ĐẶT VẤN ĐỀ Triết học là môn học rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông tạiPháp, tất cả học sinh dù bất kì chuyên ban nào cũng bắt buộc học và thi môn học này.Trong chương t
Trang 1A MỞ ĐẦU
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Triết học là môn học rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông tạiPháp, tất cả học sinh dù bất kì chuyên ban nào cũng bắt buộc học và thi môn học này.Trong chương trình trung học phổ thông ( THPT) tại Việt Nam kiến thức nền tảng đầutiên về Triết học Mác-Lênin được giảng dạy lồng trong môn Giáo dục công dân (GDCD)
10 cụ thể là phần I “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học” với mục tiêu trang bị cho học sinh khả năng tư duy độc lập, khả năng vân
dụng kiến thức triết học vào cuộc sống, là một trong những động lực thúc đẩy quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực của đất nước.Tuy nhiên, kiến thức triết học lại mang tính khái quát, trừu tượng nên quá trình tiếp thucủa học sinh gặp khó khăn Nhiều học sinh không hiểu và không thể diễn đạt được nộidung kiến thức cơ bản, kết quả học tập, khả năng vận dụng kiến thức chưa tốt, học sinhkhông yêu thích môn học Bản thân là một giáo viên, tôi tìm kiếm, nghiên cứu một sốgiải pháp hướng dẫn học sinh tiếp thu một cách hứng thú và có hiệu quả kiến thức triếthọc ở môn GDCD lớp10- Phần I
1 Lí do chọn đề tài
Nước ta vẫn còn nghèo và lạc hậu so với nhiều nước trên thế giới, chính vì vậy việctrang bị cho thế hệ trẻ những tri thức khoa học là cần thiết Trước hết cần trang bị cho lứatuổi học sinh mới chập chững bước vào giai đoạn mới của cuộc đời hay nói đúng hơn làhọc sinh lớp 10 một thế giới quan khoa học, một nhân sinh quan tiến bộ Khi học sinh cóthế giới quan khoa học thì mới có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống xung quanh, về quákhứ, hiện tại và tương lai Thế giới quan khoa học đó có được chỉ khi nào chúng ta trang
bị cho học sinh kiến thức về triết học Mác-Lênin Triết học Mác-Lê nin là cơ sở khoa học
để lí giải những vấn đề thuộc về thế giới, vị trí của con người trong thế giới đó, giúp họcsinh lớp 10 nói riêng và con người nói chung lí giải những thắc mắc, những tranh cải như
về nguồn gốc ra đời của con người, con người có khả năng chinh phục cải tạo tự nhiênmột cách khoa học và đúng đắn nhất Tuy nhiên, triết học là môn học mang tính khái quátcao nên khá trừu tượng Vì vậy, nếu giáo viên không nắm được đặc thù môn học, không
có cách giảng dạy phù hợp thì sẽ làm cho học sinh chỉ thấy cái khó hiểu, khô khan củamôn học, không thấy cái hay, cái hữu ích của nó nên dẫn đến việc chán học, định kiếnvới môn học như: Triết học là những kiến thức “cao siêu huyền bí”, “những thứ dài miên
Trang 2man với những cuốn sách dày cộm” gắn với nó là “các ông giáo sư đầu to mắt cận” nênkhông cần thiết Vậy, làm thế nào để môn học vốn khó khăn với người lớn, trở nên hấpdẫn và có ý nghĩa với học sinh lớp 10 đó là vấn đề mà nhiều giáo viên giảng dạy mônGDCD ở THPT suy nghĩ Qua nhiều năm giảng dạy môn GDCD, đặc biệt là GDCD lớp
10- phần triết học, bản thân tôi đã đúc rút được “ Một số giải pháp hướng dẫn học sinh tiếp thu một cách hứng thú và có hiệu quả kiến thức triết học môn GDCD lớp 10- phần I”, đó là lí do tôi chọn đề tài này.
