1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

QUYẾT ĐỊNH tài TRỢ của CÔNG TY đa QUỐC GIA

33 185 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 359,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUYẾT ĐỊNH TÀI TRỢ CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA I. Tài trợ vốn thương mại quốc tế : 1. Khái niệm tài trợ thương mại quốc tê Tài trợ thương mại quốc tế là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các DN hoặc các đơn vị kinh tế tham gia trong lĩnh vực thương mại quốc tế trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường thế giới nhằm mục đích sinh lời. Hầu hết các công ty đa quốc gia có mối tương quan chặt chẽ với ngoại thương bên cạnh các hoạt động quốc tế khác của họ. Việc tài trợ vốn hoạt động thương mại đòi hỏi những số tiền lớn, cũng như các dịch vụ tài trợ như thư tín dụng và chấp nhận. Do đó, việc các nhà quản trị tài chính của các công ty đa quốc gia phải có kiến thức về các định chế tài chính và các thủ tục chứng từ đã phát triển qua nhiều thế kỉ để làm đơn giản hóa lưu thông hàng hóa quốc tế. 2. Phân loại tài trợ thương mại quốc tế Xét về mặt hình thức thức tài trợ thì tài trợ TMQT được thực hiện dưới hai hình thức là: Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp là tập hợp các biện pháp hoặc hình thức hỗ trợ trực tiếp tác động đến hoạt động kinh doanh TMQT của DN thường được thực hiện thông qua việc cho vay ngắn, trung, dài hạn để tài trợ cho hoạt động XNK nguyên nhiên liệu, hàng tiêu dùng, thay đổi dây chuyền công nghệ máy móc thiết bị, hoặc được thực hiện thông qua hình thức cung ứng dịchvụ tiền tệ, tín dụng, NH như các dịch vụ TTQT (tín dụng chứng từ, nhờ thu), bảo lãnh, bao thanh toán tương đối (Factoring), bao thanh toán tuyệt đối (Forfaiting),thuê mua (Leasing). Tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp là tập hợp các biện pháp hình thức hữu hiệu nhằm tạo ra môi trường kinh doanh TMQT thuận lợi cho các DN như:chính sách thuế XNK; chính sách tỷ giá hối đoái; môi trường pháp lý ổn địnhphù hợp với thực tiễn TMQT; chính sách lãi suất. Nếu căn cứ vào người cung ứng tài trợ thì tài trợ TMQT có thể chia thành: Tài trợ thương mại quốc tế của nhà nước, đặc trưng của hình thức này `là tài trợ gián tiếp thông qua NHTƯ, các tổ chức tín dụng NH và phi NH, các cơquan của chính phủ bằng các biện pháp thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ bình ổn giá,quỹ dự phòng rủi ro, quỹ xúc tiến phát triển, dưới các hình thức bảo lãnh, tái chiết khấu, và thông qua các chính sách tài chính tiền tệ ở tầm vĩ mô. Tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng trung ương, ở đây NHTƯ trở thành người thực hiện các chính sách cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu, cấp bảo lãnh nhà nước, thực hiện các chính sánh tài chính tiền tệ như tỷ giá, lãi suất, phá giá tiền tệ,... Tài trợ thương mại quốc tế của các tổ chức tín dụng, đặc trưng của hình thức tài trợ này là tài trợ trực tiếp từ người tài trợ đến người nhận tài trợ, không phải qua các kênh trung gian khác, thông qua cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, thuê mua tài chình, tín dụng chứng từ, nhờ thu,... Tài trợ thương mại quốc tế của các doanh nghiệp, với các công cụ sử dụng thường là tín dụng thương mại như hối phiếu trả chậm, thanh toán ghi sổ,ứng tiền trước khi giao hàng,... Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, nhằm tạo sự bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đã dần được bãi bỏ,cũng tương tự như vậy sự can thiệp của các hình thức tài trợ TMQT do các chủ thể như nhà nước và NHTƯ ngày càng bị hạn chế, thu hẹp thậm chí bị cấm đoán. Thay vào đó, vai trò của các tổ chức tín dụng và các DN với các hình thức động TMQT ngày càng được nâng cao. Với tính chuyên nghiệp cao, tiềm lực tài chính hùng mạnh và mạng lưới cơ sở rộng khắp, các NHTM đã trở thành nhà tài trợ chủ yếu cho hoạt động TMQT. Chính vì vậy, trong chuyên đề này, tài trợTMQT sẽ được đề cập dưới giác độ nhà tài trợ là các NHTM; hay nói cách khác ,hoạt động tài trợ TMQT được đề cập ở đây được hiểu là hoạt động tài trợ TMQTcủa NHTM. 3. Vai trò hoạt động tài trợ thương mại quốc tế Trong hoạt động TMQT nhà xuất khẩu cần phải thực hiện các nhiệm vụ bao gồm: tìm kiếm thị trường, tiếp xúc khách hàng, kí kết hợp đồng, chuẩn bị sản xuất, thực hiện quá trình sản cuất, cung ứng sản phẩm, lắp ráp chạy thử, giao hàng… Còn NNK phải thực hiện kí kết hợp đồng nhận hàng, cung ứng, chuyểngiao, giao nhận, tiêu thụ hàng hóa. Trong suốt các quá trình trên, cả người nhập khẩu và người xuất khẩu đều cần có sự tài trợ về vốn để có thể nâng cao uy tín,tạo lòng tin với đối tác và đảm bảo có tài chính cho quá trình xuất nhập.Thông qua tài trợ TMQT, DN có thể được cấp tín dụng (trực tiếp hay gián tiếp) phục vụ cho hoạt động KDQT của mình. Trong hoạt động kinh doanh không phải lúc nào nguồn vốn của doanh nghiệp cũng đủ để tài trợ cho các chi phí phát sinh như mua hàng hóa, máy móc, thiết bị,nguyên vật liệu… Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, với giá trị hàng hóa giao dịch rất lớn, doanh nghiệp thường phải thông qua tài trợ thương mại quốc tế mới có thể có khả năng chi trả hay cam kết chi trả cho đối tác để đưa hàng hóa vào sản xuất hoặc kinh doanh. Hoạt động tài trợ cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của DN khi đàm phán ký kết hợp đồng ngoại thương. NXK thường muốn được thanh toán tiền hàng càng sớm càng tốt còn NNK lại muốn trì hoãn thanh toán càng lâu càng tốt. Ngân hàng thương mại bằng việc tài trợ thương mại quốc tế có thể giúp NXK có những điều khoản ưu đãi thanh toán dành cho người nhập khẩu. Bằng việc người nhập khẩu cam kết sẽ thanh toán với ngân hàng thương mại, ngân hàng thương mại sẽ thanh toán cho người