1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHÀ BÈ TP. HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1997 2007

61 471 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 561,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển về kinh tế, kéo theo nhu cầu về nhà ở của người dân tăng cao nên tình hình chuyển nhượng đất đai và chuyển mục đích sử dụng đất ngày càng nhiều và phức tạp, tạo ra những bi

Trang 1

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHÀ BÈ-

TP HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1997- 2007

SVTH: ĐINH THANH THÁI GVHD: DƯƠNG THỊ TUYẾT HÀ

TP Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2008

Trang 2

ĐINH THANH THÁI

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CẤP GIẤYCHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG

ĐẤT Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHÀ BÈ-

TP.HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1997- 2007

Giáo viên hướng dẫn: Ths Dương Thị Tuyết Hà

Địa chỉ cơ quan: Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh

- Tháng 9 năm 2008-

Trang 3

Con thành kính ghi ơn sâu sắc đến cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục nuôi dạy con nên người, anh chị và các thành viên trong gia đình đã tiếp sức tôi vững bước trên con đường học vấn

Xin chân thành cảm ơn:

Thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường

Thầy cô Khoa Quản lý đất đai & Bất động sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố

Hồ Chí Minh đã tận tâm truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt 4 năm qua

Cô Dương Thị Tuyết Hà đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Anh Nguyễn Văn Bé Thanh, Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

huyện Nhà Bè và các anh chị trong phòng Tài Nguyên và Môi Trường, Văn phòng đăng

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 7 năm 2008

Sinh viên thực hiện

Đinh Thanh Thái

Trang 4

Sinh viện thực tập: Đinh Thanh Thái, Khoa Quản lý đất đai và Thị trường Bất

động sản, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2008

Đề tài:" Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền

sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Nhà Bè- Tp.Hồ Chí Minh từ năm 1997- 2007"

Giáo viên hướng dẫn: Ths Dương Thị Tuyết Hà, bộ môn Chính sách và pháp luật,

Khoa Quản lý đất đai & Thị trường Bất động sản, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố

Hồ Chí Minh

Nội dung tóm tắt của báo cáo: Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Nhà Bè- Tp.Hồ Chí Minh từ năm 1997- 2007

Huyện Nhà Bè là huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, huyện được tách từ huyện Nhà Bè cũ thành lập từ 01/04/1997 theo Nghị định 03/CP ngày 06/01/1994 bao gồm 6 xã và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên là 10.041,804 ha

Trong những năm qua cùng với nhịp độ phát triển kinh tế văn hóa xã hội chung của Thành phố, huyện Nhà Bè được xem là một vị trí thuận lợi để phát triển Thành phố theo hướng nam, có quá trình đô thị hóa nhanh, hình thành các khu công nghiệp, các khu dân cư, diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm do chuyển sang mục đích khác Vì vậy công tác quản lý Nhà nước về đất đai và tình hình sử dụng đất phải được quan tâm chặc chẽ hơn

Sự phát triển về kinh tế, kéo theo nhu cầu về nhà ở của người dân tăng cao nên tình hình chuyển nhượng đất đai và chuyển mục đích sử dụng đất ngày càng nhiều và phức tạp, tạo ra những biến động về đất đai gây khó khăn cho Nhà nước trong việc quản

lý quỹ đất do sự thay đổi về: diện tích, kích thướt, chủ sử dụng…Trước tình hình đó công tác cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện trở nên cấp bách và thiết thực

Thực hiện Nghị Định số 90/2006/NĐ-CP hơn 112.000 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được Thành phố cấp theo qui trình mới trong vòng một năm nay Trong khi cả một thập kỷ trước chỉ có 400.000 giấy tờ nhà đất được giải quyết Thời gian giải quyết hồ sơ rút xuống còn 30 ngày làm việc đối với những hồ sơ bình thường và 45 ngày làm việc đối với hồ sơ có vi phạm trong xây dựng Riêng trường hợp cấp đổi chỉ mất nữa tháng

Đề tài đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được thực hiện từ năm 1997 đến nay thông qua các phương pháp thu thập tái liệu, số liệu, phương pháp so sánh Nhằm tìm hiểu, đánh giá thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện, từ đó rút

ra những khó khăn tồn tại và tìm ra những giải pháp thích hợp, tạo tiền đề vững chắc trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Trang 5

MỤC LỤC

Tiêu đề……… Trang

Đơn xác nhận………

Lời cảm ơn………

Tóm tắt………

Mục lục………

Danh mục các bảng biểu, sơ đồ………

Danh sách các chữ viết tắc………

ĐẶT VẤN ĐỀ………. 01

PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 02

I Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu……… 02

I.1.Cơ sở khoa học………. 02

I.2 Cơ sở pháp lý……… 02

I.2.1 Tổng quan tài liệu về nhà ở……… 02

I.2.2 Sơ lược công tác đăng ký đất đai quan các thời kỳ……… 02

I.2.2.1 Thời kỳ 1980 – 1988……… 03

I.2.2.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003……… 03

I.2.2.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay……… 04

I.3 Cơ sở thực tiễn……… 07

I.3.1 Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận QSHNỞ - QSDĐỞ……… 07

I.3.2 Các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận QSHNỞ - QSDĐỞ……… 07

 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 08

- Điều kiện tự nhiên……… 08

- Thực trạng phát triển các lĩnh vực kinh tế- xã hội của Huyện Nhà Bè… … 12

- Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 13 II Nội dung và phương pháp nghiên cứu……… 14

II.1 Nội dung nghiên cứu……… 14

II.2 Phương pháp nghiên cứu:……… 15

PHẦN HAI: KẾT QUẢ THẢO LUẬN……… 17

I Đánh giá hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn Huyện 17

II Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện 17

II.1 Công tác quản lý, sử dụng đất theo ranh giới hành chính 17

II.2 Công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính……… 18

II.3 Công tác quản lý Nhà nước về địa giới hành chính tại Huyện……… 19

II.4 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất……… 19

Trang 6

II.8 Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện ……… 25

III Sơ lược về vấn đề cấp giấy chứng nhận đối với bất động sản……… 27

IV Đánh giá tình hình cấp GCN QSHNỞ-QSDĐỞ trên địa bàn Huyện … 29

IV.1 Các hình thức cấp GCN trên địa bàn Huyện……… 29

IV.2 Các giai đoạn cấp GCN trên địa bàn huyện từ 1997 đến nay……… 30

IV.2.1 Tình hình cấp GCN trên địa bàn huyện tại thời điểm tách Huyện…… 30 IV.2.2 Tình hình cấp GCN trên địa bàn huyện giai đoạn 1998-2000 30 IV.2.3 Tình hình cấp GCN trên địa bàn huyện giai đoạn 2001-2002……… 33 IV.2.4 Tình hình cấp GCN trên địa bàn huyện giai đoạn 2003-2004……… 36 IV.2.5 Tình hình cấp GCN trên địa bàn huyện giai đoạn 2003-2004……… 38 IV.2.6 Tình hình cấp GCN trên địa bàn huyện giai đoạn 2007- 5/2008…… 41

IV.3 So sánh qui trình cấp GCN QSHNỞ-QSDĐỞ từ 1997 đến nay…… 46 IV.4 Đánh giá công tác cấp GCN địa bàn huyện từ năm 1997 đến nay… 48

IV.4.1 Tổng kết quá trình cấp GCN QSHNỞ-QSDĐỞ(gọi là giấy hồng)… 48 IV.4.2 Những bất cập về giấy chứng nhận QSHNỞ-QSDĐỞ……… 48 IV.4.3 Những thuận lợi, khó khăn trong cấp GCN trên địa bàn Huyện…… 49

