Đề tài: “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc của rừng tự nhiên hỗn loài trạng thái IIIA 2 tại lâm trường Nghĩa Trung, tỉnh Bình Phước làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA RỪNG
TỰ NHIÊN HỖN LOÀI TRẠNG THÁI IIIA2 TẠI LÂM TRƯỜNG NGHĨA TRUNG TỈNH BÌNH PHƯỚC LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ RỪNG
Họ và tên sinh viên: Phạm Vũ Phượng Trâm Ngành: Lâm nghiệp
Niên khóa: 2004 - 2008
Trang 2BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA RỪNG
TỰ NHIÊN HỖN LOÀI TRẠNG THÁI IIIA2 TẠI LÂM TRƯỜNG NGHĨA TRUNG TỈNH BÌNH PHƯỚC LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ RỪNG
Tác giả
PHẠM VŨ PHƯỢNG TRÂM
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu
Cấp bằng Kỹ sư ngành LÂM NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
ThS Nguyễn Minh Cảnh
Tháng 07 năm 2008
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả như ngày hôm nay, tôi xin thành kính cảm ơn Cha, Mẹ đã nuôi dưỡng và động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
Quý Thầy, Cô giáo Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, Quý Thầy, Cô giáo Khoa Lâm nghiệp đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn Minh Cảnh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn các anh trong Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Nam
Bộ đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp và các tài liệu có liên quan đến đề tài
Cảm ơn tất cả bạn bè trong và ngoài lớp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Do hạn chế về thời gian cũng như về mặt kiến thức nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong được sự nhận xét, những ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh
Xin chân thành cảm ơn
Tp.HCM, tháng 07 năm 2008 Sinh viên thực hiện
Phạm Vũ Phượng Trâm
Trang 4TÓM TẮT
Phạm Vũ Phượng Trâm, sinh viên Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Quận Thủ Đức
Đề tài: “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc của rừng tự nhiên hỗn loài
trạng thái IIIA 2 tại lâm trường Nghĩa Trung, tỉnh Bình Phước làm cơ sở đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ rừng” được thực hiện từ tháng 03 năm 2008 đến
tháng 07 năm 2008
Giáo viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Minh Cảnh
Phương pháp nghiên cứu: Điều tra và thu thập số liệu ngoài hiện trường Sử dụng phần mềm Excel 2003 xử lý số liệu thu thập
Kết quả nghiên cứu bao gồm những nội dung chính sau:
1 Kết cấu tổ thành loài
Thống kê được số lượng loài trong rừng tự nhiên trạng thái IIIA2 tại khu vực
nghiên cứu là 36 loài Các họ chiếm ưu thế là họ Du (Ulmaceae); họ Bồ hòn (Sapindaceae); họ Sồi giẻ, họ Quả đấu (Fagacaea); họ Bàng (Combretaceae); họ Côm (Elaeocarpaceae); họ Măng cụt (Clusiaceae)
2 Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3)
Đường phân bố thực nghiệm số cây theo cấp đường kính D1,3 có dạng của hàm phân bố giảm (hàm Meyer)
LnN = 4,213 – 0,078*D1,3 hay N = 67,54.e-0,078*D1,3
3 Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn)
Phân bố số cây (N) theo cấp chiều cao Hvn có dạng phân bố chuẩn N(x; S2)
H N (14,44; 4,162)
4 Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3)
Phân bố trữ lượng (M) theo cấp đường kính D1,3 trong rừng tự nhiên trạng thái IIIA2 tại khu vực nghiên cứu là không liên tực Trữ lượng bình quân ở lâm phần đạt 178,07 m3/ha
5 Quy luật tương quan giữa chiều cao và đường kính (Hvn/D1,3)
Mô hình toán học phù hợp nhất cho việc mô tả mối quan hệ tương quan giữa chiều cao và đường kính tại khu vực nghiên cứu là hàm Logarit
Trang 5H = - 5,6549 + 15,3857 LogD1,3 với r = 0,75
6 Phân bố tái sinh dưới tán rừng
Mật độ tái sinh dưới tán rừng khoảng 8350 cây/ha Số cây tái sinh tập trung nhiều nhất ở cấp chiều cao 1 – 1,5 m, số cây có triển vọng là 6700 cây, chiếm 80,24 %
7 Độ tàn che
Độ tàn che của rừng trạng thái IIIA2 tại lâm trường Nghĩa Trung, tỉnh Bình Phước là 0,64
Trang 6Scientific advisor: MSc Nguyen Minh Canh
The main research methods of the thesis are measurement and collection of the data in the study fields The software Excel 2003 was used to treat data and establish the regression models
The research results could be summarized with some main contents as follows:
1 Structure of botanic species
The quantity of species in a natural forest at study area which was estimated is
36 species The species have the highest ratio such as Ulmaceae family, Sapindaceae family, Fagaceae famiy, Combetaceae family, Elaeocarpaceae family, Clusiaceae
family
2 Distribution of stem number according to diamater at breast height (N/D1.3)
Correlation of (N) according to diameter (D1.3) has form of Meyer function:
LnN = 4.213 – 0.078 * D1.3 or N = 67.54.e- 0,078*D1.3
3 Distribution of stem number according to tree height – rank (N/Hvn)
Correlation of (N) according to height - rank (Hvn) has form of normal distribution function N (x; S2):
H N (14.44; 4.162)
4 Distribution of mass according to diameter at the breast height (M/D1.3)
M/D1.3 of natural forest (IIIA2 type) at study area is not continuous The average mass is 178.07 m3 per ha
5 Correlative equation between the tree height and the diameter (Hvn/D1.3)
Trang 7At study area, the best mathematical equation to modelize for the correlation of the tree height (HVN) with the diameter (D1,3) is logarit function:
H = - 5.6549 + 15.3857 * LogD1.3 with r = 0.75
6 Regenerated distribution under the crown of the forest
Regeneration density under the crown of the forest is about 8350 tree per ha The number of most regenerated trees focus on the high ratio of 1 – 1.5 m The number of prospect trees has 6700 tree per ha (80.24 %)
7 Crown density of the forest at study area
Crown density of the forest is 0.64 at Nghia Trung forest enterprise, Binh Phuoc province
Trang 8MỤC LỤC
Trang tựa
Lời cảm ơn - i
Tóm tắt tiếng Việt -ii
Tóm tắt tiếng Anh - iv
Mục lục - vi
Danh sách các chữ viết tắt - viii
Danh sách các bảng - ix
Danh sách các hình -x
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU -1
1.1 Đặt vấn đề -1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài -3
1.3 Phạm vi nghiên cứu -3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU -4
2.1 Khái niệm về cấu trúc rừng -4
2.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng có liên quan -4
2.2.1 Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng trên thế giới -4
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam -8
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU - 14
3.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu - 14
3.2 Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu - 15
3.3 Hiện trạng rừng và sử dụng đất - 18
3.4 Tình hình kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu - 20
CHƯƠNG 4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 23
4.1 Nội dung nghiên cứu - 23
4.2 Phương pháp nghiên cứu - 23
4.2.1 Cơ sở phương pháp luận - 23
4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu - 23
4.2.3 Nội dung điều tra và các các biện pháp kỹ thuật - 24
4.2.4 Phương pháp phân tích số liệu - 25
Trang 9CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN - 32
5.1 Kết cấu tổ thành loài cây - 32
5.2 Độ hỗn giao của rừng trong ô tiêu chuẩn - 34
5.3 Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) - 35
5.4 Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn) - 37