2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên sử dụng giải pháp hay, hợp lí, phù hợp nộidung bài học gần gũi với cuộc sống vừa phù hợp với đối tượng học sinh sẽ có ý nghĩa vàtác động lớn đến việc dạy và học kiến thức triết học GDCD 10- Phần I ở trường THPT +Thay đổi cách tiếp thu kiến thức của học sinh trong quá trình học tập: Từ lĩnh hộikiến thức một cách thụ động, một chiều, chuyển sang chủ động tìm hiểu kiến thức và vậndụng kiến thức để lí giải, giải quyết, xử lí các tình huống, vấn đề trong cuộc sống mộtcách khoa học và có hiệu quả cao
+Phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh trong quá trình học
+Tạo niềm tin và sự khao khát đối với học sinh trong việc khám phá, tìm hiểu thếgiới khách quan và khả năng vận dụng những kiến thức về triết học lí một cách khoa học,đúng đắn về thế giới vật chất, đồng thời học sinh bác bỏ quan điểm duy tâm, tôn giáo + Giáo viên cảm thấy hạnh phúc và nỗ lực hơn trong quá trình giảng dạy khi họcsinh yêu thích môn học do mình phụ trách
+ Luôn có ý thức trong việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, ứng dụng côngnghệ thông tin và tìm kiếm những giải pháp hay, phù hợp với nội dung bài học và đốitượng học sinh trong quá trình giảng dạy kiến thức phần triết học nói riêng và mônGDCD nói chung
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
-Thực trạng của việc dạy và học kiến thức triết học GDCD lớp10- Phần I ở trườngTHPT hiện nay
-Giải pháp hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức triết học một cách hứng thú và cóhiệu quả
Trang 3II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1 Cơ sở lí luận
Giáo dục công dân là môn học không thể thiếu trong chương trình học ở trườngTHPT, đặc biệt là GDCD lớp10- Phần triết học Kiến thức triết học ở chương trìnhGDCD lớp10, cung cấp cho học sinh học một thế giới quan khoa học hay nói một cách dễhiểu là triết học sẽ giúp các em có cái nhìn, quan niệm đúng đắn về thế giới xung quanh,
về cuộc sống, các hiện tượng trong tự nhiên Từ đó, các em có nhân sinh quan đúng đắn
để lựa chọn những biện pháp, giải pháp cụ thể để giải quyết, xử lí những tình huống,những vấn đề trong thực tế một cách có hiệu quả Bên cạnh đó, triết học Mác- Lênin còngóp phần hình thành và phát triển trí tuệ, nâng cao năng lực, trình độ tư duy; hình thànhnhững giá trị văn hóa, đạo đức, niềm tin của học sinh trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa của đất nước Triết học Mác-Lênin là môn học có nhiều vai trò trong chươngtrình giáo dục, nhưng thực tế việc học và dạy của bộ môn này nói chung và kiến thức triếthọc GDCD lớp10- Phần I nói riêng ở các trường THPT thực sự chưa hiệu quả
Theo quan niệm của học sinh, triết học là những kiến thức cao siêu, huyền bí lạikhô khan thậm chí là “vớ vẫn” và “không cần thiết” đối với lứa tuổi của chúng mà chỉcần thiết cho các anh chị sinh viên, người làm công tác lãnh đạo, nghiên cứu
Một số giáo viên chưa thấy tầm quan trọng của triết học đối với học sinh nên chưatâm huyết và nhiệt tình trong việc hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức triết học mộtcách hiệu quả
Nội dung kiến thức sách giáo khoa trình bày khó hiểu, mang tính khái quát, ví dụminh họa ít, không gần gũi với cuộc sống, tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 10 nên cũng ảnhhưởng không ít đến hiệu quả học tập của học sinh và kết quả giảng dạy của giáo viên
1.2 Cơ sở thực tiễn
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, môn GDCD lớp 10 sẽ cónhững kiến thức nền tảng đầu tiên về triết học Mác-Lênin, nhưng làm thế nào để kiếnthức vốn khó đối với các anh chị sinh viên trở thành kiến thức hấp dẫn và có ý nghĩa đốivới các em học sinh lớp 10, không phải là chuyện dễ
Phần lớn ở các trường THPT giáo viên được đảm nhận công việc giảng dạy mônhọc này là giáo viên không chuyên, kiến thức chuyên môn có hạn chế nhất định nên việchướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức gặp khó khăn
Trang 4Một số giáo viên đào tạo đúng chuyên ngành thì hời hợt với việc giảng dạy, khôngchịu khó nghiên cứu đầu tư bài giảng và nghiên cứu phương pháp dạy học phù hợp vớiđối tượng học sinh nên giảng dạy máy móc, lệ thuộc vào sách giáo khoa, xa rời thực tế,dẫn đến việc học sinh cảm thấy khó hiểu và chán khi tiếp thu kiến thức triết học
Thiết bị, phương tiện và đồ dùng phục vụ cho công việc giảng dạy và học tập đốivới môn GDCD nói chung và kiến thức triết học nói riêng rất hạn chế
Bản thân học sinh cũng có định kiến với môn học- đó là môn phụ không quan trọngnên ít quan tâm, nghiên cứu đầu tư thời gian học, nếu có thì nhằm đối phó với giáo viên.Xuất phát từ lí luận, thực tiễn của quá trình dạy học, theo tôi để mang lại hiệu quả
