đoạn học tập tại nhà trường, thanhthiếu niên có được bản lĩnh để có thể bước vào hoạt động học liên tục và học suốt đời
Nhiệm vụ và đặc trưng của các môn học Kỹ thuật công nghiệp
Nhiệm vụ của các môn học Kỹ thuật công nghiệp là giúp người học làm quen vớinhững hiện tượng kỹ thuật, cung cấp những nguyên lý cơ bản của quá trình sản xuấtchủ yếu và kỹ năng sử dụng công cụ lao động thường gặp trong đời sống sản xuất,
đó là cơ sở để người học vận dụng giải quyết những tình huống cụ thể trong sảnxuất, đó là cơ sở để sinh viên vận dụng giả quyết những tình huống cụ thể trong sảnxuất và tạo ra năng lực dịch chuyển nghề theo sự phân công của xã hội
Đặc trưng chủ yếu của các môn học này là tính cụ thể và trừu tượng, tính tổnghợp và tích hợp Do đó, đối với các môn kỹ thuật công nghiệp việc vận dụngphương pháp dạy học tích cực là rất cần thiết Trong quá trình dạy học, để phát huytính chủ động sáng tạo của sinh viên, người giáo viên cần có sự đổi mới từ việc lựachọn kiến thức, xây dựng chương trình tới phương pháp giảng dạy bộ môn, kết hợpcung cấp kiến thức với rèn luyện phương pháp nhận thức, đặc biệt phương pháp tựhọc, tự giải quyết vấn đề
Một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo
Trang 15Quan điểm dạy học hiện đại cho rằng: Dạy học không chỉ dạy kiến thức đơnthuần mà cái quan trọng hơn là dạy cho sinh viên phương pháp nhận thức, phươngpháp tự lực tìm kiếm tri thức, tự mình chiếm lĩnh tri thức và vận dụng tri thức vào giảiquyết các tình huống quen thuộc và những tình huống thực tế.
Do đó, chuyển từ phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp tích cựchoá nhận thức, thực chất là tiến hành một cuộc cách mạng trong giáo dục, đào tạo;làm thay đổi mối quan hệ giáo viên - sinh viên vẫn diễn ra trong các hoạt động giáo dục
từ xưa đến nay, cụ thể là:
• Từ chỗ giáo viên giữ vị trí trung tâm "cung cấp" thông tin cho sinh viên,
chuyển sang lấy sinh viên là trung tâm, chủ thể nhận thức;
• Từ độc thoại sang đối thoại;
• Từ học kiến thức làm trọng sang học phương pháp chiếm lĩnh kiến thức;
• Từ học "giáp mặt" đến tự học
Muốn làm cuộc cách mạng như vậy, giáo viên phải tự nguyện từ bỏ vai trò "bancấp" kiến thức, làm thay sự nhận thức của sinh viên ; từ bỏ sự lạm dụng các phươngpháp giảng giải, thuyết trình, độc thoại chuyển sang vai trò nhà đạo diễn và thiết kế,người tổ chức - kích thích, người trọng tài - cố vấn trong dạy học , trả lại cho sinhviên vai trò chủ thể nhận thức, làm cho sinh viên không còn học thụ động mà học tíchcực bằng hành động của chính mình, nhằm tham gia vào các khâu giáo dục, qua đóhình thành và hoàn thiện nhân cách
Tuy nhiên, lâu nay lý thuyết dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm vẫnchưa được vận dụng triệt để, vì vậy chất lượng và hiệu quả dạy học vẫn còn hạn chế
Để khắc phục tình trạng này, đội ngũ những người làm công tác giáo dục và đào tạocần tập trung vào việc nghiên cứu cải tiến phương pháp dạy học bộ môn theo hướngtích cực hoá hoạt động của sinh viên Người giáo viên cần dạy cho sinh viên luôn tựđặt ra các câu hỏi: Làm như thế nào? Làm bằng gì? và hiệu quả ra sao trước mỗi vẫn
đề đặt ra và tự tìm cho mình câu trả lời Do đó, vận dụng phương pháp tiếp cận hệthống trong dạy học nói chung và dạy học môn học Kỹ thuật điện nói riêng là mộttrong hướng cải tiến đó
Việc vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống vào giảng dạy các môn Kỹ thuật
Trang 16quát cũng như từng mặt của nó, thiết kế tối ưu hoạt động dạy - học và điều khiển hợp
lý quá trình này tiến tới công nghệ hoá một cách có hiệu quả quá trình dạy học trongnhà trường theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của sinh viên
Từ những lý do trên, với mục đích nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học các
môn kỹ thuật công nghiệp, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là: “Nghiên cứu xây dựng quy trình giảng dạy các môn Kỹ thuật công nghiệp theo định hướng tiếp cận hệ thống”.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Dựa trên cơ sở của phương pháp tiếp cận hệ thống để xây dựng quy trình giảngdạy theo hướng tiếp cận hệ thống trong dạy học các môn kỹ thuật công nghiệp nhằmnâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học
- Vận dụng quy trình dạy học theo phương pháp tiếp cận hệ thống để thiết
kế nội dung bài dạy môn học Kỹ thuật điện đại cương
3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học các môn kỹ thuật công nghiệp.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp tiếp cân hệ thống và việc vận dụng
phương pháp này trong dạy học các môn Kỹ thuật công nghiệp
3.3 Phạm vi nghiên cứu: Phương pháp tiếp cận hệ thống trong việc xây dựng
nội dung bài giảng
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng quy trình giảng dạy theo hướng tiếp cận hệ thống trong dạy họccác môn Kỹ thuật công nghiệp một cách khoa học và hợp lý sẽ tạo hứng thú nhận thứccho sinh viên đồng thời giúp sinh viên lĩnh hội kiến thức vững chắc hơn, qua đó gópphần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của phương pháp tiếp cận hệ thống;
- Nghiên cứu thực trạng dạy học các môn Kỹ thuật công nghiệp;
- Xây dựng quy trình giảng dạy các môn Kỹ thuật theo hướng tiếp cận hệ thống
- Vận dụng quy trình giảng dạy theo hướng tiếp cận hệ thống để thiết kế nộidung một số bài dạy môn học Kỹ thuật điện đại cương
Trang 17- Thực nghiệm đánh giá các đề xuất.
