1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA CÔNG DỤNG VÀ VÙNG PHÂN BỐ CỦA CÂY LÁ BUÔNG Ở KHU VỰC RỪNG PHÒNG HỘ XÃ LỘC TẤN, HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

65 299 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đề Như chúng ta đã biết hoạt động chính của người dân ở vùng nông thôn Việt Nam ta hầu hết là thuần nông, ngoài những sản phẩm thu được từ nông nghiệp thì nông dân thu hái một

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌCNÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LÂM NGHIỆP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐIỀU TRA CÔNG DỤNG VÀ VÙNG PHÂN BỐ CỦA CÂY LÁ BUÔNG Ở KHU VỰC RỪNG PHÒNG

Trang 2

LỜI CẢM ƠN!

Tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:

Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm cùng toàn thể quý thầy cô đã truyền đạt

và trang bị cho em kiến thức vô cùng quý báu trong thời gian theo học tại trường

Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp cùng thầy cô trong khoa đã tạo điều kiện tốt cho

Trang 3

MỤC LỤC

TRANG TỰA i

LỜI CẢM ƠN! ii

MỤC LỤC iii

DANH SÁCH CÁC BẢNG iv

DANH SÁCH CÁC HÌNH vi

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Chương 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Ý nghĩa của lâm sản ngoài gỗ trong đời sống cộng đồng 3

2.2 Vài nét về cây Lá buông trong đời sống của người dân Việt Nam 7

2.2.1 Danh pháp 7

2.2.2 Đặc điểm hình thái 7

2.2.3 Đặc điểm sinh thái 9

2.2.4 Tình hình phát triển 9

Chương 3 ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

3.1.Địa điểm nghiên cứu 13

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 13

3.1.1.1 Vị trí địa lý 13

3.1.1.2 Địa chất và địa hình 14

3.1.1.2.1 Địa chất 14

3.1.1.2.2 Địa hình 16

3.1.1.3 Khí hậu 18

3.1.1.3.1 Về nhiệt độ, tổng tích ôn và sồ giờ nắng 18

3.1.1.3.2 Lượng mưa 18

3.1.1.4 Sông ngòi, thủy văn 19

3.1.2 Các nguồn tài nguyên 19

3.1.2.1 Tài nguyên đất 19

3.1.2.2 Tài nguyên nước 22

3.1.2.2.1 Nguồn nước mặt 22

3.1.2.2.2 Nguồn nước ngầm 22

3.1.2.3 Tài nguyên rừng 23

3.1.3.Tình hình dân sinh, kinh tế, văn hóa, xã hội 24

3.1.3.1 Dân sinh – kinh tế 24

3.1.3.1.1 Sản xuất nông nghiệp 24

3.1.3.1.2 Chăn nuôi 24

3.1.3.1.3.Công tác khuyến nông 25

3.1.3.1.4 Công tác xóa đói giảm nghèo 26

3.1.3.2 Văn hóa, xã hội 26

3.1.3.3 Quốc phòng an ninh 28

3.2 Nội dung 29

Trang 4

3.3 Phương pháp nghiên cứu 29

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Công dụng của cây Lá buông 32

4.1.1 Công dụng chung 32

4.1.2 Công dụng đối với người dân địa phương 32

4.1.2.1 Công dụng của lá non 33

4.1.2.2 Công dụng của lá già 34

4.1.2.3 Công dụng của thân 35

4.2 Cách thức sử dụng và tầm quan trọng của các sản phẩm từ cây Lá buông đối với cộng đồng ở địa phương 37

4.2.1 Cách thức sử dụng 37

4.2.1.1 Các hình thức khai thác 37

4.2.1.2 Cách thức sơ chế, bảo quản 40

4.2.2.Tầm quan trọng 41

4.3 Vùng phân bố của cây Lá buông ở xã Lộc Tấn 42

4.3.1 Sơ đồ lát cắt 42

4.3.2 Sự phân bố của cây Lá buông 43

4.4 Phương hướng sử dụng và phát triển cây Lá buông của địa phương 46

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Kiến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang 5

Bảng 3.1: Thống kê diện tích theo địa hình 15 Bảng 3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 32 Bảng4.1 Kết quả trả lời phỏng vấn 30 hộ dân về công dụng của cây Lá buông 33 Bảng 4.2 Kết quả phỏng vấn 30 hộ dân về dụng cụ và phương tiện dùng khai thác Lá

buông 38

Trang 6

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Cây Lá buông thành thục 9

Hình 2.2 Hoa và quả của cây Lá buông 9

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí của xã Lộc Tấn 15

Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện những công dụng của lá non của cây Lá buôn 34

Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện những công dụng của lá già của cây Lá buôn 35

Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện những công dụng của thân cây Lá buôn 36

Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện những công dụng của quả cây Lá buôn 37

Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ của các dụng cụ được người dân địa phương sử dụng trong khai thác Lá buôn 39

Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ được sử dụng của các phương tiện mà người dùng trong quá trình khai thác Lá buôn 39

