HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC, NƯỚC THẢI CÁC ĐÔ THỊ, KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP, LÀNG NGHỀ VÀ BỆNH VIỆN .... Sự cần thiết xây dựng định hướng thoát nước Hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở các đô th
Trang 1CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 02
I SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG THOÁT NƯỚC 02
II CĂN CỨ PHÁP LÝ 02
Chương I HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP LÀNG NGHỀ VÀ BỆNH VIỆN 04
I THÔNG TIN CHUNG 04
II TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 07
III HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG ĐÔ THỊ 07
IV HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH (CẤP NƯỚC), XẢ THẢI (NƯỚC THẢI) VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC ĐÔ THỊ 07
V HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC, NƯỚC THẢI CÁC ĐÔ THỊ, KHU, CỤM CÔNG NGHIỆP, LÀNG NGHỀ VÀ BỆNH VIỆN 08
VI NHỮNG KHÓ KHĂN THÁCH THỨC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KT-XH CỦA ĐỊA PHƯƠNG 12
Chương II TẦM NHÌN VÀ MỤC TIÊU
I DỰ BÁO PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP VÀ BỆNH VIỆN 15
II TẦM NHÌN PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP VÀ BỆNH VIỆN 16
Chương III ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THOÁT NƯỚC, XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG NGHIỆP, LÀNG NGHỀ VÀ BỆNH VIỆN 19
I ĐỊNH HƯỚNG VỀ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT 21
II ĐỊNH HƯỚNG VỀ TÀI CHÍNH 22
III ĐỊNH HƯỚNG VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ, VẬN HÀNH, DUY TU, BẢO DƯỠNG CÁC CÔNG TRÌNH THOÁT NƯỚC 23
IV GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 23
Chương IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN 27
ChươngV KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG 31
I KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CHO GIAI ĐOẠN 2015-2020 31
II KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG CHO GIAI ĐOẠN 2020-2025 32
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
I Sự cần thiết xây dựng định hướng thoát nước
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật ở các đô thị là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, với sự phát triển công nghiệp và đô thị hóa của Tỉnh đang diễn ra với tốc độ nhanh Trong khi đó, hệ thống thoát nước còn lạc hậu, đầu tư nhỏ lẻ thiếu sự đồng bộ, nên hệ thống thoát nước tại các đô thị chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo vệ sinh môi trường Tỉnh Bình Định được xác định sẽ trở thành tỉnh có nền công nghiệp hiện đại,
là một trong những trung tâm phát triển về kinh tế - xã hội và điểm đến du lịch, đóng góp tích cực vào sự phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước
Để quản lý và phát triển hệ thống thoát nước đồng bộ, bền vững, làm cơ sở lập dự án đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách về thu hút đầu
tư, bảo đảm ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao ý thức cộng đồng về thoát nước và bảo vệ môi trường, việc xây dựng Định hướng phát triển thoát nước đô thị khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2025 là rất cần thiết