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp phân tích – tổng hợp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra giáo dục
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp toán học
7 DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
- Thực hiện được mục tiêu của đề tài;
- Đề xuất được quy trình giảng dạy môn Kỹ thuật điện đại cương theohướng tiếp cận hệ thống;
- Đề tài được ứng dụng trong công tác giảng dạy
Trang 18- Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Hệ thống là một hợp những yếu tố, những
bộ phận có mối quan hệ qua lại với nhau, tác động lẫn nhau và tạo thành một chỉnhthể nhất định” [24, tr.253]
- Theo GS Hoàng Tụy - dưới góc độ của nhà toán học , nghiên cứu về lý thuyếtđiều khiển học – “Hệ thống là một hộp đen (black box), tức là một cơ cấu có một đầuvào (input) và một đầu ra (output) Tại mỗi thời điểm, đầu vào tiếp nhận các tác động
từ bên ngoài Các tác động này có thể là vật liệu, năng lượng, thông tin Đầu ra, phát racác phản ứng đáp lại các tác động nói trên” [22, tr.7]
- Cũng theo từ điển bách khoa Việt Nam [24, tr.253] thì: Về phương diện triếthọc khái niệm hệ thống ra đời từ rất sớm Ngay từ thời cổ đại Arixtôt đã khẳng địnhrằng toàn thể lớn hơn tổng số các bộ phận của nó Phái Xtôia thì giải thích hệ thốngnhư là một trật tự thế giới Những tư tưởng đó về sau được Kantơ và Hêghen pháttriển Chủ nghĩa Mác đã trình bày những nguyên tắc nhận thức khoa học đối với các hệthống phát triển hoàn chỉnh Theo quan điểm của khoa học hiện đại thì bất kể mộtkhách thể nào trong thế giới hiện thực cũng là một hệ thống, nghĩa là bao gồm những
bộ phận, những yếu tố cấu thành có liên quan nội tại với nhau
Trang 19Đặc trưng cơ bản của hệ thống bao gồm:
1 Mỗi hệ thống gắn liền với một hình thức tổ chức nhất định Tính tổ chức ấy thểhiện ở cấu trúc thứ bậc, đặc trưng cho kết cấu hình thức và phương thức hoạt độngcủa hệ thống Mỗi hệ thống gồm nhiều phân hệ, nhiều hệ con, nhiều yếu tố hợp thành.Mỗi phân hệ, mỗi hệ con, mỗi yếu tố ấy vừa là một yếu tố của hệ thống cao hơn, vừa làmột hệ thống của những yếu tố thấp hơn Như vậy, bất kỳ một hệ thống nào cũng cóthể coi như là một yếu tố của hệ thống thuộc loại cao hơn, đồng thời các yếu tố của nócũng có thể là một hệ thống thuộc loại thấp hơn
2 Do kết quả tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố mà hệ thống với tư cách
là một chỉnh thể có những thuộc tính mới, chất lượng mới, những cái vốn không có ởcác yếu tố và các bộ phận hợp thành hệ thống Vì lẽ đó, người ta nói rằng chỉnh thể lớnhơn tổng số các bộ phận của nó
3 Các hệ thống hữu sinh, kỹ thuật và xã hội có khả năng tự điều chỉnh trên cơ sởthu thập, tàng trữ, chế biến và xử lý thông tin nhằm đạt đến mục đích nhất
định
4 Đặc trưng của hệ thống không phải chỉ là các mối liên hệ và quan hệ giữacác yếu tố, các bộ phận cấu thành, mà còn là sự thống nhất với môi trường, thông quanhững mối quan hệ qua lại của nó với môi trường
Việc tìm kiếm những con đường, những phương pháp và những phương tiệnnghiên cứu khách thể với tính cách là một hệ thống đã dẫn tới chỗ hình thành mộtphương pháp mới – phương pháp tiếp cận hệ thống Việc áp dụng rộng rãi phươngpháp này đã mang lại những hiệu quả tích cực trong thực tiễn cũng như trong nghiêncứu khoa học
Từ những khái niệm đã dẫn ở trên, có thể cho rằng: “Hệ thống là tập hợp các
phần tử có cấu trúc và tương tác (trong ngoài) theo một luật xác định”.
1.1.1.2 Những thành phần cơ bản của hệ thống
Hệ thống thường bao gồm những thành phần cơ bản sau đây:
a Phần tử của hệ thống, là tế bào nhỏ nhất, có tính độc lập tương đối tạo nên
hệ thống Để hiểu hệ thống, phải biết trạng thái của phần tử và trạng thái các mối liên
hệ giữa chúng
Trang 20Khái niệm hệ thống cho phép “tách” hiện tượng, đối tượng, quá trình biệt lậptương đối, “tách” một mặt của đối tượng với thế giới còn lại và xét đối tượng đó nhưmột hệ thống Như vậy, trong phạm vi nhận thức, mỗi hiện tượng, đối tượng hoặc quátrình có thể được xem như một hệ thống Muốn vậy, cần có đối tượng, chủ thể (conngười hoặc công cụ nhận thức của con người) và mục tiêu nghiên cứu Trong mộtphạm vi nghiên cứu nhất định, hệ thống được coi là đã cho, nếu các phần tử và các mốiliên hệ giữa chúng đã được xác định.
b Môi trường của hệ thống là tất cả những gì nằm ngoài hệ thống đang xét,nhưng có quan hệ tác động với hệ thống
c Đầu vào của hệ thống là các loại tác động có thể có từ môi trường lên hệthống
Đối với quá trình dạy học, đầu vào thông thường là:
- Điều kiện giảng dạy và học tập;
- Các thông tin gây nhiễu quá trình dạy học
d Đầu ra của hệ thống là các phản ứng trở lại của hệ thống đối với môi trường.Đối với quá trình dạy học đầu ra là: Sản phẩm đào tạo
đ Trạng thái của hệ thống là khả năng kết hợp giữa đầu vào và đầu ra của hệthống xét ở một thời điểm nhất định nào đó
e Hành vi của hệ thống là tập hợp các đầu ra có thể có của hệ thống trong mộtkhoảng thời gian nào đó
g Mục tiêu của hệ thống là trạng thái mong đợi, cần có của hệ thống sau mộtthời gian nào đấy Không phải hệ thống nào cũng có mục tiêu; chẳng hạn hệ thống thờitiết là hệ thống không có mục tiêu Trong hệ thống, có mục tiêu chung cho cả hệ và cácmục tiêu riêng của từng phần tử trong hệ; giữa mục tiêu chung và mục tiêu riêng cóthể có sự thống nhất hoặc không thống nhất
i Chức năng của hệ thống là khả năng của hệ thống trong việc biến đầu vàothành đầu ra Đó là lý do tồn tại của hệ thống, là khả năng tự biến đổi trạng thái của hệthống
k Cơ cấu của hệ thống là hình thức cấu tạo bên trong của hệ thống bao gồm sựsắp xếp các phần tử và xác định mối quan hệ giữa chúng theo một dấu hiệu nào đó
Trang 21Theo định nghĩa đó, cơ cấu được hiểu như một bất biến tương đối của hệthống liên quan chặt chẽ tới việc nghiên cứu hay tổ chức một hệ thống cả về mặt tĩnh
tử và phân hệ Đây chính là một trong những điểm quan trọng giúp cho các giáo viên
có thể chủ động lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung trong bàigiảng
- Do tính chất cơ bản của hệ thống các phần tử có quan hệ và có tác động qualại nên bất kỳ một thay đổi nào về chất hay về lượng của một phần tử hay một phân hệcũng ảnh hưởng đến các phần tử khác, phân hệ khác và toàn hệ thống Ngược lại, mọi
sự thay đổi về lượng cũng như về chất của hệ thống cũng tác động đến các phân hệ vàcác phần tử của hệ thống Thông qua những mối quan hệ tương tác này mà hệ thốngluôn có tính thống nhất, hoàn chỉnh Điều này có nghĩa là phải coi hệ thống là nhữngthực thể vận động Thay đổi trong những thành phần của hệ thống và những hoạt độngcủa các phần tử trong hệ thống sẽ được xem xét từ quan điểm hoạt động bao quát của
hệ thống Dựa vào tính chất này của hệ thống để phân tích nội dung môn học Kỹ thuật điện đại cương, ta thấy: nội dung kiến thức Kỹ thuật điện đại cương là một hệ thống.