và sự hứng thú, say mê đối với học sinh khi tiếp thu kiến thức triết học giáo viên cần:Hiểu rõ đặc thù của môn học, đặc biệt là kiến thức triết học Mác-Lênin trong môn GDCDlớp10- Phần I
Trong quá trình giảng dạy, cần tìm kiếm các giải pháp thiết thực với nội dung kiến thức bài dạy, đồng thời phải phù hợp với học sinh lớp 10 để việc dạy và học kiến thức triết học tốt hơn Nếu các giải pháp đáp ứng yêu cầu trên, chắc chắn việc dạy và học môn GDCD lớp 10- Phần triết học ở trường THPT có nhiều chuyển biến tích cực Từ những
mong muốn trên, tôi đã lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp hướng dẫn học sinh tiếp thu một cách hứng thú và có hiệu quả kiến thức triết học GDCD lớp 10- phần I"
2 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp
Trang 5là “khoa học của mọi khoa học”, cách thức phản ánh thế giới của triết học cũng khácnhưng vai trò của nó không giảm mà ngược lại ngày càng trở thành công cụ sắc bén để
con người nhận thức và cải tạo thế giới, đúng như Các Mác nói: “Không có Triết học thì không thể tiến lên phía trước” Ở nước ta, Triết học Mác- Lênin góp phần tích cực
vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo, phát triển
và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả trong sự nghiêp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Theo đó, công tác dạy và học triết học ở các trường cao đẳng, đại học nói chung và
ở môn DGCD lớp 10- Phần I nói riêng đã được quan tâm, đổi mới cả về nội dung chươngtrình, phương pháp giảng dạy, hình thức kiểm tra đánh giá để đáp ứng được yêu cầu thựctiễn đặt ra Nhưng thực tế của việc dạy và học kiến thức về triết học, đặc biệt là kiến thứctriết học Mác-Lênin GDCD lớp10- phần I chưa thực sự có hiệu quả:
-Học sinh vẫn còn quan niệm triết học là những kiến thức chưa thực sự cần thiếtcho học sinh lớp 10 Nhưng vì nó là kiến thức bắt buộc trong chương trình nên phải học
để đủ điều kiện lên lớp, vì thế học sinh không thấy được cái hay và ý nghĩa của môn họcđối với mình
-Giáo viên giảng dạy môn GDCD không phải chịu áp lực về chỉ tiêu, thi cử nên antoàn và dễ dàng là nói và giảng những gì mà được viết trong sách giáo khoa Từ đó giáoviên vô tình làm mất dần sự tích cực, tự giác và sáng tạo của người học, khiến tiết học trởnên nhàm chán và khô khan Bên cạnh đó, trong quá trình giảng dạy kiến thức triết họcgiáo viên sử dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học không phù hợp với nội dung kiến thức
Trang 6Ví dụ minh họa trong sách không phong phú, một số xa rời với cuộc sống, nên gây khókhăn cho viêc dạy và học của giáo viên và học sinh.
-Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, giáo viên sử dụng phương pháp thuyếttrình, giảng giải là chính, chưa sử dụng và kết hợp có hiệu quả các phương pháp, kỹ thuậtdạy học theo hướng tích cực dẫn đến hiện tượng dạy học không phát huy tính tích cực, tựgiác của học sinh
- Việc học thuộc lòng kiến thức triết học vừa không có tác dụng vừa khó đối với học sinh lớp 10 nên các em cảm thấy bị áp lực Trong thực tế hiện nay, cách thức kiểm tra, đánh giá học sinh của bộ môn GDCD ở trường THPT vẫn còn nặng về học thuộc lòng kiến thức
-Bản thân người giáo viên được giao nhiệm vụ chưa làm tốt trách nhiệm của mìnhtrong giảng dạy Một số giáo viên đào tạo chưa đạt chuẩn về chuyên môn, thiếu tâmhuyết với nghề nên trong quá trình giảng dạy không chịu khó nghiên cứu sách và tài liệu
có liên quan để phục vụ công việc giảng dạy, dẫn đến việc hướng dẫn học sinh lĩnh hộikiến thức không hấp dẫn và chưa có hiệu quả Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ giáoviên giảng dạy bộ môn GDCD ở trường THPT có thu nhập thấp so với giáo viên dạy cácmôn học khác nên họ tập trung nghề phụ để tăng thu nhập, ít đầu tư chuyên môn
-Học sinh chưa nhận thức đúng về giá trị của kiến thức triết học mang lại cho bảnthân trong cuộc sống thực tế
2 Nhiệm vụ của đề tài
Đề tài này khắc phục hạn chế của việc dạy và học kiến thức triết học ở môn GDCDlớp 10- Phần I ở các trường THPT:
+Tạo sự hứng thú học tập cho học sinh, từ đó giúp các em say mê tìm kiếm, khámphá tri thức khoa học và vận dụng tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống
+Thay đổi quan niệm và cách học của học sinh đối với kiến thức triết học
+Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, đem lại niềm vui, hứng thú học tập chohọc sinh, giúp học sinh thấy được lợi ích và ý nghĩa của môn học đối với bản thân
+Thay đổi thái độ và phương pháp dạy học của giáo viên phù hợp với yêu cầu thựctiễn và đối tượng học sinh hiện nay
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP MỚI
1 Những giải pháp cụ thể hướng dẫn học sinh tíếp thu kiến thức triết học GDCD lớp 10- Phần I.
Trang 71.1 Vận dụng kiến thức liên môn trong quá trình dạy kiến thức triết học.