- Quyết định số 1077/QĐ-BXD ngày 30/10/2013 của Bộ Xây dựng về phê duyệt văn kiện dự án Hỗ trợ kỹ thuật “Thoát nước và chống ngập úng tại các đô thị quy mô vừa vùng duyên hải Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu” do Chính phủ Đức viện trợ không hoàn lại;
- Quyết định số 54/2009/QĐ-TTg ngày 14/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến năm 2020;
- Quyết định số 495/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050;
- Thông tư 04/2015/TT-BXD ngày 03/4/2015 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải;
Trang 4- Quyết định số 28/2008/QĐ-UBND ngày 08/9/2008 của UBND tỉnh Bình Định về việc Quy hoạch phát triển hệ thống y tế tỉnh Bình Định đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020;
- Quyết định số 4460/QĐ-UBND ngày 29/12/2014 của UBND tỉnh Bình Định về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 52/QĐ-UBND ngày 19/01/2012 và Quyết định số UBND ngày 15/4/2015 của UBND tỉnh Bình Định về việc phê duyệt điều chỉnh
1307/QĐ-bổ sung, 1307/QĐ-bổ sung Quy hoạch phát triển Cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2020 và định hướng đến năm năm 2025;
- Quyết định số 1231/QĐ-UBND ngày 08/4/2015 về việc phê duyệt Đề cương Dự án Định hướng phát triển thoát nước đô thị, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2025
Trang 5CHƯƠNG I HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG ĐÔ THỊ, KHU CÔNG NGHIỆP, CỤM CÔNG
là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên, Nam Lào và Đông Bắc Campuchia
Sơ đồ vị trí vùng và bản đồ tỉnh Bình Định
2 Địa hình – địa mạo
Địa hình của tỉnh Bình Định tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, với độ chênh lệch khá lớn (khoảng 1.000m), có thể phân chia thành 04 dạng địa hình chính là:
+ Vùng núi, đồi và cao nguyên: Chiếm 70% diện tích toàn tỉnh với độ cao
trung bình 500 - 1.000m, đỉnh cao nhất là 1.202m ở xã An Toàn (huyện An Lão) Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng Nhiều khu vực núi vươn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm
Trang 6+ Vùng gò đồi (trung du): Tiếp giáp giữa miền núi phía Tây và đồng bằng
phía Đông, có diện tích khoảng 1.592,76 km2, độ cao dưới 100m, độ dốc tương đối lớn từ 10° – 15°
+ Vùng đồng bằng ven biển: Chiếm 17% diện tích, khoảng 1.000 km², nhỏ
hẹp theo chiều hạ lưu các sông và bị chia cắt thành nhiều mảnh nhỏ Độ cao biến đổi từ 2÷3m đến 20÷30m, địa hình xen giữa đồng bằng và gò đồi Đây là khu vực sản xuất nông nghiệp chính của tỉnh
+ Vùng cồn cát ven biển: Chiếm 3% diện tích khoảng 180,9 km2
Đây là khu vực bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian Khu vực này có khả năng trồng rừng phòng hộ ven biển kết hợp cây lâu năm
3 Điều kiện về khí tượng – thủy văn
3.1 Đặc trưng khí hậu
Khí hậu Bình Định nằm trong vùng khí hậu vùng Trung Trung bộ, có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa; có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 01 đến tháng 8
Nhiệt độ không khí trung bình năm: Ở khu vực miền núi từ 20,1 - 26,1°C; tại vùng duyên hải là 27°C Chênh lệch giữa nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất và nóng nhất khoảng 6÷7o
C
Chế độ mưa cũng rất khác biệt giữa hai phần phía Bắc và Nam (Bình Định) Phần phía Bắc lượng mưa trung bình năm đạt tới 2000÷2200 mm ở đồng bằng, 2500÷3000mm ở vùng núi, phần phía Nam lượng mưa trung bình năm đạt 1600÷1700 mm ở đồng bằng và 2000 mm ở vùng núi