Nếu giáo viên thay đổi thứ tự sắp xếp của một bài thì làm thay đổi cấu trúc chung củatoàn bộ chương trình Ngược lại, nếu thay đổi sửa chữa, bổ sung kiến thức cho toàn bộchương trình thì ảnh hưởng tới thời lượng và dung lượng kiến thức của từng bài học
Trang 22- Tính thống nhất của hệ thống với môi trường bên ngoài Môi trường là tất
cả những gì bên ngoài hệ thống, có thể tác động đến hệ thống và cũng chịu những tácđộng ngược lại từ các hệ thống Khi nghiên cứu, phân tích một hệ thống, không nhữngphải chú ý đến tính chất thống nhất bên trong của chúng, mà còn phải quan tâm thíchđáng đến tính thống nhất và tác động qua lại của hệ thống với môi trường bên
ngoài Chương trình nội dung môn Kỹ thuật điện đại cương là một hệ thống, khi nghiên
cứu, xây dựng chương trình, các tác giả SGK không chỉ chú ý đến việc lựa chọn các kiếnthức điển hình nhất từ hệ thống kiến thức chuyên ngành Điện mà còn đặc biệt chú ýtới mục tiêu chung của giáo dục, mục tiêu đào tạo của nhà trường, những yêu cầu của
sự công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước… Xuất phát từ những mối quan hệ khăngkhít giữa hệ thống và môi trường, khi mà nghiên cứu hệ thống, phải xác định đúngphạm vi của hệ thống
- Nhiều đối tượng phức tạp khác nhau có những đặc trưng hệ thống giốngnhau Do đó, có thể nghiên cứu những tính chất tổng quát, những vấn đề tổng quát,những quy luật vận động tổng quát của các hệ thống phức tạp để vận dụng vào từng
hệ thống đặc thù ở những lĩnh vực hoạt động khác nhau trong kinh tế, xã hội, sinhvật, khoa học kỹ thuật Đồng thời, mỗi hệ thống đặc thù có những tính chất và quyluật vận động riêng của nó
- Vận động là thuộc tính của hệ thống, do đó phải xem xét mỗi hệ thống trongquá trình vận động của nó, nghiên cứu phân tích quỹ đạo và xu thế biến động của nó
để tìm ra phương hướng tác động và hệ thống một cách có hiệu quả nhất Do đó,nghiên cứu các hệ thống phải chú trọng xem xét các vấn đề cân bằng, ổn định, biếnđộng và phát triển
Trang 23- Tính bất định của hệ thống, tức là tình trạng không có đầy đủ thông tin là mộtyếu tố khó tránh khỏi trong các quá trình điều khiển phức tạp Do đó cần có phươngpháp nghiên cứu thích hợp để khai thác tốt nhất phần thông tin đã có được dù làkhông đầy đủ.
- Tính liên ngành và sự cần thiết phải hình thành và sử dụng các nhóm chuyêngia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau để hợp tác cùng nghiên cứu những vấn đềphức tạp [14]
1.1.1.5 Quy trình của phương pháp phân tích hệ thống
Có thể coi quy trình của phương pháp phân tich hệ thống bao gồm các bướcsau:
1 Xác định rõ những yếu tố, những bộ phận bên trong hệ thống với những cáibên ngoài hệ thống (môi trường), các yếu tố, các bộ phận cấu thành hệ thống
2 Phân chia hệ thống thành các hệ con, phân tích vị trí, chức năng của chúng trong
hệ thống, chú ý đến thứ bậc trong cấu trúc của hệ thống
3 Xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu bằng ngôn ngữ nào đó(bản vẽ, sơ đồ, graph, phương trình toán học…)
4 Nghiên cứu đầy đủ cả những mối liên hệ giữa các yếu tố, hệ con của hệ thống
và những mối liên hệ giữa hệ thống với môi trường (liên hệ cấu trúc, liên hệtác động, liên hệ điều khiển…), mỗi loại liên hệ ấy có vị trí và chức năng nhấtđịnh trong một cấu trúc cụ thể
1.1.1.6 Khái niệm tiếp cận hệ thống
Khái niệm tiếp cận (approach) ở đây được hiểu là cách chọn chỗ đứng của người nghiên cứu, từ đó nhìn nhận và giải quyết những vấn đề liên quan.
Cùng một đối tượng, với cách tiếp cận khác nhau có thể đạt được những hiệuquả khác nhau trong việc phát hiện những thuộc tính và quan hệ trên đối
tượng
Nói đến phương pháp là nói tới những nguyên tắc, cách thức và trình tự thựchiện một hoạt động để đạt mục đích đề ra Do đó, một cách thức, có thể coi nó baogồm:
– Những phương pháp nhận thức thế giới
Trang 24– Những phương pháp cải biến (gắn liền với những kỹ năng, cách thức, phươngtiện…) Đây là tính chất đặc trưng của quá trình dạy học các môn khoa học ứng dụngnói chung cũng như môn Kỹ thuật điện đại cương nói riêng.
Trong khoa học giáo dục, không thể chỉ nghiên cứu các phương pháp cụ thể màcòn phải nghiên cứu cách tiếp cận tổng quát các vấn đề hiện thực trong giáo dục tức lànghiên cứu cả bậc trung gian giữa phương pháp luận và phương pháp cụ thể Cùng vớicác phương pháp tiếp cận khác trong khoa học giáo dục phương pháp tiếp cận hệthống cũng nằm ở vị trí trung gian đó
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất Cơ sở triết học của phươngpháp này là:
– quan hệ giữa bộ phận với toàn thể, và
– biện chứng của sự phát triển
Phương pháp này đòi hỏi khi nghiên cứu một vấn đề cần phải tuân thủ các yêu cầu sau [12]:
a) Phải xem xét đối tượng nghiên cứu như những hệ thống tổng thể, hoànchỉnh, trọn vẹn của nó Muốn như vậy, cần đặt đối tượng nghiên cứu trong một hệthống đối tượng, nghiên cứu một đặc điểm (thuộc tính) của một đối tượng cũngcần dựa vào đặc điểm (thuộc tính) ấy vào một hệ thống các đặc điểm (thuộc tính) khác.Làm được như vậy là ta đã tìm ra được đối tượng ấy có những đặc điểm (thuộc tính)nào, tức là tìm ra cấu trúc của đối tượng
Chẳng hạn, nghiên cứu việc dạy học môn Kỹ thuật điện đại cương phải đặt
nó trong hệ thống các môn học của nhà trường Nghiên cứu một bài dạy phải đặt nótrong hệ thống chương trình của cả môn học
b) Phân tích đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận (phần tử) và tìm chođược những bộ phận cơ bản, chủ yếu, mang những dấu hiệu (thuộc tính) bản chất củađối tượng nhưng nó cụ thể hơn, dễ nghiên cứu hơn Từ đó xác định mối quan hệ giữacác bộ phận đó: về cơ chế, trình tự… tương đối ổn định Tức là nghiên cứu đối tượngtrong sự phát triển biện chứng nhưng vẫn thấy được sự bình ổn tương đối của nó
Trang 25Ví dụ, trong mỗi bài học đều có thể có nhiều mục đích (nhiệm vụ) khác nhau,
