TÓM TẮT Giới là một vấn đề mà hiện nay xã hội đang quan tâm, khi nói về giới nhiều người chỉ nghĩ rằng đó là nói về giới nam và giới nữ, họ rất ít quan tâm đến những vấn đề khác liên qua
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN CUỐI KHÓA
TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA GIỚI VÀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA CỘNG ĐỒNG THÔN PĂNG PẾ ĐƠNG,
XÃ ĐẠ R’SAL, HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn đến:
Quý Thầy Cô và Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm và Thầy Cô Khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập, đã tạo điều kiện cho
em hoàn thành luận văn tốt nghiệp cuối khoá này
Lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Nguyễn Thị Kim Tài, giảng viên Khoa Lâm Nghiệp, cùng các Thầy Cô trong bộ môn Lâm Nghiệp Xã Hội đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn gia đình anh Pang pế y Bang, trưởng thôn Pang pế đơng, cùng toàn thể bà con trong thôn Pang pế đơng, xã Đạ R’sal, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã tận tình giúp đỡ em và tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Người thực hiện luân văn
K’TUỔI
Trang 3TÓM TẮT
Giới là một vấn đề mà hiện nay xã hội đang quan tâm, khi nói về giới nhiều người chỉ nghĩ rằng đó là nói về giới nam và giới nữ, họ rất ít quan tâm
đến những vấn đề khác liên quan đến giới nên chúng tôi muốn qua đề tài “Tìm
hiểu vai trò của giới và phân công lao động trong quản lý tài nguyên rừng tại cộng đồng thôn Păng Pế Đơng, Xã Đạ R’Sal, Huyện Đam Rông, Tỉnh Lâm Đồng” để làm rõ thêm vấn đề còn tồn tại liên quan đến giới tại một cộng
đồng
Đề tài được thực hiện ở Thôn Păng Pế Đơng xã Đạ R’sal Huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng, một vùng đa số là dân tộc thiểu số sinh sống trong đó dân tộc M’nông chiếm đa số, do mỗi dân tộc tây nguyên họ sẽ có những phong tục tập quán riêng, nên đầu tiên chúng ta sẽ tìm hiểu về tình hình tự nhiên, lịch sử thôn bản , dân sinh kinh tế, những thuận lợi và khó khăn về bình đẳng giới, để từ
đó phân tích được sự phân công lao động của giới trong hộ gia đình, qua phỏng vấn phân tích được những điều kiện còn tồn tại và những nhu cầu của người dân trong tương lai.qua nghiên cứu, từ sau khi thành lập thôn tới nay với sự quan tâm của đảng và nhà nước cuộc sống của người dân M’nông ngày càng được cải thiện những phong tục tập quán cố hủ lạc hậu cũng đã dần được loại bỏ, những vấn đề
về giới như tập tục “Trọng Nam Khinh Nữ”, ép hôn cũng đã được loại bỏ.khi cuộc sống của người dân được cải thiện thì nhận thức của họ về sự bình đẳng giữa nam giới và nữ giới càng cao, họ đã biết chia sẽ các công việc gia đình với nhau, không bắt buộc nam giới phải làm công việc này, thì nữ giới phải làm việc kia Tập tục sống du canh du cư phá rừng làm rẫy cũng không còn nữa được sự quan tâm của cán bộ khuyến nông lâm nên người dân cũng áp dụng được kỉ thuật trồng, cách chăm sóc các loại giống mới nâng cao năng suất cây trồng họ cũng
đã nhận thức được vai trò của mỗi thành viên trong gia đình, không có sự phân biệt nam nữ trong phân công lao động trong sản xuất, công việc gia đình, trong quản lý tài nguyên rừng và trong xã hội, nam nữ cùng nhau quyết định các công
việc của gia đình
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG vi
DANH SÁCH CÁC HÌNH viii
Chương 1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 MỤC ĐÍCH: 2
1.2 MỤC TIÊU: 2
Chương 2 3
TỔNG QUAN 3
2.1 Khái niệm về giới và phân tích giới 3
2.2 Chính sách quốc gia về bình đẳng giới 4
2.3 Một số nghiên cứu về giới ở Việt Nam 4
Chương 3 7
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 7
3.1 Nội dung nghiên cứu 7
3.2 Phương pháp nghiên cứu 7
3.3 Địa điểm nghiên cứu 8
3.3.1 Vị trí ranh giới của thôn Păng Pế Đơng 8
3.3.2 Khí hậu 8
3.3.3 Thủy văn 9
3.3.4 Thỗ nhưỡng 9
3.3.5 Thảm thực vật 10
3.3.6 Địa hình 10
3.4 Tình hình Dân sinh, kinh tế và xã hội 10
3.4.1 Dân số - y tế - văn hóa 10
Trang 53.4.2 Kinh tế 13
3.4.3 Cơ sở hạ tầng 14
3.4.4 Tài nguyên rừng 14
Chương 4 15
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15
4.1 Phân tích bối cảnh, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến vai trò giới và phân công lao động giới 15
4.1.1 Sơ lược về lịch sử thôn bản 15
4.1.2 Điều kiện tự nhiên đã ảnh hưởng đến vai trò của giới trong quản lý tài nguyên rừng 18