Hiện nay do sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên nhiệt độ, lượng mưa hàng năm có thay đổi đáng kể, thiên tai xuất hiện ngày càng nhiều với tần suất, quy mô
và cường độ khó lường; đặc biệt các năm 2009, 2011, 2013 tỉnh Bình Định chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt
3.2 Đặc điểm thủy văn
Do sự phân bố địa hình và lượng mưa không đều nên hệ thống sông ngòi của tỉnh Bình Định phức tạp Hệ thống sông của tỉnh Bình Định bao gồm các sông lớn là: Sông Hà Thanh, sông Kôn, sông La Tinh và sông Lại Giang Các sông này bắt nguồn từ vùng đồi núi trong tỉnh chảy theo hướng từ Tây sang Đông rồi tập trung nước vào các đầm trước khi đổ ra biển Các thông tin về các hệ thống sông như sau:
STT Tên sông
Chiều dài (km)
Độ cao nơi bắt nguồn (m)
Diện tích lưu vực (km 2 )
Trang 7An Nhơn, Tuy Phước
Thoát ra đầm Thị Nại
huyện Phù Cát, Phù Mỹ
Thoát ra biển qua cửa An
Dũ
Hệ thống đô thị và sông chính Bình Định
Nhìn chung các sông này đều có độ dốc lớn, lưu vực ở hạ lưu hẹp Do đó, vào mùa mưa ở thượng lưu thường xảy ra lũ rất nguy hiểm, vào mùa khô ở hạ lưu
Trang 8thường bị cạn kiệt nguồn nước, giảm mực nước ngầm và tạo điều kiện cho sự xâm nhập mặn của biển
II Tình hình kinh tế - xã hội
1 Điều kiện kinh tế
Bình Định nằm trong khu vực duyên hải Trung Trung Bộ, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung, nằm ở trung điểm của trục giao thông đường sắt và đường
bộ Bắc - Nam Việt Nam; là cửa ngõ ra biển Đông gần nhất và thuận lợi nhất của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Đông Bắc Thái Lan thông qua Quốc lộ 19 và cảng biển quốc tế Quy Nhơn Do đó, Bình Định có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong việc giao lưu với các vùng ở khu vực và quốc tế
Ngoài ra, Bình Định còn có nguồn tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn phong phú và nguồn nhân lực khá dồi dào Một số chỉ tiêu KT-XH của tỉnh đã thực
hiện trong giai đoạn 2010-2014 (xem chi tiết tại phụ lục 1)
2 Điều kiện xã hội
2.1 Dân số và lao động
Đến năm 2014 dân số toàn tỉnh là 1.514.500 người, trong đó số người trong
độ tuổi lao động là 923.300 (chiếm 60,96%), số người lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế chiếm 98,63% so với số người trong độ tuổi lao động (khoảng 9100.700 người)
2.2 Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân
Toàn tỉnh hiện có 12 bệnh viện và 15 trung tâm y tế (trong đó có 03 bệnh viện trực thuộc trung ương, 01 bệnh viện đa khoa tỉnh, 01 bệnh viện đa khoa thành phố, 02 bệnh viện đa khoa khu vực, 05 bệnh viện chuyên khoa và 15 trung tâm y tế tuyến huyện, thành phố) Tỷ lệ giường bệnh/vạn dân là 26,3 giường bệnh Tỷ lệ bác sĩ/vạn dân là 5,7 bác sĩ
III Hiện trạng hệ thống đô thị
Đến nay, tỉnh Bình Định có tổng số 14 đô thị, gồm 01 đô thị loại I, 03 đô thị loại IV và 10 đô thị loại V Tổng dân số đô thị 469.500 người chiếm 33,19% tổng
dân số toàn tỉnh (chi tiết xem phụ lục 2)
IV Hiện trạng sử dụng nước sạch (cấp nước), xả thải (nước thải) và vệ sinh môi trường tại các đô thị
1 Hiện trạng sử dụng nước sạch (cấp nước)
Hiện nay, các đô thị trên địa bàn tỉnh đã được đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước sạch với tổng công suất thiết kế của các nhà máy cấp nước là 75.250m3/ng.đ