có nhiều thành phần nội dung khác nhau nhưng cần xác định được nhiệm vụ chính,nội dung trọng tâm của bài dạy để tiến hành bài lên lớp có hiệu quả
c) Cần xác định hướng đích (mục tiêu) của hệ thống và từ đó xác định rõ mụctiêu cụ thể của các bộ phận để đạt mục tiêu chung, tức kết hợp đúng đắn giữaphân tích và tổng hợp đối tượng
Vì thế, khi xác định mục tiêu, yêu cầu của mỗi bài dạy cũng cần phải xét đếnyêu cầu chung của chương, của môn học, của nhà trường và xã hội
Việc sử dụng lý thuyết hệ thống đã được áp dụng ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vựckhoa học khác nhau và đã đem lại kết quả đáng khích lệ như trong lĩnh vực khoa họcsinh vật, toán học, ngôn ngữ học, xã hội học, nhân chủng học và đặc biệt là kinh tế học…
Ở nước ta việc nghiên cứu, ứng dụng lý thuyết hệ thống được triển khai vớinhững mức độ khác nhau ở nhiều cơ quan trường học, trung tâm nghiên cứu kinh tế xãhội từ những năm 1960 và đã thu được những kết quả bước đầu Đối với lĩnh vựckinh tế, một số tác giả như Phạm Đình Phùng (Đại học tài chính kế toán), Hà HuyToàn (Đại học kinh tế quốc dân), Cao Xuân Hoà (Đại học kinh tế quốc dân)… đã chọnphương pháp tiếp cận hệ thống để nghiên cứu và thu được những kết quả nhất định[8,19] Trong lĩnh vực giáo dục, tác giả Lâm Quang Dốc đã thành công trong việc xác lập
hệ thống kiến thức bản đồ (môn Địa lí) trường phổ thông Việt Nam bằng phương pháptiếp cận hệ thống [3] Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Nghĩa bảo vệ thành công luận ánTiến sĩ Giáo dục học “Vận dụng tiếp cận hệ thống trong dạy học Sinh học cơ thể lớp 11trung học phổ thông phân ban” [16], cũng trong năm đó tác giả Nguyễn Phương Liên
đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Giáo dục học “Vận dụng lý thuyết hệ thống để xâydựng cấu trúc bài dạy Đại lý lớp 11 với các phần mềm tin học”[13] Nhưng để vận dụng
cụ thể phương pháp tiếp cận hệ thống để xây dựng quy trình giảng dạy các môn
kỹ thuật công nghiệp chúng tôi chưa thấy có công trình nào nghiên cứu
Vì vậy chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận hệ thống trong dạy các môn Kỹ thuậtcông nghiệp làm đối tượng nghiên cứu
Trang 261.1.1.7 Phân loại hệ thống
Khi nghiên cứu hệ thống, cần nghiên cứu toàn diện các phần tử của hệ thốngtrong mối quan hệ tương tác với nhau, nghiên cứu, phân tích vị trí của mỗi phần tửtrong hệ thống Để giải quyết vấn đề này, cần nghiên cứu về phân loại các kiểu cấutrúc, các kiểu hệ thống, nhằm sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất Muốn phânloại các kiểu cấu trúc thành các dạng cơ bản cần phải phân tích, phân loại các thể loạisắp xếp và tương tác giữa các phần tử của hệ thống, nhất là các hệ thống phức tạp,nhiều phân hệ, nhiều phần tử như hệ thống kiến thức đại cương về Kỹ thuật điện trong
chương trình môn học Kỹ thuật điện đại cương
Phân tích các tổng thể thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để thấy rằng các phần tửcủa chúng được sắp xếp theo ngôi thứ nhất định theo những nguyên tắc nhất định.Trên cơ sở phân tích nhiều thể loại tổng thể, phân tích các hình thức sắp xếp của cácphần tử tạo thành tổng thể, phân tích các dạng tương tác của các phần tử đó, có thểphân loại chúng thành những dạng cơ bản như sau:
- Dạng cấu trúc phân loại: Dạng cấu trúc phân loại là dạng cấu trúc gồm nhiềuthành phần, trong đó “thành phần nào bao gồm trong mình các thành phần khác thì nóchiếm vị trí cao hơn, thang bậc cao hơn trong hệ thống” [3]
Cấu trúc phân loại có hai hình thức sắp xếp: sắp xếp dạng không gian(hình 1.1) và sắp xếp dạng cành cây (hình 1.2)
II1II2I2
II I
I1
III1
III2III
Hình 1.1 - Sắp xếp không gian Hình 1.2 - Sắp xếp dạng cành cây
Trong chương trình môn học Kỹ thuật điện đại cương có nhiều nội dung, nhiều
Trang 27trúc hệ thống của chúng: phân tích được các phân hệ, các phần tử tạo thành trong mỗiphân hệ của hệ thống, xác định được vị trí của mỗi phần tử trong mỗi phân hệ vàtrong toàn hệ thống mới giúp sinh viên lĩnh hội kiến thức một cách logíc, có hệ thống.
- Dạng cấu trúc quan hệ: Mỗi cấu trúc đều có các phần tử và các mối quan hệgiữa chúng Do đó, khi nghiên cứu các cấu trúc cần phải nghiên cứu đầy đủ các phần
tử và các mối quan hệ giữa chúng, hoặc phải sử dụng kết hợp phương pháp quy nạp,trừu tượng hoá, khái quát hoá nội dung nhằm tìm ra cấu trúc, các phần tử và các mốiquan hệ qua lại giữa chúng, đủ làm cơ sở khái quát hoá hệ thống, phục vụ mục đích đãxác định
Việc trừu tượng hoá, khái quát hoá các đối tượng, phản ánh những dạng cấutrúc của tổng thể, nhằm xây dựng mô hình hệ thống Mặt khác, trên quan điểm lýthuyết hệ thống, phương pháp phân tích hệ thống có thể nhìn nhận các đối tượngtrong mối quan hệ tương tác trên mô hình hệ thống
Các kiến thức trong chương trình môn học Kỹ thuật điện đại cương rất phong
phú, đa dạng, song giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau rất chặt chẽ: nắm vữngkiến thức ở bài trước là cơ sở lĩnh hội kiến thức của bài sau nhằm mở rộng, nâng cao vàgiải thích cho bài trước…
- Hệ thống kín và hệ thống mở: Khi nghiên cứu phân loại L.Bertalanffy địnhnghĩa hệ thống mở và hệ thống kín như sau:
“Hệ thống mở” là hệ thống có tiếp nhận các dòng vật chất, năng lượng và dòngthông tin từ mô trường, tự mình xử lý các dòng đó, rồi lại chuyển tiếp trở lại môitrường Như thế, ở hệ thống mở luôn có quá trình chuyển hoá… và đổi tiếp
“Hệ thống kín” là những hệ thống chỉ có quan hệ năng lượng với môi trường.L.Bertalanffy gọi đó là trạng thái cân bằng động hoặc cân bằng liên tục
Như thế, có thể khẳng định: nội dung chương trình môn học Kỹ thuật điện đại cương là hệ thống mở, bởi lẽ, nó có quan hệ rất chặt chẽ với môi trường bên ngoài.
Bất kỳ một sự thay đổi nào về mục tiêu đào tạo, về cách sắp xếp chương trình nói
chung đều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới nội dung, chương trình môn học Kỹ thuật điện đại cương.