4.1.2.1 Vị trí 18
4.1.2.2 Địa hình 18
4.1.2.3 Đất đai 18
4.2 Phân công lao động của giới 19
4.2.1 Lịch thời vụ và điều kiện mức sống đã ảnh hưởng đến phân công lao động giới 19
4.2.2 Phân công lao động của giới trong hộ gia đình theo thời gian 22
4.2.3 Phân công lao động đối với người già 31
4.2.4 Phân công lao động theo giới trong chăn nuôi 31
4.2.5 Phân công lao động theo giới trong canh tác vườn hộ: 32
4.2.6 Phân công lao động theo giới trong hoạt động canh tác ruộng lúa 34
4.2.7 Phân công lao động theo giới trong hoạt động canh tác hoa màu 35
4.2.8 Phân công lao động theo giới trong việc quản lý rừng của cộng đồng: 36
4.2.9 Phân công lao động theo giới trong hoạt động tái sản xuất: 37
4.2.10 Phân công lao động theo giới trong thu hái lâm sản ngoài gỗ 38
4.2.11 Phân công lao động theo giới trong các hoạt động của cộng động: 39
4.2.12 Phân công lao động theo giới trong các hoạt động phi nông nghiệp 39
4.2.13 Quyền quyết định trong tiếp cận tài sản 40
4.3 Nhu cầu thực tiễn và nhu cầu chiến lược của giới 41
4.4 Kế hoạch hành động phát triển của cộng đồng 44
Trang 6Chương 5 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 49
Trang 8Bảng 3.1 Các công cụ được sử dụng để thu thâp theo từng nhóm thông tin 8
Bảng 3.2 Tổng hợp hiện trạng dân số toàn xã Đạ Rsal: 11
Bảng 3.3 Tổng hợp hiện trạng dân số thôn Păng Pế Đơng 12
Bảng 4.1 Lịch hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân 19
Bảng 4.2 Các chỉ tiêu phân hạng mức sống của hộ gia đình 21
Bảng 4.3 Phân công lao động của giới đối với hộ gia đình khó khăn trong mùa
nắng 22 Bảng 4.4 Phân công lao động của giới đối với gia đình trung bình khá trong mùa
nắng 24 Bảng 4.5 Phân công lao động của giới đối với gia đình khó khăn trong mùa mưa
26 Bảng 4.6 Phân công lao động của giới đối với gia đình trung bình khá trong mùa
mưa 28 Bảng 4.7 Phân công lao động đối với trẻ em dưới 15 tuổi 30
Bảng 4.8 Phân công lao động theo giới trong hoạt động chăn nuôi 32
Bảng 4.9 Phân công lao động theo giới trong hoạt động canh tác vườn hộ 33
Bảng4.10 Phân công lao động theo giới trong canh tác ruộng lúa 35
Bảng 4.11 Phân công lao động theo giới trong hoạt động canh tác hoa màu 36
Bảng 4.12 Phân công lao động theo giới trong hoạt đông tái sản xuất 38
Bảng 4.13 Phân công lao động giới trong hoạt động thu hái LSNG 39
Bảng 4.14 Phân công lao động theo giới trong hoạt động phi nông nghiệp 40
Bảng 4.15 Quyết định của giới trong tiếp cận tài sản 41
Bảng 4.16 Nhu cầu thực tiễn của giới và kế hoạch hành động 42
Bảng 4.17 Nhu cầu chiến lược của giới và kế hoạch hành động 43
Bảng 4.18 Kế hoạch hành động phát triển cộng đồng 45
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
SƠ ĐỒ TÀI NGUYÊN CỦA THÔN PĂNG PẾ ĐƠNG XÃ ĐẠ R’SAL 16
SƠ ĐỒ LÁT CẮT THÔN PĂNG PẾ ĐƠNG XÃ ĐẠ R’SAL 17
Trang 10Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, giới là vấn đề đang được quan tâm nhiều không những trong lĩnh vực lâm nghiệp mà còn trong nhiều lĩnh vực khác
Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay những nhận thức về vai trò của giới trong tiến trình phát triển của xã hội, cũng như trong tiến trình xây dựng và phát triển hệ thống quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách chưa đúng đắn, còn nhiều vấn đề mâu thuẫn giữa các bên liên quan cũng như trong cộng đồng xã hội, chính việc nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về vai trò của giới nên nó đã ảnh hưởng lớn đến sự phân công lao động cũng như quyền quyết định, quyền tham gia các hoạt động trong xã hội giữa giới nam và giới nữ Từ sự nhận thức đó tạo rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề bình đẳng về giới, cũng như hệ thống quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững Chính vì vậy, tạo sự bình đẳng về giới không phải là công việc đơn giản mà đó
là một công việc đòi hỏi phải có sự phân tích và tìm hiểu một cách chi tiết, chỉ khi nào có sự quan tâm về giới tạo được sự bình đẳng giữa giới nam và giới nữ thì khi đó mới đồng nghĩa với việc giúp cho giới nam nhận thức sâu hơn về vai trò của giới nữ