Tỷ lệ dân số đô thị sử dụng nước sạch trung bình đạt 65,96%; tỷ lệ thất thoát nước
trung bình 19,69% (chi tiết xem phụ lục 3)
Trang 92 Hiện trạng xả thải và vệ sinh môi trường
Hiện nay, người dân đã có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ vệ sinh môi trường trong khu dân cư, cũng như trong các khu vực trung tâm thành phố, thị xã
và các thị trấn Đa số các hộ dân đã xây dựng bể tự hoại để xử lý nước thải sinh hoạt trước khi xả thải ra môi trường Tuy nhiên, ở một số đô thị, tình trạng xả nước thải sinh hoạt trực tiếp ra ngoài kênh, mương, sông vẫn còn và có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
V Hiện trạng hệ thống thoát nước, nước thải các đô thị, khu, cụm công nghiệp, làng nghề và bệnh viện 1
1 Hiện trạng hệ thống thoát nước các đô thị
Tỉnh Bình Định có các sông lớn là: Sông Hà Thanh, sông Kôn, sông La Tinh
và sông Lại Giang Do đó, địa hình thoát nước của các đô thị trên địa bàn tỉnh có thể phân chia theo 04 lưu vực như sau:
- Lưu vực 1 (sông Hà Thanh): tiếp nhận nguồn nước của thành phố Quy Nhơn; thị trấn Tuy Phước; thị trấn Diêu Trì; thị trấn Vân Canh
- Lưu vực 2 (sông Kôn): tiếp nhận nguồn nước của thị xã An Nhơn; thị trấn Phú Phong; thị trấn Vĩnh Thạnh
- Lưu vực 3 (sông La Tinh): tiếp nhận nguồn nước của thị trấn Ngô Mây; thị trấn Phù Mỹ; thị trấn Bình Dương
- Lưu vực 4 (sông Lại Giang): tiếp nhận nguồn nước của thị trấn Bồng Sơn; thị trấn Tam Quan; thị trấn Tăng Bạt Hổ; thị trấn An Lão
1.1 Thành phố Quy Nhơn (Đô thị loại I)
Hệ thống thoát nước của thành phố Quy Nhơn là hệ thống thoát nước nửa riêng Trong đó:
- Hệ thống thoát nước chung: Bao gồm các tuyến ống cấp 1, cấp 2, cấp 3, các cửa xả, hố ga thu nước mưa, hệ thống hồ điều hòa,
- Hệ thống thu gom nước thải: Bao gồm các giếng tách nước thải, mạng cống cấp 3 thu gom nước thải nhà dân (sử dụng ống nhựa uPVC, đường kính từ 200÷400mm lắp đặt trên vỉa hè và các tuyến hẻm), tuyến cống bao, đường ống áp lực, trạm bơm nước thải, nhà máy xử lý nước thải, cửa xả nước thải đã qua xử lý
- Nước mưa được thu gom bằng hệ thống cống cấp 3, cấp 2 dẫn về tuyến cống cấp 1 tập trung vào hố lắng rồi xả ra môi trường (sông Hà Thanh, hồ Đống
Đa, hồ Phú Hòa và dọc đường Xuân Diệu)
- Nước thải được thu gom từ cống bao, mạng cống cấp 3 về các giếng tách và trạm bơm để bơm về các nhà máy xử lý Nhơn Bình công suất 14.000m3/ng.đ và nhà máy xử lý 2A ở phường Trần Quang Diệu công suất 2.350m3/ng.đ, nước thải sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn rồi xả ra môi trường
1 Tổng hợp từ điều tra khảo sát và báo cáo cung cấp thông tin liên quan đến hệ thống thoát nước đô thị, cụm công
nghiệp, làng nghề và bệnh viện tỉnh Bình Định
Trang 10- Hiện trạng đấu nối nước thải: Số hộ đấu nối 17.226 hộ, tỷ lệ đấu nối: 28,4%
- Các khu vực thường xảy ra ngập úng: Khu vực Bàu Sen, đường Hùng Vương (từ cầu Đôi đến ngã ba ông Thọ), Hóc Bà Bếp
UBND thành phố Quy Nhơn là đại diện chủ sở hữu hệ thống thoát nước thành phố Quy Nhơn Hàng năm, chi phí vận hành, duy tu và bảo dưỡng hệ thống thoát nước được sử dụng từ nguồn thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được cấp cho đơn vị quản lý, vận hành theo hình thức đặt hàng (theo Quyết định số 129/2006/QĐ-UBND ngày 18/12/2006 và Văn bản số 5577/UBND-TH của UBND