Hình 4.7 Vận chuyển Lá buôn từ rừng ra 40

Hình 4.8 Biểu đồ tỉ lệ sử dụng các hình thức khai thác Lá buôn 40

Hình 4.9 Lá buôn non đang phơi 40

Hình 4.10 Bảo quản Lá buôn 42

Hình 4.11 Sơ đồ lát cắt 44

Hình 4.12 Biểu đồ thể hiện tỉ lệ phân bố Lá buôn của các khu vực ở Lộc Tấn 46

Hình 4.13 Bản đồ thể hiện sự phân bố Lá buôn 47

Trang 7

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Như chúng ta đã biết hoạt động chính của người dân ở vùng nông thôn Việt Nam

ta hầu hết là thuần nông, ngoài những sản phẩm thu được từ nông nghiệp thì nông dân thu hái một số lâm sản từ rừng để cải thiện cuộc sống hoặc chính những sản phẩm này là nguồn thu nhập chính của gia đình Nói cách khác nông dân ở vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng trước hết cho an toàn lương thực, thu nhập Rừng là nơi cung cấp mọi mặt cho cuộc sống hằng ngày của người dân như cung cấp: gỗ, củi, nhiều sản phẩm có giá trị cao

từ lâm sản ngoài gỗ, việc sử dụng, chế biến, tồn trử, bảo quản, gia hoá tùy thuộc vào nhu cầu của từng cộng đồng và tùy thuộc vào phong tục, tập quán, sở thích của từng nhóm cộng đồng Như vậy rừng đóng vai trò quan trọng trong sinh kế của cộng đồng

Trong quá trình quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, mỗi cộng đồng đã đúc kết được những kinh nghiệm , những kiến thức bản địa phong phú Trong những năm gần đây, với nhiều nguyên nhân khác nhau tài nguyên rừng đã bị mất đi hay bị suy thoái dần, mặc dù chính phủ đã ban hành nhiều chính sách liên quan để quản lý, bảo vệ và tái tạo rừng bền vững trên cơ sở tham gia của các cộng đồng địa phương, để nâng cao chất lượng rừng, phát triển nguồn thu từ những sản phẩm ngoài gỗ có giá trị thương mại, tạo thu nhập cho người dân sống trong và gần rừng Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đã đòi hỏi rất nhiều sản phẩm từ rừng, khi con người đã đạt được dân trí cao, cuộc sống ấm no thì nhu cầu giải trí của con người được đề cao lên: việc ăn những món ăn lạ, đặc sản, thưởng thức những phong cảnh hoang sơ, về với cuội nguồn dân tộc…, do đó việc sử dụng các lâm sản ngoài gỗ tại địa phương có ý nghĩa văn hoá vô cùng quan trọng

Với cộng đồng dân xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, thì trước đây rừng là vốn sống có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong sinh kế và văn hoá Kho tàng kiến thức bản địa về sử dụng các sản phẩm từ rừng sẽ bị mai một hoặc biến đổi dần để thích

Trang 8

ứng trong điều kiện sống hiện nay Trong bối cảnh một số diện tích rừng phòng hộ với thảm thực vật rừng tự nhiên đã và đang có nguy cơ bị tàn phá, thì lâm sản ngoài gỗ là một thứ tài nguyên có giá trị đóng góp cho thu nhập hộ, kể cả đời sống văn hóa và tâm linh của cộng đồng

Do vậy, điều tra tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, tư liệu hoá cách sử dụng địa phương lâm sản ngoài gỗ, xác định các loại lâm sản ngoài gỗ có tiềm năng thị trường là cần thiết kết hợp chúng trong sự phát triển kinh tế của cộng đồng, trong quản lý tài nguyên rừng khu vực xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước một cách bền vững Trong thời

gian thực tập tốt nghiệp, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Điều tra công dụng và vùng phân bố của cây Lá buông khu vực rừng phòng hộ xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước” Ở khu vực xã Lộc Tấn – huyện Lộc Ninh – tỉnh Bình Phước

cây Lá buông là một nguồn lâm sản ngoài gỗ đã và đang được người dân ở đây khai thác khá phổ biến, thậm chí nó chính là nguồn thu nhập chính của một số hộ dân ở đây chuyên sống bằng nghề khai thác và chế biến loại lâm sản này Chính vì vậy, đề tài này được thực hiện nhằm tìm hiểu, bảo vệ và giúp người dân ở đây có những biện pháp sử dụng và phát triển một cách hợp lý và bền vững nguồn lâm sản này, điều này có tầm quan trọng không nhỏ trong việc góp phần vào cải thiện và nâng cao đời sống, tăng thu nhập cho người dân địa phương nhất là những hộ nghèo đang sống bằng nghề khai thác và buôn bán các sản

phẩm từ cây Lá buông

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu công dụng của cây Lá buông đối với đời sống của con người nói chung

và đối với đời sống của người dân địa phương nói riêng

Hiểu rõ hơn cách thức sử dụng và tầm quan trọng của các sản phẩm từ cây Lá buông của cộng đồng dân địa phương

Điều tra vùng phân bố của loại lâm sản này bằng cách điều tra thực địa cũng như thu thập thông tin, để có phương hướng sử dụng và phát triển nguồn lâm sản này một cách hợp lý hơn

Trang 9

Các lâm sản ngoài gỗ rất quan trọng đối với sinh kế của cộng đồng người dân ở các vùng núi và vùng sâu vùng xa ở Việt Nam Những người dân sống gần hoặc trong các khu vực rừng tự nhiên sử dụng củi đốt và các loại lâm sản ngoài gỗ khác làm lương thực, thức

ăn chăn nuôi gia súc, dược liệu, vật liệu xây dựng, trang trí và các đồ tiêu dùng khác Một

số loại lâm sản ngoài gỗ được bán để bổ sung thu nhập bằng tiền của hộ gia đình hoặc được trao đổi lấy các mặt hàng thiết yếu khác như gạo … Ước tính rằng 24 triệu người (khoảng 1/3 tổng dân số) sống gần rừng hoặc trong rừng, và gần 8 triệu người dân tộc

thiểu số thu lượm các sản phẩm từ rừng, săn bắn và đánh cá (Poffenberger et al 1998.9)