Theo mục tiêu của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là “Giáo dục con người ViệtNam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cánhân” Công cuộc đổi mới hiện nay đòi hỏi giáo dục phổ thông phải đào tạo những conngười toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mỗi mônhọc trong trường phổ thông với đặc trưng của mình đều phải góp phần đào tạo thế hệ trẻ.Môn GDCD nói chung và kiến thức triết học Mác-Lênin ở lớp 10 nói riêng có mối quan
hệ rất chặt chẽ với các môn học khác Vì vậy, để tạo sự hứng thú học tập đối với học sinh
và mang lại hiệu quả học tập cao, giáo viên nên vận dụng kiến thức các môn học liên
quan trong quá trình giảng dạy kiến thức triết học Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng
kiến thức của các môn học liên quan phải đảm bảo: Sử dụng kiến thức liên môn phải giúphọc sinh lĩnh hội được kiến thức cơ bản của bài học; gây hứng thú học tập cho học sinhphải góp phần phát triển năng lực tư duy và kĩ năng thực hành bộ môn cho học sinh; sửdụng kiến thức liên môn phải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh, phù hợp yêu cầukiến thức của bài học Giáo viên có thể sử dụng kiến thức liên môn để kiểm tra bài cũ,giới thiệu bài mới, làm rõ cái khái niệm, quy luật trong triết học ở chương trình GDCDlớp 10- Phần I
Giáo viên sử dụng kiến thức môn Ngữ Văn (sử dụng thơ, ca dao hay tục ngữ) đểgiới thiệu bài mới, làm rõ nội dung kiến thức đang cần tìm hiểu hay đặt câu hỏi để kiểmtra kiến thức bài cũ của học sinh Trong quá trình giảng dạy giáo viên khuyến khích họcsinh sưu tầm thơ, ca dao, tục ngữ minh họa cho nội dung kiến thức cần làm rõ vừa pháthuy tính tự giác, tích cực đối với người học, vừa giúp giáo viên tích lũy thêm kho tàng cadao tự ngữ để làm tốt hơn công việc dạy học của mình Ví dụ kiểm tra kiến thức bài cũ
của học sinh ở Bài 1-Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng (GDCD
10)
Giáo viên kiểm tra kiến thức bài cũ của học sinh bằng cách đọc đoạn thơ:
“Ngẫm hay muôn sự tại trời Trời kia đã bắt làm người có thân Bắt phong trần phải phong trần Cho thanh cao mới được phần thanh cao”
(Nguyễn Du)
Trang 8GV: Hãy cho biết đoạn thơ trên của Nguyễn Du nói về thế giới quan duy tâm hayduy vật? Hãy cho biết thế nào là thế giới quan duy tâm?
Tạo không khí vui vẻ, thu hút sự tập trung đối với học sinh ngay từ lúc bắt đầu tiết học, giáo viên dùng ca dao để giới thiệu bài mới
“Gái một con trông mòn con mắt Hai con, con mắt liếc ngang
Ba con cổ ngoảnh, răng vàng Bốn con quần áo đi ngang khét mù Năm con tóc rối tổ cu… »
GV: Đoạn ca daotrên nói về vấn đề gì?
HS trả lời: Sự thay đổi của người phụ nữ một, hai con thì đẹp, gọn gàng thu hút được sự chú ý của người khác, khi sinh quá nhiều con trở nên lượm thợm, xấu xí
GV: Sự thay đổi đó cũng được gọi là vận động Vậy vận động là gì? Vận động nào
được gọi là phát triển, chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này qua bài 3- Sự vận động và phát triển của thế giới vật chất.
Giáo viên giới thiệu bài 5, GDCD 10 bằng đoạn thơ trong bài Thêm một của nhà
thơ Trần Hòa Bình
“Thêm một chiếc lá rụng, Thế là thành mùa thu.
Thêm một tiếng chim gù, Thành ban mai tinh khiết
Dĩ nhiên là tôi biết
Thêm một lắm điều hay Nhưng mà tôi cũng biết Thêm một phiền toái thay…"
GV: Theo các em đoạn thơ trên nói về điều gì? HS trả lời, thông qua câu trả lời củahọc sinh, giáo viên phân tích trong cuộc sống và giới tự nhiên chỉ cần thêm hay bớt mộtchút ít là sự vật, hiện tượng có thể biến đổi thành cái khác Tại sao lại như vậy, chúng ta
sẽ lí giải được vấn đề này thông qua bài 5: Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng.
Giáo viên sử dụng thơ, ca dao hay tục ngữ để làm rõ nội dung kiến thức đang cần
tìm hiểu Ví dụ bài 1- Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng
Trang 9Phương pháp luận biện chứng: Xem xét sự vật, hiện tượng trong sự ràng buộc tác động qua lại, trong sự vận động và phát triển không ngừng.