và giới nữ nhận thức sâu hơn vai trò của giới nam để từ đó họ cùng phát huy tốt khả năng để phát triển kinh tế, xã hội và cộng đồng Và do đó, bình đẳng giới phải được xem xét trong các hoạt động cộng đồng, và trong quá trình lập quyết định nhắm đến phát triển bền vững; đó là sự bình đẳng của cả nam và nữ giới trong việc lập quyết định Điều này có nghĩa là việc định hướng các hoạt động phát triển vào việc tạo quyền và tăng quyền cho phụ nữ và các nhóm người bị thiệt thòi khác và làm thay đổi các mối quan hệ bất bình đẳng Vì vậy việc tìm hiểu và phân tích các vấn đề giới liên quan đến các lĩnh vực nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng là rất cần thiết để nâng cao vai trò và địa vị của phụ nữ, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội, bảo
vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Hiện còn quá ít tài liệu phân tích giới trong các hoạt động phát triển ở Việt Nam, đặc biệt là các hoạt động phát triển trong vùng nông thôn và vùng dân tộc thiểu
Trang 11về giới và vai trò của mỗi giới chưa đi sâu vào cuộc sống của họ, nên còn xảy ra nhiều vấn đề về bất bình đẳng giới, do vậy trong thời gian thực tập chúng tôi sẽ cố gắng vận dụng những phương pháp và công cụ và những kiến thức đã học thực hiện
đề tài “Tìm hiểu vai trò của giới và phân công lao động trong quản lý tài nguyên
rừng tại cộng đồng thôn Păng Pế Đơng, Xã Đạ R’Sal, Huyện Đam Rông, Tỉnh Lâm Đồng” với mong muốn tìm ra nhu cầu thực tiễn và nhu cầu chiến lược của giới
tại địa điểm nghiên cứu và để từ đó nhìn thấy được tầm quan trọng của từng giới trong quản lý tài nguyên rừng
1.1 MỤC ĐÍCH:
- Nghiên cứu vai trò giới và phân công lao động của giới trong quản lý tài nguyên rừng
- Lập kế hoạch hành động phát triển giới tại cộng đồng thôn Păng Pế Đơng
xã Đạ R’Sal huyện Đam Rông tỉnh Lâm Đồng
- Thúc đẩy cộng đồng tích cực tham gia các hoạt động trong xã hội và trong quản lý tài nguyên rừng
- Tạo sự bình đẳng giới và đem lại công bằng trong xã hội
Trang 12Chương 2 TỔNG QUAN
Trong một xã hội phát triển như ngày nay thì vấn đề quan tâm đến và tìm hiểu
rõ vai trò của mỗi giới là một chủ đề cần được chú trọng Khi nói đến giới nhiều người chỉ hiểu một cách rất đơn giản đó là vấn đề giữa giới nam và giới nữ, mà khi nghiên cứu về giới chúng ta sẽ cần làm rõ đến bình đẳng giới, vì trong xã hội vấn đề bất bình đẳng giới vẫn còn xảy ra, nhất là ở những vùng nghèo, kém phát triển Ở các bản làng, dân tộc vùng sâu, vùng xa quan niệm bất bình đẳng giới còn tác động một cách mạnh mẽ, họ còn có những phong tục tập quán như hủ tục lạc hậu tảo hôn, ép hôn, thách cưới hoặc không chấp nhận hôn nhân thuộc dân tộc mình với người thuộc dân tộc khác…chính vì vậy chúng ta cần phải đi tìm hiểu và phân tích vai trò của từng giới để thấy được tầm quan trọng của mỗi giới trong sự phát triển chung của xã hội
2.1 Khái niệm về giới và phân tích giới
Giới là các quan niệm, hành vi các mối quan hệ tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể Nói cách khác, giới là sự khác biệt giữa nam và nữ từ giác độ xã hội
Phân tích giới là quá trình thu thập, phân tích các số liệu một cách có hệ thống thông tin về giới Phân tích giới bao gồm việc xác định những hoạt động kinh tế mà giới nam và giới nữ tiến hành, những nguồn lực mà họ sử dụng và quản lý những lợi ích nhân được
Mục tiêu của phân tích giới là phân tích vị trí của nam giới và phụ nữ trong xã hội để xác định nhu cầu và tiềm năng riêng của họ nhằm đạt hiệu quả lao động cao và
để đảm bảo sự tham gia của phụ nữ và nam giới đáp ứng được nhu cầu của cả hai giới, làm cho họ thấy hài lòng Phân tích giới cũng dự đoán được kết quả và thành công do đó tránh được những kết quả tiêu cực đối với phụ nữ hay mối quan hệ giới có thể xảy ra trong quá trình phát triển
Trang 132.2 Chính sách quốc gia về bình đẳng giới
Việt Nam là một nước tự hào có hệ thống chính sách và chiến lược rõ ràng về bình đẳng giới Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ban hành năm 1946 đã khẳng định
sự bình đẳng với phụ nữ và nam giới của nhà nước trong xã hội Việt Nam:
Điều 6: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa
Điều 9: Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện
Trong bản Hiến pháp 1959, nguyên tắc bình đẳng giới được nhấn mạnh và mở rộng, thể hiện ở điều 24 của Hiến pháp: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
và gia đình”
Điều 63: Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt
Hiến pháp gần đây nhất –1992- khẳng định: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội”