tỉnh Bình Định )
1.2 Thị xã An Nhơn và thị trấn của các huyện (đô thị loại IV, V)
- Hiện nay, các đô thị này mới chỉ xây dựng một số tuyến cống thoát nước chung, hệ thống thoát nước chưa hoàn chỉnh, chưa có nhà máy xử lý nước thải Phần lớn nước mưa, nước thải được thu gom và xả trực tiếp ra các sông, suối, ao
hồ, một phần nước thải xử lý qua bể tự hoại và thấm xuống đất hoặc thải trực tiếp
ra môi trường
- Hệ thống thoát nước ở các đô thị này do UBND huyện, thị xã quản lý; Phòng Kinh tế hạ tầng, Phòng Quản đô thị được giao nhiệm vụ trực tiếp kiểm tra giám sát quản lý duy tu, sửa chữa hệ thống thoát nước đô thị Cũng có, một số đô thị do Ban quản lý cấp và thoát nước hoặc Hạt Giao thông công chính trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm duy tu, sửa chữa hệ thống thoát nước đô thị
- Chi phí vận hành, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thoát nước của các đô thị này được UBND thị xã, các huyện cấp từ ngân sách nhưng cũng chỉ dùng để xử lý đột
Trang 11xuất hoặc nạo vét, sửa chữa cục bộ một số điểm hư hỏng ngập úng Hiện nay các
đô thị này vẫn chưa triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
Bảng tổng hợp số liệu hiện trạng hệ thống thoát nước các đô thị
STT Tên đô thị
Chiều dài tuyến cống các loại
ga ngăn mùi
- Có 2 nhà máy xử lý nước thải: + Nhà máy Nhơn Bình công suất: 14.000m 3 /ng.đ + Nhà máy 2A công suất: 2.350m3/ng.đ
- Hệ thống thoát nước ra hồ Đống Đa, hồ Phú Hòa, sông Hà Thanh, biển Quy Nhơn
11 TT Bồng Sơn 8,55 km 160 hố Hệ thống thoát nước ra sông Lại Giang
12 TT Tam Quan 11,4 km 200 hố Hệ thống thoát nước ra sông Nổm, sông Kho Dầu
Kim Sơn
An Lão
Trang 122 Hiện trạng hệ thống thoát nước, nước thải tại các khu công nghiệp
- Tỉnh Bình Định có 5 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động Hầu hết các khu công nghiệp đều có hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải Nước thải sau
khi xử lý đạt tiêu chuẩn rồi xả ra môi trường (số liệu chi tiết xem phụ lục 4)
- Các hệ thống thoát nước của khu công nghiệp chưa có kế hoạch duy tu bảo dưỡng hằng năm , chỉ được sửa chữa khi bị hư hỏng hoặc xuống cấp nên dẫn đến tình trạng các nhà máy này hoạt động thiếu hiệu quả
- Các khu công nghiệp đã thực hiện thu phí nước thải đối với các đơn vị thải nước Tuy nhiên, mức giá xử lý nước thải chưa thống nhất và phù hợp với thu nhập của doanh nghiệp (từ 3.100 đồng/m3
đến 13.627 đồng/m3)
- Hệ thống thoát nước mưa, nước thải của các khu công nghiệp do Ban quản
lý Khu kinh tế tỉnh quản lý chung
- Các đơn vị cung cấp dịch vụ xử lý nước thải gồm:
+ Ban Quản lý hạ tầng Khu kinh tế Nhơn Hội thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh thực hiện dịch vụ đối với các khu công nghiệp trên địa bàn Khu kinh tế Nhơn Hội
+ Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng Bình Định thực hiện dịch vụ đối với Khu công nghiệp Phú Tài và Long Mỹ
+ Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng kỹ thuật Nhơn Hòa thực hiện dịch vụ đối với Khu công nghiệp Nhơn Hòa
3 Hiện trạng hệ thống thoát nước, nước thải cụm công nghiệp
- Hiện trên địa bàn tỉnh có 36 cụm công nghiệp đang hoạt động Trong đó, có