XK trong trường hợp người XK cần có nguồn vốn ngay để kinh doanh còn NNK có thể trả chậm khoản tiền cần thanh toán. Hoạt động tài trợ TMQT góp phần nâng cao uy tín DN trong kinh doanh.Trong khi tìm kiếm đối tác, rất nhiều DN vấp phải vấn đề uy tín đặc biệt đối với các DN vừa và nhỏ, mới thành lập. Đó chính là cơ sở để NH cho ra đời hìnhthức tài trợ dưới hình thức bảo lãnh. Với hình thức này NH đã thay mặt DN đứng ra bảo đảm khả năng hoàn thành nghĩa vụ của DN trong hợp đồng, tôn thêm được hình ảnh của DN, tăng thêm niềm tin với bạn hàng, giành được ưu thế cạnh tranh từ các đối thủ và dễ dàng dành được hợp đồng TMQT. Hoạt động tài trợ TMQT của NHTM cũng là phương thức hiệu quả giúp DN hạn chế được rủi ro khi tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế. Những rủi ro về chính trị, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá sẽ được gánh vác bởi NHTM. Tất nhiên, để NH chấp nhận gánh vác rủi ro thì các DN cũng phải đáp ứng những yêu cầu hết sức chặt chẽ của NH và phải trả chi phí cho việc “chuyển rủi ro” này. II. Kĩ thuật tài trợ vốn trong thương mại quốc tế: 1. Chấp nhận của ngân hàng: Chấp nhận của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ mậu dịch quốc tế trong nhiều thế kỉ. Một chấp nhận của ngân hàng là một hối phiếu trả chậm được kí phát cho một ngân hàng. Bằng cách “chấp nhận” hối phiếu, ngân hàng tạo ra một cam kết không điều kiện sẽ thanh toán cho người cầm hối phiếu số tiền đã định vào một ngày được quy định. Do đó ngân hàng thay thế một cách hiệu quả tín dụng của người đi vay và trong quá trình đó nó tạo ra một công cụ lưu thông có thể được mua bán tự do. Đối với một nhà đầu tư, một chấp nhận là một thay thế tương tự đối với các trách nhiệm khác của ngân hàng như chứng nhận tiền gửi. Do đó, việc mua bán các chấp nhận với giá rất gần với điều kiện của ngân hàng. Tuy nhiên không vẽ ra một bức tranh hoàn hảo về các chi phí chấp nhận tài trợ đối với người đi vay vì ngân hàng chấp nhận tính phí hoặc hoa hồng chấp nhận hối phiếu. Phí này thay đổi tùy theo kì hạn hối phiếu cũng như mức độ tín nhiệm của người đi vay, nhưng thường thấp hơn 1%năm. Ngân hàng cũng thu phí nếu có liên quan đến LC. Hơn nữa ngân hàng có thể hy vòng thu lời trên chênh lệch giữa giá mua và giá bán sự chấp nhận. Vào ngày đáo hạn của chấp nhận, ngân hàng chấp nhận được yêu cầu thanh toán cho người cầm phiếu hiện hành số tiền ghi trên hối phiếu. Người giữ sự chấp nhận có quyền đòi toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu từ người lý hậu cuối cùng trong trường hợp nhà nhập khẩu không chịu hoặc không thể trả tiền vào ngày đáo hạn. Yếu tố này chủ yếu nhằm tăng khả năng bán được nó và giảm bớt rủi ro. Trong những năm gần đây, như cầu tài trợ chấp nhận đã giảm. Một nhân tố có khả năng đáp ứng vốn ngày càng tăng của các nhà đầu tư phi ngân hàng trên thị trường giấy tờ thương mại Hoa Kỳ. Các giấy tờ thương mại gốc thường được mua bán với giá gần với giá chấp nhận của các ngân hàng ban đầu; đối với các công ty đã thâm nhập thị trường này, chi phí toàn bộ gồm phí phân phối trả cho người môi giới và phí hạn mức tín dụng hỗ trợ thường thấp hơn chi phí toàn bộ của tài trợ chấp nhận. 2. Chiết khấu: Dù hối phiếu thương mại không được ngân hàng chấp nhận, nhà xuất khẩu vẫn có thể bán nó bằng cách chiết khấu. Nhà xuất khẩu gửi hối phiếu đến một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác, và đổi lại được nhận số tiền ghi trên bề mặt hối phiếu trừ đi tiền lãi và hoa hồng. Bằng cách bảo hiểm hối phiếu đối với các rủi ro thương mại và chính trị, nhà xuất khẩu thường sẽ trả một lãi suất thấp hơn. Nếu rủi ro được bảo hiểm xảy ra thì đại lí bảo hiểm sẽ bồi hoàn cho nhà xuất khẩu hoặc bất kì tổ chức nào mà nhà xuất khẩu chuyển nhượng hối phiếu. Lãi suất chiết khấu dối với giấy tờ thương mại thường thấp hơn lãi suất dư nợ, vay ngân hàng, và các hình thức khác. Lãi suất thấp hơn này thường là kết quả của các chính sách ưu đãi xuất khẩu dẫn đến các bảo hộ trực tiếp hoặc gián tiếp đối với lãi suất áp dụng cho giấy tờ xuất khẩu. Việc chiết khấu có thể được thực hiện có hoặc không bảo lưu quyền truy đòi. Nếu bảo lưu quyền truy đòi thì ngân hàng có thể thu hồi lại số tiền từ người xuất khẩu nếu nhà nhập khẩu không trả tiền khi đáo hạn. Ngân hàng chịu rủi ro trong việc thu tiền nếu hối phiếu được bán mà không bảo lưu quyền truy đòi. 3. Factoring (dịch vụ thu nợ tài trợ ngắn hạn): Các công ty kinh doanh xuất khẩu chủ yếu và các công ty quá nhỏ nên không thể có được tín dụng nước ngoài và bộ phận thu hộ có thể nhờ một factor. Các factor mua các khoản phải thu của công ty với giá chiếu khấu, từ đó đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tiền tệ. Hầu hết factoring được thực hiện trên cơ sở không truy đòi, điều đó có nghĩa là factor chịu mọi rủi ro tín dụng và chính trị ngoại trừ các tranh chấp liên quan giữa các bên giao dịch. Nhà xuất khẩu chịu những rủi ro này trong factoring bảo lưu quyền truy đòi. Factoring ngày càng trở nên phổ biến như một phương tiện tài trợ thương mại. Một nhà xuất khẩu đã thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp với một factor sẽ đưa các đơn đặt hàng mới trực tiếp cho factor. Sau khi đánh giá mức độ tín nhiệm của đơn đặt hàng mới, factor sẽ thực hiện quyết định bảo lưu hoặc không bảo lưu quyền truy đòi trong phạm vi từ 2 ngày đến 2 tuần tùy thược thông tin sẵn có. Nói chung, factoring hữu ích cho nhà xuất khẩu không thường xuyên và nhà xuất khẩu có danh mục đầu tư các tài khoản phải thu gồm nhiều loại khác nhau về mặt địa lý. Trong cả 2 trường hợp, sẽ là tương đối khó khăn và tốn kém để nhận được quá trình thu hộ các tài khoản phải thu. Các công ty như thế thường là các công ty nhỏ hoặc chỉ có quy mô giới hạn trên thị trường nước ngoài.