5.5 Phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3) - 39
5.6 Tương quan giữa chiều cao và đường kính (Hvn/D1,3) - 41
5.7 Phân bố của lớp cây tái sinh - 42
5.8 Xác định độ tàn che của rừng - 44
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ - 46
6.1 Kết luận - 46
6.2 Tồn tại - 47
6.3 Kiến nghị - 47
* Tài liệu tham khảo - 49
* Phụ lục
* Phụ biểu
* Phiếu nhận xét của giáo viên hướng dẫn
* Phiếu nhận xét của giáo viên phản biện
Trang 10H_tn: Chiều cao lý thuyết, m
H_lt: Chiều cao tính theo lý thuyết, m
Hdc: Chiều cao dưới cành
G: Tiết diện ngang thân cây
G1,3: Tiết diện ngang tại vị trí 1,3 m
Log: Logarit thập phân (cơ số 10)
Ln: Logarit tự nhiên (cơ số e)
S2: Phương sai mẫu
Sk: Hệ số biểu thị cho độ lệch của phân bố
SY-X: Sai số của phương trình hồi quy
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích các loại đất ở Lâm trường Nghĩa Trung - 18 Bảng 5.1 Bảng tổ thành loài thực vật trạng thái rừng IIIA2 tại tiểu khu 305, Lâm trường Nghĩa Trung, Bình Phước - 32 Bảng 5.2 Phân bố % số cây theo đường kính D1,3 - 36 Bảng 5.3 Bảng phân bố % số cây theo cấp chiều cao Hvn - 38 Bảng 5.4 Bảng phân bố trữ lượng theo cấp đường kính trạng thái IIIA2 (M/D1,3) 40 Bảng 5.5 Bảng phân bố cây tái sinh theo chiều cao trạng thái rừng IIIA2 - 43
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 5.1 Biểu đồ tổ thành loài trạng thái rừng IIIA2 - 33
Hình 5.2 Biểu đồ phân bố % số cây theo cấp đường kính trạng thái rừng IIIA2 - 36
Hình 5.3 Biểu đồ phân bố % số cây theo cấp chiều cao trạng thái rừng IIIA2 - 38
Hình 5.4 Biểu đồ phân bố trữ lượng theo cấp đường kính (M/D1,3) - 40
Hình 5.5 Biểu đồ mô tả tương quan giữa chiều cao và đường kính - 42
Hình 5.6 Biểu đồ phân bố % số cây tái sinh theo cấp chiều cao - 43
Trang 13Hiện nay, diện tích rừng tự nhiên trên thế giới khoảng bốn tỷ ha, chủ yếu tập trung ở Brazil, Canada, Trung Quốc, Nga và Mỹ Trước năm 1945, Việt Nam có khoảng 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42 % tổng diện tích tự nhiên cả nước Đến năm
1990, diện tích rừng còn 9,3 triệu ha, chiếm 28,4 % tổng diện tích tự nhiên cả nước Theo chương trình điều tra đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng toàn quốc thời kỳ năm 1996 – 2000, cho đến ngày 31/12/2000 cả nước có 11.314.626 ha rừng các loại, độ che phủ tương ứng là 34,4 % Trong đó:
+ Diện tích rừng tự nhiên là 9.675.700 ha, chiếm 85,5 % diện tích rừng cả nước + Diện tích rừng trồng là 1.638.926 ha, chiếm 14,5 % diện tích rừng cả nước
Rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống Nếu như tất cả thực vật trên thế giới đã tạo ra 53 tỷ tấn sinh khối thì trong đó rừng chiếm 37 tỷ tấn (70 %) và các cây rừng sẽ thải ra 52,5 tỷ tấn (44 %) dưỡng khí để phục vụ cho hô hấp của con người, động vật và sâu bọ trên trái đất trong khoảng hai năm (S.V.Belov 1976)
Rừng có ý nghĩa to lớn đối với con người: cung cấp nguồn gỗ, củi; điều hòa khí hậu, tạo oxy, điều hòa nước; là nơi cư trú của động thực vật và là nơi tàn trữ những nguồn gen quý hiếm Rừng cũng có vai trò bảo vệ và ngăn chặn gió bão, ngăn chặn xói mòn đất, lượng đất xói mòn của vùng đất có rừng chỉ bằng 10 % lượng đất xói mòn
Trang 14dụng đến rừng quá mức, làm cho rừng bị tàn phá và bị hủy hoại nặng nề, rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng
Trong hơn một thập kỷ qua, trên thế giới có 3 % diện tích rừng bị tàn phá tương đương với 7,3 triệu ha/năm Tốc độ phá rừng nhiệt đới hàng năm giai đoạn 1981 –
1990 là 0,8 % (15 triệu ha/năm) trong đó Châu Á có tỉ lệ mất rừng cao nhất (1,2 %) Riêng ở Việt Nam, trong vòng nửa thế kỷ từ 1943 – 1993 có khoảng năm triệu ha rừng
tự nhiên bị mất, nghĩa là tốc độ phá rừng hàng năm ở Việt Nam vào khoảng 100.000
ha Giai đoạn từ năm 1996 – 2000, mỗi năm Tây Nguyên mất khoảng 10.000 ha rừng
Cả nước hiện nay mỗi năm trồng 200.000 ha rừng nhưng diện tích mất rừng là 120.000 – 150.000 ha Mất rừng do nhiều nguyên nhân: do thiên nhiên, do chiến tranh, do tập tục du canh du cư, đốt nương làm rẫy của một số đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao,
do quá trình chuyển hóa từ đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp, do xây dựng các cơ
sở hạ tầng, do hoạt động quản lý của nhà nước về rừng yếu kém, và đặc biệt là nhận thức yếu kém về vai trò của rừng của một bộ phận không nhỏ người dân …
Mặc dù đã có nhiều biện pháp quản lý và bảo vệ rừng nhưng trên thực tế rừng vẫn bị xâm hại và chỉ còn 10 % là rừng nguyên thủy Đứng trước tình trạng này đòi hỏi các nhà lâm nghiệp Việt Nam cùng các ban ngành liên quan là phải làm thế nào để tìm ra các giải pháp nuôi dưỡng và khôi phục lại rừng, trong đó công tác phục hồi và khoanh nuôi rừng tự nhiên được đặc biệt quan tâm nhằm vừa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về kinh tế - xã hội mà vẫn duy trì được chức năng sinh thái bảo vệ môi trường của rừng
Để công tác tổ chức, quản lý và bảo vệ rừng có hiệu quả cần thiết phải có những hiểu biết sâu sắc về các đặc trưng của cấu trúc rừng nhằm lựa chọn và đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp và hiệu quả để đạt được mục tiêu kinh doanh
đề ra mà không làm tổn hại đến rừng
Xuất phát từ những vấn đề trên, trong khuôn khổ cho phép của một khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Cảnh, bộ môn Quản
lý tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí
Minh, đề tài: “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc của rừng tự nhiên hỗn loài
trạng thái IIIA 2 tại lâm trường Nghĩa Trung tỉnh Bình Phước làm cơ sở đề xuất
Trang 15các biện pháp quản lý và bảo vệ rừng” được thực hiện trong khoảng thời gian từ
tháng 03 đến tháng 07 năm 2008
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu một số đặc điểm cơ bản nhất về cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIIA2
tại lâm trường Nghĩa Trung tỉnh Bình Phước Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp
kỹ thuật lâm sinh phù hợp nhằm góp phần phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu theo hướng tích cực hơn
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về trình độ cũng như thời gian có hạn, đề tài chỉ thực hiện ở một
số diện tích rừng trạng thái IIIA2 tại tiểu khu 305 của lâm trường Nghĩa Trung tỉnh Bình Phước Đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tổ thành loài, độ hỗn giao của rừng, phân bố số cây theo cấp đường kính D1,3, phân bố số cây theo cấp chiều cao, phân bố trữ lượng theo cấp đường kính D1,3, tương quan giữa chiều cao và đường kính D1,3, đánh giá tình hình tái sinh dưới tán rừng, xác định độ tàn che của rừng
Mặc dù đã rất cố gắng trong việc điều tra, khảo sát, tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan để thực hiện đề tài nhưng do những hạn chế nhất định về mặt thời gian, trình độ chuyên môn, nhất là sự phức tạp và phong phú về mặt lâm học của rừng
tự nhiên nhiệt đới Việt Nam nên đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót khi đưa ra những nhận định và đánh giá chung về cấu trúc rừng tại khu vực nghiên cứu nên đây chỉ là những kết quả mang tính bước đầu nhằm góp phần vào việc tìm hiểu một số đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên tại tiểu khu 305 của lâm trường Nghĩa Trung tỉnh Bình Phước Vì vậy rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô giáo và các bạn bè cùng chuyên môn để đề tài này được hoàn chỉnh hơn