Trang 281.1.1.8 Tầm quan trọng của vận dụng lý thuyết hệ thống trong thiết kế bài học môn học Kỹ thuật điện đại cương
Tiếp cận hệ thống là cầu nối học thuyết duy vật biện chứng với các khoahọc cụ thể, trong điều kiện cách mạng khoa học đang phát triển mạnh mẽ và có tácđộng đến hầu hết các lĩnh vực khoa học và đời sống thực tiễn như ngày nay Phạm viứng dụng của phương pháp phân tích hệ thống rất rộng rãi Do đó, vận dụng tiếp cận hệthống phương pháp phân tích hệ thống sẽ làm rõ được bản chất hệ thống của các đối
tượng của môn học Trong dạy học môn học Kỹ thuật điện đại cương việc áp dụng
quan điểm hệ thống để xây dựng cấu trúc bài giảng cũng được đặc biệt chú ý Nó cũng
là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng nội dung bài dạy
Một bài dạy học có cấu trúc hệ thống sẽ giúp cho các kiến thức môn học Kỹ thuật điện đại cương được đảm bảo sự cân đối giữa các kiến thức lý thuyết và thực
tiễn Phương pháp hệ thống còn giúp cho người dạy và người học có được cái nhìntổng quát, tổng thể tới những vấn đề nghiên cứu theo nhiều khía cạnh Vận dụng lýthuyết hệ thống trong thiết kế bài giảng tạo cho bài giảng có tính hệ thống, mối quan
hệ giữa các thành phần nội dung học vấn được được thể hiện rõ, là cơ sở giúp sinhviên nắm chắc bản chất của các đối tượng, hiện tượng địa lý Trái lại, một bài giảngphi hệ thống thì nội dung của bài sẽ trở nên lộn xôn, khó hiểu
Vận dụng lý thuyết hệ thống trong dạy học giúp giáo viên có điều kiện thựchiện tốt nhất sự thừa kế, tính liên môn về phương pháp, về kiến thức của môn học
Kỹ thuật điện đại cương với các môn học khác, của các bài đã học với bài đang học và
sẽ học Khi nghiên cứu, giảng dạy một bài Kỹ thuật điện đại cương, việc xác định mối liên hệ, tính kế thừa giữa các nội dung kiến thức Kỹ thuật điện đại cương ở từng bài, từng lớp học, từng cấp học với nhau và mối liên hệ giữa môn Kỹ thuật điện đại cương
với các môn học khác trong nhà trường là yêu cầu có tính nguyên tắc Bài giảng có tính
hệ thống là điều kiện kết nối thầy – trò, phát huy tính chủ động, sáng tạo của sinh viên
Nó giúp sinh viên thấy được tính logic của hệ thống kiến thức, đồng thời giúp chogiáo viên thực hiện bài giảng một cách có trọng tâm và đạt hiệu quả cao
Trang 291.1.2 Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống
Theo quan điểm của lý luận dạy học hiện đại, quá trình dạy học tồn tại với tưcách là một hệ thống Quá trình đó bao gồm những nhân tố cấu trúc cơ bản như:Mục đích dạy học, hoạt động của thầy và trò, nội dung dạy học, phương pháp, phươngtiện dạy học và kết quả dạy học Tất cả các nhân tố đó tồn tại trong mối liên hệ hữu cơchặt chẽ và toàn bộ hệ thống được đặt trong môi trường tự nhiên, môi trường kinh
tế - kỹ thuât, môi trường cách mạng khoa học - công nghệ Đặc biệt là môi trườngkinh tế - xã hội và môi trường cách mạng khoa học
- công nghệ có ảnh hưởng lớn đến quá trình dạy học
1.1.2.1 Mục đích dạy học
Trong đào tạo theo học phần – niên chế, sinh viên phải học theo tất cảnhững gì Nhà trường sắp đặt, không phân biệt sinh viên có điều kiện, năng lực tốt,hay sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, năng lực yếu Ngược lại, đào tạo theo Hệ thốngtín chỉ cho phép sinh viên có thể chủ động học theo điều kiện và năng lực của mình.Những sinh viên giỏi có thể học theo đúng hoặc học vượt kế hoạch học tập toàn khóa,
kế hoạch học tập từng học kỳ theo gợi ý của Nhà trường, để tốt nghiệp theo đúngthời gian chuẩn của chương trình hoặc sớm hơn Những sinh viên bình thường vàyếu có thể kéo dài thời gian học tập trong trường và tốt nghiệp muộn hơn Vì vậy,quá trình dạy học trong đào theo hệ thống tín chỉ người giáo viên cần phải xácđịnh mục đích của môn học, của chương, của bài học phù hợp với mục đích đào tạocủa nhà trường Dạy học phải chú trọng bồi dưỡng hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảogắn với nghề nghiệp tương lai của sinh viên, phát triển ở họ năng lực và phẩm chấttrí tuệ, đặt biệt là năng lực tư duy nghề nghiệp Qua đó giúp người học có được bảnlĩnh để bước vào hoạt động học liên tục và học suốt đời Đồng thời hình thành ở họ thếgiới quan khoa học, lý tưởng, ước mơ, hoài bão nghề nghiệp và những phẩm chất đạođức, tác phong công nghiệp
1.1.2.2 Nội dung dạy học
Bản chất của quá trình học đại học là quá trình người sinh viên biến quá trìnhđào tạo của nhà trường thành quá trình tự đào tạo Mặt khác, trong chương
Trang 30trình đào tạo theo Hệ thống tín chỉ, thời gian quy định cho việc tự lực của sinh viêngấp hai đến ba lần thời gian lên lớp Vì vậy, thời gian giành cho lên lớp của giáo viên sẽ
ít hơn nhiều so với khi đào tạo theo niên chế Người giáo viên nếu không lựa chọn vàsắp xếp nội dung dạy học cho phù hợp sẽ không thể hoàn thành được khối lượngtri thức cần phải truyền đạt, hơn thế nữa là không thể đạt được mục đích của quátrình giáo dục và đào tạo đại học Do đó, để đạt được mục đích dạy học, người giáoviên cần xác định được những nội dung then chốt, nội dung khó sẽ dạy trên lớp; phầnnội dung còn lại giao nhiệm vụ cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu; những nội dungnhằm giúp cho sinh viên thấm nhuần, khắc sâu, mở rộng tri thức, phát triển phươngpháp nhận thức, luyện tập diễn đạt vấn đề khoa học sẽ thực hiện bằng thảo luận (thảoluận nhỏ trong giờ lên lớp và Seminar)
1.1.2.3 Phương pháp và phương tiện dạy học
Trong thời đào tạo theo học phần – niên chế, người thầy khi lên lớp thường chỉ
có viên phấn và tập giáo án Để dạy, người thầy cố gắng truyền lại tất cả những gì màmình biết cho trò còn trò thì cố gắng nhớ, cố gắng ghi chép những gì thầy cho ghi Vìkhông có các phương tiện nghe nhìn hỗ trợ như ngày nay, việc minh hoạ để sinh viênhiểu sâu, hiểu nhanh một vấn đề là rất khó khăn và nhiều khi là không thể Đơn cử một
ví dụ, có nhiều thầy/cô phải mất đến 10 hoặc thậm chí 20 phút mới vẽ xong một hình
vẽ phức tạp trên bảng Thời gian vẽ một hình tốn vậy thì làm sao trong một giờ lên lớpthầy cô có thể trình bày, giải thích nhiều vấn đề được Rõ ràng là việc dạy theo kiểu cũhạn chế rất nhiều đến khối lượng và chất lượng kiến thức truyền đạt đến sinh viên.Thêm vào đó, có thể nói người học đã vô tình tiếp thu một cách thụ động những gì mà
người thầy có Nói cách khác, người thầy đã dẫn dắt sinh viên đi tới đích trên một con đường có sẵn.