Trang 1

QUYẾT ĐỊNH TÀI TRỢ CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

I. Tài trợ vốn thương mại quốc tế :

1. Khái niệm tài trợ thương mại quốc tê

Tài trợ thương mại quốc tế là tập hợp các biện pháp và hình thức hỗ trợ về tàichính trực tiếp hay gián tiếp cho các DN hoặc các đơn vị kinh tế tham gia tronglĩnh vực thương mại quốc tế trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trìnhđầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường thếgiới nhằm mục đích sinh lời

Hầu hết các công ty đa quốc gia có mối tương quan chặt chẽ với ngoại thươngbên cạnh các hoạt động quốc tế khác của họ Việc tài trợ vốn hoạt động thương mạiđòi hỏi những số tiền lớn, cũng như các dịch vụ tài trợ như thư tín dụng và chấpnhận Do đó, việc các nhà quản trị tài chính của các công ty đa quốc gia phải cókiến thức về các định chế tài chính và các thủ tục chứng từ đã phát triển qua nhiềuthế kỉ để làm đơn giản hóa lưu thông hàng hóa quốc tế

2. Phân loại tài trợ thương mại quốc tế

• Xét về mặt hình thức thức tài trợ thì tài trợ TMQT được thực hiện dưới haihình thức là:

- Tài trợ thương mại quốc tế trực tiếp là tập hợp các biện pháp hoặc hình

thức hỗ trợ trực tiếp tác động đến hoạt động kinh doanh TMQT của DNthường được thực hiện thông qua việc cho vay ngắn, trung, dài hạn để tài trợcho hoạt động XNK nguyên nhiên liệu, hàng tiêu dùng, thay đổi dây chuyềncông nghệ máy móc thiết bị, hoặc được thực hiện thông qua hình thức cungứng dịchvụ tiền tệ, tín dụng, NH như các dịch vụ TTQT (tín dụng chứng từ,nhờ thu), bảo lãnh, bao thanh toán tương đối (Factoring), bao thanh toántuyệt đối (Forfaiting),thuê mua (Leasing)

- Tài trợ thương mại quốc tế gián tiếp là tập hợp các biện pháp hình thức

hữu hiệu nhằm tạo ra môi trường kinh doanh TMQT thuận lợi cho các DNnhư:chính sách thuế XNK; chính sách tỷ giá hối đoái; môi trường pháp lý ổnđịnhphù hợp với thực tiễn TMQT; chính sách lãi suất

• Nếu căn cứ vào người cung ứng tài trợ thì tài trợ TMQT có thể chia thành:

- Tài trợ thương mại quốc tế của nhà nước, đặc trưng của hình thức này `là

tài trợ gián tiếp thông qua NHTƯ, các tổ chức tín dụng NH và phi NH, cáccơquan của chính phủ bằng các biện pháp thành lập các quỹ hỗ trợ, quỹ bình

ổn giá,quỹ dự phòng rủi ro, quỹ xúc tiến phát triển, dưới các hình thức bảolãnh, tái chiết khấu, và thông qua các chính sách tài chính - tiền tệ ở tầm vĩmô

Trang 2

- Tài trợ thương mại quốc tế của ngân hàng trung ương, ở đây NHTƯ trở

thành người thực hiện các chính sách cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu, cấpbảo lãnh nhà nước, thực hiện các chính sánh tài chính - tiền tệ như tỷ giá, lãisuất, phá giá tiền tệ,

- Tài trợ thương mại quốc tế của các tổ chức tín dụng, đặc trưng của hình

thức tài trợ này là tài trợ trực tiếp từ người tài trợ đến người nhận tài trợ,không phải qua các kênh trung gian khác, thông qua cho vay, bảo lãnh, chiếtkhấu, bao thanh toán, thuê mua tài chình, tín dụng chứng từ, nhờ thu,

- Tài trợ thương mại quốc tế của các doanh nghiệp, với các công cụ sử

dụng thường là tín dụng thương mại như hối phiếu trả chậm, thanh toán ghisổ,ứng tiền trước khi giao hàng,

Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, nhằm tạo sự bình đẳng cho các chủ thểkinh doanh, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đã dần được bãi bỏ,cũngtương tự như vậy sự can thiệp của các hình thức tài trợ TMQT do các chủ thể nhưnhà nước và NHTƯ ngày càng bị hạn chế, thu hẹp thậm chí bị cấm đoán Thay vào

đó, vai trò của các tổ chức tín dụng và các DN với các hình thức động TMQT ngàycàng được nâng cao Với tính chuyên nghiệp cao, tiềm lực tài chính hùng mạnh vàmạng lưới cơ sở rộng khắp, các NHTM đã trở thành nhà tài trợ chủ yếu cho hoạtđộng TMQT Chính vì vậy, trong chuyên đề này, tài trợTMQT sẽ được đề cập dướigiác độ nhà tài trợ là các NHTM; hay nói cách khác ,hoạt động tài trợ TMQT được

đề cập ở đây được hiểu là hoạt động tài trợ TMQTcủa NHTM

3. Vai trò hoạt động tài trợ thương mại quốc tế

Trong hoạt động TMQT nhà xuất khẩu cần phải thực hiện các nhiệm vụ bao gồm:tìm kiếm thị trường, tiếp xúc khách hàng, kí kết hợp đồng, chuẩn bị sản xuất, thựchiện quá trình sản cuất, cung ứng sản phẩm, lắp ráp chạy thử, giao hàng…

Còn NNK phải thực hiện kí kết hợp đồng nhận hàng, cung ứng, chuyểngiao, giaonhận, tiêu thụ hàng hóa Trong suốt các quá trình trên, cả người nhập khẩu vàngười xuất khẩu đều cần có sự tài trợ về vốn để có thể nâng cao uy tín,tạo lòng tinvới đối tác và đảm bảo có tài chính cho quá trình xuất nhập.Thông qua tài trợTMQT, DN có thể được cấp tín dụng (trực tiếp hay gián tiếp) phục vụ cho hoạtđộng KDQT của mình

Trong hoạt động kinh doanh không phải lúc nào nguồn vốn của doanh nghiệpcũng đủ để tài trợ cho các chi phí phát sinh như mua hàng hóa, máy móc, thiếtbị,nguyên vật liệu… Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhậpkhẩu, với giá trị hàng hóa giao dịch rất lớn, doanh nghiệp thường phải thông qua

Trang 3

tài trợ thương mại quốc tế mới có thể có khả năng chi trả hay cam kết chi trả chođối tác để đưa hàng hóa vào sản xuất hoặc kinh doanh

Hoạt động tài trợ cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của DN khi đàmphán ký kết hợp đồng ngoại thương NXK thường muốn được thanh toán tiềnhàng càng sớm càng tốt còn NNK lại muốn trì hoãn thanh toán càng lâu càng tốt.Ngân hàng thương mại bằng việc tài trợ thương mại quốc tế có thể giúp NXK cónhững điều khoản ưu đãi thanh toán dành cho người nhập khẩu Bằng việc ngườinhập khẩu cam kết sẽ thanh toán với ngân hàng thương mại, ngân hàng thươngmại sẽ thanh toán cho người XK trong trường hợp người XK cần có nguồn vốnngay để kinh doanh còn NNK có thể trả chậm khoản tiền cần thanh toán

Hoạt động tài trợ TMQT góp phần nâng cao uy tín DN trong kinh doanh.Trong khitìm kiếm đối tác, rất nhiều DN vấp phải vấn đề uy tín đặc biệt đối với các DN vừa

và nhỏ, mới thành lập Đó chính là cơ sở để NH cho ra đời hìnhthức tài trợ dướihình thức bảo lãnh Với hình thức này NH đã thay mặt DN đứng ra bảo đảm khảnăng hoàn thành nghĩa vụ của DN trong hợp đồng, tôn thêm được hình ảnh của

DN, tăng thêm niềm tin với bạn hàng, giành được ưu thế cạnh tranh từ các đốithủ và dễ dàng dành được hợp đồng TMQT

Hoạt động tài trợ TMQT của NHTM cũng là phương thức hiệu quả giúp DN hạnchế được rủi ro khi tham gia kinh doanh trên thị trường quốc tế Những rủi ro vềchính trị, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá sẽ được gánh vác bởi NHTM Tất nhiên, để NHchấp nhận gánh vác rủi ro thì các DN cũng phải đáp ứng những yêu cầu hết sứcchặt chẽ của NH và phải trả chi phí cho việc “chuyển rủi ro” này

II Kĩ thuật tài trợ vốn trong thương mại quốc tế:

1 Chấp nhận của ngân hàng:

Chấp nhận của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ mậu dịchquốc tế trong nhiều thế kỉ Một chấp nhận của ngân hàng là một hối phiếu trả chậmđược kí phát cho một ngân hàng Bằng cách “chấp nhận” hối phiếu, ngân hàng tạo

ra một cam kết không điều kiện sẽ thanh toán cho người cầm hối phiếu số tiền đãđịnh vào một ngày được quy định Do đó ngân hàng thay thế một cách hiệu quả tíndụng của người đi vay và trong quá trình đó nó tạo ra một công cụ lưu thông có thểđược mua bán tự do

Trang 4

Đối với một nhà đầu tư, một chấp nhận là một thay thế tương tự đối với cáctrách nhiệm khác của ngân hàng như chứng nhận tiền gửi Do đó, việc mua bán cácchấp nhận với giá rất gần với điều kiện của ngân hàng Tuy nhiên không vẽ ra mộtbức tranh hoàn hảo về các chi phí chấp nhận tài trợ đối với người đi vay vì ngânhàng chấp nhận tính phí hoặc hoa hồng chấp nhận hối phiếu Phí này thay đổi tùytheo kì hạn hối phiếu cũng như mức độ tín nhiệm của người đi vay, nhưng thườngthấp hơn 1%/năm Ngân hàng cũng thu phí nếu có liên quan đến L/C Hơn nữangân hàng có thể hy vòng thu lời trên chênh lệch giữa giá mua và giá bán sự chấpnhận.

Vào ngày đáo hạn của chấp nhận, ngân hàng chấp nhận được yêu cầu thanhtoán cho người cầm phiếu hiện hành số tiền ghi trên hối phiếu Người giữ sự chấpnhận có quyền đòi toàn bộ số tiền ghi trên hối phiếu từ người lý hậu cuối cùngtrong trường hợp nhà nhập khẩu không chịu hoặc không thể trả tiền vào ngày đáohạn Yếu tố này chủ yếu nhằm tăng khả năng bán được nó và giảm bớt rủi ro

Trong những năm gần đây, như cầu tài trợ chấp nhận đã giảm Một nhân tố cókhả năng đáp ứng vốn ngày càng tăng của các nhà đầu tư phi ngân hàng trên thịtrường giấy tờ thương mại Hoa Kỳ Các giấy tờ thương mại gốc thường được muabán với giá gần với giá chấp nhận của các ngân hàng ban đầu; đối với các công ty

đã thâm nhập thị trường này, chi phí toàn bộ - gồm phí phân phối trả cho ngườimôi giới và phí hạn mức tín dụng hỗ trợ - thường thấp hơn chi phí toàn bộ của tàitrợ chấp nhận

2 Chiết khấu:

Dù hối phiếu thương mại không được ngân hàng chấp nhận, nhà xuất khẩu vẫn

có thể bán nó bằng cách chiết khấu Nhà xuất khẩu gửi hối phiếu đến một ngânhàng hoặc tổ chức tài chính khác, và đổi lại được nhận số tiền ghi trên bề mặt hốiphiếu trừ đi tiền lãi và hoa hồng Bằng cách bảo hiểm hối phiếu đối với các rủi rothương mại và chính trị, nhà xuất khẩu thường sẽ trả một lãi suất thấp hơn Nếu rủi

ro được bảo hiểm xảy ra thì đại lí bảo hiểm sẽ bồi hoàn cho nhà xuất khẩu hoặc bất

kì tổ chức nào mà nhà xuất khẩu chuyển nhượng hối phiếu

Lãi suất chiết khấu dối với giấy tờ thương mại thường thấp hơn lãi suất dư nợ,vay ngân hàng, và các hình thức khác Lãi suất thấp hơn này thường là kết quả củacác chính sách ưu đãi xuất khẩu dẫn đến các bảo hộ trực tiếp hoặc gián tiếp đối vớilãi suất áp dụng cho giấy tờ xuất khẩu

Trang 5

Việc chiết khấu có thể được thực hiện có hoặc không bảo lưu quyền truy đòi.Nếu bảo lưu quyền truy đòi thì ngân hàng có thể thu hồi lại số tiền từ người xuấtkhẩu nếu nhà nhập khẩu không trả tiền khi đáo hạn Ngân hàng chịu rủi ro trongviệc thu tiền nếu hối phiếu được bán mà không bảo lưu quyền truy đòi.

3 Factoring (dịch vụ thu nợ - tài trợ ngắn hạn):

Các công ty kinh doanh xuất khẩu chủ yếu và các công ty quá nhỏ nên không thể

có được tín dụng nước ngoài và bộ phận thu hộ có thể nhờ một factor Các factormua các khoản phải thu của công ty với giá chiếu khấu, từ đó đẩy nhanh tốc độ chuchuyển tiền tệ Hầu hết factoring được thực hiện trên cơ sở không truy đòi, điều đó

có nghĩa là factor chịu mọi rủi ro tín dụng và chính trị ngoại trừ các tranh chấp liênquan giữa các bên giao dịch Nhà xuất khẩu chịu những rủi ro này trong factoringbảo lưu quyền truy đòi

Factoring ngày càng trở nên phổ biến như một phương tiện tài trợ thương mại Một nhà xuất khẩu đã thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp với một factor sẽ đưa cácđơn đặt hàng mới trực tiếp cho factor Sau khi đánh giá mức độ tín nhiệm của đơnđặt hàng mới, factor sẽ thực hiện quyết định bảo lưu hoặc không bảo lưu quyềntruy đòi trong phạm vi từ 2 ngày đến 2 tuần tùy thược thông tin sẵn có

Nói chung, factoring hữu ích cho nhà xuất khẩu không thường xuyên và nhàxuất khẩu có danh mục đầu tư các tài khoản phải thu gồm nhiều loại khác nhau vềmặt địa lý Trong cả 2 trường hợp, sẽ là tương đối khó khăn và tốn kém để nhậnđược quá trình thu hộ các tài khoản phải thu Các công ty như thế thường là cáccông ty nhỏ hoặc chỉ có quy mô giới hạn trên thị trường nước ngoài

4 Forfaiting:

Lỹ thuật factoring được chuyên môn hóa, gọi là forfaiting, đôi khi được sử dụngtrong trường hợp rủi ro tín dụng quá cao Forfaiting là việc chiết khấu – với một lãisuất cố định miễn truy đòi – các khoản tiền hàng xuất khẩu phải thu trung hạnthuộc những loại tiền tệ có khả năng chuyển đổi mạnh (USD, CHF, DEM) Kỹthuật này thường được sử dụng trong trường hợp xuất khẩu ttuw liaauj sản xuất vớithời hạn tín dụng 5 năm và việc trả tiền diễn ra nửa năm một lần Chiết khấu đượcquy định với một lãi suất cố định: khoảng 1,25% trên chi phí tiền vay nội tệ hoặctrên LIBOR

Trang 6

Forfaiting đặc biệt phổ biến ở Tây Âu và nhiều forfaiting lầ chi nhánh của cácngân hàng quốc tế lớn như Credit Suisse Các forfaiting này cũng giúp giải quyếtcác vấn đề quản trị và thu nhập.