PHỤ LỤC……… 55

Trang 7

BTN-MT : Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá, là kết quả đấu tranh và lao động hàng ngàn năm của nhân dân ta, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn để xây dựng và phát triển không gian kinh tế – xã hội và phát triển dân sinh, cũng như an ninh quốc phòng Đất đai có những tính chất đặc biệt là có giới hạn về số lượng nhưng vô hạn về thời gian sử dụng và có vị trí cố định trong không gian Vì thế, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Chính tầm quan trọng của tài nguyên đất đai dẫn đến tình hình quản lý và sử dụng đất cũng diễn biến phức tạp như quá trình chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng,vv…vì vậy đòi hỏi cần có sự quan tâm nhiều hơn trong lĩnh vực đất đai, đặc biệt vấn đề nhà ở đất ở

Nhà Bè là một trong 5 Huyện của Thành phố Hồ Chí Minh, là huyện ngoại thành gồm có 6 xã và 1 thị trấn, nằm về phía Đông Nam Thành phố Tp HCM Trong những năm qua, hòa cùng nhịp độ phát triển kinh tế của thành phố, vươn lên trong xu thế phát triển chung của đất nước, huyện Nhà Bè được xem là một vị trí thuận lợi để phát triển thành phố theo hướng nam với diện tích tự nhiên là 10.055,56 ha

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà, công tác cấp GCN QSHNỞ- QSDĐỞ cũng đang diễn ra phổ biến Nhằm rút ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác cấp GCN QSHNỞ- QSDĐỞ thời gian tới, xuất phát từ thực tế, được sự phân công của Khoa Quản lý đất đai và Bất động sản và sự chấp thuận của huyện Nhà Bè, em thực hiện nghiên cứu luận văn với đề tài: “ Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trên địa bàn huyện Nhà Bè- Tp.Hồ Chí Minh giai đoạn 1997- 2007”

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm nắm vững cơ sở pháp lý về công tác cấp

GCN QSHNỞ- QSDĐỞ, đánh giá thực trạng cấp GCN QSHNỞ- QSDĐỞ, từ thực tế nắm bắt những khó khăn vướng mắc trong công tác cấp GCN QSHNỞ- QSDĐỞ rút ra các biện pháp hoàn thiện công tác Quản lý Nhà nước về đất đai mà cụ thể là công tác cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở

Đối tượng nghiên cứu là công tác cấp GCN QSHNỞ- QSDĐỞ cho hộ gia đình, cá

nhân trên địa bàn huyện Nhà Bè- Tp.Hồ Chí Minh từ năm 1997- 2007

Phạm vi nghiên cứu là trên địa bàn huyện Nhà Bè- Tp Hồ Chí Minh từ năm

1997-2007

Trang 9

PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

I.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

I.1.1.Cơ sở khoa học:

- Trên cơ sở những nghiên cứu về tình hình đất đai của các nhà khoa học, thực trạng phát triển của đất nước kéo theo sự biến đổi của đất đai, nắm bắt được sự phát triển

đó sẽ giúp nhà nước quản lý chặt chẽ quỹ đất

- Trên cơ sở các báo cáo về công tác cấp giấy chứng nhận và xác nhận tính hợp pháp của các thửa đất khi cấp giấy giúp người sử dụng đất yên tâm đầu tư trên mảnh đất của mình

- Một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực đất đai đã thực hiện dựa trên quá trình nghiên cứu vấn đề, bước đầu đã tạo ra một cơ sở khoa học tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này

I.1.2 Cơ sở pháp lý:

I.1.2.1 Tổng quan tài liệu về nhà ở:

Từ những năm 1976 – 1977 thực hiện theo QĐ của hội đồng chính phủ về việc kê khai đăng ký nhà cửa tại các đô thị của các tỉnh phía Nam Qua việc kê khai đăng ký để

có cơ sở thi hành chính sách, chế độ quản lý sử dụng hợp pháp nhà ở Đồng thời có tài liệu phục vụ kế hoạch xây dựng cải tạo nhà cửa trong các đô thị

Đối tượng kê khai đăng ký bao gồm: Các loại nhà thuộc quyền sở hữu quản lý sử dụng của đoàn thể quần chúng, các hợp tác xã, các Tôn giáo và nhân dân trong các thành phố, thị xã, thị trấn

Trách nhiệm kê khai nhà cửa là thủ tướng các đơn vị xí nghiệp nhà nước, thuộc tất

cả các ngành các cấp các Tôn giáo và người chủ hộ, hợp pháp của các gia đình nhân dân hiện đang quản lý và đang sử dụng nhà ở các đô thị

Nhằm tăng cường công tác quản lý của nhà nước về nhà ở tại các thành phố, thị xã, thị trấn Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị Quyết 02/CP ngày 04/01/1979, ban hành điều lệ thống nhất quản lý nhà tại thành phố, thị xã, thị trấn nội dung của Nghị Quyết gồm: Đăng ký phân phối, sử dụng, cho thuê, mua bán, chuyển dịch, thừa kế, ủy quyền, quản lý, bảo quản, sửa chữa

Trong đó đăng ký là một phần nhỏ trong nội dung quản lý này, nhưng mang một ý nghĩa rất quan trọng Nội dung đăng ký gồm: Tăng giảm diện tích thay đổi chủ sở hữu, chủ quản lý, thay đổi mục đích sử dụng hoặc nhà đã sửa chữa lớn, qua công tác này nhà nước nắm được hầu hết tình hình sử dụng diện tích của người sở hữu nhà ở

Trên cơ sở kê khai đăng ký, ngày 05/07/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị Định 60/CP về quyền sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại các đô thị, nội dụng của Nghị Định này là Nhà nước công nhận bảo hộ QSDĐ ở -QSDĐ ở hợp pháp tại đô thị, đồng thời qui định tất cả nhà ở, đất ở điều phải đăng ký nhà nước sẽ cấp giấy CNQSHNỞ-QSDĐỞ theo mẫu thống nhất chung cả nước

I.1.2.2 Sơ lược công tác đăng ký đất đai quan các thời kỳ:

Đất đai là tài sản vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho loài người, nó gắn liền với lịch sử đấu tranh sinh tồn từ ngàn đời xưa của dân tộc

Trang 10

a Thời kỳ 1980 – 1988:

Từ sau năm 1980, công tác đăng ký đất đai mới bắt đầu được nhà nước quan tâm

và tổ chức thực hiện theo Quyết định 201/CP ngày 01/7/1980 của hội đồng Chính phủ và Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ Thực hiện yêu cầu này, Tổng cục Quản lý ruộng đất lần đầu tiên ban hành một văn bản quy định thủ tục đăng ký thống kê ruộng đất theo Quyết định 56/ĐKTK ngày 05/11/1981

Theo qui định này, việc đăng ký đất có một trình tự khá chặt chẽ Việt xét duyệt đăng ký phải do một hội đồng đăng ký thống kê của xã thực hiện Kết quả xét duyệt của

xã phải được UBND duyệt mới được đăng ký cấp GCN QSDĐ Hệ thống hồ sơ đăng ký đất qui định khá đầy đủ và chi tiết (gồm 14 biểu mẫu) đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai trong thời gian đó

Việc triển khai chỉ thị 299/TTg kéo dài từ năm 1981 đến năm 1988 mới thực hiện được khoảng 6.500 xã Kết quả đạt được còn nhiều hạn chế, dân tự khai không xác định

vị trí cụ thể trên bản đồ, hồ sơ Việc xét duyệt quyền sử dụng hợp pháp của người kê khai đăng ký gần như không được thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc, các trường hợp

vi phạm pháp luật đất đai không được xử lý vẫn được vào sổ Vì vậy, hệ thống sổ sách đăng ký đất thiết lập giai đoạn này vẫn chỉ mang tính chất điều tra, phản ánh nguyên hiện trạng sử dụng đất Việc cấp GCN QSDĐ giai đoạn này chưa thực hiện

b Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003:

Sau luật đất đai năm 1988: Đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận QSDĐ trở thành nhiệm vụ bắt buộc và hết sức bức thiết làm cơ sở để tổ chức thi hành luật đất đai, kế thừa

và phát huy kết quả điều tra, đo đạc và đăng ký theo chỉ thị 299/TTg, Tổng cục địa chính