Để nâng cao chất lượng đào tạo làm cơ sở cho việc nâng cao lợi ích của người laođộng, người thầy cần phải đổi mới phương pháp dạy học, giúp người học chuyểnsang cách học từ bị động sang chủ động Điều này không chỉ đơn giản là sử dụng cáccông cụ trợ giúp giảng dạy như máy tính, máy chiếu v.v mà còn phải thay đổi một cách
có kế thừa tư duy trong giảng dạy và tạo ra môi trường dạy học tích cực và thân thiện
Điều quan trọng là người thầy phải chỉ con đường mà
Trang 31sinh viên sẽ phải đi, cách đi trên con đường đó, còn người sinh viên bắt buộc phải tự đi trên con đường này trong suốt quá trình học Người thầy cần đi sâu vào bản chất của
các khái niệm ban đầu của từng chương, từng bài, nhắc lại những kiến thức là nềntảng để hình thành nên các khái niệm đó Điều này sẽ làm cho sinh viên định hướngđược cái mà họ phải phát triển từ những điều mà họ đã biết Hãy giúp cho sinh viênhình dung ra được những khái niệm ban đầu đó là gì Sau đó chỉ ra cái đích mà họ phải
đi tới, cũng như cách đi, thông qua những tiền đề, định lý của học phần hoặc nhữnghọc phần trước đó đã trang bị và cuối cùng họ phải tự tìm, tự học để hiểu được nhữngvấn đề cốt lõi của học phần Vì thế, người thầy cần phải đưa ra được các vấn đề đòi hỏisinh viên phải đầu tư công và thời gian để đọc, tìm hiểu khi giải quyết vấn đề Nếungười thầy không đặt ra được những bài toán như vậy thì dù cố ép sinh viên đọc mộtcuốn sách tham khảo nào đó họ cũng sẽ không bao giờ đọc Thêm vào đó, một điềukhông kém phần quan trọng là người thầy phải chú ý để có thể phát hiện ra những sinhviên đã và đang đi chệch ra khỏi con đường cần phải đi để giúp họ quay trở lại quỹ đạoban đầu Cách phát hiện tốt nhất là giao nhiệm vụ học tập định kỳ cho sinh viên, gắnsinh viên với trách nhiệm học và kiểm tra việc thực hiện của họ một cách thường xuyên.Người thầy cần tăng cường việc dạy sinh viên học từ những lỗi của họ hơn là dạycho họ cách bắt chước những điều mà chúng ta khẳng định là đúng Hãy làm cho họthấy họ đang chệch hướng và để họ tự điều chỉnh mình
1.1.2.4 Thầy giáo và hoạt động dạy, sinh viên và hoạt động học
Trong quá trình dạy học, người thầy giáo là chủ thể của hoạt động giảng dạy, giữvai trò chủ đạo trong quá trình dạy học ở đại học Thầy giáo với hoạt động dạy cóchức năng tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động học của sinh viên, đảm bảo chosinh viên thực hiện đầy đủ và có chất lượng cao những yêu cầu đã được quy địnhphù hợp với mục đích dạy học ở đại học Bên cạnh đó, người sinh viên một mặt là đốitượng của hoạt động dạy, mặt khác lại là chủ thể của hoạt động nhận thức có tính chấtnghiên cứu Nói cách khác, người sinh viên vừa là khách thể của hoạt động dạy và làchủ thể hoạt động tích cực, độc lập, sáng tạo nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹxảo có liên quan đến nghề nghiệp tương lai của mình Vì vậy, để tạo ra môi trườnghọc tập tích cực điều cần nói
Trang 32đến là tương tác giữa thầy và trò Đối với các lớp học lý thuyết lớn vấn đề tương tácthầy trò bị hạn chế đáng kể nhưng không có nghĩa là người thầy không thực hiệnđược Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng các lớp thảo luận chính là môi trường tốt đểphát huy tương tác giữa thầy và trò Người thầy dạy thảo luận cần phải nắm lợi thếnày để phát huy tương tác đó thông qua việc trao đổi với sinh viên về những vấn đề cơbản nhất mà sinh viên còn chưa nắm rõ cũng như các vấn đề cụ thể khác của bài học.Cũng không nên đặt ra các vấn đề khó trong giờ thảo luận vì như thế sẽ lãng phí thờigian và có thể sẽ không gây hấp dẫn với số đông sinh viên Đồng thời, cần phát huy sứcmạnh của công nghệ thông tin trong dạy học ví dụ trao đổi qua hộp thư điện tử, traođổi trực tuyến hoặc qua các diễn đàn v.v Tương tác thầy – trò là một nghệ thuật mà
để tạo ra nó một cách hiệu quả đòi hỏi người thầy không chỉ truyền cho trò phươngpháp tư duy và kiến thức mà còn phải truyền cho họ ngọn lửa tình yêu nghề nghiệp
và sự say mê trong học tập Hơn thế nữa, người thầy cũng cần tìm hiểu để biết đượccảm nhận của sinh viên sau mỗi giờ giảng để tự điều chỉnh lại bài giảng và cách truyềnđạt cho phù hợp và hiệu quả
1.1.2.5 Kết quả dạy học
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ làđánh giá quá trình bao gồm kiểm tra giữa kỳ của môn học, thảo luận, bài tập lớn vàthi kết thúc môn học Điều này làm cho sinh viên phải học tập, kiểm tra và thi liên tụctrong suốt học kỳ chứ không phải chỉ trông chờ vào kết quả của 1 kỳ thi đầy may rủi Vìthế, khi kết quả học tập một môn nào đó của sinh viên không đạt thì phải học lại môn
đó để đánh giá lại tất cả các điểm bộ phận và thi lại, chứ không thể đơn thuần tổ chứcthi kết thúc môn học thêm lần 2 Đồng thời, từ kết quả học tập của người học, giáoviên cần điều chỉnh lại mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp và phươngtiện dạy học cho phù hợp
Trang 331.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Phương pháp dạy học và một số khái niệm liên quan
1.2.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học
Có một số quan niệm khác nhau về phương pháp dạy học, những quan niệm đóđược phản ánh khá rõ trong các định nghĩa về phương pháp dạy học:
+ Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên để truyền thụ kiếnthức, rèn luyện kỹ năng và giáo dục sinh viên theo mục tiêu của nhà trường
+ Phương pháp dạy học là sự kết hợp các biện pháp và phương tiện làm việccủa giáo viên và sinh viên trong quá trình dạy học nhằm đạt tới mục đích giáo dục
+ Phương pháp dạy học là cách thức hướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên nhằm
tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh, dẫn tới việc họcsinh lĩnh hội vững chắc nội dung học vấn, hình thành thế giới quan và phát triển nănglực nhận thức [17]
Cách hiểu thứ nhất phản ánh quan niệm truyền thống “lấy thầy làm trungtâm” Quan niệm đó dẫn đến chỗ coi các phương pháp dạy học đều là cácphương pháp của thầy
Cách hiểu thứ hai dung hòa hơn, coi phương pháp dạy học là sự kết hợp ngangnhau của hai hoạt động dạy và học Nhiệm vụ truyền thụ tri thức của thầy cũng quantrọng như nhiệm vụ lĩnh hội tri thức của trò
Cách hiểu thứ ba thể hiện quan điểm giáo dục mới, gần đây nhất, sau khi xuấthiện lý thuyết về sự lĩnh hội tri thức Theo quan niệm này, dạy học chính là quá trình
tổ chức cho sinh viên tự lĩnh hội tri thức Vai trò của sinh viên trong quá trình lĩnhhội tri thức là vai trò chủ động Nói khác đi, các phương pháp học tập xuất phát từ cácquy luật của sự lĩnh hội tri thức, quyết định hoạt động của giáo viên, phương pháphoạt động của giáo viên
Ta thấy, các định nghĩa về phương pháp dạy học cũng thay đổi theo thời gian,phù hợp với sự phát triển của thời đại Sự thay đổi ấy thể hiện qua quan niệm về vaitrò của người học trong quá trình dạy học: từ thụ động đến chủ động
Trang 341.2.1.2 Sự cần thiết đổi mới phương pháp dạy học
Xuất phát từ yêu cầu của cuộc cách mạng Khoa học và Công nghệ: chúng tađang sống trong thời đại của hai cuộc cách mạng lớn: cách mạng Khoa học Công nghệ
và cách mạng xã hội Những cuộc cách mạng này đang phát triển như vũ bão với nhịp
độ nhanh chưa từng thấy trong lịch sử loài người, thúc đẩy nhiều lĩnh vực có nhữngbước tiến nhanh mạnh mẽ và đang mở ra những triển vọng hết sức lớn lao, khi loàingười bước vào thế kỷ XXI Cuộc cách mạng khoa học và Công nghệ hiện đại với cácđặc trưng chủ yếu là:
+ Xã hội là xã hội tin học trên cơ sở khoa học kỹ thuật cao
+ Nền kinh tế mang tính chất toàn cầu
+ Xuất hiện nhiều ngành khoa học mới
+ Có những công nghệ tiên tiến trong nhiều lĩnh vực Khoa học kỹ thuật Cuộc cách mạng Khoa học và Công nghệ hiện đại đòi hỏi nhà trường phải
đào tạo ra những con người mới, thông minh, sáng tạo, thích ứng được với yêu cầumới của thời đại, có tri thức khoa học tiên tiến, có trình độ kỹ năng, kỹ xảo cao, có ýthức nghề nghiệp vững chắc để giải quyết “đúng, nhanh, sáng tạo” các nhiệm vụ dothực tiễn đặt ra [10]
Bên cạnh đó, những yêu cầu mới của cuộc cách mạng xã hội:
+ Con người có tư duy kỹ thuật khoa học, có trình độ học vấn cao, biết vậndụng các quy luật tự nhiên và xã hội để xây dựng cuộc sống, góp phần thúc đẩy tốc độphát triển của xã hội
+ Con người có tính nhân bản cao, có ý thức chấp hành pháp luật, có tinh thầndân tộc, biết giữa gìn và phát huy truyền thống tinh hoa của dân tộc
+ Con người có cá tính và bản sắc riêng, có ý chí hoài bão, tự chủ, tự giác
Ngoài ra, những yêu cầu của nền kinh tế, chính trị của đất nước: Việt Nam đangbước vào thời kỳ mới; năng động và sáng tạo cũng tác động không nhỏ tới nền giáodục Công cuộc đổi mới này đòi hỏi phải có những con người lao động tự chủ, năngđộng, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề do thực tiễn đề ra, tự lo được việc làm,lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống, qua đó góp phần xây dựng đất nước giàumạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 35Đứng trước tình hình trên nên giáo dục cần phải đổi mới để đáp ứng được yêucầu của thời đại Đổi mới phương pháp dạy học luôn luôn đặt trong mối quan hệ vớiđổi mới mục tiêu, nội dung dạy học, đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; đổi mớicác hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các nhóm nhỏhoặc cả lớp, giữa dạy học ở trong phòng học và ngoài thực tiễn; đổi mới môi trườnggiáo dục để học tập gắn với thực hành và vận dụng; đổi mới đánh giá kết quả học tậpcủa sinh viên qua đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra, xây dựng bộcông cụ đánh giá, phối hợp giữa đánh giá bằng hình thức tự luận với trắc nghiệmkhách quan Thực tế công cuộc đổi mới này đã bắt đầu, chúng ta đã tổ chức nghiêncứu cải tiến phương pháp dạy học, tiến hành khẩn trương xây dựng bộ chươngtrình cho các môn học, biên soạn lại tài liệu học tập cho sinh viên, đổi mới hình thứcthi kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
1.2.1.3 Phân loại các phương pháp dạy học
Hiện nay, trong các tài liệu của UNESCO, người ta sử dụng khá phổ biến quan
điểm dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” và “lấy giáo viên làm trung tâm” Đây là
một quan điểm, tư tương giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học, chi phối tất cảcác thành tố của quá trình dạy học (mục tiêu, nôi dung, phương pháp, phương tiện,hình thức tổ chức dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá) chứ không phải chỉ liên quanđến phương pháp dạy và học
Để đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội, sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi phải có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học,dạy học tích cực là phương pháp mang lại hiệu quả cao Phương pháp tích cực dùng đểchỉ những phương pháp giáo dục (dạy học) theo hướng phát huy tính tích cực chủđộng, sáng tạo của người học
Các phương pháp tích cực có những dấu hiệu đặc trưng cơ bản như sau:
- Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động nhận thức của sinh viên: Ngườihọc được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thôngqua đó tự mình khám phá những điều chưa rõ
Trang 36- Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: rèn luyện cho người học
có được phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự học sẽ tạo cho họ lòng ham học,khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả học tập sẽ được nâng lên
- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Để thực hiện phương pháp dạy học tích cực, cần phải có một số điều kiện, trong
đó quan trọng nhất là giáo viên, giáo viên phải được đào tạo chu đáo để thích ứng vớinhững thay đổi chức năng, nhiệm vụ phức tạp của nghề dạy học trong công cuộc đổimới giáo dục Sinh viên cần có những phẩm chất và năng lực thích hợp với phươngpháp tích cực Chương trình, sách giáo khoa phải được biên soạn không thể thiếuđược đối với phương pháp dạy học tích cực, đó là ngoài sự hỗ trợ của các phươngtiện, thiết bị dạy học truyền thống cần dược trang bị những phương tiện hiện đại nhưmáy tính và các phần mềm ứng dụng
1.2.2 Lý thuyết về phương pháp dạy học hiện đại
1.2.2.1 Quá trình nhận thức của sinh viên
- Nhận thức của sinh viên là quá trình tiếp thu một cách sáng tạo, có phê phán ởtrình độ cao những tri thức và kỹ năng cơ bản về nghề nghiệp trong tương lai của mộtchuyên gia trình độ đại học
- Hoạt động nghiên cứu khoa học trở thành một bộ phận hữu cơ của quá trìnhhọc tập của sinh viên Sinh viên vừa học vừa tham gia tìm kiếm cái mới với mức độ vừasức Như vậy quá trình nhận thức của sinh viên tiếp cận với quá trình nhận thức củanhà khoa học Do đó về mặt nhận thức, người giảng viên đại học cần nhận thức đúngđặc trưng của quá trình học tập của sinh viên: Học theo kiểu nghiên cứu khoa học vànghiên cứu khoa học ở mức vừa sức là nhiệm vụ của sinh viên.Vì vậy không nênquan niệm rằng, chỉ một số sinh viên tài năng mới tham gia nghiên cứu khoa học.Ngược lại, phải làm cho mọi sinh viên tự tin và khát vọng sáng tạo, khát vọng nghiêncứu khoa học, đồng thời phải tạo điều kiện để sinh viên có thể tham gia nghiên cứukhoa học
1.2.2.2 Thực trạng về dạy và học trong hệ thống Đại học Việt nam
Sinh viên cần được trang bị hai khối kiến thức:
Trang 37Khối thứ nhất: Tri thức văn hoá, khoa học kỹ thuật và kỹ năng thực hành nghề nghiệp.
Khối thứ hai: Tri thức về phương pháp nhận thức và phương pháp giải quyết vấn đề
Khối tri thức thứ nhất là cơ sở để hình thành khối tri thức thứ hai nhưng dạy cho sinh viên khối tri thức thứ hai lại quan trọng hơn cả dạy khối tri thức thứ
nhất
Nhìn lại tình hình dạy học đại học ở nước ta từ trước đến nay, ta dễ dàng nhậnthấy sự trì trệ, bảo thủ, tụt hậu xa với thế giới Điều đó thể hiện:
Về nội dung dạy học:
- Chỉ chủ yếu tập trung dạy khối kiến thức thứ nhất mà ít chú ý đến khối kiếnthức thứ thứ hai
- Do ngày càng có nhiều lĩnh vực khoa học mới ra đời nên trong khối tri thứcthứ nhất, bộ phận kỹ năng thực hành nghề nghiệp ngày càng bị thu hẹp
- Chú trọng dạy chữ, ít chú trọng dạy làm người
tự đi tìm tri thức mới
- Thầy độc diễn, sinh viên hoàn toàn thụ động, ít có cơ hội bày tỏ quanđiểm, ý tưởng của mình.Thầy rất ít có thông tin ngược từ phía sinh viên nên ít điềuchỉnh việc dạy học cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
- Nội dung thi cử chủ yếu yêu cầu học thuộc và tái hiện, ít đòi hỏi tư duy sángtạo, ít đòi hỏi biện luận, phân tích, đánh giá, so sánh, kháí quát hoá, cụ thể hoá, trừutượng hoá
Với nội dung như thế, với phương pháp như thế, giáo dục đại học của
Trang 38thích đọc để tự tìm hiểu, tự nhận thức Nhà trường đào tạo ra những người cán bộkhoa học kỹ thuật giàu lý luận nhưng năng lực tư duy sáng tạo hạn chế, thụ động, chậmthích ứng với thời cuộc.