Các nhóm dân tộc thiểu số và các hộ dân sống gần rừng ở Việt Nam thường dựa vào các lâm sản ngoài gỗ Do vậy họ có kiến thức phong phú về một số loại sản phẩm từ rừng ngoài gỗ, những sản phẩm đặc biệt của vùng sinh thái mà họ đang sinh sống Như cộng đồng người dân tộc Dao thu lượm các loại cây thuốc, quế, và Sơn ta; người Hmông thì thu hoạch mây tre chất lượng cao, người Khmer ở miền Nam thì chiết xuất dầu thơm

từ các rừng tràm và các loại sản phẩm có giá trị cao từ rừng ngập mặn (Poffenberger et

al 1998.9)

Mặc dù các loại lâm sản ngoài gỗ rõ ràng là có tầm quan trọng lớn đối với đời sống của hàng triệu người dân Việt Nam nhưng đến nay vẫn chưa có những thông tin định

Trang 10

lượng để đánh giá sơ bộ về đóng góp của sản phẩm từ rừng ngoài gỗ vào thu nhập hộ gia đình Những đề tài nghiên cứu lớn và đáng tin cậy về các vấn đề chủ yếu của lâm sản ngoài gỗ đang được tiến hành,một số kết quả nghiên cứu ban đầu cũng cho thấy vai trò lâm sản ngoài gỗ trong đời sống của cộng đồng người dân nghèo sống ở gần rừng và trong rừng

Theo ước tính của tổ chức sức khỏe thế giới (WHO), hơn 3,5 tỉ người ở tất cả các nước đang phát triển phụ thuộc vào nguồn thực vật như là một thành phần trong chăm sóc

sức khỏe ban đầu (Balick, J.M.1997) Hiện nay ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới

như Trung Quốc, Mexico, Nigieria, Thái Lan đã quyết định kết hợp Y học cổ truyền trong đó có sử dụng các loại cây thuốc truyền thống Trong số khoảng 250000 loại thực vật đã biết trên thế giới, hiện có tới 20000 - 3000 loại được sử dụng làm thuốc ở các mức

độ khác nhau (WHO, 1985; NAPRALERT, 1990) Có khoảng trên 1000 loại cây thuốc

được sử dụng rộng rãi trong các bài thuốc đông Y Trung Quốc, trong đó hơn 2/3 được thu

hái từ hoang dã (He, Shan-An 1997)

Những loại thực vật ăn được, trong đó có các loại hạt, hoa, lá, rể, củ là những nguồn thức ăn của con người có chứa dầu ăn, gia vị, thức uống Chúng là nguồn thực phẩm có từ thời xa xưa, là nguồn thực phẩm chứa đạm, chất béo, năng lượng, khoáng đa

lượng, vi luợng, vitamin (Wickens, E.G, 1995)

Các lâm sản ngoài gỗ là nguồn lực kinh tế , dinh dưỡng quan trọng cho cộng đồng

và dân cư nông thôn Theo tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO, 1997) ước tính khoảng 80% dân số các nước phát triển dùng các sản phẩm từ rừng ngoài gỗ cho nhu cầu dinh dưỡng và sức khỏe, thu nhập của hàng triệu gia đình trên thế giới dựa vào các lâm sản ngoài gỗ, tổng giá trị thương mại của các sản phẩm này ước tính khoảng 1100000 USD

Theo Wickens, 1991 LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công

nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xã hội Việc

Trang 11

sử dụng sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng

Theo FAO, 1995 Lâm sản ngoài gỗ là tất cả các những sản phẩm có nguồn gốc

sinh vật không kể gỗ, cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩa này là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến các sản vật này Theo định nghĩa khác thì ngoài những sản phẩm trên còn có thể bao gồm những sản vật nhỏ thân gỗ, không phải gỗ

để sản xuất công nghiệp hoặc bột giấy (như đồ thu công mỹ nghệ, trống, ghế nhỏ…)

Theo các quan niệm trên thì lâm sản ngoài gỗ là một phần tài nguyên rừng Ở Việt

Nam, theo Lê Mộng Chân (1993) cho rằng “tài nguyên thực vật rừng là một bộ phận cấu

thành quan trọng của tài nguyên rừng, nó bao gồm toàn bộ sản phẩm thực vật của rừng“

và “Vì vậy tài nguyên thực vật rừng ở đây rất phong phú và có giá trị nhiều mặt” và

“Nhiều loại cây rừng còn cho các sản phẩm tự nhiên, ngoài gỗ đó là cây đặc sản”

Theo FAO, 1999 Lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ

gỗ lớn, có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng

Tại hội nghị về LSNG tại Bangkok 1991, thì lâm sản ngoài gỗ được chia thành 6 nhóm: trong đó các sản phẩm làm thực phẩm, thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc từ thực vật : thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và nấm chiếm 2 nhóm lớn

Ở Lào, theo nghiên cứu của Joost Foppes và các cộng sự (1997), tại cao nguyên Nakai xác định 306 loài cho sản phẩm ngoài gỗ, trong đó có 223 loài cho thực phẩm, trong số này có 50 loài cho lá ăn được và 50 loài cho trái ăn được Nguồn thu nhập của nông hộ tại cao nguyên Nakai từ lâm sản ngoài gỗ là 76% trong đó từ các loại sa nhân (cardamon) là 11%

Việt Nam, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên rất đa dạng về các kiểu rừng và

có hệ thực vật, động vật phong phú với trên 11000 loại thực vật có mạch, 1000 loại rêu,

2500 loại tảo , 826 loại nấm lớn, 276 loại thú, 828 loại chim, 180 loại bò sát, 80 loại

lưỡng cư, 2510 loại cá nước ngọt và cá biển ( Hoàng Văn Thắng, 1998) Đây là nguồn