Cho đến nay, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đã thông qua và ban hành rất nhiều văn bản pháp luật và quy định nhằm bảo vệ địa vị của người phụ nữ, nâng cao bình đẳng giới ở Việt Nam Chính phủ Việt Nam cũng đã thành lập nhiều tổ chức cơ quan chuyên trách về vấn đề phụ nữ, giới và phát triển như Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, các trung tâm nghiên cứu về vấn đề phụ nữ, lao động nữ, các tổ chức chương trình hỗ trợ phụ nữ nghèo Gần đây, Nghị định số 29/NĐ-CP tháng 5 năm 1998 của Chính phủ ban hành quy chế dân chủ ở xã, phường đã cụ thể hóa quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân nói chung, phụ nữ nói riêng trong khi tham gia vào công việc của chính quyền cơ sở và quyết định những vấn đề thiết thân đối với mỗi người mỗi giới
2.3 Một số nghiên cứu về giới ở Việt Nam
Ngày nay khi nói đến vai trò giới người ta đều nghĩ đến những vai trò và quyền lợi của giới Giữa giới nam và giới nữ trong xã hội có xu hướng làm việc khác nhau, thực hiện các vai trò cũng khác nhau Cụ thể như là vai trò sản xuất, vai trò cộng đồng, vai trò sinh sản và nuôi dưỡng, như vậy nếu phân loại các công việc như
Trang 14trên thì cho ta thấy phụ nữ thực hiện nhiều vai trò cùng một lúc, mặt trái của cộng đồng ở những vùng cao là tuy phụ nữ có vai trò không kém gì nam giới, nhưng cộng đồng vẫn chưa nhìn nhận và đánh giá đúng mức về vai trò của phụ nữ trong xã hội
Theo Trần Thị Quế (1999), “cho đến ngày nay ở hầu hết mọi nơi còn tồn tại bất bình đẳng giới thể hiện ở những công việc của nam giới và nữ giới thực hiện vai trò của mình và những quan niệm, thái độ và sự đánh giá của xã hội đối với công việc
mà mỗi giới thực hiện chúng” Để làm rõ được những vấn đề về vai trò giới và bình đẳng giới chúng ta sẽ đi tìm hiểu về sự phân công lao động giới trong gia đình, giữa
vợ và chồng, giữa trẻ em trai và trẻ em gái
Ở Việt Nam nghiên cứu về phụ nữ và giới cho đến nay đã có bước phát triển nhanh chóng Đã nắm bắt được những yêu cầu đặt ra đối với sự nghiệp bình đẳng nam nữ, có những đóng góp thực tiễn, đánh giá phân tích và kiến nghị kịp thời
Lê Thị Lý (2002), khi nghiên cứu vai trò của giới trong quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao cho rằng cả phụ nữ và nam giới người dân tộc M’nông đều tích cực tham gia các hoạt động canh tác nông nghiệp và quản lý bảo vệ rừng, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên Cả hai giới đều có quyền quyết định, kiểm soát nguồn lực thông qua các hoạt động cụ thể trên hiện trường, trong gia đình, cộng đồng Rõ ràng, cả hai đều hiểu khá sâu sắc về môi trường tự nhiên, về các nguồn lực với tầm nhận thức và hiểu biết so với nam giới, đồng thời do thực hiện cùng một lúc nhiều vai trò và chức năng bẩm sinh của giới tính nên bản thân người phụ nữ phải chịu khá nhiều thiệt thòi, vất vả trong cuộc sống, sinh hoạt, công việc
Võ Văn Thoan (2002), cho rằng trong chuỗi lịch sử tồn tại của cộng đồng vùng Nam tây nguyên cả hai giới đều quan tâm đến tài nguyên rừng, trong cuộc sống
họ luôn tìm cái mới và thử nghiệm nó để tìm cách thích ứng với hoàn cảnh mới, điều này cho thấy giới nam và giới nữ có năng lực tham gia và quyết định trong tiến trình phát triển công nghệ có tham gia (PTD), bình đẳng giới hoàn toàn có khả năng phát triển tiến trình PTD tại đây khi các bên liên quan tham gia tiến trình thúc đẩy tích cực hơn, cũng cần có sự cảm thông của cả hai giới và có sự vận động bên trong của cộng động
Nguyễn Thị Hồng Mai (2002) khi phân tích vai trò giới trong quản lý tài
Trang 15núi huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy rằng do tập quán lâu đời giới nam thường cho họ được nhiều quyền quyết định hơn phụ nữ mặc dầu phụ nữ bỏ nhiều thời gian lao động hơn, cũng do tập quán người phụ nữ thường tự buộc họ quanh quẩn trong gia đình, ít có cơ hội tham gia vào các hoạt động xã hội, do đó họ ít
có cơ hội phát triển kiến thức, do vậy làm tăng thêm sự phụ thuộc vào nam giới của phụ nữ
Thu Nhung M’lô (2000) trong các công trình phân tích giới ở cộng đồng dân tộc, phụ nữ có vai trò quan trọng trong việc nuôi dạy con cái và truyền thụ kiến thức bản địa cho con cái Tác giả nhấn mạnh rằng đối với phụ nữ Ê-đê vai trò này rất quan trọng trong việc bảo lưu truyền thống văn hóa và vốn tri thức về các điều kiện thiên nhiên và tài nguyên rừng trong cộng các cộng đồng Các ngành nghề thủ công truyền thống được phụ nữ truyền cho con gái của họ thông qua lao động trực tiếp các hoạt động trong nhà, trên rẫy và trên rừng