Vấn đề đặt ra là: Tại sao giảng viên chỉ chủ yếu tập trung dạy khối kiến thứcchuyên môn và dạy kỹ năng thực hành nghề nghiệp mà ít chú ý đến việc dạy phươngpháp nhận thức, phương pháp giải quyết vấn đề? Tại sao giáo viên cứ gắn bó mãivới các phương pháp dạy học truyền thống mà không quan tâm đến các phương phápdạy học tích cực hiện đại?
Về vấn đề này có những lý giải khác nhau, ở đây chỉ nêu ra một vài lý giải đượcchú ý nhiều hơn:
- Đa số giảng viên các trường đại học và cao đẳng kỹ thuật hiện tại là nhữngngười tốt nghiệp ở các trường đại học chuyên ngành Trong quá trình học tập ởtrường, họ được trang bị rất ít ỏi hoặc không được trang bị tri thức khoa học tư duy.Sau khi được tuyển dụng làm giảng viên họ cũng không được đào tạo lại, không được
bổ sung thêm tri thức khoa học này, vì vậy họ lúng túng khi bước vào nghiên cứukhoa học và đồng thời họ không có đủ tri thức về phương pháp nhận thức để dạy chosinh viên
- Không chỉ những giảng viên thiếu tri thức về phương pháp luận mà ngay cảnhững người giàu tri thức phương pháp luận cũng ngại dạy phương pháp nhận thức,phương pháp giải quyết vấn đề cho sinh viên bởi vì dạy phương pháp nhận thức,phương pháp giải quyết vấn đề vất vả hơn rất nhiều so với dạy kiến thức chuyên môn
và dạy kỹ năng Thật vậy, việc dạy phương pháp nhận thức lồng vào trong dạy tri thứcchuyên môn đòi hỏi người thầy:
Phải dành nhiều thời gian để dàn dựng bài giảng của mình và bài học của trò,
để dàn dựng những tình huống buộc sinh viên phải tư duy khác với cách tư duy
thông thường, để tìm ra những câu hỏi tinh tế, những bài tập hay, những đề tài
thảo luận hấp dẫn lôi kéo người học vào tư duy tích cực
Không chỉ hiểu sâu sắc về lĩnh vực chuyên môn của mình mà còn phải từngtrải trong nghiên cứu, trong việc vận dụng lý thuyết vào thực tiễn hoặc ítnhất cũng phải học được người khác đã vận dụng lý thuyết vào thực tiễn
Trang 39Còn tại sao giảng viên cứ gắn bó mãi với phương pháp dạy học truyềnthống mà không quan tâm đến các phương pháp dạy học tích cực hiện đại? Câu hỏi đóđược lý giải rằng, dạy theo công nghệ mới, phương pháp mới người giảng viên phải đổimới rất nhiều: phải biên soạn lại tài liệu giáo khoa, tài liệu tham khảo, phải đổi mới bàigiảng, phải thiết kế nội dung thảo luận lớn (Seminar) và thảo luận nhỏ trên lớp; kèmtheo đó lại phải xây dựng lại hệ thống đề thi và đáp án, bản thân lại phải học thêm tinhọc mà đặc biệt là các phần mềm ứng dụng phức tạp… Nói tóm lại là theo công nghệdạy học mới, người giảng viên vất vả hơn nhiều Đó chính là rào cản đã và đang hạnchế sự đi lên của giảng viên cùng với công nghệ mới.
1.2.2.3 Dạy học đại học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm
1.2.2.3.1 Hai quan điểm khác nhau về dạy học
Từ trước đến nay đã có hai quan điểm khác nhau về dạy học: dạy học lấy ngườidạy làm trung tâm và dạy học lấy người học làm trung tâm
- Quan điểm dạy học lấy người dạy làm trung tâm coi trọng hoạt động dạy củathầy, rằng hoạt động dạy của thầy là hoàn toàn chủ động, là nhân tố quyết định chấtlượng và hiệu quả của quá trình dạy học Còn hoạt động học của người học là nhân tố
bị động, là thứ yếu trong cả quá trình dạy học
- Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm coi trọng hoạt động học củangười học, rằng hoạt động học là hoạt động của chủ thể để tự thay đổi mình, do đó nóphải là nhân tố tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của người học
Tư tưởng chủ đạo của dạy học lấy người học làm trung tâm được khái quát: Việcdạy học phải hướng vào đáp ứng nhu cầu và lợi ích của người học, do đó phải để chongười học tự lựa chọn nội dung học tập, tự lực tìm tòi, nghiên cứu để chiếm lĩnh trithức và kinh nghiệm xã hội dưới sự điều khiển, dẫn dắt của thầy giáo
Để thực hiện tư tưởng chủ đạo đó, nhà trường và giáo viên phải:
1- Thiết kế lại nội dung, chương trình theo hướng đáp ứng nhu cầu thực tế củangười học hoặc theo yêu cầu của xã hội đối với người học Điều đó có nghĩa là: trongchương trình đào tạo phải có nhiều môn học tự chọn để người học lựa
Trang 40chọn chương trình học phù hợp với điều kiện của mỗi cá nhân Điều đó chỉ có thể thực hiện được khi nhà trường thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ.
2- Dạy học phải chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng vậndụng kiến thức, năng lực giải quyết vấn đề do thực tiễn đặt ra, hướng vào việcchuẩn bị tích cực cho tìm kiếm việc làm
3- Phương pháp dạy học phải hướng vào đáp ứng nhu cầu, khả năng, hứng thúcủa người học, tức là coi trọng việc rèn luyện phương pháp tự học, tự tìm kiếm và xử
lý thông tin cho người học Giáo viên phải phối hợp nhiều phương pháp mà đặc biệt
là các phương pháp dạy học tích cực để phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, tự lực
và sáng tạo của người học
4- Hình thức tổ chức lớp học cũng phải thay đổi một cách linh hoạt cho phùhợp với hoạt động học
5- Giáo án phải được thiết kế linh hoạt theo kiểu phân nhánh trên cơ sở dự kiếncác khả năng diễn ra trong quá trình dạy học để giáo viên có thể điều chỉnh liên tụctheo tiến trình thảo luận của người học
6- Trong điều khiển giờ học, người thầy phải làm cho không khí lớp học trở nênsống động, cởi mở về mặt tâm lý Trước một vấn đề đặt ra, giáo viên không chỉ trìnhbày cho sinh viên về giải pháp giải quyết mà phải liên tục tạo ra các tình huống và dẫndắt sinh viên tìm tòi, suy xét, thảo luận để giải quyết từng bước của vấn đề nhằm đạttới mục đích dạy học
Để làm nổi bật ý nghĩa của dạy học lấy người học làm trung tâm, ta hãy so sánhnhững nhân tố đặc trưng của hai quan điểm đó thông qua bảng dưới đây
Bảng 1.1: So sánh quan điểm dạy học lấy người dạy làm trung tâm và
quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm
Nhân tố Theo quan điểm lấy
người dạy làm trung tâm
Theo quan điểm lấy người học làm trung tâm
Hoạt động
dạy học
Là hoạt động truyền đạt kiến
thức trên lớp của thầy
Là hoạt động phối hợp giữa thầy vàtrò để thực hiện cùng một nội dung, cùng một mục đích