“Bứt dây động rừng”,
“Môi hở răng lạnh”
“Mạ nhờ nước, nước nhờ mạ”
“Trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”
“Trời còn khi nắng khi mưa, ngày còn khi sớm khi trưa nữa người”
“Người có lúc vinh lúc nhục, nước có lúc đục lúc trong”.
Diễn tả mối quan hệ sự thay đổi về lượng khi đạt đến điểm nút làm cho chất của
sự vật, hiện tượng thay đổi (Bài 5- Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng)
“Mèo già hóa cáo”
“Góp gió thành bão, góp cây nên rừng”
“Tốt quá hóa lốp”
Tính kế thừa của phủ định biện chứng: Trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, cái mới ra đời từ cái cũ, cái có trước, nhưng nó không xóa bỏ hoàn toàn cái cũ mà chỉ gạt bỏ những yếu tố lạc hậu của cái cũ và giữ lại yếu tố tiến bộ để phát triển thành cái
mới (Bài 6- Khuynh hướng phát triển của sự vật và hiện tượng).
"Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh",
"Con ai mà chẳng giống cha, cháu nào mà chẳng giống bà giống ông",
“Giỏ nhà ai quai nhà nấy”
Kinh nghiệm, hiểu biết của con người suy cho cùng đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn (Bài 7- Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức)
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”.
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ,
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”.
“Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa”.
“Chuồng lợn hướng đông, thổ công hướng bắc”.
“Mây kéo xuống bể thì nắng chang chang, mây kéo lên ngàn thì mưa như trút”
Bên cạnh đó, giáo viên có thể sử dụng kiến thức liên môn để làm ví dụ minh họagiảng dạy nội dung kiến thức của bài học Khi giáo viên dạy bài mới, đến phần nội dung
Trang 10kiến thức cơ bản ngoài phần nội dung của sách giáo khoa GDCD trình bày, giáo viên có
thể làm rõ, bổ sung thêm kiến thức qua môn học khác Ví dụ khi dạy mục a) Mặt đối lặp của mâu thuẫn (Bài 4, GDCD lớp10- Nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng) giáo viên vận dụng kiến thức môn Sinh học ( trong một sinh vật có quá trình đồng hóa và dị hóa ), Vật lí (trong hạt nhân có điện tích âm và điện tích dương) để học
sinh hiểu rõ hơn về mặt đối lập của mâu thuẫn Sách giáo khoa GDCD lớp 10 phần kiếnthức triết học, chỉ có kiến thức cơ bản, ít có ví dụ nên để học sinh thích thú, tiếp thu cóhiệu quả nội dung kiến thức bài học và có khả năng vận dụng kiến thức của bài học vàothực tiễn cuộc sống, giáo viên cần dày công nghiên cứu kiến thức của các môn học cóliên quan để phục vụ cho bài học
* Ví dụ minh họa cụ thể
Bài 5: Cách thức vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng GDCD lớp 10
Để tiết học trở nên hấp dẫn và có hiệu quả giáo viên có thể dùng kiến thức liên môn:Hóa học, Toán học, Vật lí, Lịch sử, Địa lí để làm rõ nội dung các khái niệm, quy luật khidạy bài này
-Nguyên tử khối = 64 -Nhiệt độ nóng chảy : 1083 0 C
GV: Dựa vào tính chất vừa cung cấp thêm hãy nêu tên của hai kim loại ?
HS: Vàng (Au) và Đồng (Cu)
Trang 11GV: Dựa vào đâu mà các em biết được đó là Vàng và Đồng?
HS: Nguyên tử khối và nhiệt độ nóng chảy
GV: Nhiệt độ nóng chảy, nguyên tử khối của Vàng giúp chúng ta phân biết đượcVàng với kim loại khác gọi là chất của Vàng
GV: Chất là gì?
HS: Chất là khái niệm dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản vốn có của sự vật, hiệntượng, tiêu biểu cho sự vật, hiện tượng đó, phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác.GV: Nhận xét, hướng dẫn học sinh ghi nội dung khái niệm chất
Giáo viên hướng dẫn học sinh phân biệt khái niệm chất trong triết học và khái niệmchất trong khoa học cụ thể, trong cuộc sống Khái niệm chất trong triết học là để phânbiệt sự vật này với sự vật khác, còn chất thông thường dùng để chỉ vật liệu cấu thành sựvật, chỉ độ tốt xấu hoặc giá trị của sự vật
2) Lượng
GV: Sử dụng kiến thức môn Địa lí làm ví dụ để làm rõ khái niệm lượng
GV: Cho học sinh biết về những thông tin:
+ Diện tích lãnh thổ của nước ta: 331.698 km2
+Tăng trưởng kinh tế:
Năm 2010: 6,78%; năm 2011: 5,98%; năm 2012:5,03%; 2013: 5,4%; Năm 2014khoảng 5.6%
+Thu nhập bình quân theo đầu người:
Năm 2010: 1224 USD; năm 2012: 1540 USD; năm 2013: 1960 USD
GV: Những thông tin trên phản ánh điều gì của đất nước và nền kinh tế Việt Nam ?HS: Phản ánh qui mô, tốc độ, trình độ phát triển của đất nước cũng như nền kinh tế.GV: Những con số, đại lượng trên phản ánh mặt chất hay lượng của nền kinh tếnước ta?