đã ban hành Quyết định 201/ĐKTK ngày 14/7/1989 về cấp GCNQSDĐ và thông tư số 302/ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thực hiện Quyết định này tạo sự chuyển biến về chất trong thực hiện đăng ký và cấp giấy chứng nhận QSDĐ trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai do chất lượng hệ thống hồ sơ đã thiết lập theo chỉ thị 299/TTg có quá nhiều tồn tại: Hệ thống chính sách đất đai trong quá trình đổi mới, việc thực hiện chủ trương theo khoán ruộng đất theo chỉ thị 100/TƯ, tiếp đến là giao khoán ổn định lâu dài theo Nghị quyết 10 của Bộ chính trị đã bước đầu đạt được một số thắng lợi, khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và đang được các địa phương trong

cả nước hưởng ứng mạnh mẽ, tạo ra sự thay đổi lớn về hiện trạng đất đai, tuy vậy chủ trương này đến năm 1993 vẫn chưa được thể chế hóa bằng các văn bản luật

Sau luật đất đai 1993: Thành công của việc thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị tạo cơ sở vững chắc cho sự ra đời của luật đất đai 1993 (được thông qua ngày 14/7/1993) với những thay đổi lớn: Ruộng đất được giao ổn định lâu dài cho hộ gia đình,

cá nhân, đất đai có giá trị, người sử dụng đất được hưởng các quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp QSDĐ… với những thay đổi đó, yêu cầu hoàn thành cấp GCN QSDĐ vào năm 2000( khu vực nông thôn) và 2001 (khu vực đô thị) theo các chỉ thị 10/CT-TTg và Chỉ thị 18/CT-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ

Sự khẳng định đất đai có giá trị, người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng, thừa

kế, chuyển đổi… đã tạo ra những biến động lớn về giá cả và vấn đề bức xúc trong quản lý

đô thị và quản lý đất đai phải gắn liền với quản lý Nhà nuớc Xuất phát từ tình hình đó, ngày 05/4/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/CP về quyền sở hữu nhà ở Theo

Trang 11

tinh thần này người sử dụng đất ở đô thị phải được cấp GCN QSHNỞ - QSDĐỞ Việc đăng ký nhà ở và đất ở đô thị bắt đầu được thực hiện thì số lượng giấy cấp còn rất hạn chế Nghị định này đã trở thành một mốc quan trọng trọng việc lập lại trật tự pháp lý cho lĩnh vực nhà đất tại đô thị, Nghị định này đã xác định rõ vấn đề quyền sở hữu nhà đất phải được xem xét từ nguồn gốc và tính hợp pháp của quá trình tạo lập Tuy nhiên Nghị định này còn những điều bất hợp lý, nhiều tỉnh thành phố đã kiến nghị Chính phủ sửa đổi, bổ sung nhưng Chính phủ chỉ mới ban hành Nghị định 45/CP ngày 03/8/1996 bổ sung điều

10 xác định các khoảng thời gian miễn giảm tiền sử dụng đất khi được cấp giấy chứng nhận

c Giai đoạn từ năm 2003 - 2007:

Luật đất đai 2003 ra đời dã phần nào đáp ứng được yêu cầu cấp bách của xã hội về nhà ở và đất ở Nhà ở và đất ở đã trở thành hàng hóa giao dịch trên thị trường Thị trường bất động sản hình thành và phát triển đòi hỏi hàng hóa phải lưu thông thông thoáng, chính sách pháp luật hợp lý bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người tham gia giao dịch hàng hóa bất động sản trên thị trường , thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển do đó, GCNQSDĐ không chỉ là chứng thư pháp lý xác định tư cách pháp nhân xác định đất ở, sở hữu nhà ở mà còn giúp dân thực hiện các quyền, hưởng lợi ích từ việc sử dụng đất, thực thi các nghĩa vụ tài chính và pháp lý

Khi xây dựng Luật đất đai năm 2003, hệ thống giấy chứng nhận được thiết kế theo

mô hình "giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là gốc vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân phải được Nhà nước công nhận, giấy chứng nhận được cấp theo thửa đất, mọi biến động về sử dụng đất kể cả việc hình thành tài sản nhà ở, công trình xây dựng được đăng ký và xác nhận trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, những người có chung quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất đều được cấp giấy như nhau trên đó ghi rõ quyền chung và quyền riêng"

Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu mới "sổ đỏ mới" để cấp theo từng thửa đất đối với mọi loại đất, trong đó có mục thể hiện các tài sản gắn liền với đất để phục vụ việc đăng ký xác lập quyền sở hữu đối với mọi loại tài sản gắn liền với đất (không chỉ cho nhà

ở và các công trình xây dựng) Vào đầu năm 2005, nhiều ý kiến từ thực tế yêu cầu cần xử

lý vấn đề công nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất khi chưa có Luật Đăng ký bất

động sản Chính phủ đã thảo luận nhiều, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và công trình xây dựng trên đất trên cơ sở đã được cấp GCNQSDĐ

Ngày 15/07/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/2005/NĐ-CP về việc

cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng theo "sổ hồng mới", trong đó giấy chứng nhận được cấp độc lập với giấy chứng nhận QSDĐ

Sau đó, luật nhà ở 2005 ngày 29/11/2005 ra đời có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 cùng với đó là Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ về qui định chi tiết

và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo đúng qui định của pháp luật hiện hành

Trang 12

Thực hiện Nghị định số 90/2006/NĐ-CP hơn 112.000 giấy chứng nhận quyền sở

hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được thành phố cấp theo quy trình mới trong vòng

một năm nay, trong khi cả một thập kỷ trước, chỉ có 400.000 giấy tờ nhà đất được giải

quyết

Theo quyết định 54/QĐ-UB của UBND TP HCM, quy trình cấp giấy hồng mới

chính thức có hiệu lực từ ngày 10/4/2007 Với cách làm này, thời gian giải quyết hồ sơ rút

xuống còn 30 ngày làm việc đối với chứng từ bình thường và 45 ngày làm việc đối với hồ

sơ có vi phạm trong xây dựng Riêng những trường hợp xin cấp đổi lại chỉ mất khoảng

nửa tháng Trước đó, việc cấp giấy chủ quyền theo nghị định 181/NĐ-CP của chính phủ phải mất ít

nhất là 55 ngày, gần bằng 2 tháng làm việc hoặc kéo dài hơn nếu hồ sơ chưa hợp lệ

 Danh mục các văn bản liên quan về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền

sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở:

Các văn bản Trung ương:

- Luật đất đai 1993

- Luật đất đai 2003 ngày 29/11/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2004

- Luật nhà ở 2005 ngày 29/11/2005 có hiệu lực từ ngày 1/7/2006

- NĐ số 60/1994/NĐ-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về quyền SHNỞ và QSDĐỞ đô

thị

- NĐ số 61/1994/NĐ-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà

- NĐ số 88/1994/NĐ-CP ngày 15/8/1994 của Chính phủ về sử dụng đất đô thị

- NĐ số 66/2001/NĐ-CP ngày 28/9/2001 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung của NĐ số

04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 về thi hành sửa đổi, bổ sung một số điều của luật đất

đai

- NĐ số 81/2001/NĐ-CP ngày 05/01/2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định

cư ở nước ngoài mua nhà ở Việt Nam

- Công văn 2162/2004/BTN-MT ngày 02/7/2004 của Bộ Tài nguyên-Môi trường hướng

dẫn thi hành luật đất đai 2003 trong thời gian chưa có NĐ hướng dẫn thi hành

- NĐ số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ qui định về thi

hành luật pháp đất đai đã được Quốc hội thông ngày 26/11/2003

- NĐ số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ qui định về xử

phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai

- QĐ số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên- Môi trường ban

hành giấy chứng nhận QSDĐ

- NĐ số 95/2005/NĐ-CP ngày15/7/2005 của Chính phủ về việc cấp giấy chứng nhận

quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng

- NĐ số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ về qui định chi tiết và hướng

dẫn thi hành Luật nhà ở

- TT số 01/2006/TT-BXD ngày 01/11/2006 của Bộ Xây dựng về hướng dẫn thực hiện

một số nội dung của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ về qui

định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở

Trang 13

- QĐ số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của Bộ Tài nguyên-Môi trường về ban hành Quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Các văn bản Thành phố:

- QĐ số 7805/1995/QĐ-UB-QLĐT ngày 18/11/1995 của UBND thành phố về việc ban hành “ Quy trình thực hiện bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước theo NĐ số 61/NĐ-CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở”

- QĐ số 6280/1995/QĐ-UB-QLĐT ngày 28/6/1995 của UBND thành phố về ban hành trình tự, thủ tục cấp giấy QSHNỞ và QSDĐỞ đô thị

- QĐ số 6017/1997/QĐ-UB-QLĐT ngày 18/10/1997 của UBND thành phố về việc tiếp tục bán nhà, mua trả góp nhà trước 30/4/1975 chưa trả tiền hết

- QĐ số 38/2000/QĐ-UB-QLĐT ngày 29/6/2000 của UBND thành phố về việc ban hành

“qui định về trình tự, thủ tục cấp giấy QSHNỞ và QSDĐỞ đô thị, thủ tục chuyển quyền

sở hữu nhà và QSDĐỞ tại TP.Hồ Chí Minh”

- Công văn số 3997/2000/UB ngày 17/10/2000 của UBND thành phố đều chỉnh mức thu

lệ phí cấp giấy QSHNỞ và QSDĐỞ đô thị

- Công văn số 4432/2002/UB ngày 10/11/2002 của UBND thành phố về việc qui định đơn giá đo vẽ sơ đồ nhà đất, phục vụ công tác cấp giấy QSHNỞ và QSDĐỞ tại TP.Hồ Chí Minh

- QĐ số 89/2001/QĐ-UB ngày 04/10/2001 của UBND thành phố về qui định việc xác định nhà đất…

- QĐ số 91/2001/QĐ-UB ngày 05/10/2001 của UBND thành phố về việc điều chỉnh bổ sung QĐ số 38/QĐ-UB-QLĐT ngày 29/6/2000 của UBND thành phố về việc ban hành

“qui định về trình tự, thủ tục cấp giấy QSHNỞ và QSDĐỞ đô thị, thủ tục chuyển quyền

sở hữu nhà và QSDĐỞ tại TP.Hồ Chí Minh”

- Chỉ thị 18/2002/CT-UB ngày 22/8/2002 của UBND Thành phố về việc đẩy nhanh tiến

độ cấp giấy QSHNỞ và QSDĐỞ đô thị, tăng cường quản lý Nhà nước về nhà và đất trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh

- QĐ số 04/2003/QĐ-UB ngày 06/01/2003 của UBND thành phố về việc ban hành trình

Các văn bản của Huyện:

- Kế hoạch số 620/2002/QLĐT ngày 24/12/2002 cấp giấy QSHNỞ và QSDĐỞ theo kế hoạch

- QĐ số 04/2003/QĐ-UB ngày 08/01/2003 của UBND Huyện Nhà Bè thành lập tổ cấp giấy QSHNỞ và QSDĐỞ

I.1.3 Cơ sở thực tiễn:

Trang 14

I.1.3.1 Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận QSHNỞ - QSDĐỞ:

Theo Điều 3 của Quyết định số 54/2007/QĐ-UBND về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được quy định như sau:

1 Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền cho Giám đốc Sở Xây dựng thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở) cho tổ chức trong nước và

tổ chức nước ngoài (gọi chung là tổ chức), kể cả trường hợp nhà ở thuộc sở hữu chung của tổ chức và cá nhân

Giám đốc Sở Xây dựng ký thừa ủy quyền và đóng dấu của Ủy ban nhân dân thành phố theo quy định tại Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 01 tháng 11 năm 2006 của Bộ Xây dựng (gọi tắt là Thông tư 05/2006/TT-BXD)

2 Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền cho Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (đối với trường hợp được thuê đất hoặc giao đất theo dự án) và cá nhân nước ngoài

Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường ký và đóng dấu của Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định tại Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21 tháng 7 năm 2006 của

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (gọi tắt là Quyết định 08/2006/QĐ-BTNMT)

3 Ủy ban nhân dân quận-huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và cá nhân nước ngoài (gọi chung là

cá nhân); cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được quy định tại khoản 2 của Điều này (gọi chung là người sử dụng đất)

I.1.3.2 Các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận QSHNỞ - QSDĐỞ:

Theo Điều 5 của Quyết định số 54/2007/QĐ-UBND những trường hợp sau đây không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở:

Các trường hợp nhà ở - đất ở không được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

a) Nhà ở - đất ở đã có quyết định hoặc thông báo giải tỏa, phá dỡ hoặc đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

b) Nhà ở được xây dựng sau thời điểm cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và công

bố quy hoạch, có toàn bộ diện tích không phù hợp quy hoạch; nằm trong khu vực cấm xây

dựng; lấn chiếm mốc giới bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật (giới hạn tĩnh không, giao thông đường sắt, đê điều, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hành lang an toàn lưới điện, hành lang bảo vệ sông, kênh rạch, các công trình hạ tầng kỹ thuật khác); di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng; an ninh quốc phòng;

c) Nhà ở được xây dựng trên đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất theo khoản 2 của Điều này;

Trang 15

d) Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước hoặc thuộc diện phải xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội và Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

đ) Các trường hợp không thuộc diện được sở hữu nhà ở hoặc không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở;

e) Nhà ở - đất ở có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu nhà ở, quyền

sử dụng đất ở mà chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật;

g) Nhà ở - đất ở mà Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước, các tổ chức quốc

tế có cam kết khác

Các trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

a) Đất do Nhà nước giao để quản lý theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ (gọi tắt là Nghị định 181/2004/NĐ-CP);

b) Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích do Ủy ban nhân dân phường-xã-thị trấn (gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp phường) quản lý sử dụng;

c) Người sử dụng đất do thuê, thuê lại của người khác, trừ trường hợp thuê đất, thuê lại đất trong khu Công nghiệp theo quy định điểm a khoản 2 Điều 4 của Quy định này;

d) Người đang sử dụng đất mà không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 và 51 của Luật Đất đai năm 2003;

đ) Người sử dụng đất nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường

I.2 KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

- Điều kiện tự nhiên:

+ Vị trí địa lý :

Huyện Nhà Bè nằm về phía Đông Nam của TP Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố 15 – 20km về phía nam thuộc khu vực trọng điểm có vị trí địa lý thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội Là cửa ngõ phía Nam của thành phố, Nhà Bè có hệ thống giao thông nối liền Thành phố với Cần Giờ, ra biển đi các tỉnh miền Tây và cũng là trục phát triển không gian chính của thành phố về hướng biển

Người dân Nhà Bè hiện nay chủ yếu vẫn sinh sống bằng nghề nông và kinh tế Nhà

Bè cơ bản vẫn là kinh tế nông nghiệp Tuy nhiên, trong tương lai không xa, với tốc độ đô thị hóa hiện nay, nơi đây sẽ là một đô thị cảng sầm uất của thành phố

Các đơn vị hành chính thuộc huyện Nhà Bè bao gồm 6 xã và 1 thị trấn: Thị trấn Nhà Bè, xã Phú Xuân, xã Long Thới, xã Nhơn Đức, xã Phước Kiển, xã Hiệp Phước và xã Phước Lộc Các xã này được xem là các xã nghèo của huyện Nhà Bè

Huyện có vị trí địa lý:

- Tọa độ địa lý:

Trang 16

+ 10o34'20" - 10o42'30" độ vỹ Bắc

+ 106o40'48" - 106o47'10" độ kinh Đông

- Tứ cận:

+ Phía Đông giáp huyện Cần Giờ -Tp HCM và huyện Nhơn Trạch – Đồng Nai

+ Phía Bắc giáp Quận 7 - Tp HCM

+ Phía Tây giáp huyện Bình Chánh -Tp.HCM, huyện Cần Giuộc –tỉnh Long An

+ Phía Nam giáp huyện Cần Giuộc – tỉnh Long An

Huyện Nhà Bè nằm kề với Khu chế xuất Tân Thuận, hiện đang rất phát triển và có

hệ thống sông ngòi thuận lợi cho việc mở rộng mạng lưới giao thông đường thủy đi khắp

nơi, có điều kiện xây dựng cầu cảng nước sâu đủ sức tiếp nhận các tàu có trọng tải lớn cập

cảng Do đó, huyện có điều kiện rất lớn để phát triển kinh tế- xã hội trong tương lai

Huyện Nhà Bè có tổng diện tích tự nhiên là 10.055,56 ha chiếm 4,7% tổng diện tích

tự nhiên toàn Thành phố Diện tích tự nhiên của huyện phân theo xã, thị trấn:

Bảng I.1: Cơ cấu diện tích theo ranh giới hành chính của Huyện

STT TÊN XÃ, THỊ TRẤN DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN (HA) TỶ LỆ (%)

Huyện Nhà Bè thuộc vùng thấp trũng, thấp dần từ phía bắc đến phía nam Độ cao

trung bình 1,3m so với mặt nước biển, nơi cao nhất là 1,6 m và có những khu vực có độ

cao rất thấp chỉ đạt 0,6m Ngoài ra địa hình trên địa bàn huyện còn bị chia cắt bởi các

sông rạch, gây rất nhiều khó khăn trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

+ Khí hậu:

Nhà Bè nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa mưa

nắng rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04 năm

Trang 17

- Tổng số giờ nắng trong năm: 2.500 giờ

- Hướng gió chủ yếu: Tây Nam

Là vùng ít bị thiên tai, do đó rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp

Tuy nhiên, huyện Nhà Bè đang trong quá trình đô thị hoá, các khu dân cư, khu công

nghiệp đã và đang dần dần mọi lên nên diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm và hầu

như không còn nhiều hộ sản xuất nông nghiệp

Bảng I.2: Chỉ tiêu khí hậu chủ yếu trong khu vực

Lượng nước bốc hơi trung bình/ngày 3.7 mm

Số giờ nắng trung bình/ngày 6.3 giờ

(Nguồn: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội )

+ Thủy văn:

Huyện Nhà Bè nằm ở hạ lưu sông Sài Gòn, sông Đồng Nai nên có hệ thống kênh

rạch chằng chịt với một số sông kênh rạch lớn như: sông Soài Rạp, sông Kênh Lộ, kinh

Đồng Điền, rạch Mương Chuối …

- Rạch Ông Lớn, Rạch Đĩa- Phú Xuân

- Rạch Cây Khô- Mương Chuối

- Rạch Dơi, sông Kênh- Rạch Rộp

- Rạch Mương Lớn

- Rạch Xóm Củi

+ Tài nguyên đất:

Huyện Nhà Bè là huyện nhoại thành thành phố có tổng diện tích tự nhiên là 10.055

ha với nguồ tài nguyên đất đất đai phong phú Trong đó:

- Nhóm đất phù sa với diện tích 1.083,14ha, chiếm 10,77% tổng diện tích

- Nhóm đất phèn hoạt động 4.423,31ha Bị nhiễm mặn về mùa khô không canh tác

được, nhưng mùa mưa rửa mặn nên có thể cấy lúa

- Nhóm đất phèn tiềm tàng 2.107,1ha, chiếm 20,96% tổng diện toàn Huyện

Do vậy, để sử dụng đất hiệu quả cần có những chính sách ưu đãi, khuyến khích,

hướng dẫn cụ thể để người dân có thể lựa chọn những loại hình sử dụng đất thích hợp

Trang 18

nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao mức sống của người dân, đồng thời bảo vệ đất

không bị suy thoái và bảo vệ môi trường

Bảng I.3: Diện tích các loại đất theo đơn vị hành chính:

TỔNG DIỆN DIỆN TÍCH PHÂN THEO ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP DƯỚI TRỰC THUỘC TÍCH CÁC

ĐẤT

ĐỊA GIỚI HÀNH NHÀ BÈ PHƯỚC KIỂN PHƯỚC LỘC NHƠN ĐỨC XUÂN PHÚ LONG THỚI PHƯỚC HIỆP

(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Nhà Bè năm 2007)

- Thực trạng phát triển các lĩnh vực kinh tế- xã hội của Huyện Nhà Bè:

Trang 19

+ Dân số:

Dân số trung bình 73.244 nhân khẩu trong đó có nữ: 37.619 Thị trấn Nhà Bè là xã

có số dân cao nhất 17.264 nhân khẩu, ít nhất là xã Phước Lộc với 4.641 nhân khẩu

Bảng I.4: Diện tích và dân số các đơn vị thuộc huyện Nhà Bè

TÊN CÁC ĐƠN VỊ DIỆN TÍCH (HA) DÂN SỐ 2006 DÂN SỐ DỰ BÁO ĐẾN 2010 STT

(Nguồn: UBND huyện Nhà Bè, 2006)

Qua bảng diện tích và dân số các đơn vị thuộc huyện Nhà Bè cho thấy Thị trấn Nhà Bè mặc dù diện tích nhỏ nhất so với các xã khác (chỉ 599.42 ha) nhưng dân số sinh sống lại chiếm lớn nhất với 17.828 người (chiếm khoảng 23,7% dân số huyện) điều này cho thấy Thị trấn nhà Bè là khu vực phát triển nhất trong huyện, hầu hết các ngành dịch

vụ tập trung tại đâu Trong khi đó xã Phước Lộc dân số nhỏ nhất chỉ 4.793 người, đây là một xã có diện tích nhỏ (605.16 ha) nằm cách xa khu vực trung tâm huyện Tuy nhiên trong tương lai, Phước Lộc sẽ thay đổi nhiều bởi nơi này đã phát triển khu dân cư xã Phước Lộc Sau Thị trấn Nhà Bè, xã Phú Xuân được xem là khu vực phát triển thứ 2, các trụ sở cơ quan, hành chính, quy hoạch khu trung tâm huyện của năm ở xã này Chính vì vậy dân cư tại đây tập trung nhiều và cũng chính diện tích lớn (100.33 ha) đã góp phần tạo nên sự phát triển

+ Ngành nông lâm nghiệp – thủy sản:

Khu vực nông, lâm và thủy sản trong giai đoạn 2001-2005 với tốc độ tăng 33,54% năm, cao hơn mức bình quân chung toàn thành phố Trong đó, về nông nghiệp năm 2001 toàn huyện có 6.081,10 ha đất nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa nước 5.305,90 ha chiếm 87,25% trong tổng số đất nông nghiệp

Tuy nhiên, trong tương lai không xa, ngành nông, lâm nghiệp- Thủy sản sẽ giảm rất nhiều bởi quá trình đô thị hóa của huyện Nhà Bè đang diễn ra mạnh mẽ, dần dần các loại đất nông nghiệp sẽ chuyển thành các khu dân cư, khu đô thị đã làm người dân còn lại rất ít đất để canh tác Vị trí địa lý huyện Nhà Bè với nhiều canh rạch nhiều đang phấn đấu

để trở thành khu vực có ngành công nghiệp cảng mạnh, cùng với đó là một nguồn thủy sản dồn dào phục vụ cho huyện và cả thành phố

Bảng I.5: Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp – thuỷ sản, giai đoạn 2001-2005:

Trang 20

( Nguồn: Tài liệu Đại hội đảng bộ huyện Nhà Bè lần thứ IX nhiệm kỳ 2005-2010)