Mục tiêu quan trọng của vấn đề nghiên cứu về giới là chúng ta có thể tìm hiểu được những vấn đề còn chưa được xã hội quan tâm mà nó có liên quan về giới để có
kế hoạch hành động cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, nâng cao, phát huy trình
độ năng lực và vai trò của phụ nữ, đảm bảo để phụ nữ thực hiện được chức năng của mình và được tham gia đầy đủ, bình đẳng vào tất cả các lĩnh vực hoạt động như kinh
tế, chính trị, văn hóa và xã hội
Trang 16Chương 3 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
+ Những đặc điểm của bối cảnh có ảnh hưởng đến vai trò và sự phân công lao
động theo giới
- Tình hình tự nhiên
- Lịch sử thôn bản
- Dân sinh kinh tế
- Những thuận lợi và khó khăn về bình đẳng giới
+ Vai trò giới và sự phân công lao động theo giới
- Trong hoạt động sản xuất ở cấp độ hộ gia đình
- Trong các hoạt động quản lý tài nguyên rừng
+ Nhu cầu thực tiễn và nhu cầu chiến lược của giới
+ Kế hoạch có lồng ghép giới trong hoạt động quản lý tài nguyên rừng
3.2 Phương pháp nghiên cứu
1 Thu thập thông tin thứ cấp:
Bước đầu đi tìm hiểu thông tin chung của thôn về tình hình tự nhiên, kinh tế xã hội thu thập qua số liệu của ủy ban nhân dân xã Đạ R’Sal, hạt kiểm lâm huyện Đam Rông và các dự án đầu tư phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn tỉnh Lâm Đồng
2 Phân tích thông tin sơ cấp:
Sau khi đã nắm được thông tin chung của thôn bản thì ta sẽ tiến hành thu thập thông tin chi tiết qua những người am hiểu về lịch sử thôn bản như là già làng, thôn trưởng, thôn phó, hội phụ nữ, trưởng buôn…sau đó tổng hợp thông tin và tiến hành phân tích
- Tiến hành vẽ sơ đồ tổng quan và sơ đồ tài nguyên, sơ đồ xã hội và đi lát cắt có lòng ghép yếu tố giới để biết được sự khác biệt giữa giới nam và giới nữ trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên này
Trang 17- Tiến hành soạn thảo các câu hỏi, phiếu điều tra để đi phỏng vấn một số hộ đại diện (được chọn trong quá trình phân hạng nhóm hộ) trong thôn bản để thu thập thông tin chi tiết hơn về phân công lao động, về lịch thời vụ, để biết rõ nam giới thường làm việc gì? và nữ giới thường làm việc gì? Và làm ở đâu? trong các hoạt động sản xuất, trong quản lý tài nguyên rừng
Bảng 3.1 Các công cụ được sử dụng để thu thâp theo từng nhóm thông tin:
Công cụ Bối cảnh Hoạt động Tài nguyên Hành động
3.3 Địa điểm nghiên cứu
3.3.1 Vị trí ranh giới của thôn Păng Pế Đơng
Thôn Păng pế đơng thuộc xã Đạ R’sal, Huyện Đam Rông, Tỉnh lâm đồng có toạ
độ địa lý:
- Phía bắc giáp tỉnh Đắk Lắk
- Phía Nam giáp các xã Liêng Srônh và Rơ Men
- Phía Đông giáp xã Đạ M’Rông
- Phía Tây giáp tỉnh Đắk Nông
3.3.2 Khí hậu
Khí hậu huyện Đam Rông mang đặc trưng của vùng chuyển tiếp từ khí hậu của vùng núi cao, mát lạnh quanh năm xuống vùng khí hậu nhiệt đới ẩm thấp nằm sâu trong nội địa, phân hóa thành hai tiểu vùng:
Tiểu vùng phía Nam (với đại diện là khu vự Phi Liêng, Đạ Knàng và các dãy núi giáp Lạc Dương) có khí hậu mát và ôn hòa quanh năm
- Nhiệt độ trung bình từ 20,5 – 21,50 C
Trang 18- Lượng mưa khá cao từ 1.600 – 1.700mm/năm, mùa mưa đến sớm và dài, lượng bốc hơi thấp, ít căng thẳng về cân bằng nước
- mùa khô từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau
- tháng khô hạn nhât là từ tháng 02 đến 03 cũng có nhưng năm xảy ra hạn hán kéo dài tới tháng 4,5
Nhưng vào mùa khô hạn lưu lượng nước đối với những nhanh suối nhỏ cũng
bị cạn kiệt, cho nên việc sử dụng để tưới tiêu nước cho nông lâm nghiệp ở một số nơi còn gặp rất nhiều khó khăn
Nguồn nước ngầm: vùng núi cao có lưu lượng nước ngầm rất nhỏ, khả năng khai thác rất hạn chế, nhưng đa số phần lãnh thổ xã thuộc địa hình thung lũng và ven các đồi thấp nên có lượng nước ngầm rất phong phú
3.3.4 Thỗ nhưỡng
Đối với đất rừng chủ yếu là đất đỏ bazan có thành phần cơ giới là thịt nhẹ pha cát, có tỉ lệ đá lẫn, còn đối với đất ven chân núi là loại đất hơi đen và có thành phần cát pha lẫn
Đất bồi tụ ven sông suối chủ yếu tập trung ở con sông lớn Đắc San , những vùng đất này thường được người dân canh tác hoa màu vì nó có độ phì nhiêu rất cao
Trang 19Đối với đất chỗ trũng, thấp chủ yếu là đất đen, tỉ lệ mùn cao, phù xa bồi thường xuyên hàng năm, có những nơi thành vùng sình lầy
3.3.5 Thảm thực vật