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian Phân bố của quần thể thực vật trong không gian biểu hiện ở hai khía cạnh: theo chiều thẳng đứng (tính thành tầng, tầng phiến) và theo chiều nằm ngang của rừng (trạng thái khảm) Sự tổ hợp ấy là có nguyên nhân, nghĩa là có sự chọn lọc mang tính quy luật của chúng trong tự nhiên Cấu trúc là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng về hình thái quần thể sinh vật
Giữa cấu trúc rừng và sinh thái rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Bất kỳ một quy luật cấu trúc quần thể nào cũng đều có nội dung sinh thái học bên trong của
nó Quán triệt quan điểm sinh thái mới có cơ sở khoa học để giải thích các quy luật cấu trúc của quần thể thực vật
Cấu trúc rừng bao gồm: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng thứ, cấu trúc tuổi, cấu trúc mật độ và một số chỉ tiêu cấu trúc khác như:
+ Độ tàn che
+ Mức độ khép tán
+ Phân bố mật độ theo đường kính
+ Phân bố mật độ theo chiều cao
2.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng có liên quan
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về cấu trúc rừng trên thế giới
Trong khoa học lâm nghiệp thế giới, khái niệm “cấu trúc rừng” đã được sử dụng và xác định bằng nhiều phương pháp khác nhau, phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu khác nhau
Theo P.W.Richards (1939) “cấu trúc” có nghĩa là phân bố cây rừng theo tầng (theo chiều thẳng đứng)
Trang 17Theo Meyer (1952); Turnbull (1963); Rollet (1969), “cấu trúc” dùng để chỉ rõ
sự phân bố cây gỗ theo các cấp kính hoặc là phân bố tiết diện ngang thân cây theo cấp kính
Theo T.A.Rabotnov (1978), “cấu trúc” quần xã thực vật đó là đặc điểm phân bố các cơ quan, các thành phần tạo nên quần xã trong không gian và thời gian
Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của P.W.Richards (1952) trong cuốn
“Rừng mưa nhiệt đới” Tác giả đã xem đặc trưng nổi bật là tuyệt đại bộ phận thực vật thân gỗ đều có lá rộng thường xanh, ưa ẩm, thân có bạnh vè, hoa quả, ngoài ra còn có một số thực vật của miền ôn đới
Tùy theo mục đích mà các tác giả đã nghiên cứu các quy luật cấu trúc lâm phần theo các phương pháp khác nhau Một số tác giả đã nghiên cứu vị trí của cây có đường kính bình quân Đối với lâm phần thuần loài đều tuổi, một tầng, Weise xác định đường kính bình quân là cỡ đường kính của cây nằm ở vị trí thứ 57,5 % tính từ cỡ nhỏ trong cột số cây (ni) từ số liệu điều tra đo đếm
Schiffel là tác giả đầu tiên nghiên cứu về phân bố số cây theo cấp đường kính trung bình trong lâm phần rừng cây lá rộng và biểu hiện chúng theo phân bố giảm của
số cây cũng theo cấp độ dày Phương pháp xác định phần trăm số cây trong sự tương quan với cấp đường kính, theo đó tác giả đã nhận được sự phù hợp với chỉ tiêu điều tra rừng (dẫn theo Nguyễn Cao Cường, 2007)
Giáo sư A.V.Tiurin (1945) đưa ra tương quan số cây phân theo cấp đường kính
từ nhỏ đến lớn và cũng chỉ ra được sự phân bố đó là ổn định trong lâm phần Và ông còn chỉ ra rằng nó không phụ thuộc vào loài cây, cấp lập địa và độ dày của lâm phần
Giáo sư N.V.Tretiakov đã đi đến kết luận quy luật cấu trúc của những phần tử rừng thường xuyên mang những đặc điểm đặc trưng hiện tại, không phụ thuộc vào tuổi rừng, loài cây, điều kiện sinh trưởng thậm chí điều này cũng được chỉ ra đúng ngay cả lâm phần phức hợp và hỗn loài (dẫn theo Cao Thế Hiệp, 2007)
Theo Prodan (1951) đã nghiên cứu quy luật phân bố, chủ yếu là phân bố đường kính có liên quan đến giai đoạn phát dục của lâm phần và biện pháp kinh doanh Theo Prodan, sự phân bố số cây theo cỡ đường kính có giá trị tiêu biểu nhất cho lâm phần,
Trang 18bố đường kính của rừng tự nhiên có quy luật một đỉnh lệch trái, số cây tập trung rất nhiều ở các cấp đường kính nhỏ do bởi có nhiều loài cây, nhiều thế hệ cùng tồn tại Song ở các cỡ đường kính lớn, chỉ có một số loài nhất định do bởi đặc tính sinh học hay bởi vị trí thuận lợi trong rừng chúng mới có khả năng tồn tại và phát triển Về phân bố chiều cao, rừng tự nhiên thường có dạng nhiều đỉnh, rừng có nhiều thế hệ hay
do bởi các biện pháp chặt chọn không quy tắc và giới hạn của đường cong phân bố nhiều đỉnh là phân bố giảm đặc trưng cho rừng chặt chọn không đều tuổi
Cùng quan điểm này, P.W.Richards (1952) cho rằng: “Một quần xã thực vật gồm những loài cây có hình dạng khác nhau, dạng sống khác nhau nhưng tạo ra một hoàn cảnh sinh thái nhất định và được sắp xếp một cách tự nhiên và hợp lý trong không gian” Theo Richards, cách sắp xếp được xem xét theo hướng thẳng đứng và hướng nằm ngang, cách sắp xếp này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt với các quần xã thực vật khác và có thể mô tả bằng các biểu đồ
Năm 1968, Assmann định nghĩa: “Một lâm phần hay một rừng cây là tổng thể các cây cùng sinh trưởng và phát triển trên cùng một diện tích tạo thành một điều kiện hoàn cảnh nhất định và có một cấu trúc bên ngoài cũng như bên trong, khác biệt với diện tích rừng khác…” Như vậy một rừng cây hay một lâm phần trên một diện tích đất sẽ được hình thành khi có đủ số lượng cá thể cây, tạo nên một tầng tán cũng như
độ tàn che và những điều kiện hoàn cảnh rừng rất ổn định nào đó
Theo Wenk (1995), nghiên cứu cấu trúc của một loại hình rừng nhằm mục đích không những đánh giá được nhiều hiện trạng rừng qua các quy luật phân bố số cây theo chiều cao Hvn (cấu trúc đứng), theo đường kính D1,3, theo tổng diện ngang G (cấu trúc ngang),… mà còn có thể xác định chính xác kích thước bình quân lâm phần phục
vụ cho công tác điều tra quy hoạch rừng (dẫn theo Giang Văn Thắng, 2001)
Để mô tả cho cấu trúc ngoại mạo và thành phần loài cây, sử dụng phương pháp
vẽ biểu đồ trắc diện của David và Richards Ở vùng nhiệt đới, cho đến ngày nay phương pháp vẽ biểu đồ trắc diện do David và Richards đề ra năm 1933 – 1934 trong khi nghiên cứu thảm thực vật ở Moraballi của Guyana thuộc nước Anh (Tập san sinh thái, số 21, trang 350 – 384 và số 22, trang 406 – 455), là một phương pháp có giá trị nhất về mặt nghiên cứu lý luận cũng như về mặt thực tiễn sản xuất Từ đó đến nay, nhiều tác giả như J.S.Beard (1944, 1945, 1946); B.Fanshauer (1952); Schulz (1960);
Trang 19Linderman và Moliner (1958); C.H.Holmes (1956) đã áp dụng phương pháp này có kết quả trong công tác nghiên cứu thảm thực vật rừng nhiệt đới với nhiều điểm bổ sung (dẫn theo Nguyễn Cao Cường, 2007)
Nghiên cứu quá trình tái sinh cũng là một vấn đề được đặc biệt quan tâm trong quá trình nghiên cứu về đặc điểm lâm học của rừng Để giải quyết vấn đề này, nhiều tác giả đều thống nhất là phải làm rõ các vấn đề, những đặc điểm về sự hình thành cơ quan sinh sản, thời kỳ ra hoa, kết quả và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình này; kiểu phân tán hạt giống, sự hình thành và động thái biến đổi của cây mầm và cây con dưới ảnh hưởng của điều kiện môi trường thay đổi; cấu trúc độ tuổi; mật độ và sức sống của cá thể…
Theo Richards (1952), quá trình tái sinh tự nhiên của rừng nhiệt đới rất phức tạp, tuy nhiên sự hiểu biết của con người còn hạn chế mặc dù nó có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Theo tác giả, các cây tái sinh tự nhiên có một thời gian ức chế kéo dài ảnh hưởng đến sinh trưởng của chúng, nếu đạt được chiều cao khoảng 2 m thì chúng có khả năng tồn tại và tham gia vào quần thể rừng