III Các nguồn tài trợ của chính phủ và bảo hiểm tín dụng

Trong cuộc đua để có được các đơn đặt hàng xuất khẩu, chủ yếu là phươngtiện sản xuất và các mặt hàng “ big-ticker” khác đòi hỏi các thoả thuận bán trả dàihạn, hầu hết chính phủ các nước phát triển đã cố gắng cung cấp cho các nhà xuấtkhẩu trong nước một lợi thế cạnh tranh dưới dạng tài trợ xuất khẩu chi phí thấp vàcác phí ưu đãi đối với bảo hiểm rủi ro chính trị và kinh tế Hầu như mọi quốc giaphát triển đều có cơ quan xuất nhập khẩu riêng để nó tài trợ phát triênr và thươngmại

Tài trợ xuất khẩu

Thủ tục mở rộng tín dụng khác nhau giữa các cơ quan chính phủ Nhiều cơquan ứng tiền trước cho hợp đồng xuất khẩu thực tế, trong khi các nguồn tư nhânchỉ mở rộng việc tài trợ sau khi hợp đồng đx được thực hiện Một vài chương trình

mở rộng tín dụng chỉ áp dụng cho người cung cấp được gọi là tín dụng người cungcấp- để chuyển sang cho người nhập khẩu, các chương trình khác cung cấp tíndụng trực tiếp cho người mua- được gọi là tín dụng người mua- để người này trảtiền cho người cung cấp Điểm khác biệt là trong thoả thuận thứ nhất, người cungcấp chịu rủi ro tín dụng, trong khi ở trường hợp sau, chính phủ là người chịu rủi ro

Dĩ nhiên, chính phủ thường cung cấp cấp bảo hiểm tín dụng cùng với tín ụng ngườicung cấp

Ngân hàng xuất nhập khẩu: Eximbank là cơ quan chính phủ duy nhất ở Mỹdành riêng cho tài trợ và đơn giản hoá việc xuất khẩu ở hoa kỳ Các khoản cho vaycủa eximbank cung cấp tài trợ với lãi xuất cố định, đủ sức cạnh tranh cho các hànghoá xuất khẩu ở Hoa Kỳ nhằm chống lại những sự cạnh tranh của nức ngoài được

hỗ trợ chính thức được bảo hộ Dấu hiệu cạnh tranh nước ngoài là không cần thiếtđối với các hàng hoá xuất khẩu được sản xuất bởi các doanh nghiệp nhỏ khi số tiềncho vay từ 2.5 triệu đô trở xuống Eximbank cũng cung cấp bảo lãnh đối với cáckhoản cho vay cho các tổ chức khác Chương trình cho vay và bảo hiểm chiếm85% giá trị xuất khẩu ở Hoa Kỳ và có thời hạn hoàn trả từ 1 năm trở lên

5 nguyên tắc hoạt động của eximbank:

Trang 7

1. Các khoản cho vay được thực hiện nhằm mục đích tài trợ riêng cho xuấtkhẩu hàng hoá và dịch vụ Nếu hàng hoá xuất khẩu Hoa Kỳ có các chi tiếtđược chế tạo ở nước ngoài thì Eximbank sẽ cho vay đến 100 trị giá hàngxuất khẩu có xuất xứ từ Mỹ với điều kiện tổng số tiền được tài trợ hoặc bảolãnh không vượt quá 85% giá trị hợp đồng và tổng trị giá của phần hàng hoáđược sản xuất ở Mỹ chiếm ít nhất ½ trị giá hợp đồng.

2. Exibank sẽ không cung cấp tài trợ trừ khi vốn riêng không đủ đáp ứng sốtienf cần thiết Nó bổ sung thêm vốn riêng

3. Các khaorn cho vay phải đảm bảo hoàn trả hợp lý và phải được sử dụng chocác dự án có tác động tốt đến tình hình kinh tế- xã hội của đất nước Chínhphủ các nước sở tại phải biết và không phản đối dự án

4. Phí và tiền đặ cọc liên quan đến bảo lãnh và bảo hiểm được tính trên cơ sởcác rủi ro được bảo hiểm

5. Khi cho vay và hỗ trợ khác về mặt tài chính, Eximbank bị ràng buộc phảichịu trách nhiệm đối với mọi hiệu quả có thể xảy ra đối với nền kinh tế hoặccán cân thanh toán của Mỹ

- Lãi suất đối với các khoản vay của Eximbank được tính trên cơ sở thoảthuận quốc tế giữa 22 thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển Kinhtế( OBCD) Mục đích của việ thoả thuận đặt ra lãi suất tối thiểu mà một

cơ quan tài trợ xuất khẩu chính thức phải tính đối với tín dụng xuất khẩu

là nhằm giới hạn bảo hộ lãi suất được nhiều nước công nghiệp sử dụng

để đạt được lợi thế so sánh với các quốc gia khác

- Lãi xuất tối thiểu của OECD được tính toan dựa trên lãi suất trung bìnhđược áp dụng cho việc phát hành trái phiếu chính phủ trị giá bằng USD,DEM, GBP, FRF, JPY Bằng cách này, lãi suất tín dụng xuất khẩu gần vớilaĩ suất thị trường hơn

- Eximbank mở rộng các khaorn cho vay trực tiếp đối với những ngườimua nước ngoài của các hàng hoá xuất khẩu từ Hoa Kỳ và các khaornvay trung gian cho các định chế tài chính mở rộng cho vay đối với nhữngngười mua nước ngoài Cả hình thức cho vay trực tiếp lẫn trung gian đềuđược cung cấp khi nhà xuất khẩu Hoa Kỳ đương đầu với cạnh tranh nướcngoài được bảo hộ một cách chính thức

- Các khaorn cho vay trung hạn đối với trung gian( khi số tiền cho vay từ

10 triệu $ trở xuống và thời hạn từ 7 năm trở xuống) được xem như cáccam kết cho vay dự phòng Trung gian chó thể yêu nên các khaorn cho

Trang 8

vay được cấp thông qua yêu cầu Eximbank chi tiền vào bất kỳ thời điểmnào trong suốt thời gian nợ.

- Bảo lãnh của Eximbank nhằm cam kết thanh toán lại cho các khoản tíndụng thuộc khu vực tư nhân cấp cho những người mua được tín nhiệmcao đối với các hàng hoá dịch vụ xuất khẩu từ Hoa kỳ Bảo lãnh có hiệulực riêng một mình hoặc được cam kết với một tín dụng trung gian.Eximbank cũng bảo đảm thanh toán các khaorn thuê mua xuyên quốc giahoặc quốc tế

- Tất cả các bảo lãnh của Eximbank thể hiện thiện chí và tín dụng đầy đủcủa chính phủ Hoa Kỳ nên các khaorn cho vay được cấp thông qua cácchương trình bảo lãnh này được thực hiện gần bằng với lãi suất không rủi

ro Thực tế các bảo lãnh với chi phí thấp là một hình thức tài trợ xuấtkhẩu khác được bảo hộ bởi chính phủ

- Thời hạn hoàn trả thay đổi tuỳ vào loại dự án và loại thiết bị được mua.Đối với tư liệu sản xuất, các tín dụng dài hạn thường được cung cấp trongthời hạn từ 5 năm đến 10 năm Các khoản cho vay đối với các dự án vàcác tài sản hàng hoá lớn có thể kỳ hạn dài hơn, trong khi các mặt hàng trịgiá thấp hơn có kỳ hạn ngắn hơn Việc trả nợ vay được thực hiện nửanăm một lần, bắt đầu từ 6 tháng sau khi giao thiết bị xuất khẩu