Trang 12

lâm sản ngoài gỗ rất phong phú của Việt Nam, chỉ thống kê 1 ô tiêu chuẩn của kiểu rừng kín nhiệt đới thường xanh, một kiểu rừng có giá trị cao tại vùng Bắc Trung Bộ đã có trên

100 loại gỗ lớn, hơn 100 loài cây bụi, cây thảo, dây leo và cây phụ sinh, trong đó có rất nhiều loại thuộc lâm sản ngoài gỗ Hiện nay chúng ta đã biết được giá trị sử dụng của

khoảng 5.000 loài thực vật tại Việt Nam (Vũ Văn Dũng, 2004)

Ở nước ta, lâm sản ngoài gỗ đóng vai trò quan trọng đố với cộng đồng dân cư sống gần rừng, dân tộc vùng cao Các loại lâm sản ngoài gỗ từ cây rừng là nguồn rau xanh, là

vị thuốc và bài thuốc chính của họ như: cây Màng Tang ( Litsea cubeba), cây Vàng Đắng

(Coscinium fenestratum), Thảo Quả (Amomum aromaticum), Hà Thủ Ô (Fallopia multiflora), Ươi bay (Scaphium lychnophorum), Nấm Linh Chi … và rất nhiều loài cây

khác cũng là dược liệu quý đã được người dân thuần hóa Nhà nước cũng đã có nhiều dự định và kế hoạch triển khai gây trồng và quản lý các loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao này

Từ năm 1984 nhà nước đã giao cho ngành Lâm Nghiệp thống nhất quản lý các loại

đặc sản rừng ( Quyết định 160 Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 10 tháng 12 năm 1984), nhưng

nhiều cấp chỉ nghĩ đến việc tận dụng các loại lâm sản này mà không có một chiến lược phát triển nó một cách bền vững Tuy nhiên cũng có một số nghiên cứu về nuôi trồng , chế biến, đề xuất các chính sách liên quan đến lâm sản ngoài gỗ

Ở Việt Nam, chính phủ ban hành rất nhiều chương trình, chính sách cho việc phát triển và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng Tuy nhiên hầu như chưa có một chính sách hoặc chương trình nào riêng cho việc quản lý lâm sản ngoài gỗ Nhưng hầu hết các chương trình và chính sách phát triển vào bảo tồn tài nguyên rừng đều có nội dung liên quan đến quản lý lâm sản ngoài gỗ

Hiện nay có rất nhiều loại lâm sản ngoài gỗ khác nhau được điều tra, phát hiện và khai thác sử dụng, chính vì vậy việc điều tra công dụng và vùng phân bố của những loại lâm sản ngoài gỗ để tiện cho việc nghiên cứu, ứng dụng, nhận biết các loại cây có giá trị của chúng trong sản xuất, gây trồng, thu hoạch, chế biến…có ý nghĩa thiết thực đối với

Trang 13

đời sống con người, đặc biệt là những cộng đồng người dân sống gần rừng, nơi có sự

phân bố của những nguồn lâm sản này

2.2 Vài nét về cây Lá buông trong đời sống của người dân Việt Nam

2.2.1 Danh pháp

 Ngành Ngọc lan : Magnoliophyta (Angiospermae)

 Lớp Hành : Liliopsida

 Phân lớp Cau : Arecidae

 Bộ Cau : Arecales (Palmales)

 Họ Cau dừa : Arecaceae (Palmae)

 Chi Lá buông : Corypha

 Tên khoa học: Corypha lecomtei BECC

 Tên thường gọi : cây Lá buông, cây Lá buôn,…

2.2.2 Đặc điểm hình thái

Cây Lá buông là cây gỗ, thân cột mập, cao tới 15m, đường kính 40-60cm, thân có

nhiều sẹo dạng vòng do lá rụng và gốc các cuống lá bao phủ

Lá mọc tập trung ở ngọn cây, dạng quạt lớn, rộng đến 4-5m, màu xanh lục đậm bóng, mép lá xẻ thuỳ dài 2,5m thuôn hẹp, nhọn, thẳng tận cùng bằng mũi

Cuống lá lớn dài 1-5m, có rãnh sâu, phình rộng thành bẹ ở gốc, rộng đến 30cm, mép lá có răng khoẻ màu đen

Trang 14

Hình 2.1 Cây Lá buông thành thục (hình chụp tại tiểu khu 97 thuộc khu vực rừng phòng

hộ xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước )

Cụm hoa chuỳ lớn, mọc thẳng, dạng tháp dài 2-3m, phân nhánh 3-4 lần, trải rộng Hoa nhiều, lưỡng tính, 6 nhị đực

Quả hạch hình trái xoan, dài 4-5cm, vỏ dày 0,2cm, và nội nhũ hoá sừng, một hạt Chu kỳ sinh trưởng của cây kéo dài, từ khi quả chín đến khi nảy mầm có thể từ 4 -

5 năm và rất khó nhân giống Chính vì vậy việc gây trồng Lá buông ít phổ biến, Ở nước

ta, cây buông được trồng tại chùa Svayton (thị trấn Tri Tôn, An Giang), tại chùa Samrong

Ek và chùa Xoài Xiêm (Trà Cú, Trà Vinh), có nguồn gốc từ Campuchia do một vài sư mang về

Trang 15

Hình 2.2 Hoa và quả của cây Lá buông

2.2.3 Đặc điểm sinh thái

Loài đặc hữu của Nam Đông Dương Ở Việt Nam cây mọc từ các tỉnh Nam trung bộ đến Nam bộ, trong rừng thưa, đồi hoang hay cây bụi vùng núi trung du

Hoa tháng 8-9 Cây cho hoa một lần, sau lụi chết (cây trên 60 tuổi mới có hoa)