Khi nghiên cứu sự tái sinh của rừng tự nhiên nhiệt đới, G.Vansteenis (1956) cũng đã nhận định: tái sinh của rừng mưa nhiêt đới là liên tục gần như quanh năm Còn theo các nhà nghiên cứu khác như I.T.Hatig và M.A.Huber (1956) thì sự tái sinh
tự nhiên được xem là căn bản nhất trong quá trình cải thiện tình hình rừng
Baur (1962) đã nêu rõ các đặc điểm của các giai đoạn tái sinh của rừng mưa nhiệt đới Tác giả đã cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa các loài cây tiên phong ưa sáng, bán chịu nóng và chịu nóng từ khi ra hoa, kết quả, phân tán hạt giống, nảy mầm và phát triển
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu ô vuông với diện tích ô quy định từ 1 - 2 m2, phương pháp điều tra ô tái sinh
tự nhiên theo dải hẹp với kích thước 10 – 100 m2 cũng được sử dụng, song phổ biến vẫn là phương pháp lập ô dạng bản có kích thước 4 m2 được bố trí theo hệ thống ô tiêu chuẩn
2.2.2 Tình hình nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam
Trang 20Theo Thái Văn Trừng (1970 – 1978), vào thời kỳ trước năm 1945 hầu như chỉ
có người Pháp tiến hành các nghiên cứu về rừng Đông Dương Trong đó đáng kể nhất
là các công trình nghiên cứu của:
+ Chevalier (1918) đã đưa ra một bảng phân loại rừng Bắc Bộ thành 10 kiểu trong “Thống kê những lâm sản Bắc Bộ”;
+ H.Guibier (1926) tác giả cuốn “Những loại gỗ Đông Dương”;
+ Paul Maurand (1943) tác giả cuốn “Lâm nghiệp Đông Dương”;
+ B.Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil (1952) tác giả cuốn “Những quần thể thực vật thưa Nam Đông Dương”
Năm 1953, Maurand đưa ra bảng phân loại mới về các quần thể thực vật trên cơ
sở tổng kết các công trình phân loại của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil Năm
1956, Dương Hàm Hy, một nhà lâm học Trung Quốc đã công bố bảng phân loại về thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam Nghiêm Xuân Tiếp cũng đưa ra bảng phân loại những kiểu rừng Việt Nam trên cơ sở tổng hợp bảng phân loại của Maurand và Dương Hàm Hy Các bảng phân loại trên có có tính chất học thuật và có nhiều mục đích khác nhau
R.Champsoloix (1959) tác giả cuốn “Về kiểu rừng thưa vùng Đông Nam Á”; nghiên cứu cấu trúc và trạng thái rừng ở Miền Bắc Việt Nam phải kể đến công trình nghiên cứu của M.Loeschau (1962, 1964, 1966)
Sau năm 1954, rừng nước ta được nhiều nhà nghiên cứu Lâm nghiệp trong và ngoài nước quan tâm, nhưng các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng nhiệt đới thì còn nhiều hạn chế
Năm 1960, Cục điều tra quy hoạch rừng áp dụng cách phân loại các loại hình rừng của Loeschau để đề xuất các biện pháp lâm sinh Rừng được chia làm bốn loại hình:
+ Loại I: gồm những đất hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần gây trồng rừng
+ Loại II: gồm những rừng non cần khoanh nuôi hay làm giàu
+ Loại III: gồm những loại rừng bị khai thác mạnh, trở nên nghèo kiệt, cần nuôi dưỡng, làm giàu
+ Loại IV: những rừng còn bị ít tác động hay chưa bị tác động
Trang 21Cách phân loại này đơn giản, ngoài thực địa dễ nhận, dễ đề xuất các giải pháp lâm sinh và đã được áp dụng rộng rãi Nhược điểm của phương pháp phân loại Loeschau là tuy có đề ra tiêu chuẩn phân loại để chia các loại hình rừng như thành phần loài cây, đặc tính sinh thái và hình thái cấu trúc nhưng ba tiêu chuẩn đó đã không thể hiện trong bảng phân loại Thực tế, căn cứ vào hiện trạng rừng, tùy theo mức độ tác động khác nhau, không phân biệt các trạng thái nguyên sinh và thứ sinh và các giai đoạn phức tạp của chúng để có giải pháp lâm sinh phù hợp
Năm 1964, Lê Viết Lộc trong cuốn “Bước đầu điều tra thảm thực vật trong khu rừng nguyên sinh Cúc Phương” ông cùng các cộng tác viên trong khi điều tra các loại hình ưu thế trong loại rừng này, ông đã dùng một số chỉ tiêu khác ngoài số lượng cá thể cây để tính sinh khối trên diện tích điều tra như chiều cao, diện ngang … để tính toán độ ưu thế của loài Ông là người đầu tiên đề ra một số tiêu chuẩn và chỉ tiêu để phân biệt “loại hình ưu thế” trong kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở Cúc Phương Ngoài ra còn có nghiên cứu của Nguyễn Tiến Bân về cấu trúc của rừng Cúc Phương trong cuốn “Cấu trúc sinh thái trong rừng Cúc Phương”
Năm 1965, Trần Ngũ Phương và những cộng tác đã thu thập được khá nhiều tài liệu trên những vùng địa lý khác nhau ở miền Bắc Việt Nam và cho công bố tập “Bước đầu nghiên cứu rừng gỗ miền Bắc Việt Nam”
Năm 1974, Đồng Sĩ Hiền khi lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng gỗ hỗn loài ở miền Bắc nước ta, tác giả đã nghiên cứu phân bố đường kính, phân
bố chiều cao và phân bố của các nhân tố hình dạng thân cây Qua các kết quả nghiên cứu, tác giả đã rút ra kết luận là: quy luật cấu trúc của rừng tự nhiên hỗn loài nước ta
có dạng phân bố giảm theo đường kính, dạng phân bố nhiều đỉnh theo chiều cao và sự phân bố của các chỉ tiêu hình dạng f0,1 và f1,3 của các loài cây trong rừng tự nhiên hỗn loài có dạng phân bố tiệm cận với phân bố chuẩn và các quy luật này khác hẳn so với rừng thuần loài đều tuổi
Thái Văn Trừng (1978) khi nghiên cứu về kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới nước ta, tác giả đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết Tác giả đã vận dụng và có
Trang 22chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam, đó là: Dạng sống ưu thế của những thực vật tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng thái tán lá, dựa vào đó tác giả chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu
Giai đoạn 1980 – 1985 khi nghiên cứu cấu trúc rừng lá rộng thường xanh các nhà lâm học đã tập trung nghiên cứu về các giải pháp kỹ thuật kinh doanh rừng tự nhiên, phương thức khai thác chọn đảm bảo tái sinh, cường độ và luân kỳ khai thác, tuổi khai thác Các kết quả có thể kể đến là: Nguyễn Ngọc Lung (1983) với công trình
“Những cơ sở bước đầu để xây dựng quy phạm khai thác gỗ” đã đề cập đến khái niệm
“rừng chuẩn” và năng suất tối ưu, trên cơ sở đó mọi tác động lâm sinh là hướng khu rừng kinh doanh tới gần một chuẩn mục đích cung cấp tối ưu gỗ lớn; Nguyễn Hồng Quân (1983 – 1984) cũng đã nghiên cứu về điều chế rừng ở nước ta và chỉ rõ những bất hợp lý trong quá trình khai thác chọn và sự lạc hậu về nội dung kỹ thuật lâm sinh
đã dẫn đến hậu quả là rừng ngày một nghèo đi và đưa ra biện pháp khắc phục; Nguyễn Văn Trương (1983) với “Quy luật cấu trúc rừng gỗ hỗn loài”, theo tác giả khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng phải tập trung làm sáng tỏ những vấn đề về thành phần loài cây, tìm hiểu về cấu trúc của từng loại rừng: cấu trúc đứng của cây, cấu trúc thân cây theo cấp đường kính, phân bố số cây và tổng diện ngang thân cây trên mặt đất, cấu trúc các nhóm loài cây, sinh thái loài cây, tái sinh và diễn thế các thế hệ của rừng…Từ
đó đưa ra những kết luận hợp lý và đề xuất biện pháp xử lý rừng có hiệu quả, vừa cung cấp được lâm sản vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng, là cơ sở khoa học để góp phần giải quyết chiến lược nghề rừng ở nước ta vào thời kỳ đó
Cũng theo Nguyễn Văn Trương (1984) các công trình “Một số biện pháp lâm sinh trong thiết kế kinh doanh rừng tự nhiên hỗn giao lá rộng”; “Nghiên cứu về cấu trúc phục vụ công tác khai thác nuôi dưỡng” đã đề xuất các mô hình cấu trúc chuẩn làm căn cứ cho khai thác và nuôi dưỡng rừng