HS: Mặt lượng
GV: Lượng là gì?
HS: Lượng là khái niệm dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản vốn có của sự vật,hiện tượng biểu thị trình độ phát triển, qui mô ( lớn, nhỏ), tốc độ vận động của sự vật,hiện tượng
GV bổ sung, lượng của sự vật, hiện tượng thường được biểu thị bằng con số, đạilượng cụ thể Tuy nhiên, có những sự vật, hiện tượng phức tạp, trừu tượng như tình cảm,
Trang 12tri thức, lượng của nó không thể biểu thị bằng đại lượng, con số chính xác Mỗi một sựvật, hiện tượng đều có chất và lượng đặt trưng, đó là những thuộc tính vốn có của sự vật,hiện tượng Không có chất và lượng nằm ngoài sự vật, hiện tượng.
3) Quan hệ giữa sự biến đổi về lượng và sự biến đổi về chất
a) Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất
GV: Vận dụng kiến thức của môn Vật lí để làm ví dụ minh họa
Ở nhiệt độ binh thường, nước nguyên chất là chất lỏng (00C< t0C < 1000C); Từ
1000C trở lên nước ở trạng thái hơi; Nếu nhiệt độ của nước giảm từ 00C trở xuống nướcchuyển sang trạng thái rắn
HS: Chất của nước thay đổi (Lỏng sang rắn, lỏng sang hơi)
GV: Tại điểm t0C = 00C và t0C= 1000C gọi là điểm nút, hãy cho biết điểm nút là gì?
Trang 13HS: Điểm nút là điểm giới hạn mà tại đó sự biến đổi về lượng làm cho chất của sựvật, hiện tượng thay đổi.
Qua phân tích sự thay đổi lượng của nước làm thay đổi chất của nước hãy cho biết
sự thay đổi của lượng dẫn đến sự thay đổi chất của sự vật, hiện tượng?
HS trả lời
GV: Nhận xét, kết luận, hướng dẫn học sinh ghi bài- Sự biến đổi về lượng dẫn đến
sự biến đổi về chất
GV có thể dùng kiến thức Toán, Hóa hóa học hoặc Lịch sử bổ sung ví dụ minh họa
về sự thay đổi của lượng dẫn đến sự thay đổi của chất
+Dùng kiến thức môn Lịch sử: Phong trào cách mạng Việt Nam cũng là quá trìnhthay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất Từ cao trào cách mạng 1930- 1931 đến cuộcvận động dân chủ (1936- 1939), đến cao trào giải phóng dân tộc (1939- 1945), đến cáchmạng tháng tám 1945 đều là quá trình chuẩn bị về lượng để dẫn đến sự thay đổi về chấtcủa xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng- từ nước thuộc địa nửa phong kiến(Chấtcũ) thành nước Việt Nam dân chủ cộng hòa(Chất mới)
+ Kiến thức Hóa học: Sự biến đổi của lượng vượt quá độ và đạt đến điểm nút sẽdẫn đến sự biến đổi về chất
Trong dãy đồng đẳng của Mê tan (CH4) chỉ cần thêm một lượng CH2 thì hợp chấtnày chuyển sang hợp chất khác: CH4+CH2→ C2H6 (Êtan )
+Kiến thức trong Toán học: Một HCN có chiều dài 4cm và chiều rộng 8cm
Trang 14
Hình 3 Hình 4
GV: Cho học sinh liên hệ vấn đề học tập của bản thân
GV hỏi: Hiện tại ở HKI em là học sinh trung bình (chất), để trở thành học sinh khá
ở HKII em phải làm cách nào?