- Eximbank tính phí phòng ngừa rủi ro mỗi khi Eximbank hoặc người chovay trung gian hay được bảo lãnh chi trả khoản tiền cho vay Phí phòngngừa rủi ro được điều chỉnh theo từng thời kỳ, thay đổi theo thời hạn chovay, việc phân loại người vay Để tính phí phòng ngừa rủi ro, Eximbankphân loại các quốc gia thành 5 nhóm tuỳ theo rủi ro Ứng với mỗi nhómnước, có 3 loại người vay/ người bảo lãnh:

o Người vay hoặc người bảo lãnh cấp quốc gia hoặc chỉ để bảo hiểmrủi ro chihs trị

o Các định chế công hoặc các ngân hàng không thuộc cấp quốc giađược tín nhiệm hoặc những người mua tư nhân được đánh giá cao

o Các người mua tư nhân được tín nhiệm khác

- Gần đây Eximbank cung cấp tín dụng hỗn hợp của chính nó, thậm chícòn cung cấp những hợp đồng tín dụng hỗn hợp trươc sự kiện Mọi hợpđồng có cơ hội thu hút, mời chào tín dụng hỗn hợp nước ngoài đều đượcxem xét

Trang 9

- Công ty tài trợ xuất khẩu tư nhân(PEFCO) được thành lập năm 1970 bởihiệp hội ngoại thương của các ngân hàng để huy động nguồn vốn tư nhânvào việc tài trợ xuất khẩu các mặt hàng big-ticket của các công ty Hoa

Kỳ Nó mua nợ từ trung đến dài hạn của các nhà nhập khẩu nước ngoàimua sp của Hoa Kỳ với lãi suất cố định PEFCO tài trợ vốn đầu tư của nócho các khoản vay của nhà nhập khẩu nước ngoài thông qua việc bán cácchứng khoán của nó Eximbank baỏ lãnh đây đủ việc thanh toán lại tất cảcác khoản nợ nước ngaoif của PEFCO

- PEFCO thường cung cấp tín dụng của nó cùng với một hoặc nhiều ngânhàng thương mại và Eximbank Kỳ hạn của những giấy tờ của nhà nhậpkhẩu được PEFCO mua thay đổi từ 2,5 năm đến 12 năm; các ngân hàngđảm nhận phần cho vay ngắn hạn và Eximbank đảm nhận phần cho vaydài hạn của PEFCO Phần lớn số tiền được tài trợ để mua máy bay phảnlực của Hoa Kỳ và các thiết bị liên quan như động cơ phản lực

Một vài xu hướng

- Chuyển giao tín dụng của người cung cấp cho người mua Nhiều tư liệusản xuất xuất khẩu không thể được tài trợ bằng tín dụng cung cấp trunghạn trờ thành tín dụng người mua, khi đó thờia ạn thanh toán có thể kéodài đến 20 năm

- Luôn nhấn mạnh việc hành động như một chất xúc tác để thu hút vốn tưnhân Hành động này bao gồm việc tham gia cùng với các nguồn lực tưnhân, như một thành viên của lien hiệp các tập đoàn tài chính hoặc nhưmột đối tác với nhà đầu tư tư nhân cá thể trong việc cung cấp tín dụngxuất khẩu

- Các cơ quan công được xem như một nguồn tái tài trợ Các cơ quan côngđang trờ thành một nguồn quan trọng đối với việc tái tài trợ các khoảncho vay được cấp bởi ngân hang và các tổ chức tư nhân Việc tái tài trợgiúp cho chủ nợ có thể được chính phủ chiết khấu các khoản tiền cho vayxuất khẩu của họ

- Cố gắng giảm cạnh tranh giữa các cơ quan chính phủ Cuộc chiến tranhtín dụng xuất khẩu thực sự giữa chính phủ đã dẫn tới một vài nổ lực đểđồng ý và hợp tác về thời hạn tài trợ Tuy nhiên, các nổ lực này thường bị

vi phạm nhiều hơn là được tuân thủ

Hiệu quả của tín dụng tài trợ xuất khẩu

Trang 10

- Các lợi ích của Eximbank không được cung cấp miễn phí Phần lớnnhững năm 1980, bị lỗ hơn 250tr $/ năm Năm 1987, lỗ cao nhất là 387triệu USD/năm Cho vay dưới giá thị trường để trợ giúp các doanhnghiệp xuất khẩu tạo ra một sự thâm hụt triền miên.

- Mặc dù Eximbank khẳng định rằng các khoản cho vay với lãi suất thaaos

là cần thiết để các công ty Hoa Kỳ cạnh tranh với các nhà xuất khẩu nướcngoài, sự thật là các khảo cho vay của Eximbank bảo hộ chưa đến 3%hang hoá xuất khẩu của Hoa Kỳ

- Một lý lẽ khác được Eximbank đưa ra là hành động của họ có lý do vìchính phủ nước ngoài bảo hộ xuất khẩu, nhưng quốc gia bảo hộ xuấtkhẩu chỉ bỏ ra một phần của cải của nó mà thôi

- Hơn nữa có lý do để nghi ngờ rằng liệu bảo hộ xuất khẩu có làm cải thiệncán cân thương mại hay không Gia tang hang hoá xuất khẩu làm tăngnhu cầu đô-la, cầu tăng làm giá đô la tăng lên, từ đó khuyến khích nhậpkhẩu và hạn chế bảo hộ xuất khẩu Vì tiết kiệm và đầu tư không bị ảnhhửng bởi các bảo hộ này nên thâm hụt cán cân thương mại không bị ảnhhưởng bởi bảo hộ xuất khẩu

Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

- Tài trợ xuất khẩu được thực hiện bằng bảo hiểm tín dụng còn được gọi làbảo hiểm tín dụng xuất khẩu, cung cấp sự bảo vệ đối với các thiệt hạn dorủi ro chính trị và thương mại

- Tuy nhiên bảo hiểm thường không cung cấp một sự bảo lãnh vững chắctrước mọi rủi ro Nhờ vậy bảo hiểm dẫn đến việc giảm chi phí vay từ các

tổ chức tư nhân vì cơ quan chính phủ chịu mọi rủi ro được ghi trong bảohiểm đơn

- Việc tài trợ là miễn truy đòi để mở rộng các rủi ro và thiệt hại được bảohiểm Tuy nhiên, thông thường người bảo hiểm yêu cầu được bảo đảmhơn dưới hình thức một bảo lãnh của một ngân hang địa phương nướcngoài hoặc một chứng từ ngâng hang trung ương nước ngoài rằng ngoạihối luôn sẵn sàng cho việc hoàn trả lãi vay và nợ vay

- Mục đích của việc bảo hiểm rủi ro tín dụng xuất khẩu là để khuyến khíchcác thương vụ xuất khẩu của một quốc gia bằng cách bảo vệ nhà xuấtkhẩu nội địa chống lại việc không thanh toán của nhà nhập khẩu

- Các hợp đồng bảo hiểm tín dụng trung và dài hạn khiến ngân hang sẵnsàng hơn trong việc cung cấp tài trợ miễn truy đòi cho các mặt ahngf big-

Trang 11

ticker đòi hòi thời hạn thanh toán lâu dài, với điều kiện hang hoá đang đềcập đã được giao và được chấp nhận.