Năm 1986, Nguyễn Ngọc Lung cùng các cộng sự đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng, tác giả đã tổng kết những quy luật khí hậu vùng Thông và đã xây dựng bản đồ phân hạng đất trồng rừng, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp kinh doanh Về mặt cấu trúc của rừng Thông ba lá, tác giả đã sơ kết trên những cơ sở dữ liệu lớn, đã đo đạc trên những ô tiêu chuẩn có kích thước khác nhau từ
Trang 231.000 m2 – 10.000 m2 đều thấy sự phân bố số cây theo cỡ đường kính, chiều cao theo thời gian và không gian, đồng thời xây dựng các phân bố đỉnh của hàm Pearson cho số cây theo cỡ kính Quy luật chỉ tồn tại một tầng phiến, tiêu biểu cho những lâm phần đều tuổi Quy luật phân bố theo đám trên mặt đất theo cách mọc, điểm này có liên quan đến quy cách khai thác, tái sinh lại, và điều chỉnh mật độ trong nuôi dưỡng nhằm nâng cao năng suất rừng trong tương lai (dẫn theo Cao Thế Hiệp, 2007)
Năm 1988, Vũ Đình Phương với công trình “Nghiên cứu xác định cấu trúc quần thể phù hợp cho từng đối tượng và mục tiêu điều chế” đã nêu lên quan điểm là phải tìm trong thiên nhiên các cấu trúc mẫu có năng suất cao đáp ứng mục tiêu kinh tế cho từng khu vực và hướng rừng theo các mẫu chuẩn đó
Trần Văn Con (1990) đã sử dụng mô hình Weibull để mô phỏng cấu trúc số cây theo cấp đường kính (N/D1,3) của rừng khộp và đã cho rằng khi rừng còn non thì phân
bố có dạng giảm, và khi rừng càng lớn thì càng có xu thế chuyển sang phân bố đỉnh và lệch dần từ trái sang phải Đó là sự biến thiên về lập địa có lợi hay không có lợi cho quá trình tái sinh
Sau này, có các khóa luận cuối khóa kỹ sư chuyên ngành Lâm nghiệp của sinh viên Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc như:
+ Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng khộp và đặc điểm sinh trưởng loài dầu lông của rừng khộp tại Lâm trường Chư Phả - Đăklăk của Phạm Văn Đến (2003)
+ Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trạng thái IIB tại Lâm trường Tân Phú, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai của Nguyễn Minh Thực (2004)
+ Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trạng thái IIIA1 tại phân khu phục hồi sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu – Bà Rịa Vũng Tàu của Trần Anh Tú (2005)
+ Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng trạng thái IIIA1 tại tiểu khu 24, khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu – Bà Rịa Vũng Tàu của
Trang 24+ Bước đầu nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trạng thái IIIA1 tại tiểu khu 104 thuộc thôn Bờ Hào, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai của Cao Thế Hiệp (2007)
+ Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng tự nhiên hỗn loài trạng thái trạng thái IIB tại Khu Dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai của Nguyễn Cao Cường (2007)
+ Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của trạng thái rừng IIIA2 tại khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm quản lý bảo vệ rừng của Hồ Thanh Tuyền (2007)
Nhìn chung cấu trúc rừng được nhiều tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứu bằng nhiều phương pháp khác nhau Dựa trên cơ sở cấu trúc về các đặc điểm lâm sinh học và trữ lượng rừng …, các tác giả đã đề xuất ra các chỉ tiêu phân loại các trạng thái rừng tự nhiên áp dụng rộng rãi trong công tác điều tra quy hoạch và điều chế rừng
và đề xuất những biện pháp kỹ thuật lâm sinh hiệu quả cho từng trạng thái rừng
Những kết quả nghiên cứu được về cấu trúc rừng của những tác giả trước đây là nguồn tài liệu quý giá cho các thế hệ sau tham khảo, học hỏi, và định hướng nghiên cứu để thực hiện tốt khóa luận tốt nghiệp đề ra
Trang 25Chương 3
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Lâm trường Nghĩa Trung được thành lập theo Quyết định số 35/QĐ – UB ngày 20/07/1987 của UBND tỉnh Sông Bé Các hoạt động quản lý, bảo vệ, sản xuất kinh doanh của Lâm trường trước đây được thực hiện theo kế hoạch nhà nước và được cấp một phần vốn ngân sách để hoạt động
Thực hiện Nghị định 388/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, năm 1993 lâm trường đã ký lại doanh nghiệp Đến năm 2005, một lần nữa lâm trường đổi mới theo tinh thần Quyết định 200/2005/QĐ – TTg Hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý, bảo vệ và xây dựng vốn rừng của lâm trường thực hiện theo luật doanh nghiệp
Ngày 16/08/2006, UBND tỉnh Bình Phước có Quyết định thành lập công ty Lâm nghiệp Bình Phước trên cơ sở diện tích và hệ thống tổ chức hiện có của lâm trường Nghĩa Trung
Lâm trường Nghĩa Trung quản lý hai loại rừng sản xuất và phòng hộ, thực hiện hai nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và công ích Ngoài việc tổ chức sản xuất kinh doanh trên diện tích rừng sản xuất, lâm trường còn được giao một số nhiệm vụ như trồng, quản lý, bảo vệ, nuôi dưỡng rừng phòng hộ theo chương trình 661 Tổng diện tích rừng và đất rừng phòng hộ do lâm trường trực tiếp quản lý gồm:
Trang 26Cùng với cơ chế chính sách của Đảng và nhà nước về hoạt động lâm trường quốc doanh, lâm trường Nghĩa Trung từ ngày thành lập đến khi chuyển đổi thành công
ty Lâm nghiệp Bình Phước nay đã đi vào hoạt động theo sự phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước
3.2 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu
3.2.1 Vị trí địa lý
Lâm trường Nghĩa Trung nằm trên địa bàn các xã Thống Nhất, Nghĩa Trung, Đăng Hà thuộc huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước Diện tích lâm trường Nghĩa Trung quản lý có ranh giới như sau:
+ Phía Bắc giáp với Ban quản lý rừng phòng hộ Thống Nhất
+ Phía Đông giáp xã Đăng Hà (huyện Bù Đăng)
+ Phía Tây giáp Ban quản lý rừng Đồng Xoài
+ Phía Nam giáp Vườn Quốc gia Cát Tiên
Tọa độ địa lý: Từ 11030”00” đến 11042”00” vĩ độ Bắc
Từ 107017”00” đến 105005”00” kinh độ Đông
Do có vị trí nằm gần trung tâm tỉnh Bình Phước (cách thị xã Đồng Xoài 25 km),
là điều kiện thuận lợi cho lâm trường phát huy tiềm năng để trở thành một đơn vị kinh
tế lâm nghiệp phát triển mạnh trong tương lai
3.2.2 Địa hình địa mạo
Lâm trường Nghĩa Trung thuộc vùng địa mạo “Cao nguyên Bà Rá” (Theo bản
đồ phân vùng địa mạo Việt Nam tỉ lệ 1/1.000.000 – Tổng cục địa chất, 1979; chủ biên:
TS Lê Đức An) Đặc điểm địa mạo đơn giản, hình thái sơn văn cao nguyên bazan chiếm toàn bộ diện tích Lâm trường Nghĩa Trung (trích dẫn “Phương án điều chế rừng công ty Lâm nghiệp Bình Phước giai đoạn 2007 – 2011” của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ)
Dạng địa hình chủ yếu trong địa bàn là đồi cao Địa hình có độ cao từ 200 – 300
m, độ chia cắt địa hình trung bình < 50 m;
Dạng địa hình trũng: nằm xen kẻ giữa các dạng địa hình đồi, dạng địa hình này phân bố rải rác ở nhiều nơi và có diện tích không đáng kể
Toàn bộ diện tích lâm trường Nghĩa Trung có 10.587 ha đất đai có độ dốc cấp I (< 80); 4.522 ha đất đai có độ dốc cấp II (< 80 – 150); 1.197 ha đất đai có độ dốc cấp III
Trang 27(160 – 250); 225 ha đất có độ dốc cấp IV (260 – 350); 33 ha đất có độ dốc cấp V (>
350)
Địa hình của lâm trường Nghĩa Trung với trên 50 % diện tích tương đối bằng phẳng là điều kiện rất thuận lợi cho việc đưa cơ giới vào sản xuất nông nghiệp cũng như phát triển hệ thống giao thông, ổn định dân cư
3.2.3 Khí hậu
Lâm trường Nghĩa Trung thuộc vùng khí hậu Đông Nam Bộ, nhiệt đới gió mùa, không có mùa đông lạnh Các đặc điểm của khí hậu thể hiện qua các yếu tố khí tượng (thu thập ở trạm khí tượng Đồng Phú) như sau:
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân mỗi năm là 270C; nhiệt độ bình quân tháng cao nhất là 29,30C (tháng 4); nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất là 24,90C
+ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 2.848 mm, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 – 11, chiếm 87 % lượng mưa cả năm Số ngày mưa trong năm là 142 ngày, nhiều nhất vào các tháng 6, 7, 8, 9, mưa gây lũ lụt thường xảy ra vào các tháng 8 và tháng 9
+ Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình năm là 78,4 %, trung bình tháng cao nhất
là 88,0 %, tháng thấp nhất là 67,0 % Mùa mưa độ ẩm đạt trên 80 %, các tháng mùa khô độ ẩm biến đổi từ 65 – 70 %
+ Bốc hơi: Lượng bốc hơi bình quân năm là 1.444 mm, cao nhất tỉnh
+ Gió: có hai loại gió thịnh hành là gió mùa hạ và gió mùa đông Gió mùa hạ trùng với mùa mưa (tháng 5 – 10), hướng gió Tây Nam, vận tốc trung bình 1,5 – 3,3 m/s Gió mùa đông xuất hiện cùng với mùa khô (tháng 11 – 4), hướng gió Đông Bắc, vận tốc trung bình là 3,2 m/s Bình Phước hầu như không chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi gió bão Tuy nhiên mùa mưa có thể xuất hiện các cơn lốc có vận tốc 20 – 25 m/s gây tác hại đáng kể cho cây trồng và nhà cửa
3.2.4 Thủy văn
+ Nước mặt:Nguồn nước mặt trong khu vực hạn chế do hệ thống sông suối nhỏ hẹp Nguồn nước mưa phân phối không đều ở các tháng trong năm (chủ yếu vào mùa mưa) và các năm khác nhau
Trang 28Nước mặt cung cấp cho sản xuất và đời sống thông qua hệ thống suối lớn có nước quanh năm như suối Pannton, Sren, Ko, Rđen, Trio Trong lâm phần có các suối Ripak, Danben Các chỉ tiêu thủy văn chưa được đo tính cụ thể
Hệ thống sông suối trong khu vực có mật độ thấp (0,3 – 0,4 km/km2), suối trong khu vực phần lớn có lòng sông hẹp, dốc, tạo thể gây lũ trong mùa mưa và kiệt nước trong mùa khô
Theo tài liệu và bản đồ địa chất thủy văn tỉ lệ 1/100.000 (Đoàn địa chất 801, Liên đoàn địa chất – thủy văn 8, 1994, chủ biên: Ks Trần Hồng Lĩnh), lâm trường Nghĩa Trung có các đặc điểm nước ngầm sau: tầng chứa nước chính là Bazan Pleistoxen (Bpq) và Đệ tứ (Q); mức chứa nước nghèo và trung bình, lưu lượng nước là
5 – 20 l/s; thuộc loại nước nhạt clorua – bicarbonat, sulphat – clorua; độ khoáng hóa M
= 0,1 – 0,2 g/l; có thể sử dụng tốt trong sinh hoạt; độ sâu nước ngầm từ 10 – 25 m (trích dẫn “Phương án điều chế rừng công ty Lâm nghiệp Bình Phước giai đoạn 2007 –
2011 của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ)
3.2.5 Đất
Bản đồ dạng đất được xây dựng trên cơ sở bản đồ đất tỉnh Bình Phước của
“chương trình Điều tra bổ sung, chỉnh lý, xây dựng bản đồ đất phục vụ công tác quy hoạch nông – lâm – thủy lợi cấp tỉnh vùng Đông Nam Bộ” do Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp xây dựng năm 2003
Hệ thống phân loại được sử dụng là hệ thống phân loại đất Việt Nam 1984 có vận dụng một số tiêu chuẩn chuẩn đoán đất trong phân loại đất quốc tế đã được công
bố qua các tài liệu của FAO/UNESCO, ISRIC 1988, 1990, 1993, 1994
Kết quả điều tra, xây dựng bản đồ đất ở lâm trường Nghĩa Trung tỉ lệ 1/25.000 cho thấy trong khu vực có hai nhóm đất với ba loại đất khác nhau Diện tích đất được thống kê ở bảng sau (trích dẫn “Phương án điều chế rừng công ty Lâm nghiệp Bình Phước” của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ):
Trang 29Bảng 3.1 Diện tích các loại đất ở lâm trường Nghĩa Trung
Loại đất Diện tích
1 Đất nâu đỏ trên đá bazan (Fk) Rhodi – Acris Ferralsols 12.588 75,8
2 Đất đỏ vàng trên đá phiến (Fs) Skeleti – choromic Acricsols 3.527 21,3
WRB: Cơ sở tham chiếu tài nguyên đất thế giới ISS/FAO/UNESCO/1998
Kết quả đánh giá tiềm năng đất đai cho thấy tiềm năng về đất của khu vực lâm
trường Nghĩa Trung là rất lớn đối với việc phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
Trong hai nhóm đất của lâm trường Nghĩa Trung có một nhóm có diện tích lớn
phân bố rộng khắp và chiếm tỉ lệ cao trong đất lâm nghiệp là đất đỏ vàng (Ferralsols),
nhóm đất có diện tích nhỏ là nhóm đất dốc tụ
3.3 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
3.3.1 Diện tích rừng và các loại đất đai
Căn cứ vào kết quả điều tra, kiểm kê hiện trạng rừng và sử dụng đất tháng
4/2006 của Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ, diện tích rừng và các loại đất
của lâm trường Nghĩa Trung như sau:
Tổng diện tích tự nhiên: 16.594,0 ha (100 %) Trong đó:
+ Đất có rừng là 12.365,0 ha chiếm 74,4 %
+ Rừng tự nhiên: 12.193,0 ha chiếm 73,4 %
+ Rừng trồng: 172,7 ha chiếm 1,0 %
+ Đất trống là 26,5 ha chiếm 0,2 %
+ Đất nông nghiệp (xâm canh): 3.970,5 ha chiếm 24,0 %, trong đó:
- Cây lâu năm là 3.357,5 ha chiếm 20,3%
- Cây hàng năm 613,0 ha chiếm 3,7 %
Trang 30Qua số liệu trên, độ che phủ của rừng trên phạm vi lâm phần rất cao 74,4 % trong đó rừng tự nhiên chiếm tỉ lệ rất lớn 98,6 % trong tổng diện tích đất có rừng Nếu tính đến độ che phủ của cây lâu năm (điều, cao su) thì độ che phủ của thảm cây xanh trên phạm vi lâm phần là 94,7 % Với độ che phủ như hiện nay thì vấn đề phòng hộ môi trường trong khu vực lâm trường Nghĩa Trung luôn được đảm bảo
3.3.2 Đặc điểm của các loại rừng và đất đai
Địa bàn lâm trường Nghĩa Trung với kiểu địa hình đồi, đất đai màu mỡ, lượng nưa cao nên ở đây đã hình thành các kiểu rừng lá rộng thường xanh nửa rụng lá đặc
trưng cho vùng nhiệt đới với loài cây lá rộng trong các họ như: họ Re (Lauraceae), họ Giẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ Mộc Lan (Magnoliaceae) Thảm thực vật trên
địa bàn có các loài thực vật đại diện cho bốn luồng thực vật di cư gồm: Hệ thực vật Malaixia – Indonexia; Hệ thực vật Ấn Độ - Miến Điện; Hệ thực vật Hymalaya – Vân Nam – Quí Châu (Trung Quốc); Hệ thực vật bản địa Miền Bắc Việt Nam – Nam Trung Quốc
a Các trạng thái rừng tự nhiên
Rừng tự nhiên bao gồm những rừng gỗ lá rộng thường xanh; rừng hỗn giao gỗ,
lồ ô hoặc mum; rừng lồ ô, mum thuần loài Rừng tự nhiên phân bố rộng khắp lâm phần lâm trường Nghĩa Trung Các tiểu khu (12/19 tiểu khu) có diện tích rừng tự nhiên lớn hơn 70 % là các tiểu khu 305, 308, 309, 312, 313, 314, 315, 317, 318, 319, 321, 322, trong các tiểu khu này có tám tiểu khu có diện tích rừng tự nhiên chiếm từ 90 – 98 % Các tiểu khu còn lại là 306, 311, 302, 310, 316 có diện tích rừng tự nhiên chiếm tỉ lệ thấp (nhỏ hơn 50 %)
Các hệ thực vật này được phân chia thành các trạng thái rừng tự nhiên sau:
+ Rừng gỗ lá rộng thường xanh
Rừng gỗ lá rộng thường xanh có diện tích không đáng kể, bao gồm trạng thái rừng trung bình (IIIA2: 7,4 ha) và rừng non (IIB: 7,7 ha) Loại rừng này có ở các tiểu khu 313, 318, 322 Do có diện tích nhỏ nên loại rừng gỗ lá rộng thường xanh không được xem là đối tượng tác động chính của phương án điều chế rừng
+ Rừng hỗn giao gỗ - lồ ô hoặc gỗ - mum
Đây là loại rừng chủ yếu trong lâm phần lâm trường Nghĩa Trung Tổng diện tích rừng hỗn giao là 5.762,1 ha (46,9 % diện tích rừng tự nhiên) Các trạng thái rừng
Trang 31hỗn giao gồm có: rừng gỗ nghèo – lồ ô/mum (IIIA1 – L; IIIA1 – M); rừng gỗ trung bình – lồ ô/mum (IIIA2 – L; IIIA2 – M); rừng gỗ non – lồ ô/mum (IIB – L; IIB – M) + Rừng lồ ô thuần loài
Có trạng thái rừng lồ ô phục hồi sau khai thác mạnh LIc và trạng thái rừng lồ ô thuần loài đã bị tác động LIIa
b Rừng trồng
Tổng diện tích rừng trồng là 172,7 ha, rừng được trồng với diện tích lớn từ năm