2.2.4 Tình hình phát triển

Cây Lá buông thích nghi với thời tiết khí hậu ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á Là một loại cây chịu nắng nhưng chỉ tồn tại và phát triển ở nơi có độ ẩm từ 80% trở lên, chu kỳ sinh trưởng của cây kéo dài, từ khi quả chín đến khi nảy mầm có thể từ 4 -

5 năm và rất khó nhân giống Ở Việt Nam, cây buông chỉ mọc và phát triển tốt ở một số tỉnh như Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Thuận và Khánh Hòa.(VietNamnet, 20/9/2004)

Tuổi thọ trung bình của cây buông thường kéo dài trên 15 năm, cây buông cung cấp hai bộ phận có giá trị kinh tế là bẹ và búp lá Bẹ của một tàu lá buông trưởng thành rộng từ 2 - 5cm, độ cứng và đàn hồi tốt, có sức bền với nhiệt độ thời tiết Riêng về búp lá, hàng năm mỗi cây cho từ 4 - 8 búp, mỗi búp trong một cây trưởng thành với trọng lượng trên 10kg, dài từ 1 - 4m, nếu được chăm sóc tốt búp có thể nặng đến 15kg Thực tế, có nhiều búp nặng trên 18kg và dài tới 4m, một "con đẹp” của tiêu chuẩn sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ Giai đoạn cho sản phẩm thường kéo dài từ 10 - 15 năm Nếu cây được bảo

vệ và khai thác hợp lý, thời gian cho sản phẩm có thể kéo dài đến 20 năm Theo đánh giá, cây buông có giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với các loại cây trồng khác Đặc biệt, sản

Trang 16

phẩm thủ công mỹ nghệ làm từ lá buông là một trong những mặt hàng có giá trị cao, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Khôi phục, bảo tồn và phát triển vùng nguyên liệu buông để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất là cơ hội lớn giúp người dân địa phương đã từng gắn bó với cây Lá buông cải thiện đời sống… (VietNamnet, 20/9/2004)

Ở Việt Nam đã hình thành những hợp tác xã chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ phát triển nhờ vào nguồn nguyên liệu từ cây Lá buông, như hợp tác xã Thống Nhất Theo lời giới thiệu của hợp tác xã này trên Website của tỉnh Tiền Giang: “Hợp tác xã Thống Nhất chuyên sản xuất và kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Chúng tôi luôn không ngừng nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu khách hàng, luôn cho ra đời những sản phẩm với nhiều kiểu dáng mẫu mã mới và chất lượng cao Với điều kiện tự nhiên ưu đãi, nguyên vật liệu tại chỗ sẵn có từ cây bàng buông, cây lá buông… sản phẩm của chúng tôi có mặt hầu hết khắp nơi từ trong nước đến ngoài nước Một ưu điểm nửa là

về bảo vệ môi trường sản phẩm bàng buông, lá buông sau khi sử dụng xong sẽ rất dễ tiêu hủy mà không để lại một chất độc hại nào Do đó các nước tiên tiến rất ưa chuộng sản phẩm này Những chiếc nón, giỏ…là những sản phẩm độc đáo, mang tính truyền thống địa phương chúng tôi từ đôi bàn tay lành nghề , khéo léo của bà con, công nhân nhàn rỗi

Vì vậy nếu doanh nghiệp có nhu cầu vui lòng liên hệ với chúng tôi”

Ở một số địa phương, đã có những chương trình và dự án khôi phục và phát triển rừng Lá buông nhằm cải thiện đời sống cho người dân cũng như làm sống lại các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp độc đáo một thời để phục vụ xuất khẩu và khách du lịch đang phát triển hiện nay, nổi lên là hai tỉnh Khánh Hòa và Bình Thuận Ở Bình Thuận có chương trình “Khôi phục 800 ha rừng Lá buông”: “Dự án được giao cho hợp tác xã Nông lâm nghiệp xã Suối Kiết quản lý trồng , quản lý và khai thác Tổng diện tích đất dành cho

dự án khỏang 800 ha Ngòai ra chủ trương của tỉnh thông qua hợp tác xã còn khuyến khích người dân trồng và phục hồi cây lá buông trên diện tích đất vườn nhà trong gia đình Sau ba năm triển khai dự án, đến nay các rừng buông ở xã Suối Kiết đã dần dần được khôi phục.Hiện có 550 ha/814 ha đất đã phát triển cây buông Số diện tích còn lại bị dân

di cư tự do lấn chiếm, tỉnh đang thực hiện các biện pháp thu hồi số diện tích này để tiếp

Trang 17

tục phát triển cây buông Hợp tác xã Nông lâm Suối Kiết thực phân, giao khoán cho từng

hộ xã viên quản lý và khai thác số cây buông phát triển tốt; đồng thời hợp tác xã thường xuyên tổ chức đoàn đi kiểm tra, đôn đốc, vận động xã viên quan tâm khôi phục rừng buông của mình… do đó dự án có tỷ lệ cây buông sống tốt đạt trên 60%, trong đó có 150

ha hai năm tới sẽ cho thu hoạch Nhiều hộ dân ở thôn 1 xã Suối Kiết khôi phục được vườn buông gia đình từ 2 đến 3 ha, và đang phát triển tốt và đồng đều, hứa hẹn cho năng suất cao Ngày 3/12/2002, UBND tỉnh chấp thuận dự án "đầu tư phát triển vùng cây buông" của Hợp tác xã Lâm nông nghiệp Suối Kiết, huyện Tánh Linh Mục tiêu của dự án là quản

lý, bảo vệ, phục hồi và nuôi dưỡng rừng lá buông để làm nguyên liệu chế biến hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân trong xã, góp phần xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái (Theo TTXVN) Ở Khánh Hòa cũng có dự án khôi phục bảo tồn và phát triển cây buông, với dự