Hiệp hội bảo hiểm tín dụng nước ngoai(FCIA)

- FCIA là một nỗ lực hợp tác giữa Eximbank và một nhóm khoảng 50 công

ty bảo hiểm hàng hải, tai nạn và tài sản hàng đầu

- Bảo hiểm tín dụng ngắn hạn có hiệu lực đối với các tín dụng xk kéo dàitới 180 ngyaf từ ngày giao hàng

- Bảo hiểm được chia làm 2 loại: Tổng hợp( 90%-100% rủi ro chính trị và90-95% rủi ro thương mại), và chỉ riêng chính trị( 90%-100% rủi ro đượcbảo hiểm)

- Việc đồng bảo hiểm được yêu cầu rỏ rang vì yếu tố rủi ro vè tinh thần:khả năng mà nhà xk có thể chấp nhận các rủi ro bất hợp lý biết rằng họvẫn được tả tiền đầy đủ

- Khác với việc bảo hiểm trên cơ sở tình huống( case-by- case) FCIA chấpnhận các giới hạn tuỳ ý trong đó nhà xuất khẩu có thể chấp nhận tín dụngcủa họ

- Phí bảo hiểm được tính theo thời hạn bán, loại người mua và nước nhậnhàng

- FCIA cũng cung cấp bảo hiểm trước khi giao hàng kéo dài đến 180 ngàytính từ ngày bán hàng

- Giống như bảo hiểm ngắn hạn, nhà xuất khẩu phải cư trú ở Hoa Kỳ vàgửi hàng từ Hoa Kỳ Tuy nhiên FCIA cung cấp bảo hiểm trung hạn choriêng phần giá trị gia tăng có xuất xứ từ Hoa Kỳ

- Theo chương trình bảo hiểm thuê mua tài chính từ FCIA, những ngườicho thuê các thiết bị và dịch vụ lien quan của Hoa Kỳ có thể bảo hiểm cảluồng thanh toán thuê mua tài chính lẫn giá cả thị trường của các sp đượcthuê bên ngoài Hoa Kỳ FCIA tính phí bảo hiểm rủi ro dựa trên quốc gia,thời hạn thuê và loại thuê mua

IV.Thương mại đối lưu:

Trong những năm gần đây, ngày càng nhiều công ty đa quốc gia đã phải nhờđến mua bán đối lưu để bán hàng ra nước ngoài: mua các sản phẩm nội địa để bùtrừ các sản phẩm suất khẩu của họ sang thì trường đó.Các giao dịch mua bán đốilưu thương có thể phức tạp và cồng kềnh Chúng có thể gồm các giao dịch hai

Trang 12

chiều hoặc ba chiều, nhất là khi công ty bị phía nước ngoài buộc phải chấp nhậncác hàng hóa không liên quan để bán lại.

Nếu việc đổi lấy hàng ít hiệu quả hơn sử dụng tiền bạc hoặc tín dụng thì đó

là ít vì đạt hiệu quả hơn; nhưng tốt hơn không nên mua bán với một thị trường nhưthế.Nhiều công ty cảm thấy tương đối khó khăn khi điều hành hoạt động kinhdoanh mà không được chuẩn bị để mua bán đối lưu.Mặc dù không thể tính đượccon số chính xác nhưng các giao dịch này ngày càng trở nên quan trọng.Một ướctính mới đây cho thấy kim ngạch mua bán đối lưu chiếm tỷ trọng từ 20 % đến 30

% toàn bộ mậu dịch quốc tế

Khi công ty suất khẩu sang một quốc gia yêu cầu mua bán đối lưu, nó phảinhận trở lại những hàng hóa mà quốc gia đó không thể (hoặc không cố gắng) bántrên các thị trường quốc tế.Để bán được các hàng hóa này, công ty thường phảigiảm giá xuống đến mức giáthường được thỏa thuận trong mua bán hàng đổihàng.Nhận thức được sự cần thiết này, công ty thường sẽ nâng giá hàng hóa mà nóbán cho khách hàng mua bán đối lưu với nó.Chẳng hạn khi một nhà sản xuất máymóc thiết bị ở Đức bán cho Rumania, nó có thể nâng giá lên 20 %.Sau đó,khi nónhận áo blouse trả lại, khoản tiền đó sẽ bù đắp lại sự giảm giá

Thông thường một công ty suất khẩu muốn tránh phiền phức có việc bán số

áo blouse đó, nên nó chuyển giao 10 % khoảng tiền chênh lệch nói trên cho mộtchuyên gia một mua bán đối lưu.Người trung gian này phân chia khoản chênh lệchvới người mua áo blouse có thể giữ lại 2 % và chuyển 8 % còn lại bằng cách giảmgiá.Kết quả là: Rumania phải trả giá cao hơn cho hàng hóa nhập khẩu, làm chomậu dịch quốc tế kém hấp dẫn hơn, và bán giảm giá các hàng hóa của mình.Tuynhiên, về lâu dài, việc mua bán như vậy ngày càng giảm.Không thiết lập được mốiquan hệ dài với khách hàng, Rumania không bao giờ biết được những gì mà thịtrường mong muốn-chẳng hạn, kiểu bloues- hoặc làm thế nào để tăng tính cạnhtranh của nó

Các hình thức mua bán đối lưu chủ yếu:

Hàng đổi hàng: một sự trao đổi hàng hóa trực tiếp giữa hai bên mà không

sử dụng tiền Ví dụ, Iran có thể đỏi dầu lấy súng

Mua đối lưu: Còn được gọi là đổi hàng song song, bán và mua các hàng hóa

không có liên quan với nhau Ví dụ, Pépico bán nước ngọt cho Liên Xô đểđổi lấy Vodka

Trang 13

Mua lại: là việc thanh toán lại giá mua góc thông qua việc bán một sản

phẩm có liên quan Ví dụ các nước Tây Âu giao các vật liệu ống dẫn khácnhau cho Liên Xô để xây dựng một đường ống dẫn gas từ khu vực gas củaSiberia và đổi lại sẽ mua 28 tỷ m³ gas/năm

Câu hỏi chưa được trả lời trong mua bán đối lưu là, Tại sao lại sử dụng mua bánhai chiều như thế? Tại sao không bán hàng hóa trực tiếp với giá thị trường (màtrước sau gì điều đó cũng xảy ra) sử dụng các chuyên gia để giải quyết vấn đềmarketing? Một lý lẽ nữa là mua bán đối lưu giúp các thành viên của cartel nhưOPEC cắt giảm giá thỏa thuận một cách không chính thức Một lý lẽ khác là muabán đối lưu tạo công ăn việc làm cho các viên chức quan liêu trong những nền kinh

tế kế hoạch hóa tập trung Mua bán đối

lưu cũng có thể làm giảm rủi ro cho quốc gia ký hợp đồng bán phương tiện sảnxuất mới Nếu người nhận thầu thanh toán bằng những hàng hóa được cung cấpdưới dạng máy móc thiết bị, người nhận thầu được khuyến khích làm việc chấtlượng và đảm bảo rằng công nghệ thiết bị là phù hợp với trình độ kĩ năng củacác công nhân hiện có

Bất kể nhằm mục đích gì, mua bán đối lưu tạo ra nhiều vấn đề cho các công ty

có liên quan Trước hết, hàng hóa nhận được bằng mua bán đối lưu thường làkhông mong muốn Các hàng hóa có thể bán để thu tiền đã được bán cả rồi Do đó,mặc dù một công ty giao máy vi tính cho Brazil có thể thích nhận lại hạt cà phêhột, nhưng hàng hóa duy nhất có thể đáp ứng lại là mặt hàng giày của Brazil.Thứhai, các chi tiết mua bán rất khó thực hiện (một đống hàng rẻ tiền của Đông âu trịgiá bằng bao nhiêu tấn dầu mỏ?) Kết quả tất yếu là có rất nhiều cuộc đàm phánnhưng chỉ một ít trong số đó đi đến thực hiện Và các hợp đồng thất bại cũng khátốn kém