1994, đến nay tỉnh thực hiện các chương trình 327, 661 Diện tích rừng sản xuất trồng tập trung lớn nhất có tại tiểu khu 306, 302, chất lượng rừng chưa đảm bảo về mật độ Loài cây trồng gồm các loài chính như: Sao, Dầu, Muồng đen, Keo lá tràm, Tếch, Xà cừ…Rừng được trồng với nhiều mô hình khác nhau, thuần loài hoặc hỗn giao từ 2 – 3 loài
3.4 Tình hình kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
3.4.1 Tình hình dân cư
Lâm trường Nghĩa Trung nằm trên địa bàn ba xã Thống Nhất, Nghĩa Trung, và Đăng Hà với 5.641 hộ, 33.979 người Dân cư sinh sống trên lâm phần tập trung chủ yếu tại các tiểu khu có đường giao thông thuận tiện (dọc theo đường 312), nhiều diện tích đất bị xâm canh như tiểu khu 302, 305, 306, 307, 309, 310
Trong vùng có nhiều thành phần dân tộc, nhiều nhất là người Kinh và Stiêng, người Tày, H’mông, Nùng, Dao…di cư từ Miền Bắc vào định cư, làm ăn sinh sống trên địa phận của lâm trường
Xã Thống Nhất có 1.713 hộ và 11.047 nhân khẩu, xã Đăng Hà là xã nghèo nhất trong ba xã trên địa bàn gồm có 1.247 hộ, 6.846 khẩu, xã Nghĩa Trung có 2.681 hộ, trong đó có 739 hộ đồng bào các dân tộc chiếm chiếm tỉ lệ 27,3 % dân số Đa số lao động làm nông nghiệp, một số hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và phi nông nghiệp
3.4.2 Thực trạng kinh tế nông thôn
Thu nhập chính của người dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp, trong đó các cây trồng chính là điều, cao su, ngô, mì Thu thập từ chăn nuôi chưa trở thành thế
Trang 32thả rong Đã có nhiều hộ tham gia nhận khoán quản lý và bảo vệ rừng, trồng rừng, chăm sóc rừng để tăng thêm thu nhập
Địa bàn lâm trường Nghĩa Trung quản lý là vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng, nhân dân sống trên địa bàn phần lớn là bà con đồng bào dân tộc ít người bản địa và người dân tộc di cư tự do định cư gần rừng và sống dựa vào thu lượm các sản phẩm từ rừng, sản xuất quảng canh, tự cung tự cấp
Thu nhập bình quân đầu người 300.000 – 500.000 đồng/tháng chủ yếu từ việc bán nông sản (hạt điều, ngô, mì) và hợp đồng bảo vệ rừng, khai thác lồ ô với Lâm trường Đời sống người dân còn nhiều khó khăn: thiếu kỹ thuật canh tác, thiếu vốn để sản xuất, trình độ canh tác còn lạc hậu Đây là đối tượng cần phải quan tâm, từng bước thu hút người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp
3.4.3 Cơ sở hạ tầng – kinh tế - xã hội các xã trên địa bàn
+ Xã Thống nhất
Hiện nay đã có những công trình thiết yếu nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống của đồng bào dân tộc thiếu số vùng sâu, vùng xa Đã có đường nhựa đến trung tâm xã, đường giao thông đến các thôn đạt 70 % Điện lưới quốc gia có 21 km, số dân
sử dụng điện lưới chiếm 25 % Ngoài ra còn sử dụng các nguồn cung cấp điện khác là
hệ thống thủy điện nhỏ do dân cư xây dựng, điện máy nổ ở các cụm dân cư và các gia đình đạt 10 % Hệ thống trường học có đủ từ mầm non đến trung học phổ thông, phòng học được kiên cố hóa xây dựng từ cấp bốn trở lên, không còn tình trạng học ca
ba Trạm y tế được xây dựng với quy mô cấp bốn và được trang bị tương đối đầy đủ các trang thiết bị cần thiết để khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đồng bào trên địa bàn xã
Hệ thống giao thông thôn bản cơ bản đã hoàn thiện, phục vụ lưu thông cho nhân dân trong cả mùa mưa Từ nguồn vốn chương trình 135 đã xây dựng được sáu phòng học Xã Đăng Hà do điều kiện giao thông đi lại còn nhiều hạn chế, không có hệ thống đường nhựa Về xây dựng cơ bản chủ yếu dựa vào nguồn vốn hỗ trợ của tỉnh và chương trình quốc gia
+ Xã Nghĩa Trung
Trang 33Giao thông đã được hoàn chỉnh đến thôn bản, hai tuyến đường tại các thôn 2 và thôn 3 chuẩn bị đưa vào sử dụng Về điện lưới quốc gia: đang từng bước đưa điện đến từng thôn bản Năm 2006, hoàn thành dự án đưa điện đến thôn 4 và thôn 8, đến nay cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu phục vụ dân Các công trình phục vụ cho trường học và học sinh được nâng cấp từng bước Trục đường (đường sỏi) với chiều dài 30 km xuyên suốt qua lâm trường Nghĩa Trung là điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông, phân phối trên địa bàn Tuy nhiên, tuyến đường trên chỉ đi qua khu vực trung tâm, cách xa khu vực bố trí các hoạt động sản xuất lâm nghiệp Công tác quản lý, duy tu, bảo dưỡng hàng năm ít được quan tâm Mùa mưa khả năng vận chuyển, giao lưu hàng hóa giữa các thôn bị hạn chế, do vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất lâm nghiệp và phát triển kinh tế, xã hội của khu vực
Trang 34Chương 4
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Nội dung nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã đề ra trong đề tài, các nội dung nghiên cứu được thực hiện trong đề tài bao gồm:
+ Xác định tổ thành loài thực vật trạng thái IIIA2
+ Xác lập quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính D1,3
+ Xác lập quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao Hvn
+ Xác lập quy luật phân bố trữ lượng rừng theo cấp đường kính D1,3
+ Xác lập quy luật tương quan giữa chiều cao Hvn và đường kính D1,3
+ Phân bố của lớp cây tái sinh
+ Xác định độ tàn che của rừng (trắc đồ David và Richards)
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Cơ sở phương pháp luận
Trên cơ sở nội dung nghiên cứu cụ thể được xác định, phương pháp được sử dụng chủ yếu trong đề tài là khảo sát khu vực nghiên cứu, điều tra, quan sát và thu thập số liệu trên thực địa, thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài, thu thập số liệu tại các ô mẫu và phân tích những hiện tượng thấy được ở rừng tự nhiên thuộc tiểu khu
305 của lâm trường Nghĩa Trung tỉnh Bình Phước trên đối tượng là trạng thái rừng IIIA2 (dựa trên khung phân loại của Loeschau (1962) đã được cụ thể hóa trong quy phạm thiết kế kinh doanh rừng của Bộ Lâm nghiệp ban hành năm 1984) để phân chia trạng thái và thu thập tài liệu Từ đó, tổng hợp và rút ra những nhận định chung về một
số đặc điểm và cấu trúc của rừng tự nhiên IIIA2, qua đó đề xuất ra những biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho phù hợp với tình hình rừng
4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Khảo sát khu vực nghiên cứu, thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài, kế thừa các tài liệu có sẵn
Trang 35Trong đề tài này, tác giả đã căn cứ vào quy trình điều tra quy hoạch rừng ban hành năm 1998 và kết hợp thêm một số biện pháp kỹ thuật cho phù hợp với tình hình thực tế của rừng Điều tra lâm học đánh giá cấu trúc rừng, tình hình tái sinh tự nhiên,
tổ thành loài thực vật rừng căn cứ vào tình hình cụ thể của khu vực điều tra Đồng thời
áp dụng các quy trình điều tra trong công tác ngoại nghiệp (Giáo trình Điều tra rừng của TS Giang Văn Thắng) để điều tra trên các ô mẫu điển hình với ô tiêu chuẩn tạm thời có dạng hình chữ nhật với diện tích 2000 m2 (40 m x 50 m), đại diện cho tình hình sinh trưởng và sinh thái rừng theo phương pháp điều tra lâm học Số lượng ô mẫu cho trạng thái này là 4 ô
4.2.3 Nội dung điều tra và các các biện pháp kỹ thuật
4.2.3.1 Nội dung thu thập số liệu
Số liệu điều tra, thu thập được ghi vào phiếu mẫu theo quy định trong quy trình điều tra lâm học do Viện Điều tra Quy hoạch rừng ban hành như sau:
+ Mô tả tình hình chung của lâm phần
+ Đo đếm các chỉ tiêu D1,3, Hvn, Dt, phẩm chất cây, tình hình vật hậu
+ Vẽ trắc đồ dọc, ngang thể hiện cấu trúc tầng tán rừng và phân bố các cá thể trong lâm phần, từ đó xác định độ tàn che của rừng
+ Điều tra tình hình tái sinh dưới tán rừng
+ Đề xuất các biện pháp lâm sinh nuôi dưỡng, phục hồi rừng …