án này một số địa phương trong tỉnh đang dần có một vị trí quan trọng về kinh tế và du lịch như ở huyện Khánh Vĩnh: “Cây buông không cần nhiều công chăm sóc nhưng đem lại hiệu quả cao Với dự án khôi phục bảo tồn và phát triển cây buông như hiện nay, rừng buông ở huyện Khánh Vĩnh tỉnh Khánh Hòa đang dần có một vị trí quan trọng về mặt kinh tế, du lịch Vì thế, đời sống của người dân đã từng gắn bó với cây buông ở một huyện miền núi này đang dần đi vào thế ổn định Có thể nói, cây buông đang tìm lại

vị thế của mình, rừng buông đang được phục hồi bằng kế hoạch lâu dài và khả thi Hộ dân được giao khoán diện tích đất trồng buông đã dần đi vào thế ổn định với mức thu nhập cao Điển hình như gia đình chị Hải, ở thôn Ba Cẳng, xã Khánh Hiệp, bình quân mỗi năm thu hoạch khoảng 50 tấn lá tươi (12 – 15 tấn lá khô) Hiện tại, giá mỗi tấn lá buông khô là 1,6 triệu đồng Với diện tích như vậy vào thời điểm hiện nay, hàng năm gia đình chị thu

về đạt trên 20 triệu đồng”.(VietNamNet, 2004)

Các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất từ cây Lá buông cũng đang dần khẳng định chỗ đứng của mình trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu Tại Hội chợ du lịch Nha Trang biển hẹn tháng 8/2003, đã xuất hiện hơn chục mặt hàng được sản xuất từ lá buông của HTX Vĩnh Phước huyện Ninh Hòa Đặc biệt, những sản phẩm này thu hút được sự chú ý của du khách trong và ngoài nước tham gia hội chợ Thực tế,

Trang 18

cây buông gắn liền với đồng bào dân tộc thiểu số hiện tại đã trở thành sản phẩm mỹ nghệ

có sức tiêu thụ trên thị trường hiện nay khá cao Đó quả là một dấu hiệu khả quan cho người trồng buông, chế tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ buông nói riêng, nền kinh tế du lịch Khánh Hòa nói chung

Cây Lá buông không chỉ được dùng làm nguyên liệu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ mà còn có thể dùng để vẽ tranh, viết chữ; Để có chữ trên lá buông, người ta dùng ngòi viết bằng kim loại mài thật nhọn Viết xong, dùng muội đèn dầu lửa pha với dầu thoa lên rồi đem phơi, khi khô dùng dầu lửa chùi sẽ thấy chữ hiện ra Đơn giản là vậy nhưng việc viết chữ trên lá buông rất công phu, tỉ mẩn, sơ ý một chút là coi như tấm lá buông đó hỏng hoàn toàn (Theo Báo Cần Thơ) Chính vì vậy không chỉ có giá trị về kinh tế, cây Lá buông còn có giá trị văn hóa rất lớn, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc Chăm Có khá nhiều những quyển kinh cổ được viết bằng lá buông như ở thôn Bình Tiến, xã Phan Hiệp, huyện Bắc Bình, Bình Thuận tổng cộng có 13 "quyển" kinh khác nhau viết trên lá buông, hiện được lưu giữ lại nhà sư cả Mai Tiệm, thuộc dòng Chăm Bà La Môn Các "quyển" kinh này được coi như một di sản hiếm và độc đáo nhất còn lưu lại của nền văn hoá cổ Chăm (Lâm Gia Tịnh, 2005). Theo ước đoán, hiện các làng người Chăm ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đang còn lưu giữ khoảng 60.000 trang thư tịch cổ được viết trên lá buông và các loại giấy cổ Nguồn văn hóa phi vật thể vô tận này rất cần được gìn giữ

Trang 19

Chương 3

3.1.Địa điểm nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu nằm trong địa phận xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh

Ranh giới hành chính của xã được xác định như sau:

- Phía Bắc và Đông bắc giáp các xã Lộc Thạnh, Lộc Hòa và Lộc An;

- Phía Đông giáp xã Lộc Hiệp;

- Phía Nam giáp các xã Lộc Thiện, Lộc Thuận và thị trấn Lộc Ninh;

- Phía Tây là đường biên giới quốc gia Việt Nam – Campuchia

Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 13.429 ha, được phân thành 13 ấp: gồm các ấp 1B, 4A, 4B, 5A, 5C, 6A, 6B, ấp Thạnh Đông, Thạnh Tây, ấp K57, ấp 12 và hai ấp có đồng bào dân tộc thiểu số là ấp Bù Núi (BN) và ấp Cây Chặt

Trang 20

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí của xã Lộc Tấn

3.1.1.2 Địa chất và địa hình

3.1.1.2.1 Địa chất

Theo các tài liệu đã có: Báo cáo chú giải bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1/500.000;

Địa chất và khoáng sản tờ CôngPông Chàm – Lộc Ninh ( CV – IV và C48 – V ) của Tổng cục địa chất cho thấy huyện Lộc Ninh có nhiều thành tạo địa chất có tuổi khác nhau

từ trầm tích lục địa nguyên cổ tuổi Permi – Trias của hệ tầng Tà Nốt, Tà Thiết và các trầm tích phần cuội kết, cát kết, bột kết, sét kết, đá vôi xen các lớp sét kết, sét vôi, bột kết…tuổi Jura; đến thành tạo Neogene ở vùng sụt của hệ tầng Bà Miêu, các phun trào bazan tuổi Pleistocene của hệ tầng Xuân Lộc và các trấm tích sông, hoặc hỗn hợp sông – đầm lầy tuổi Holocene