13 cụm công nghiệp có hệ thống thoát nước mưa; 6 cụm công nghiệp có hệ thống thu gom nước mưa và xử lý nước thải; các cụm công nghiệp còn lại chưa có hệ thống xử lý nước thải, nước thải đều được xả trực tiếp ra các sông, suối, ao, hồ gây
ô nhiễm môi trường Các cụm công nghiệp đều chưa thực hiện thu phí nước thải
(chi tiết xem phụ lục 5)
- Hệ thống thoát nước của các cụm công nghiệp vẫn chưa có kế hoạch duy tu bảo dưỡng hằng năm Hệ thống chỉ được sửa chữa khi bị hư hỏng hoặc xuống cấp Nguồn kinh phí để sửa chữa được cấp từ nguồn ngân sách huyện, thị xã và thành phố
- Hệ thống thoát nước của các cụm công nghiệp do UBND huyện, thị xã, thành phố quản lý Đơn vị trực tiếp quản lý và thực hiện các công tác duy tu, bảo dưỡng là Phòng Kinh tế hạ tầng của huyện hoặc Phòng Quản lý đô thị của thị xã, thành phố; một số huyện do Ban quản lý các cụm công nghiệp trực tiếp quản lý
4 Hiện trạng thoát nước, nước thải làng nghề
Đến nay toàn tỉnh có 35 làng nghề Hầu hết các làng nghề này sản xuất theo
mô hình nhỏ lẻ, hộ gia đình và chưa đầu tư xây dựng hệ thống thu gom nước mưa, thu gom và xử lý nước thải Nước thải được xả trực tiếp ra các ao, hồ, sông suối
Trang 135 Hiện trạng thoát nước bệnh viện – trung tâm y tế
- Trên địa bàn tỉnh có 12 bệnh viện và 15 trung tâm y tế Hầu hết, các bệnh viện đều được đầu tư hệ thống thoát nước mưa, nước thải riêng và có cơ sở xử lý nước thải Nước thải sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn về môi trường được đấu nối với
hệ thống thoát nước của đô thị Nhiều bệnh viện chưa có hệ thống thu gom và xử
lý nước thải nguy hại (chi tiết xem phụ lục 7)
- Chi phí vận hành, duy tu bảo dưỡng hệ thống thoát nước ở các bệnh viện được trích từ nguồn thu của bệnh viện Tuy nhiên chi phí duy tu, bảo dưỡng lớn nên các bệnh viện phải xin hỗ trợ từ nguồn vốn ngân sách Do khó khăn về vốn nên một số bệnh viện chưa duy trì thường xuyên kế hoạch duy tu bảo dưỡng hệ thống nước thải
- Hệ thống thoát nước mưa, nước thải do bệnh viện sử dụng và tự quản lý Các bệnh viện tổ chức đội ngũ nhân viên quản lý trực tiếp các hệ thống xử lý nước thải
VI Những khó khăn, thách thức và tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đối với sự phát triển KT-XH của địa phương
1 Khó khăn và thách thức việc phát triển hệ thống thoát nước
1.1 Về thể chế quản lý
- Nhận thức của chính quyền, nhân dân, chủ đầu tư về hệ thống thoát nước,
xử lý nước thải và bảo môi trường chưa đầy đủ
- Việc xác định chủ sở hữu quản lý hệ thống thoát nước đô thị và lựa chọn đơn vị vận hành hệ thống thoát nước đô thị còn nhiều bất cập, chưa có quy chế áp dụng thống nhất cho toàn tỉnh Trách nhiệm, quyền hạn của chủ sở hữu, đơn vị thoát nước chưa quy định rõ ràng
- Việc đầu tư, vận hành, quản lý hệ thống thoát nước còn chưa được thể chế hóa dẫn đến tình hình hệ thống thoát nước chưa có cơ quan quản lý, cơ chế quản
lý, vốn quản lý Vì vậy, hệ thống xuống cấp rất nhanh chóng
- Việc quy hoạch phát triển đô thị, khu công nghiệp, bệnh viện, trung tâm y tế
ít quan tâm đến xử lý thoát nước mặt, có nơi san lấp ao, hồ, suối lấn dòng chảy sông, thu hẹp hành lang thoát lũ dẫn đến ngập úng cục bộ ở đô thị
- Trong quy hoạch phát triển đô thị một số đồ án quy hoạch chưa tính đến biến đổi khí hậu
- Biến đổi khí hậu làm lượng mưa/ngày tần suất 1% xuất hiện nhiều hơn, gây quá tải cho hệ thống thoát nước hiện trạng nhưng tiêu chuẩn thiết kế thoát nước mưa ở đô thị chưa được rà soát, điều chỉnh và chưa đề cập đến nhân tố biến đổi khí hậu theo từng vùng, khu vực