4.2.3.2 Biện pháp kỹ thuật
Sử dụng địa bàn cầm tay để mở ô tiêu chuẩn, đường quanh phát đủ rộng để cắm cọc tiêu và dể dàng nhận ra vị trí bốn góc của ô Tại bốn góc đóng bốn cọc cao 1 m, cọc mốc có đường kính 10 cm, đỉnh cọc mốc được vót bốn mặt và có ghi ký hiệu ô Các yếu tố đo đếm và ghi chép thay đổi tùy theo các loại thực vật
- Đo đếm cây gỗ lớn
Tên cây: Xác định đến loài cây không biết ghi theo ký hiệu sp1, sp2,
Đo D1,3 bằng thước mét dây và ghi số hiệu cây ở vị trí 1,3 m Đo toàn bộ cây đứng có đường kính D1,3 8 cm
Đo chiều cao: Đo chiều cao vút ngọn (Hvn, m) và chiều cao dưới cành (Hdc, m)
Trang 36từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây Hdc được xác định từ gốc cây đến cụm cành đầu tiên tham gia vào tán cây rừng
Xác định phẩm chất cây: Phẩm chất cây phân theo ba loại a, b, c và ghi chú tình hình dây leo ảnh hưởng trực tiếp đến cây đứng
+ Loại a: Cây thân thẳng, phát triển tốt, tán cân đối, không có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh, cụt ngọn, hai thân
+ Loại b: Thân cong, phát triển trung bình, tán mất cân đối, không có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh
+ Loại c: Thân cong queo, phát triển kém, cụt ngọn, có từ hai thân trở lên,
có hiện tượng sam bọng, sâu bệnh
- Đo đếm cây tái sinh
Ở mỗi ô tiêu chuẩn lập 4 ô tái sinh 25 m2 (5 m x 5 m) tại 4 góc ô và đo đếm cây tái sinh theo các cấp chiều cao: H < 1 m; 1 < H < 1,5 m; 1,5 < H < 3 m; H > 3 m và sinh lực: khỏe/yếu
Nội dung thu thập trong ô tái sinh: Xác định tên cây, chiều cao, chất lượng cây tái sinh…
Xác định mật độ cây tái sinh, thành phần loài cây tái sinh
Cây tái sinh được phân theo hai cấp chất lượng: khỏe và yếu
+ Cây khỏe: là cây luôn xanh tốt, sinh trưởng và phát triển tốt, không bị sâu hại, không có biểu hiện bị ức chế
+ Cây yếu: được phản ánh bằng sức sinh trưởng kém và không ổn định, cây
bị sâu hại nặng, cây đang chết từng phần hoặc bị gãy đổ
Số liệu điều tra được ghi biểu riêng cho từng ô dạng bản
- Vẽ trắc đồ theo dãi, diện tích 400 m2 (10 m x 40 m) ở trạng thái rừng IIIA2 Trắc đồ được vẽ theo phương pháp David và Richards, vẽ trên giấy kẻ ly và tính toán
độ tàn che
4.2.4 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu đo đếm trước khi đưa vào phân tích được kiểm tra lại nhằm loại bỏ các số liệu quá khác biệt so với tổng thể chung trong quá trình đo đếm Sau đó nhập số liệu vào máy vi tính và xử lý, phân tích tính toán bằng phần mềm Excel dưới sự hướng dẫn của Thầy Nguyễn Minh Cảnh
Trang 37Các nhân tố điều tra, đo đếm trong các ô tiêu chuẩn được tổng hợp, xử lý và tính toán bao gồm:
+ Tính tổ thành loài (IV %)
+ Tính các đặc trưng mẫu: D1,3 bình quân, Hvn bình quân, N/ha bình quân, trữ lượng bình quân…
+ Xác lập phân bố N theo cấp D1,3, phân bố N theo Hvn, tương quan giữa Hvn và
D1,3 … cho trạng thái rừng IIIA2
+ Đánh giá tình hình tái sinh của các loài cây dưới tán rừng
+ Vẽ trắc đồ cho trạng thái rừng đang nghiên cứu, tính toán độ tàn che
(i) Để tính toán xác định tổ thành loài cây, luận văn sử dụng công thức của Daniel Marmillod (Vũ Đình Huề, 1984):
IVi % =
2
%
% G i i
IVi là tỉ lệ tổ thành của loài i
Ni là % theo số cây của loài i trong quần xã thực vật rừng
Gi là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong quần xã thực vật rừng Theo Daniel Marmillod, những loài cây có IV % 5 % mới thực sự có ý nghĩa
về mặt sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), trong một lâm phần nhóm loài cây nào đó > 50 % tổng số cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Cần tính tổng IV % của những loài có trị số này lớn hơn 5 %, xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV % đạt 50 %
(ii) Mật độ rừng được xác định bằng công thức như sau: N/ha = 10.000
S n
Trong đó:
n: Số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể trong ô tiêu chuẩn
S: Diện tích ô tiêu chuẩn (m2)
(iii) Xác định độ tàn che: kết hợp quan trắc và phẫu đồ ngang để xác định tỉ lệ che phủ (%) hình chiếu tán cây rừng so với bề mặt đất rừng thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp của David và Richards
Trang 38Để phục vụ cho nội dung nghiên cứu phân bố số cây theo các chỉ tiêu D1,3, Hvn,
… luận văn tập hợp số liệu theo hình thức chia tổ sau:
x i
m
Độ lệch tiêu chuẩn : S = S2
x S
Sai tiêu chuẩn trung bình mẫu:
Biên độ biến động : R = Xmax - Xmin
Sau đó dựa vào đường phân bố thực nghiệm, lựa chọn các hàm toán học (phân
bố lý thuyết) phù hợp để mô phỏng cho các quy luật phân bố N/D1,3, N/Hvn
Việc mô hình hóa quy luật phân bố số cây theo các chỉ tiêu D1,3, Hvn trong thực tiễn và nghiên cứu lâm nghiệp có ý nghĩa rất lớn, nó cho biết các quy luật phân bố vốn tồn tại khách quan trong tổng thể, mặt khác các quy luật phân bố này có thể biểu thị một cách gần đúng bằng các biểu thức toán học cho phép xác định tần số tương ứng
Trang 39với mỗi tổ của đại lượng điều tra Ngoài ra việc nghiên cứu các quy luật phân bố còn
là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
Các hàm toán học được chọn thử nghiệm trong luận văn là:
Kiểm tra giả thuyết về luật phân bố:
Cho giả thuyết H0: F(x) = F0(x), trong đó F0(x) là một hàm phân bố hoàn toàn xác định Để kiểm tra giả thuyết H0, người ta dùng tiêu chuẩn phù hợp khi bình phương ( ) của Pearson: 2
Nếu tính 2 0,05 2 tra bảng với bậc tự do df = m - p - 1 thì phân bố lý thuyết không phù hợp với phân bố thực nghiệm (H0-)
Sau khi thử nghiệm trên phần mềm Excel cho các hàm lý thuyết nên trên, nhận thấy hàm Meyer: y = a.e-bx là phù hợp với tương quan thực nghiệm phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D1,2) và hàm phân bố chuẩn là phù hợp với phân bố cây theo chiều cao (N/H )
*2
1
y
Trang 40Thực tiễn điều tra rừng cho thấy, có thể dựa vào quan hệ Hvn/D1,3 để xác định chiều cao cho từng cỡ kính mà không cần phải đo cao toàn bộ Phương trình toán học
cụ thể biểu thị cho mối quan hệ này hết sức phong phú và đa dạng Vì thế luận văn đã thử nghiệm một số dạng phương trình toán học nhằm chọn ra một hàm toán học phù hợp nhất
Phương pháp đánh giá tương quan hồi quy
Áp dụng phương pháp phân tích hồi quy và tương quan để mô hình hóa một đường hồi quy thực nghiệm theo dạng một hàm toán học nào đó Việc chọn một hàm
lý thuyết thích hợp nhất ngoài việc căn cứ vào các tham số thống kê có được từ các phương trình xây dựng, kiểm tra sự tồn tại của hệ số tương quan, kiểm tra sự tồn tại của hàm hồi quy (logic toán học), còn phải căn cứ vào tính phù hợp với quy luật sinh trưởng và phát triển của rừng (logic sinh học)
Phương pháp chung để thiết lập một mô hình là:
+ Xác định các dạng phương trình toán học phù hợp
+ Tính các tham số của mô hình bằng phương pháp hồi quy
+ Đánh giá mức độ phù hợp của phương trình bằng các tham số
+ Kiểm tra sự tồn tại của hệ số tương quan (r)
Việc kiểm tra sự tồn tại của hệ số tương quan để khẳng định các phương trình thực nghiệm có thực sự tồn tại trong tổng thể rừng hay không Sau khi kiểm tra, loại ra những phương trình có hệ số tương quan không tồn tại
+ Để kiểm tra sự tồn tại của hệ số tương quan, dùng trắc nghiệm T (trắc nghiệm Student) với df = n - 2 bậc tự do ở mức ý nghĩa 0,05 so sánh với giá tri T
n là dung lượng mẫu Nếu: Ttính > Tα hệ số tương quan đáng tin cậy
Ttính < Tα hệ số tương quan không đáng tin cậy Nếu kết quả cho hệ số tương quan đáng tin cậy, ta sẽ kết luận rằng mô hình thật
sự tồn tại mối tương quan