HS trả lời: Cố gắng học tập, đọc thêm sách, học hỏi bạn bè, tích lũy kiến thức thihọc kì II đạt điểm cao
GV nhận xét, bổ sung: Muốn thay đổi kết quả học, thay đổi cuộc sống theo chiềuhướng tốt cần phải tích lũy kinh nghiệm, kiến thức và cần có thời gian, kiên trì nhẫn nại,không được nóng vội, đốt cháy gian đoạn dẫn đến kết quả không tốt
b) Chất mới ra đời bao hàm một lượng mới tương ứng
GV ví dụ: Khi còn là học sinh THPT(Chất), lượng kiến thức bạn có ít, khả năngnhận thức chậm (lượng) Sau ba năm cố gắng trong học tập, tích lũy kiến thức kết quảbạn thi đậu tốt nghiệp THPT và đại học, bạn đã được công nhận là sinh viên (chất mới) GV: Tương ứng với chất mới (sinh viên) lượng kiến thức như thế nào mới phù hợp?HS: Kiến thức, hiểu biết phải nhiều hơn trước, khả năng nhận thức phải nhanh…GV: Cho học sinh tự rút ra kết luận của mục b
Mọi sự vật, hiện tượng đều có chất và lượng đặt trưng phù hợp.Vì vậy, khi chất mới
ra đời lại bao hàm một lượng mới để tao thành sự thống nhất giữa chất và lượng
Như vậy, giáo viên lựa chọn, sử dụng kiến thức của các môn học có liên quan phùhợp trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức triết học sẽ làm cho học sinhhứng thú và hiệu quả của việc dạy và học tốt hơn Đồng thời qua phân tích ví dụ làm rõcác qui luật, học sinh rút ra được bài học cho bản thân, vận dụng kiến thức tìm hiểu làmthay đổi kết quả học tập và cuộc sống theo chiều hướng tốt
1.2 Kết hợp các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp nội dung kiến thức và đối tượng học sinh.
Việc sử dụng hợp lí các phương pháp, kĩ thuật vào trong quá trình dạy học đượcxem là một trong những biện pháp phát huy tôi đa hiệu quả của quá trình dạy học Tuy
4cm
4cm
Trang 15theo từng môn học mà giáo viên lựa chọn phương pháp phù hợp để đạt hiệu quả cao
trong quá trình giảng dạy Điều 28, Luật giáo dục yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”.
Đối với kiến thức Triết học GDCD lớp10- phần I, lâu nay giáo viên thường dùngphương pháp thuyết trình, giảng giải là chủ yếu nên không thể phát huy tính tự giác, sángtạo, khả năng tư duy độc lập của học sinh, đồng thời không đánh giá được khả năng lĩnhhội và vận dụng kiến thức của học sinh Chính vì vậy, để học sinh hăng hái trả lời các câuhỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình trướcvấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủđộng vận dụng kiến thức, kĩ năng về triết học để nhận thức vấn đề mới; tập trung chú ývào vấn đề đang học Trong quá trình giảng dạy, kiến thức triết học Mác- Lênin ở lớp
10, giáo viên cần sử dụng các phương pháp dạy học tính tích cực như: Nêu vấn đề, thảoluận nhóm, nghiên cứu trường hợp điển hình…và kết hợp các kỹ thuật dạy học phù hợpvới từng nội dung kiến thức của tiết, bài học và đối tượng học sinh
Ví dụ minh họa cụ thể: Tiết 13, Bài 7: Thực tiiễn và vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức (3.Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức).
Phương pháp, kĩ thuật dạy học giáo viên sử dụng: Nghiên cứu trường trường hợpđiển hình, thảo luận nhóm, nêu vấn đề, kĩ thuật trình bày một phút, kĩ thuật đặt câu hỏi.Giáo viên sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình để hướng dẫn họcsinh làm rõ nội dung kiến thức thực tiễn là cơ sở của nhận thức, thực tiễn là động lực củanhận thức
a.Thực tiễn là cơ sở của nhận thức
GV: Giải thích từ “cơ sở” được hiểu như “nguồn gốc”
GV: Dùng clip “Xuân về đi gác kèo ong” E:\Xuan ve di gac keo ong.flv (Báo tuổi trẻ đưa tin) nội dung nói về hoạt động gác kèo để khai thác mật ong của người dân ở rừng U Minh Hạ Trước khi xem đoạn clip giáo viên lưu ý học sinh một vấn đề:
-Khai thác mật ong của người dân trong clip có phải là hoạt động thực tiễn không? Thuộc hoạt động nào của hoạt động thực tiễn?
-Để khai thác mật có hiệu quả người dân trong clip phải làm gì?
Trang 16-Những kinh nghiệm, hiểu biết của người dân trong clip có được từ đâu?
Học sinh xem đoạn clip và trả lời câu hỏi theo yêu cầu của giáo viên
GV hỏi: Khai thác mật ong của người dân trong clip có phải là hoạt động thực tiễn không? Thuộc hoạt động nào của hoạt động thực tiễn?
HS trả lời: Khai thác mật ong của người dân trong clip là hoạt động thực tiễn, thuộchoạt động sản xuất vật chất
GV: Nhận xét
GV hỏi: Để khai thác mật có hiệu quả người dân trong clip phải làm gì?