Tuy nhiên, trong phạm vi xã Lộc Tấn chỉ có hai loại đá mẹ mẫu chất tham gia hình thành đất là: đá bazan và mẫu chất phù sa cổ

(1) Đá bazan:

Các phun trào bazan của hệ tầng Xuân Lộc (βQII xl ), phân bố ở tầng phía khu vực

trung tâm xã ấp của xã Lộc Tấn, dưới dạng chỏm sót trên đường phân bố hệ tầng Bà Miêu

Trang 21

và hệ tầng Đray Linh; chúng chiếm khoảng 32,7% diện tích tự nhiên, bao phủ phần lớn diện tích vùng đồi núi có địa hình dạng vòm cao, thoải Thành phần gồm bazan olivin, bazan olivin kiềm dolerit, olivin kiềm và bazanit,nghèo silic, giàu kiềm Khoáng tạo đá phần lớn là olivin và ít pyroxen dày 20 – 120 cm Khoáng vật tạo đá gồm: olivin: 10% – 15%, pyroxen (augit): 20% – 26%, plagioclas: 60%, ít quặng sulfur

Các loại đá bazan trẻ, bazan-olivin và bazan-olivin kiềm, là những loại đá dễ phong hóa Vì vậy, đất hình thành trên loạt phun trào này thường là đất nâu đỏ điển hình (Halic/Humic Ferralsols), là loại đất có chất lượng tốt nhất thích hợp với nhiều loại cây trồng như cao su, tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả,…và cả những cây hàng năm Về nền móng địa chất, vùng bazan cũng là nơi có độ chịu lực cao, địa hình đồi, ít dốc, thoát nước tốt khá thuận lợi cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng

(2) Mẫu chất phù sa cổ:

Chủ yếu là trầm tích của hệ tầng Bà Miêu, tuổi Pliocene thượng – phần giữa (N22

bm) Chúng bao phủ khoảng 66,75% diện tích lãnh thỗ; phân bố ở phía Tây và Tây bắc

của xã Các trầm tích này tạo nên bề mặt địa hình dạng bậc thềm, chiếm giữ các đọ cao từ

60 – 70 đến 80 – 100 m Thành phần trầm tích lớp trên cùng gồm cát: 59%, sét: 22 – 29%, bột: 5 – 12%; dày 9m Các phần dưới có tỷ lệ sét cao hơn (32 – 39%), song thường lẫn nhiều sỏi sạn laterit (số liệu lỗ khoan 223 tại xã Minh Hưng – Binh Long)

Các loại đất hình thành trên phù sa cổ nói chung thường có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dưỡng chất và có hoạt tính thấp Nên phần lớn đất hình thần trên phù sa cổ thuộc nhóm đất xám (Acrisols) Nhìn chung các đất trên phù sa cổ tuy có chất lượng không cao nhưng rất đa dạng về các loại hình sử dụng đất, kể cả các cây lâu năm như cao su, cây ăn quả, tiêu, điều,…và cả các cây hàng năm như lúa, mì, bắp, mía, đậu đỗ các loại, tùy theo

độ dày tầng đất hữu hiệu

(3) Các mẫu chất trẻ:

Trong phạm vi huyện Lộc Ninh nói chung, các mẫu chất trẻ, còn gọi là trầm tích hiện đại (Holocene) chiếm diện tích không lớn Chúng thừơng phân bố dọc thung lũng các sông suối ở dạng bãi bồi cao, bãi bồi thấp hoặc các trũng thấp lầy hóa lấp đầy các lòng sông cổ Dựa vào thành phần trầm tích cũng như các dạng địa mạo, quan hệ địa địa chất,

Trang 22

trầm tích Holocene ở Lộc Ninh được chia ra ba kiểu thành tạo khác nhau: Trầm tích sông (aQIV32), trầm tích sông đầm lầy (abQIV31), và sườn tích – lũ tích – dốc tụ, hệ Đệ Tứ, không phân chia (dQ) Riêng ở xã Lộc Tấn chỉ có một loại mẫu chất: sườn tích – lũ tích – dốc tụ hệ Đệ Tứ, không phân chia (dQ): chiếm 0,19% diện tích tự nhiên; phân bố dưới dạng vạt gấu sườn dọc các chân đồi núi, hoặc đáy thung lũng, tạo thành các giải hẹp xen

kẽ trong các thung lũng – hợp thủy vùng đồi núi Đây là loại trầm tích deluvi, proluvi gồm các sản phẩm bào mòn, rửa trôi từ các khu vực xung quanh có địa hình cao hơn đưa xuống Thành phần trầm tích khá phân biệt tùy thuộc mẫu chất nguồn, gồm cát, sạn, dăm, bột, ít sét và có thể lẫn các tảng lăn đá gốc Bề dày không ổn định thường thay đổi từ một vài mét đến cả vài chục mét Đất hình thành trên loạt trầm tích này được xếp vào các đất dốc tụ hay phù sa suối Nhìn chung, chúng có độ phì khá, mặt khác lại chiếm các vị trí thung lũng hoặc hợp thủy thấp – bằng nên thường thích hợp cho trồng lúa hoặc cây trồng cạn hàng năm Loại đất này được phân bố ở vùng trũng thấp ven suối Le, và sông Sài Gòn khu vực ấp Bù Núi

và đường tuần tra dọc phía Tây (60m)),địa hình cao nhất ở khu vực phía Đông và Đông nam xã khu ấp 6B, ấp K57 (200m, trong khu đất cao su) và mang đậm sắc thái của những nền sông cổ cỡ lớn qua nhiều vĩ kỳ khác nhau với độ nghiêng nhẹ nhàng chừng 3 – 4o, ít nhấp nhô và nền móng vững chắc ổn định