- Quy mô đô thị, số lượng cụm công nghiệp, bệnh viện tăng gây áp lực lên hệ thống thoát nước, đặc biệt ở thành phố Quy Nhơn và các đô thị loại IV Việc đầu
tư đường giao thông và khu đô thị chưa chú trọng đến hệ thống thoát nước, dẫn đến thiếu diện tích chứa nước mưa trung gian như ao, hồ, đầm gây ngập úng
Trang 14- Hiện nay chỉ riêng thành phố Quy Nhơn có kế hoạch quản lý, vận hành, duy
tu, bảo dưỡng, nạo vét hệ thống thoát nước hàng năm; các đô thị còn lại chưa có kế hoạch duy tu, bảo dưỡng hàng năm, chỉ xử lý mang tính chất cục bộ khi có sự cố xảy ra
- Nghị định 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và
xử lý nước thải và các Thông tư hướng dẫn có nhiều điểm mới, khi triển khai còn nhiều vướng mắc
- Lĩnh vực đầu tư hệ thống thoát nước chưa thu hút được nhà đầu tư (chính sách, cơ chế quản lý, lợi nhuận, ) Kinh phí cho công tác vận hành, duy tu hệ thống thoát nước còn hạn hẹp
- Việc đầu tư các dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải các đô thị, khu công nghiệp và bệnh viện giai đoạn hiện nay là rất khó khăn do thiếu nguồn kinh phí đầu tư
- Nguồn thu dịch vụ thoát nước thải chưa được xác định cụ thể và phù hợp với địa phương, hiện nay chỉ có thành phố Quy Nhơn là đã thực hiện thu giá dịch
vụ thoát nước và xử nước thải, (thông qua phí bảo vệ môi trường); các đô thị còn lại chưa thực hiện
1.3 Về công nghệ kỹ thuật
- Mạng lưới thu gom nước mưa và nước thải cũ của các đô thị xây dựng qua nhiều thời kỳ thường không đồng bộ, quá tải và xuống cấp, hoạt động thoát nước kém nên gây ngập úng cục bộ
- Mạng lưới hệ thống thoát nước tại các đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề chưa được đầu tư xây dựng hoàn chỉnh, còn mang tính chất chấp
vá, xử lý cục bộ
- Kỹ thuật – công nghệ quản lý vận hành duy tu công trình ngầm đô thị còn lạc hậu, chưa áp dụng kỹ thuật tự động, công nghệ mới, chế độ quan trắc nên phát sinh chi phí lớn
Trang 152 Thách thức của biến đổi khí hậu
Bình Định là một trong những địa phương chịu nhiều ảnh hưởng của tác động biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng tới đời sống người dân, nền kinh tế, mà còn làm ảnh hưởng đến các công trình hạ tầng đô thị như: hư hỏng
hệ thống giao thông, thủy lợi; nước sông dâng cao làm ảnh hưởng hệ thống thoát nước đô thị, dẫn tới ngập úng trên diện rộng Biến đổi khí hậu làm thay đổi dòng chảy, bồi lấp ở các cửa sông, cửa biển ảnh hưởng trực tiếp đến thoát nước đô thị Gần đây, việc xuất hiện ngày càng nhiều thiên tai đặc biệt nguy hiểm với tần suất, quy mô và cường độ ngày càng khó lường hơn Cụ thể:
- Thành phố Quy Nhơn trong những năm gần đây các xã, phường ven biển thường bị tác động bởi bão, xói lở bờ biển Phường Nhơn Bình, Nhơn Phú tác động bởi lũ lụt, xâm nhập mặn Trong đó, năm 2009 Quy Nhơn bị ảnh hưởng nặng
nề của cơn bão Mirinae và các vùng hạ lưu sông Hà Thanh xảy ra các trận lụt lớn sau bão
- Thị xã An Nhơn và huyện Tuy Phước là vùng chịu ảnh hưởng lớn chế độ thủy văn của lưu vực hạ lưu 2 sông lớn: sông Hà Thanh và sông Kôn nên về mùa mưa thường bị lũ lụt Trong đó, năm 2013 thị xã An Nhơn và huyện Tuy Phước bị