Tổng diện tích rừng tự nhiên 1876,1 ha, đất trồng trọt và canh tác là 1.711,2
ha, loài thực vật chủ yếu ở đây là cây họ Dầu, và cây lá kim, ngoài ra cũng có những loại cây thân gỗ cứng như bằng lăng, cam xe…,đối với rừng trồng thì chủ yếu là trồng thông và cây keo lai, còn ở những nơi đất trống, rừng nghèo kiệt thì chủ yếu là cây bụi và dây leo
3.3.6 Địa hình
Xã Đạ R’sal nằm trên khu vực địa hình đồi núi, biến đổi cao độ phức tạp:
- Đỉnh cao nhất nằm ở phía Tây của xã có độ cao 1384,0m
- Đỉnh cao thứ hai là phía Đông của thị trấn Bằng Lăng với độ cao 746,0m
- Đỉnh cao thứ ba nằm ở phía Đông xã với độ cao 701,2m
- Nhìn chung thì địa hình thôn Pang Pế Đơng tương đối phức tạp vì nó nằm trong vùng chuyển tiếp giữa núi cao và vùng trung du bị chia cắt bởi các dãy núi và khe suối , chủ yếu trồng cà phê, bắp, mì và điều vào mùa mưa thì trồng lúa nước và chỉ canh tác được một vụ
3.4 Tình hình Dân sinh, kinh tế và xã hội
3.4.1 Dân số - y tế - văn hóa
- Dân số
Thôn păng pế đơng dân cư phân bố chủ yếu dọc theo 2 bên trục quốc lộ 27, theo thống kê năm 2007, toàn thôn có 140 hộ, 635 nhân khẩu, trong đó nam giới 302 nhân khẩu, nữ giới 332 nhân khẩu
Theo thống kê của UBND xã Đạ R’Sal thì toàn xã hiện có 10 dân tộc anh em sinh sống (bảng 3.2) thì trong khi đó thôn păng pế đơng đã có tới 6 dân tộc anh em sinh sống (bảng 3.3)
Trang 20Bảng 3.2 : Tổng hợp hiện trạng dân số toàn xã Đạ Rsal:
STT Dân tộc Hộ Khẩu Thiên
chúa
Tin lành
Phật giáo
Cao đài
Đạo khác
Trang 21Bảng 3.3 : Tổng hợp hiện trạng dân số thôn Păng Pế Đơng
STT Dân tộc Hộ Khẩu Thiên
chúa
Tin lành
Phật giáo
Cao đài
Đạo khác
Thôn Păng Pế Đơng có một trạm y tế nằm ngay trung tâm thôn, trạm có 4
nhân viên Nên cũng rất thuận lợi trong việc chăm sóc sức khỏe khám chữa bệnh cho
người dân, thuận lợi trong việc tuyên truyền vận động người dân chống sót rét, an
toàn vệ sinh
Trạm y tế cũng đã phát thể bảo hiểm miễn phí cho người dân, có tổ chức khám
chữa bệnh miễm phí theo định kỳ
- Văn hóa
Ngoài những ngày lễ lớn như lễ hội đâm trâu thì xã cũng tổ chức các phong
trào văn nghệ quần chúng tới tận thôn, buôn Phát huy các trò chơi dân gian, khơi
dậy phong trào văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tổ chức giao lưu thể thao giữa các
thôn, buôn
Từ đó đã tạo thêm tính đậm đà bản sắc dân tộc, tình đoàn kết giữa các dân tộc
anh em giữa các thôn, buôn với nhau
Trang 22- Giáo dục
Huyện đam rông là một huyện thuộc vùng sâu vùng xa đặc biệt khó khăn của tỉnh lâm đồng.cho nên càng xuống xã ,thôn, buôn thì công tác giáo dục còn gặp rất nhiều khó khăn, giáo dục chưa phát triển mạnh, tình trạng mù chữ, thất học còn rất phổ biến nhất là đối với con em dân tộc thiểu số
Tình trạng trẻ em bỏ học sớm cũng do rất nhiều nguyên nhân tác động như:
- Bố mẹ ít quan tâm đến việc học của con cái
- Bỏ học sớm để theo bố mẹ lên nương rẫy
- Do gia đình có kinh tế khó khăn không co điều kiện cho con đi học
- Nhận thức nâng cao trình độ học vấn của người dân còn thấp
Chăn nuôi: thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh gia cầm, gia súc Tổng đàn trâu, bò l 397 con; đàn heo 1825 con; gia cầm 10.210 con
Lâm nghiệp: ban lâm nghiệp xã thường xuyên phối hợp với cơ quan quản lý rừng, kiểm tra rà sóat các khu vực trọng điểm, đồng thời xây dựng phương án PCCCR mùa khô, thành lập các tổ và phân công các thành viên ban lâm nghiệp phụ trách từng khu vực, từng thôn Bên cạnh đó chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật quản lý bảo vệ rừng, Luật PCCC rừng, vận động bà con nông dân không được phát rừng làm rẫy
Trang 233.4.3 Cơ sở hạ tầng
Giao thông, thủy lợi: do mưa bão kéo dài, lượng xe lưu thông ngày càng nhiều làm cho nhiều tuyến đường trên địa bàn xã xuống cấp, hư hỏng nặng như: đường 135 tại thôn Tân Tiến và thôn Đăk Măng; đường bi mía tại thơn Phi Jut; đường cây xoài tại thôn Pang Pế Đơng… Nhìn chung hệ thống giao thông còn hạn chế Xã đang tiến hành sữa chữa các cầu đường bị trôi trong cơn bão số 2
Hệ thống điện nhìn chung còn thiếu, đa số người dân ở xa khu vực quốc lộ chưa có đủ điện thắp sáng Hiện xã đang thực hiên lắp đặt thêm để đáp ứng nhu cầu của người dân
3.4.4 Tài nguyên rừng
Tổng diện tích rừng tự nhiên của thôn Păn Pế Đơng là 1876,1 ha Trong đó có
823 ha rừng tự nhiên chưa giao khoán cho người dân và đang thuộc sự quản lý của BQLR xã Đạ R’Sal