HS trả lời:
-Chọn hướng gió, chọn nơi có ánh sáng phù hợp để gác kèo
-Kèo to để bầy ong lớn đáp xuống làm tổ
-Khi ong đáp kèo khoảng 20 ngày là thu hoạch
-Khi cắt tàng ong nên chừa lại một ít vì cắt hết ong sẽ bỏ tổ mà đi
GV: Nhận xét, bổ sung
GV hỏi: Những kinh nghiệm, hiểu biết của người dân trong clip có được từ đâu?
HS trả lời:
-Học hỏi từ người đi trước
-Kinh nghiệm, hiểu biết đó được rút ra từ quá trình khai thác mật của chính bản thânngười dân
GV: Nhận xét, bổ sung
Hiểu biết, kinh nghiệm (nhận thức) của người dân có được nhờ học hỏi từ người đi trước Để có kinh nghiệm truyền lại cho thế hệ sau người đi trước cũng phải tiến hành khai thác mật nhiều lần Ngoài ra nhận thức của người dân có được từ chính quá trình khai thác mật của họ - hoạt động thực tiễn
GV hỏi: Từ phân tích trên, hãy giải thích vì sao nói thực tiễn là cơ sở của nhận thức?
HS trả lời:
- Mỗi người, mỗi thế hệ không chỉ có những nhận thức do thực tiễn và kinh nghiệmtrực tiếp đem lại mà còn kế thừa tiếp thu những tri thức của thế hệ đi trước, của ngườikhác đem lại Song, suy cho cùng nhận thức của con người đều nảy sinh từ thực tiễn.-Thông qua hoạt động thực tiễn, giác quan con người ngày càng hoàn thiện, nhậnthức của con người ngày càng sâu sắc, đầy đủ
GV: Nhận xét, kết luận hướng dẫn học sinh ghi bài
Trang 17GV hỏi: Tìm một số câu ca dao, tục ngữ nói về kinh nghiệm của con người có được thông qua hoạt động thực tiễn?(GV gợi ý trong sản xuất nông nghiệp)
HS trả lời:
-Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa
-Nhất giống, nhì phân, tam cần, tứ nước
b.Thực tiễn là động lực của nhận thức.
GV: Cho học sinh giải thích từ “động lực” được hiểu “thúc đẩy” và tiếp tục sử dụng lại clip hoạt động gác kèo khai thác mật ong của người dân ở rừng U Minh Hạ để đặt vấn đề
GV hỏi: Để xua đuổi đàn ong đi và lấy được mật người dân phải làm cách nào?
HS trả lời: Người dân đốt lửa tạo khói
GV: Việc đem lửa vào rừng đốt để tạo khói, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng Cháy rừng
để lại hậu quả nghiêm trọng, đe đọa tính mạng, sức khỏe của con người và các loại độngthực vật quí hiếm Yêu cầu thực tiễn đặt ra, phải làm cách nào vừa khai thác được mậtnhưng không gây cháy rừng
GV hỏi: Từ thực tiễn đặt ra yêu cầu người dân phải làm gì để vừa khai thác đượcmật vừa bảo vệ rừng?
HS trả lời: Không mang lửa vào rừng mà tìm cách khác an toàn hơn
GV hỏi: Từ phân tích trên hãy lí giải tại sao nói thực tiễn là động lực của nhận thức?
HS trả lời: Thực tiễn luôn luôn vận động, đặt ra yêu cầu mới cho nhận thức và tạo
ra những tiền đề vật chất cần thiết thúc đẩy nhận thức phát triển
GV: Nhận xét, kết luận và bổ sung ví dụ
Trang 18Giáo viên vừa cho học sinh quan sát hình ảnh vừa giảng giải vấn đề để khẳng địnhthực tiễn luôn vận động đặt ra yêu cầu mới nhờ đó mà nhận thức của con người ngàycàng phát triển.
vệ con người Con người đã suy nghĩ, nghiên cứu và đã tìm ra giải pháp đó là chế tạo mũbảo hiểm dành cho người đi xe máy, túi khí dành cho người đi xe hơi Nhưng một vấn đểnữa đặt ra chất thải từ các phương tiện đó lại gây ra ô nhiễm môi trường, làm cách nàocon người vẫn sử dụng chúng để đi lại nhưng không gây ô nhiễm môi trường, buộc conngười phải suy nghĩ tìm ra nguồn nhiên liệu mới thay thế Các nhà khoa học thuộc Đạihọc Califomia Mỹ đã tìm kiếm nhiên liệu thay thế cho xăng, dầu đó là Pinhyđrô Nhưvậy thực tiễn luôn đặt ra yêu cầu mới cho nhận thức, khi giải quyết được yêu cầu đó thìhiểu biết của con người tăng thêm
c.Thực tiễn là mục đích của nhận thức
GV sử dụng phương pháp nêu vấn đề kết hợp với kĩ thuật đặt câu hỏi
Để trở thành người lao động có trình độ cao con người cần phải học Nếu conngười học mà chẳng để làm việc gì thì việc học đó không có giá trị và trở nên vô nghĩa
Xe chạy bằng Pin hy đrô