Dù trong giai đoạn này, giá trị mà ngành nông, lâm- thủy sản mang lại có tăng trong từng năm nhưng đó là lúc huyện Nhà Bè đang còn là huyện nghèo của Thành phố, giá trị nông nghiệp là chủ yếu Tuy nhiên những năm gần đây, cùng với nhịp độ phát triển của Thành phố, huyện Nhà Bè đã chuyển mình mạnh mẽ và như thế ngành nông, lâm- nghiệp sẽ ngày càng giảm nhiều

+ Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:

- Hoạt động ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ phát triển khá Tốc độ tăng bình quân của ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp thời kỳ (2001-2005) là 36,16%, chiếm 3,39% cơ cấu kinh tế

Huyện Nhà Bè đã hình thành các khu công nghiệp như: Khu công nghiệp Hiệp Phước, khu công nghiệp Long Hậu…Với các khu công nghiệp này đã góp phần lớn làm tăng tốc độ phát triển kinh tế huyện

+ Ngành dịch vụ:

Tổng giá trị sản xuất ngành dịch vụ đến năm 2005 đạt 1.227.600 triệu đồng đạt tỷ

lệ 91% so với kế hoạch, chiếm tỷ trọng 82,9% trong cơ cấu kinh tế Huyện Tổng mức bán

lẻ hàng hóa và dịch vụ bán ra 5 năm (giai đoạn 2001-2005) đạt 3.633.624 triệu đồng, bằng 4,01 lần năm 2001

Với tốc độ phát triển chung của Huyện Nhà Bè, ngành dịch vụ cũng sẽ phát triển nhiều Giá trị mà ngành dịch vụ mang lại sẽ góp phần lớn trong tổng giá trị đạt được của Huyện nhà Kéo theo các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sẽ chuyển biến mạnh

- Dân số, lao động, việc làm và thu nhập:

Theo kết quả điều tra dân số năm 2005, Huyện Nhà Bè có 73.968 người (nữ: 38.012 người) với 17.808 hộ,

Dân cư phân bố không đều, mật độ dân cư cao nhất là thị trấn Nhà Bè 2.834 người/km2, thấp nhất là xã Hiệp Phước 251 người/km2 Tốc độ phát triển dân số bình quân qua các năm 2001 – 2005 là 1,02 % Nhà Bè là một huyện đầy tiềm tăng, trong tương lai gần sẽ có nhiều thay đổi tích cực Cùng với đó là quá trình di dân của Thành phố nên sắp tới dân cư huyện sẽ còn tăng nhiều Trong khi đó, lao động, việc làm và thu nhập

Trang 21

cũng sẽ đạt những bước tiến mới Nguồn cung lao động, việc làm sẽ nhiều và như vậy thu nhập của người lao động cũng sẽ tăng

- Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn:

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Thành phố và Huyện, Huyện đã phát triển nhiều khu dân cư và tái định cư phục vụ cho phát triển đô thị và khu công nghiệp của huyện Các khu dân cư như: Khu dân cư Cotec xã Phú Xuân, Khu dân cư Phước Lộc…Các cụm công nghiệp cảng phát triển mạnh mẽ, các khu công nghiệp cũng hình thành như Khu công nghiệp Hiệp Phước, khu công nghiệp Long Hậu các thành phần

này tạo cho Huyện nhà một bộ mặt mới với những bước phát triển vượt bật

- Phân tích, đánh giá chung các thành phần:

Giao thông (đường bộ, đường thuỷ,…) Nhìn chung, hệ thống đường bộ của Huyện

khá nhiều nhưng những con đường có chất lượng tốt, rất ít hoặc những con đường giữ vị trí xung yếu trong hệ thống giao thông đường bộ của Huyện lại có chất lượng kém cần được đầu tư nâng cấp Về thuỷ lợi (đê điều, hồ chứa nước, kênh mương, công trình đầu mối) Hệ thống thủy lợi của toàn Huyện chủ yếu là các công trình kênh mương, kè đá quanh các sông Trong khi đó, giáo dục - đào tạo: Diện tích đất giáo dục năm 2005 là 23,50ha Ngoài ra, cơ sở đào tạo tương đối đầu đủ, chất lượng trong công tác dạy và học

cũng được nâng cao Về mặt y tế: Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân trong huyện

được chú trọng Thực hiện có hiệu quả chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu Giảm đáng kể tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng (từ 23% năm 2001 còn 14,83% năm 2005) Công tác kiểm tra, giám sát phòng chống dịch bệnh được duy trì thường xuyên Trong lĩnh vực văn

hoá: Đời sống văn hóa của người dân cũng được quan tâm và chú trọng phát triển Mức

sống người dân được cải thiện đáng kể qua các chương trình “xóa đói giảm nghèo”, “học

chữ - học nghề - giải quyết việc làm Đối với thể dục thể thao: Hoạt động thể dục thể thao

có những bước phát triển, nhất là phong trào thể dục thể thao quần chúng Số người luyện

tập thường xuyên đạt 7,8% dân số Trong khi đó, về mặt Năng lượng: Hiện nay hầu hết

các xã đều có mạng lưới điện hạ thế, nhưng thực tế chỉ có khoảng 87% hộ đã có điện sinh hoạt, còn lại số hộ vùng sâu vùng xa, xa khu dân cư tập trung, điều kiện khó khăn nên

chưa xây dựng hệ thống lưới điện để sử dụng Trong lĩnh vực Bưu chính viễn thông:

Huyện có 07 bưu cục, 42 tổng đài và 4.100 máy điện thoại, đã tạo điều kiện cho thông tin liên lạc kịp thời, nhanh chóng phục vụ cho đời sống, sản xuất và an ninh quốc phòng Tuy nhiên, máy điện thoại tập trung chủ yếu ở thị trấn Nhà Bè, Phú Xuân, Phước Kiển Về

công tác Quốc phòng, an ninh: Các chủ trương về an ninh quốc phòng luôn được Huyện

kịp thời quán triệt, xây dựng chương trình thực hiện…Qua đó tạo sự thống nhất về nhận

thức trong cán bộ, nhân dân về ý thức bảo vệ tổ quốc, bảo vệ địa phương

I.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:

I.3.1 Nội dung nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề:

- Khái quát tình hình tự nhiên kinh tế- xã hội ảnh hưởng đến việc cấp GCN QSDĐỞ

QSHNỞ Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện

Trang 22

+ Công tác quản lý, sử dụng đất theo ranh giới hành chính

+ Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính

+ Công tác quản lý Nhà nước về địa giới hành chính tại Huyện

+ Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

+ Tình hình giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất

+ Tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất

+ Thống kê, kiểm kê đất đai

+ Công tác cập nhật, chỉnh lý biến động

+ Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nhà Bè

- Sơ lược về vấn đề cấp giấy chứng nhận đối với bất động sản

- Đánh giá công tác cấp GCN QSHNỞ-QSDĐỞ từ năm 1997 đến nay

- Những bất cập về giấy chứng nhận QSHNỞ-QSDĐỞ

I.3.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện đề tài này, em đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê:

Thống kê các số liệu thu thập về diện tích số hộ sở hữu nhà đất, số dân, diện tích, đăng ký cấp giấy, các số liệu về điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội theo trình tự nội dung nghiên cứu, từ đó phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất, đưa ra các số liệu cấp giấy chứng nhận QSHNỞ-QSDĐỞ qua các năm

- Phương pháp so sánh:

So sánh tình hình cấp giấy, kết quả đạt được qua các năm, các giai đoạn so sánh kết quả đạt được với yêu cầu đạt ra, so sánh giữa các qui trình

- Phương pháp thu thập:

Điều tra thu thập thông tin, biểu mẫu, số liệu, tài liệu liên quan đến công tác quản

lý Nhà nước về đất đai, đặc biệt là công tác cấp GCN QSHNỞ-QSDĐỞ

- Phương pháp phân tích:

Phân tích số liệu từng gia đình, từng chủ thể nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình cấp giấy, rút ra những tồn tại và hạn chế

- Phương pháp tổng hợp:

Hệ thống hóa tài liệu tình hình ban đầu thu thập được, tổng hợp các số liệu, tìm ra

để chọn một phương pháp tối ưu

Trang 23

PHẦN II: KẾT QUẢ THẢO LUẬN

II.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn Huyện:

Nhà Bè là một trong 5 huyện của thành phố Hồ Chí Minh, là huyện ngoại thành gồm

có 6 xã và 1 thị trấn, nằm về phía Đông Nam Thành phố Tp HCM Trong những năm

qua, hòa cùng nhịp độ phát triển kinh tế của thành phố, vươn lên trong xu thế phát triển

chung của đất nước, huyện Nhà Bè được xem là một vị trí thuận lợi để phát triển thành

phố theo hướng nam với diện tích tự nhiên là 10.055,56 ha

Cơ cấu sử dụng đất của Huyện: Với diện tích đất nông nghiệp là 5179.6 ha, phi nông

nghiệp: 4833.82 ha, chưa sử dụng: 42.18 Với tốc độ phát triển của huyện như hiện nay,

trong tương lai không xa sẽ có sự dịch chuyển từ đất nông nghiệp sang đất phi nông

nghiệp Vì vậy đòi hỏi phải có sự đều chỉnh cho thích hợp nhằm phát triển kinh tế xã hội

một cách cân bằng

Bảng II.1: Cơ cấu sử dụng các loại đất chính

STT LOẠI ĐẤT MÃ LOẠI ĐẤT DIỆN TÍCH (HA) TỶ LỆ (%)

II.2 Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện:

II.2.1 Công tác quản lý, sử dụng đất theo ranh giới hành chính:

Huyện Nhà Bè được thành lập từ năm 1997 theo Nghị Định 03/CP ngày

06/01/1997, gồm 06 xã và 01 thị trấn

Về ranh giới hành chính: Ranh giới hành chính Huyện Nhà Bè ổn định theo ranh

giới 364 đến ngày 01/04/1997 thì tách thành Quận 7 và Huyện Nhà Bè Do việc tách

Đất nông nghiệp (51.51%) Đất phi nông nghiệp (48.07%) Đất chưa sử dụng (0.42%)

Trang 24

Huyện nên diện tích của Huyện giảm đi 403 ha đã chuyển sang Quận 7 Trong khi đó theo

số liệu đo đạc mới theo chỉ thị 364 của Huyện thì diện tích sông rạch tăng 183.584 ha

Bảng II.2: Cơ cấu sử dụng đất theo ranh giới hành chính

(Nguồn: Phòng quản lý đô thị Nhà Bè)

Qua số liệu bảng trên cho thấy diện tích các xã biến động qua các năm là không

nhiều Diện tích các xã đều tăng qua các năm nguyên nhân là do Nhà Bè có nhiều kênh

rạch, hàng năm diện tích các sông kênh rạch được bồi đắp đã tạo nên một phần nhỏ đất

liền từ đó ranh giới hành chính các xã cũng được mở rộng, diện tích tăng thêm

II.2.2 Công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính:

Trên cơ sở Chỉ thị 02/CT-UB và Chỉ thị 48/CT-UB phòng Tài nguyên- Môi trường

phối hợp với UBND huyện Nhà Bè triển khai công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính,

kết quả đạc được:

Đo đạc thành lập bản đồ địa chính không tọa độ ở tỷ lệ 1/1000 bằng máy kinh vỹ

Phương pháp này áp dụng trên địa bàn Thị Trấn Nhà Bè và xã Phú Xuân

Đo đạc thành lập bản đồ địa chính từ điều vẽ ảnh hàng không ở tỷ lệ 1/4000 cho

các xã còn lại ( Nhơn Đức, Phước Kiển, Phước Lộc, Hiệp Phước, Long Thới) có độ chính

xác thấp hơn đo máy

Bảng II.3: Kết quả thành lập bản đồ địa chính theo CT 02/CT-UB

Trang 25

Công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính đã góp phần rất lớn trong công tác quản lý và sử dụng đất trên địa bàn Huyện nhà, từ đó có kế hoạch quản lý và phân bổ việc

sử dụng đất ngày càng có hiệu quả Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc chồng ghép các bản đồ số và bản đồ theo Chỉ thị 02 đã có nhiều sai sót, không trùng khớp Điều này

đã ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lý, sử dụng đất nói chung và tình hình cấp giấy chứng nhận nói riêng

II.2.3 Công tác quản lý Nhà nước về địa giới hành chính tại Huyện: Từng tuyến

đường địa giới đã lập của huyện, 6 xã và Thị trấn đến nay không thay đổi Bản đồ và hồ

sơ địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã hiện còn tương đối đầy đủ Tuy nhiên, công tác quản lý Nhà nước về địa giới hành chính trên địa bàn huyện chưa chặt chẽ Sau khi nhận bàn giao hồ sơ và bản đồ địa giới hành chính năm 1995 theo Chỉ thị 364/CT-UB ngày 06/11/1991, Ủy ban nhân dân huyện Nhà Bè phân công bảo quản, khai thác sử dụng chưa tốt trong công tác quản lý Nhà nước trên địa bàn huyện, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai, nên xảy ra tình trạng thất lạc hồ sơ địa giới hành chính Một số xã, thị trấn chưa nhận thức được mức độ quan trọng của công tác này, mặt khác do chi phối nhiều việc nên chưa thường xuyên tổ chức kiểm tra mốc giới ngoài thực địa, hồ sơ lưu trữ dẫn đến thất lạc hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và mốc giới bị mất nhưng không báo cáo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền

II.2.4 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: UBND huyện Nhà Bè đã lập quy hoạch

sử dụng đất năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối

2006 -2010 hiện đang trình các Sở, ngành Thành phố thẩm định để trình Thành phố phê duyệt

II.2.4.1 Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010:

Căn cứ công văn số 4595/UB–ĐT ngày 06/08/2004 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc lập và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn Thành phố và Công văn số 5460/TNMT–KHTH ngày 30/8/2004 của Sở Tài nguyên – Môi trường Thành phố về việc triển khai kế hoạch 4595/UB–ĐT ngày 06/08/2004 của Ủy ban nhân dân Thành phố về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Hiện Huyện đang triển khai thực hiện dự án quy hoạch sử dụng đất năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối 2006 -2010 Đến nay tiến độ thực hiện cụ thể như sau:

- Cấp Huyện:

+ Đã hoàn chỉnh Đồ án quy hoạch sử dụng đất, trình Ủy ban nhân dân Huyện thông qua Dự thảo lần 2

Trang 26

Bảng II.4: Thống kê diện tích đất huyện Nhà Bè

Năm 2005 Định hướng So sánh tăng, giảm

Cơ cấu đến năm 2020 2005-2020 (%) Cơ cấu Cơ cấu

(Ha)

Diện tích (ha) (%)

Diện tích (ha) (%)

Đất trụ sở cơ

2.2.2 Đất quốc phòng, an ninh 94,91 0,94 105,26 1,05 10,36 0,10 2.2.3

Đất sản xuất kinh doanh,

phi nông nghiệp 1.203,53 11,97 2.692,76 26,78 1.489,23 14,81

2.2.3.1 Đất khu công nghiệp 713,59 7,10 1.522,76 15,14 809,17 8,05

Trang 27

+ Đã trình các Sở, Ngành thành phố thẩm định Hiện các Sở, Ngành thành phố đã thẩm định lần 1 và đang điều chỉnh để thẩm định lần 2

- Cấp xã:

+ Đã hoàn chỉnh báo cáo thuyết minh của 07 xã - thị trấn và hiện đang tổ chức lấy

ý kiến đóng góp của nhân dân theo quy định Điều 18 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ

+ Hiện nay, đã tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân được 05 xã-thị trấn Riêng xã Long Thới và xã Phú Xuân đang thực hiện như sau:

Xã Phú Xuân: đã tổ chức báo cáo quy hoạch tại UBND xã ngày 04/10/2007, hiện đang niêm yết để nhân dân góp ý trong thời gian 30 ngày

Xã Long Thới: chưa tổ chức báo cáo quy hoạch

+ Dự kiến sau khi lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, tổng hợp điều chỉnh và cuối tháng 12/2007 trình Ủy ban nhân dân Huyện duyệt quy hoạch sử dụng đất của các xã Đồng thời trình Thành phố thẩm định quy hoạch sử dụng đất của thị trấn Nhà Bè

II.2.4.2 Thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2007:

Căn cứ theo theo quyết định phê duyệt của UBND Thành phố, Phòng Tài nguyên

và Môi trường tham mưu cho UBND huyện Nhà Bè Thông báo công khai kế hoạch sử dụng đất được duyệt theo Luật định Đồng thời chỉ đạo cho UBND các xã – thị trấn niêm yết công khai kế hoạch sử dụng đất chi tiết tại trụ sở UBND xã – thị trấn trong suốt kỳ kế hoạch

Thông báo công khai các dự án đã có Quyết định giao đất: đường điện 500Kv Nhà

Bè – Ô Môn

Đối với những dự án đã có Quyết định giao đất, Phòng luôn đôn đốc, kiểm tra tiến

độ thực hiện và thu hồi một số dự án đã thuận địa điểm nhưng trong nhiều năm không thực hiện

II.2.4.3 Công tác quy hoạch xây dựng:

- Diện tích phải lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000: 5677,29ha (44 đồ án)

- Diện tích đã duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000: 4949,66 ha (36 đồ án đạt tỷ lệ phủ kín quy hoạch là 87,18%

- Diện tích đang lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000: 727,66 ha (08 đồ án gồm 01 đồ án điều chỉnh và 07 đồ án lập mới) Trong đó đơn vị tư vấn đang triển khai thực hiện 02 đồ

án và Sở Quy hoạch – Kiến trúc đang thẩm định 06 đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000, bao gồm:

* Đồ án quy hoạch chi tiết đang triển khai:

+ QHCT 1/2000 Khu du lịch Bờ Băng

Trang 28

+ QHCT 1/2000 Khu dân cư xã Long Thới

* Đồ án quy hoạch chi tiết đang thẩm định:

+ QHCT 1/2000 Khu dân cư xã Phước Lộc (phía nam Cảng Cây Khô)

+ QHCT 1/2000 Khu dân cư xã Phước Kiển (khu đất giữa đường Lê Văn Lương, sông

Long Kiểng, rạch Ông Bốn)

+ QHCT 1/2000 Khu dân cư xã Phước Kiển (đoạn từ Nguyễn Hữu Thọ đến Lê Văn

Lương)

+ QHCT 1/2000 Khu tái định cư và dân cư xã Nhơn Đức

+ QHCT 1/2000 Khu dân cư xã Nhơn Đức (ranh đất của Công ty Cổ phần Đông

Dương và Công ty Dịch vụ Công ích Nhà Bè)

Bảng II.5: Dự kiến sử dụng đất vào mục đích đất xây dựng nhà ở và đất dân cư:

DỰ KIẾN ĐẤT XÂY DỰNG TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010

ĐVT: Ha

Cụm III: Khu dân cư dọc Hương Lộ 34 400 35

Cụm IV:Khu dân cư Hiệp Phước

Cụm V: Khu dân cư nông thôn

(Nguồn: QHTT kinh tế xã hội Nhà Bè 1998 - 2010)

II.2.5 Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất:

II.2.5.1 Giao đất cho hộ gia đình, cá nhân:

Khoản 2 Điều 37 Luật Đất đai năm 2003 quy định UBND cấp huyện, quận, Thị xã,

Thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân, giao

đất đối với cộng đồng dân cư Trên cơ sở của Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định

181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai,

UBND huyện Nhà Bè đã tiến hành giao đất do Nhà nước đang trực tiếp quản lý (chủ yếu

là đê –kênh thuỷ lợi, rạch bồi) cho hộ gia đình, cá nhân đạt được kết quả như sau:

Trang 29

- Giao đất nông nghiệp:

+ Năm 2005: đã tiến hành giao đất cho 16 trường hợp

+ Năm 2006: đã tiến hành giao đất cho 19 trường hợp

+ Năm 2007: đã tiến hành giao đất cho 24 trường hợp

Xu hướng giao đất để sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng là do giá trị đất đai ngày càng tăng và quá trình đô thị hoá nên nhu cầu về nhà ở đất ở cũng trở nên cần thiết

- Giao đất để xây dựng nhà ở:

+ Năm 2005: đã tiến hành giao đất cho 15 trường hợp

+ Năm 2006: đã tiến hành giao đất cho 11 trường hợp

+ Năm 2007: đã tiến hành giao đất cho 17 trường hợp

Nhìn chung xu hướng giao đất để xây dựng nhà ở trong thời gian qua tăng là do giải quyết các trường hợp tái định cư trong nhiều dự án Riêng đối với công tác cho thuê đất cho đến nay UBND huyện Nhà Bè chưa giải quyết trường hợp nào

II.2.5.2 Dự án sản xuất kinh doanh (tổ chức): Tình hình giao đất nhằm mục sản xuất

kinh doanh trên địa bàn huyện Nhà Bè đạt được những kết quả sau:

+ Năm 2005: 01 dự án

+ Năm 2006 & 2007 không có dự án

Nhìn chung xu hướng giao đất cho các tổ chức ngày càng giảm, nguyên nhân chủ yếu của xu hướng này là do giá đất trên thị trường cao hơn gấp nhiều lần giá của phương án đền bù Mặc khác Luật Đất đai năm 2003 quy định đối với những dự án không phục vụ mục đích công cộng thì chủ đầu tư phải tự thương lượng Một phần là do lợi nhuận của các nhà đầu tư giảm đi rất nhiều, vì thế họ không còn tha thiết với việc đầu tư các dự án

mà thay vào đó họ sẽ chuyển sang đầu tư vào các bất động sản khác

II.2.6 Thống kê, kiểm kê đất đai:

Hàng năm Ủy ban nhân dân huyện tổ chức thực hiện công tác thống kê đất đai để nắm được tình hình biến động đất đai Năm 2005, thực hiện Chỉ thị số 28/2004/CT-TTg ngày 15 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức kiểm kê đất đai năm

2005, đến nay huyện Nhà Bè đã hoàn chỉnh và thành phố đã nghiệm thu số liệu kiểm kê đất đai của các xã, thị trấn và của huyện theo đúng tiến độ đã đề ra

Trang 30

Bảng II.6: Diện tích đất Huyện Nhà Bè

b Đất trồng cây

Vườn chuyên

cây ăn trái

Vườn tạp cây ăn

( Nguồn: Phòng Tài nguyên- Môi trường huyện nhà Bè)

Thông qua bảng trên cho thấy, diện tích đất nông nghiệp biến động qua các năm giảm nhiều, nếu như năm 1997 diện tích đất nông nghiệp là 6.349,63 ha thì đến năm 2006

là 5.166 ha (giảm 11,8%) Trong khi đó, diện tích đất ở tăng lên rất nhiều từ 403,02 ha năm 1997 đến năm 2007 là 772 ha Với tộc độ đô thị hóa như hiện nay, nhu cầu về đất ở

là rất lớn nên việc chuyển mục đích từ đất nông nghiệp sang đất ở sẽ còn nhiều biến động

II.2.7 Công tác cập nhật, chỉnh lý biến động:

Trong những năm qua, công tác cập nhật, chỉnh lý biến động diễn ra rất tích cực Nhân dân đã ý thực được việc sử dụng đất tác động như thế nào đến tình hình phát triển của xã hội cũng như tác động trực tiếp đến người sử dụng đất Chính vì vậy mỗi khi có sự thay đổi về tình trạng đất đai và người sử dụng đất, người dân thông báo cho cơ quan có

Ngày đăng: 15/06/2018, 22:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w