Tình hình thực vật rừng ở đây cũng khá phong phú vì nó nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới, có rất nhiều loại cây khác nhau nhưng có hai loại chiếm ưu thế đó
là cây họ dầu và cây lá kim Ngoài ra thì cũng có các loại cây như gõ mật, dáng hương, cây trâm, đặc biệt là thông ba lá, ở những khe suối thì có các loại LSNG như song, mây, lồ ô, tre, nứa…đây là những loại lâm sản được người dân thu hái
Đối với những vùng trước đây bị người dân phá rừng làm rẫy thì sau khi bỏ hoang đa số là cỏ và cây bụi, cây gỗ tái sinh
Do tình trạng săn bắt bừa bãi đã làm cho các loại động vật co nguy cơ tuyệt chủng, theo người dân cho biết ở đây chỉ còn các loại động vật như heo rừng, nai,rắn
hổ mang, nhím, sóc, gà rừng, thỏ, khỉ
Trang 24Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Phân tích bối cảnh, điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến vai trò giới và phân công lao động giới
4.1.1 Sơ lược về lịch sử thôn bản
Về tình hình chung của huyện Đam Rông, trước đây khi chưa hình thành thì huyện Đam Rông là thuộc địa phận của huyện Lâm Hà và huyện Lạc Dương, sau này
vì điều kiện quản lý nên năm 2005, huyện Đam Rông được thành lập, huyện Đam Rông là một huyện vùng sâu vùng xa nhất của tỉnh Lâm Đồng, và điều kiện dân sinh, kinh tế còn rất nhiều khó khăn
Trước năm 1991, thôn Păng Pế Đơng hiện nay là ở ngã ba bằng lăng thuộc xã Liêng S’rônh thuộc huyện Lâm Hà Năm 1992 thì người dân thôn Păng Pế Đơng chuyển về gần cầu của con suối Đắc San quốc lộ 27 hướng đi Đắc Lắc, đến định canh
ở đây thì thuộc địa phận của xã Đạ R’sal, có tên thôn là thôn 3 Lúc này cuộc sống của người đồng bào M’nông gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần, trình độ còn thấp kém, sống chủ yếu bằng canh tác truyền thống, phá rừng làm rẫy, thông tin văn hóa còn hạn chế, toàn thôn chỉ có 2,3 hộ có ti vi sài bằng ắc qui
Đến năm 1995, thì thôn 3 với sự quan tâm của nhà nước thì một vài hộ định cư gần quốc lộ 27 đã có điện, cho đến năm 1996 thôn 3 đã tác ra thành hai thôn đó là thôn 3 và thôn 4 hay còn gọi là thôn đắk măng và thôn păng pế đơng
Năm 1997 thôn Păng Pế Đơng chia thành 3 xóm đó là xóm cây xoài, xóm trung tâm và xóm 6 hộ
Sau khi thành lập nhờ được sự quan tâm của các cơ quan ban ngành xã Đạ R’sal, thôn Păng Pế Đơng đã dần dần làm quen với phương thức canh tác mới, được nhà nước cung cấp giống cây trồng, cho vay vốn để phát triển kinh tế và dần dần cuộc sống của người dân được cải thiện hơn
Trang 25SƠ ĐỒ TÀI NGUYÊN CỦA THÔN PĂNG PẾ ĐƠNG XÃ ĐẠ R’SAL
CHÚ THÍCH:
Suối đắc san Trường học, trạm y tế, nhà thờ Cầu đắc san
Nhà ở
Trang 26SƠ ĐỒ LÁT CẮT THÔN PĂNG PẾ ĐƠNG XÃ ĐẠ R’SAL
CÂY CÀ
DÂN CƯ SUỐI
Thuận lợi:
Qua sơ đồ lắt cắt và sơ đồ tài nguyên cũng cho ta thấy rằng thôn Păng Pế Đơng có điều kiện rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, do ở gần con suối lớn Đắc san nên rất thuận lợi cho việc tưới nước vào mùa khô hạn vùng sản xuất các loại cây nông nghiệp tương đối gần nên rất thuận lợi cho việc phân công lao động của giới và
ít tốn thời gian đi lại nhiều, đa số các loại cây trồng tập trung nên dễ dàng hơn trong việc phòng chống sâu bệnh, cán bộ khuyến nông lâm có thể dễ dàng hơn trong việc giám sát theo dõi kỷ thuật canh tác các loại giống do nhà nước hỗ trợ cho người dân
Trang 27Thông qua sơ đồ tài nguyên và sơ đồ lát cắt chúng ta có thể phân tích được điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng gì đến sự phân công lao động của giới hay không
4.1.2 Điều kiện tự nhiên đã ảnh hưởng đến vai trò của giới trong quản lý tài nguyên rừng
4.1.2.1 Vị trí
Thôn Păng Pế Đơng tuy là một thôn nằm sát gần rừng nhưng chỉ cách trung tâm khoảng xã 6,5 km về phía Bắc, và cách trung tâm huyện khoảng 50 km về phía Đông và cách ban quản lý rừng Đạ R’sal khoảng 7,5 km về phía Bắc nằm dọc theo quốc lộ 27 Trong toàn xã có tất cả l6 thôn, thì thôn Păng Pế Đơng là thôn nằm cách trung tâm xã xa nhất nhưng lại có điều kiện thuận lợi về giao thông, đó là nằm dọc theo đường quốc lộ 27, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận với UBND xã, người dân nói chung và phụ nữ nói riêng cũng rất dễ dàng tiếp cận các dịch vụ hành chính, thuận lợi trong việc tiếp cận các dịch vụ của xã hội về phát triển kinh tế cũng như các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, hội phụ nữ và các chương trình đầu tư trồng