lũ lụt gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản như: cầu Huỳnh Kim bị sạc lở hư hỏng nặng, nhiều vùng bị chia cắt làm cho tình hình giao thông đi lại khó khăn
- Huyện Vân Canh, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Tây Sơn, huyện Hoài Ân, huyện An Lão phần lớn diện tích là đồi núi và trung du nên về mùa khô thường xảy ra hạn hán làm ảnh hưởng đến nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt Đồng thời cũng là là khu vực thượng nguồn của các sông lớn: sông Hà Thanh, sông Kôn, sông Lại Giang nên thường xảy ra hiện tượng lũ quét khi mưa lớn kéo dài nhiều ngày Năm 2013 các huyện Tây Sơn, Vân Canh, Vĩnh Thạnh bị ảnh nặng nề của lũ quét gây hư hỏng các hệ thống công trình giao thông, thủy lợi, hạ tầng kỹ thuật và
hư hại mùa màng
- Huyện Phù Cát, huyện Phù Mỹ, huyện Hoài Nhơn: Hiện tượng thay đổi dòng chảy, nước biển dâng ở các vùng ven cửa sông làm bồi lấp các cửa sông và ảnh hưởng đến công tác thoát nước đô thị
Lũ lụt gây sạt lở một đoạn cầu Huỳnh Kim Bờ biển xã Nhơn Lý bị xâm thực
Trang 16CHƯƠNG II TẦM NHÌN VÀ MỤC TIÊU
I Dự báo phát triển hệ thống đô thị, khu công nghiệp, cụm công nghiệp
và bệnh viện
1 Hệ thống các đô thị
Dự báo đến năm 2020, tỉnh Bình Định có tổng cộng 26 đô thị, trong đó có 01
đô thị loại I – thành phố Quy Nhơn, 03 đô thị loại IV – thị xã An Nhơn, Phú
Phong, Bồng Sơn và 22 đô thị loại V 2
Đến năm 2025 tất cả các đô thị hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý nước thải phải được xây dựng đồng bộ bảo đảm thoát nước mưa và nước thải từ thu gom, chuyển tải đến xử lý cho từng lưu vực; ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước đồng bộ tại các đô thị lớn, các đô thị là trung tâm du lịch hoặc có ảnh hưởng nhiều đến môi trường
Bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên nước là ưu tiên hàng đầu để làm cơ sở lập kế hoạch đầu tư xây dựng từng bước hoàn thiện hệ thống thoát nước đồng bộ, thích ứng với các biến đổi khí hậu và phát triển bền vững trong tương lai Trên cơ
sở nguồn vốn huy động tập trung đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý nước thải tại các đô thị theo nhóm thứ tự ưu tiên sau: nhóm ưu tiên 1 (thành phố Quy Nhơn thuộc lưu vực sông Hà Thanh và thị xã An Nhơn thuộc lưu vực sông Kôn); nhóm ưu tiên 2 (thị trấn Bồng Sơn thuộc lưu vực sông Lại Giang và thị trấn Phú Phong thuộc lưu vực sông Kôn); nhóm ưu tiên 3 (thị trấn Ngô Mây, thị trấn Phù Mỹ thuộc lưu vực sông La Tinh); nhóm ưu tiên 4 (Các đô thị khác còn lại trên địa bàn tỉnh)
2 Hệ thống các khu công nghiệp, cụm công nghiệp
- Hệ thống khu công nghiệp: Dự báo đến năm 2020 tỉnh Bình Định sẽ có 11 khu công nghiệp (gồm 03 khu công nghiệp thuộc Khu kinh tế Nhơn Hội và 08 khu công nghiệp) với tổng diện tích quy hoạch 3.192,14 ha
- Hệ thống cụm công nghiệp: Dự báo đến năm 2025 toàn tỉnh sẽ có 63 cụm công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch 1.981,1 ha
3 Hệ thống các bệnh viện
Dự báo đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh có 17 bệnh viện (trong đó có 04 bệnh viện trực thuộc Trung ương, 08 bệnh viện tuyến tỉnh và 05 bệnh viện xây dựng mới), 11 Trung tâm y tế, 09 Trung tâm chuyên khoa, với tổng hơn 6.500 giường bệnh
4 Hệ thống các làng nghề
Theo quy hoạch đến năm 2020 cả tỉnh sẽ có 36 làng nghề và sau năm 2020 sẽ
có 50 làng nghề tiểu thủ công nghiệp