Cho tới gần đây, hầu hết mua bán đối lưu tập trung vào các tổ chức ngoạithương của chính phủ (FTO) các nước Đông Âu Để bán máy móc hoặc thiết bịtoàn bộ cho một FTO, một công ty phương Tây có thể được yêu cầu chấp nhận ítnhất một phần thanh toán bằng hàng hóa (chẳng hạn như: cà chua, len, và phụ tùngmáy móc) Đôi khi các hợp đồng này kéo dài nhiều năm Tập trung ở Vienna, cácchuyên gia mua bán đối lưu trong lĩnh vực kinh doanh này sử dụng mối quan hệcủa họ với các quan chức Đông Âu và kiến thức của họ về các sản phẩm sẵn có đểtạo thu nhập Tuy nhiên, việc cải cách hiện đang diễn ra ở Đông Âu đã làm giảmquy mô và khả năng sinh lợi đối với công việc kinh doanh của họ

Trang 14

Tuy nhiên, thiệt hại của việc kinh doanh ở Đông Âu đã được bù đắp bằng sựphát triển bùng nổ trong mua bán đối lưu với cá nước thuộc thế giới thứ ba Cơ sởcủa làn sóng mua bán đối lưu là việc cắt giảm tín dụng ngân hàng đối với các nướcđang phát triển Mua bán đối lưu với thế giới thứ ba bao gồm nhiều hàng hóa hơn

và ít hàng hóa chế tạo khó bán hơn Một hợp đồng điển hình được ký kết bởi SearsWorld Trade, liên quan đến việc đổi lợn giống Hoa Kỳ lấy đường của Dominica.Một nhà mua bán đối lưu khác đổi xe BMW lấy cá ngừ của Ecuador

Trong một nỗ lực nhằm giúp các nước thuộc thế giới thứ ba mua sản phẩm của

họ, các nhà sản xuất lớn- gồm General Motors, General Electric, và Catepilar- đãthành lập các chi nhánh mua bán đối lưu Chẳng hạn, khi bán phụ tùng auto và xetải cho Mexico, Motors Trading Corp (chi nhánh mua bán đối lưu của GM) đã sắpxếp các nhóm công tác đến nước này và đã nhập khẩu dép và găng tay của Mexico.Tương tự, những nhà sản xuất vũ khí bán hàng cho các quốc gia đang phát triểnthường buộc phải chấp nhận được trả tiền bằng các sản phẩm địa phương- Ví dụ,dầu của Iraq đổi lấy tên lửa của Pháp hoặc cá trồng của Peru đổi lấy tàu tuần traPiranha của Tây Ban Nha

Chính quyền các nước mua bán đối lưu nhận thấy rằng những hàng hóa nhậnđược do mua bán đối lưu sẽ triệt tiêu thị trường tiền tệ hiện có Nếu ta thấy rằngcác hàng hóa mua bán đối lưu thâm nhập các thị trường mới tương đối khó khănđối với các hàng hóa được chế tạo thì điều này không thể xảy ra đối với nhữnghàng hóa mà việc sử dụng cuối cùng của chúng không thể được đồng nhất vớinguồn gốc của chúng Ví dụ, cao su của Indonesia được sử dụng trong mua bán đốilưu sẽ luôn luôn chiếm chổ của cao su mà Indonesia bán thu tiền

Tiền lời trong mua bán đối đầu và mức độ thay đổi của nó ngày càng tăng, kể cả

ở những quốc gia đang phát triển, bất chấp những khó khăn cụ thể mà nó đang gây

ra cho các công ty và các quốc gia có liên quan.Ví dụ để bán máy bay F-15 choKhông Lực Nhật, Mc Donnell Douglass đã phải bù trừ chi phí với Nhật bằng tiền

và các công việc bằng cách đồng ý dạy những nhà sản xuất Nhật chế tạo nhữngmáy bay quân sự

Trang 15

Sự phát triển của mua bán đối lưu được phản ánh trong cuộc đấu tranh gay go

để giành được những chuyên gia nhiều kinh nghiệm Người ta cho rằng một ngườimua bán đối lưu giỏi phải kết hợp được tính tham lam và chủ nghĩa cơ hội của mộtngười mua bán hàng hóa, sự sáng tạo và sự nhạy bén chính trị của một viên chứckhông ngay thẳng, và trình độ kỹ thuật của một người kin doanh máy móc thiết bị

V.Tài trợ dự án công ty đa quốc gia:

1 Quyết định tài trợ dự án dài hạn:

Các công ty đa quốc gia đầu tư vào các dự án dài hạn, họ nhờ cậy rất nhiều vào cáctài trợ dài hạn

Các công ty đa quốc gia phải xem xét các nguồn có thể có về vốn chủ sở hữu hoặc

nợ cũng như những chi phí và rủi ro liên quan đến mỗi nguồn

1.1 Nguồn gốc của vốn chủ sở hữu

Phát hành cổ phiếu trong nước, theo đó nguồn vốn thu được là đồng tiền nộitệ

Phát hành cổ phiếu toàn cầu thông qua việc chào bán cổ phiếu trong nướchoặc tại một hay nhiều quốc gia nước ngoài, giúp mang lại cho họ danh tiếng Các công ty đa quốc gia có thể đề nghị một dàn xếp riêng về cổ phiếu với cácđịnh chế tài chính ở nước họ

Đề nghị một dàn xếp riêng về cổ phiếu với các định chế tài chính ở các quốcgia ở nước ngoài mà họ đang mở rộng hoạt động, giúp giảm được các chi phígiao dịch

1.2 Nguồn gốc của nợ

Phát hành chứng khoán nợ ra công chúng tại nước mình¬ hoặc phát hành nợtoàn cầu Tham gia một dàn xếp riêng về nợ tại nước mình hoặc tại¬ các quốcgia nước ngoài mà họ đang mở rộng hoạt động

Vay vốn dài hạn tại nước mình hoặc tại quốc gia nước¬ ngoài mà họ đang mởrộng hoạt động

Hầu hết các công ty đa quốc gia tiến hành huy động vốn chủ sở hữu tại nướcmình Trái lại, việc vay vốn thường được thực hiện ở nước ngoài

Trang 16

1.3 Xung đột cổ đông so với xung đột của người cho vay

Các công ty đa quốc gia có thể sử dụng việc huy động vốnϖ để theo đuổi các

dự án quốc tế có nhiều khả năng mang lại lợi nhuận nhưng đồng thời cũng làmtăng rủi ro cho họ Điều này có thể có lợi cho các cổ đông nhưng lại tác độngϖ

bất lợi cho những người nắm giữ trái phiếu

Những người nắm giữ trái phiếu cố gắng ngăn cản cácϖ hành động của công ty

đa quốc gia bằng cách áp đặt nhiều hạn chế lên quản lý của công ty đa quốc gia

2 Chi phí tài trợ vốn vay:

2.1 Quyết định tài trợ vốn vay

-Xác định vốn cần thiết

-Dự đoán mức giá phát hành trái phiểu

-Dự đoán giá trị tỉ giá hối đoái định kỳ cho đồng tiền ghi trên trái phiếu

Hình minh họa: Lợi suất trái phiếu hàng năm giữa các quốc gia các quốc gia(tháng 1 năm 2009

Các trái phiếu ghi mệnh giá bằng ngoại tệ thường có lợi suất nên công ty Mỹthường xem xét việc phát hành các trái phiếu ghi mệnh giá bằng đồng tiền đó

Ngày đăng: 16/06/2018, 02:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w