và phát triển bảo vệ rừng của Ban quản lý rừng xã Đạ R’sal Nói tóm lại, với vị trí như thôn Păng Pế Đơng thì phụ nữ ít tốn kém thời gian đi lại để tiếp cận các dịch vụ của xã hội
Trang 28thêm thu nhập cho người dân và quan trọng hơn cả là môi trường sống của người dân được bảo vệ
4.2 Phân công lao động của giới
4.2.1 Lịch thời vụ và điều kiện mức sống đã ảnh hưởng đến phân công lao động giới
Với 90% dân số sống bằng sản xuất nông nghiệp, canh tác các loại cây lâu năm như
cà phê, điều và các loại cây hoa màu như bắp, mì, đậu… và chăn nuôi gia súc, gia cầm, tùy vào mỗi mùa mà người dân canh tác các loại cây khác nhau
Qua điều tra và tìm hiểu, thì người dân cho biết nếu chỉ dựa vào sản xuất nông nghiệp thì không đáp ứng nhu cầu của cuộc sống, cho nên hàng năm họ phải dựa vào rừng rất nhiều, chủ yếu là thu hái lâm sản ngoài gỗ như măng tre, rau nhiếp, đọt, song, mây…
Lịch thời vụ cũng đã tác động rất lớn đến sự phân công lao động của giới Mỗi một mùa thì họ sẽ phải làm những công việc khác nhau và thời gian làm việc cũng thay đổi
Trước tiên chúng ta sẽ đi phân tích lịch hoạt động trong sản xuất nông nghiệp của người dân qua bảng 4.1 sau
Bảng 4.1 Lịch hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân
Trang 29Qua bản phân tích lịch thời vụ cũng cho ta thấy rằng vào các tháng 1,2, 3 thì công việc canh tác nông nghiệp của người dân ít hơn, vào những ngày tháng này thì
họ thường vào rừng để khai thác lâm sản ngoài gỗ như tre, nứa, lồ ô để tăng thêm thu nhập cho gia đình, còn từ tháng 4,5,6 là bắt đầu vào mùa mưa nên công việc canh tác nông nghiệp của họ rất bận rộn họ bắt đầu trồng các loại cây ngắn ngày cũng như các loại cây hoa màu, sau khi đã trồng và chăm sóc thì mùa thu hoach bắt đầu từ tháng 9,10,11,12 và có khi kéo dài tới tháng 1 đây là mùa cao điểm trong năm họ rất ít có thời gian nghỉ ngơi giải trí, họ thường dành thời gian cho công việc
Sự phân công lao động của người dân trong mỗi hộ gia đình không những dựa vào lịch thời vụ, mà thời gian lao động còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế của mỗi hộ gia đình, với sự giúp đỡ tận tình của người dân trong thôn về các chỉ tiêu phân hạng giàu nghèo và từ số liệu của thôn, chúng tôi cũng đã phân thành 4 nhóm hộ dựa vào chỉ tiêu của cộng đồng (số liệu tổng hợp qua bảng 4.2) để từ kết quả đó ta có thể xác định được nguồn thu nhập, mức sống của mỗi hộ gia đình, thì chúng ta sẽ tiến hành phỏng vấn để biết được sự phân công lao động giữa hộ trung bình, hộ khá và hộ nghèo có gì khác không? và hoạt động tác động của họ vào tài nguyên rừng như thế nào?
Trang 30Bảng 4.2 Các chỉ tiêu phân hạng mức sống của hộ gia đình
Nghèo 32 - Đất đai canh tác dưới 0,8 ha
- Nhà ở lập tôn, tre nứa
- Vật dụng trong nhà thiếu thốn
- Tiện nghi: có ti vi, không có xe máy
- Chăn nuôi: có 1-2 con bò hoạc không có con nao, gia cầm chăn nuôi ở mức độ cung cấp thêm thức ăn cho gia đình
- Các nguồn thu nhập: từ nhận giao khoán đất rừng, làm thuê Trung
bình
88 - Nhà ở lập tôn, ngói
Tiện nghi: có xe máy, có ti vi, bàn ghế
- Đất đai: đất sản xuất từ 0,8-1,5 ha, có đât canh tác lúa nước
- Chăn nuôi: có 2 con bò trở lên, gia cầm nuôi ở mức kinh doanh nhỏ
- Các nguồn thu nhập: bán gia súc, gia cầm, thu nhập từ thu hoạch cây nông nghiệp, từ giao khoán rừng
khá 16 - Nhà ở lập tôn, ngói, nhà tương đối khang trang
- Tiện nghi: có ti vi, xe máy, bàn ghế, giường tủ
- Đất đai: đất sản xuất nông nghiệp tù 1,5 -2 ha, có đất sản xuất cây - hoa màu, có đất trông lúa nước
- Chăn nuôi: có 4-5 con bò, trâu, dê,gia súc gia cầm nuôi ở mức
độ kinh doanh
- Các nguồn thu nhập: từ cây cà phê, điều, hoa màu, bán gia súc, gia cầm
giàu 4 - Nhà ở : lập tôn, ngói, nhà xây, khang trang
- Tiện nghi: có xe máy, máy cày, ti vi, bàn ghế, giường, tủ
- Đất đai: đất sản xuất nông nghiệp từ 2-5ha, có đất trồng hoa màu
- Chăn nuôi gia súc ở qui mô lớn, có từ 5-10 con bò
Trang 314.2.2 Phân công lao động của giới trong hộ gia đình theo thời gian
Bảng 4.3 Phân công lao động của giới đối với hộ gia đình khó khăn trong mùa nắng
5g30 Giải trí coi ti vi nghe đài,
13g Tiếp tục làm việc 13g Tiếp tục làm việc
15g Ngưng làm việc, kiếm
củi để mang về nhà 16g Ngưng làm việc, đi về nhà 17g 15
Chăm sóc con cái Chuẩn bị bữa tối
19g
Kiểm tra việc học con cái
Xem tin tức Tro chuyện với vợ con Qua nhà hàng xóm