Căn cứ vào hình thể và độ nghiêng dốc của bề mặt, yếu tố địa hình có thể phân chia ra các cấp tương đối theo độ dốc, quy mô diện tích của từng cấp độ dốc như sau: (bảng 2.1)

Trang 23

Bảng 3.1: Thống kê diện tích theo địa hình

II (3-8o) 2.186,0000 16,28 29.511,0000 34,71

Rất thuận lợi cho sử dụng đất

III (8-15o) 1.926,0000 14,34 13.668,8629 16,07

Thuận lợi cho

sử dụng đất

IV

(15-20o) 279,0000 2,08 1.889,0000 2,22

Ít thuận lợi cho sử dụng đất

có diện tích 1.926 ha (chiếm 14,34% diện tích tự nhiên); đất có địa hình dốc trung bình (độ dốc 15 – 20o) có diện tích là 279 ha (chiếm 2,08% diện tích tự nhiên) Qua số liệu cho thấy tuy Lộc Tấn là xã có cao độ trung bình hơn những vùng khác trong huyện, nhưng đất đai ở đây có địa hình khá bằng phẳng rất phù hợp cho bố trí sử dụng đất và phát triển sản xuất nông nghiệp

Trang 24

3.1.1.3 Khí hậu

Theo số liệu quan trắc nhiều năm của trạm Lộc Ninh so với các trạm lân cận như Phước Long và Dầu Tiếng – Tây Ninh, cho thấy:

3.1.1.3.1 Về nhiệt độ, tổng tích ôn và sồ giờ nắng

Nhiệt độ trung bình năm đạt 26,0oC, giá trị trung bình cao thường xuất hiện trong tháng 12 và tháng 1, giá trị trung bình thấp cũng chỉ xuống đến 24,4 – 24,5oC; biên độ nhiệt độ trung bình năm đạt 3,0 – 3,5oC Tổng tích ôn hàng năm khá lớn, trung bình nhiều năm lên đến 9.490oC/năm Số giờ nắng lên đến 2.401 giờ/năm, đặc biệt trong suốt thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, trung bình mỗi tháng có 216 – 256 giờ nắng và như vậy mỗi ngày có đến 7,2 – 8,3 giờ nắng Nhìn chung, nguồn nhiệt lượng và thời gian nắng của vùng là khá dồi dào, là điều kiện thuận lợi cho động thái phát triển của thực vật cũng như quá trình phân giải chất hữu cơ và biến đổi trạng thái vật chất trong đất

3.1.1.3.2 Lượng mưa

Lộc Ninh là khu vực có lượng mưa khá cao và mùa mưa kéo dài, tính trung bình năm, lượng mưa và số ngày mưa đều khá cao, lên đến 2.286,4mm và 145 ngày có mưa, cao hơn một chút so với khu vực lân cận song hơn hẳn các khu vực ở Nam Bộ (Phước Long: 2.044,8 mm/141 ngày; Dầu Tiếng: 2.101,5 mm/141 ngày; thành phố Hồ Chí Minh: 1.942 mm/163 ngày)

Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều trong năm hình thành nên hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 11, chiếm 91% lượng mưa

cả năm Tháng 9 là tháng có lượng mưa cao nhất so với cả năm (391mm/tháng) Mưa nhiều làm cho một số khu vực đất thấp ven một số sông suối trong vùng không sản xuất được

do ngập úng Mặt khác, còn thiệt hại hơn là quá trình rửa trôi các cation kiềm và một số yếu tố dinh dưỡng xảy ra mạnh mẽ trên các đất ở bậc thềm cao, dẫn đến chua hóa và nghèo kiệt hóa dinh dưỡng Mùa khô từ đầu tháng 12 đến cuối thang 4 năm sau, lượng mưa thấp, chỉ chiếm khoảng 9% tổng lượng mưa hàng năm; trong khi đó lượng bốc hơi lại cao, chiếm khoảng 50 – 60% tổng lượng bốc hơi trong năm, làm cho chỉ số khô hạn mùa khô lên đến 2,8 – 3,2 lần Mưa ít, nắng nóng nhiều, bề mặt đất thường khô làm cho

Trang 25

các quá trình phân hủy chất hữu cơ xảy ra mạnh mẽ, dẫn đến đất bị giảm và thiếu hụt chất hữu cơ

Lượng bốc hơi hàng năm thấp, trung bình chỉ đạt khoảng 1.157,3 mm/năm; đặc biệt trong các tháng mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11), lượng bốc hơi chỉ khoảng 471 mm, làm cho chỉ số ẩm lên đến 4,0 – 4,4 lần

Ẩm độ không khí khá cao, trung bình năm đạt 80 – 81%; tuy nhiên trong các tháng mùa khô, nhất là tháng 2 đến tháng 4, ẩm độ không khí xuống thấp, chỉ còn 71 – 72% Những đặc trưng như trên của khí hậu, nhìn chung là những đặc điểm rất thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung, đặc biệt là cho bố trí các loại cây trồng nhiệt đới

Tuy nhiên, do lượng mưa lớn và tập trung kết hợp với địa hình đã gấy xói mòn và rửa trôi vật liệu, các chất dinh dưỡng trong đất khiến đất thoái hóa dẫn đến không có biện pháp bảo vệ và cải tạo đất

3.1.1.4 Sông ngòi, thủy văn

Trong phạm vi xã Lộc Tấn có một số suối nhỏ như suối Tônle Chum, suối Lovea, suối M’lu cùng một số suối nhánh như suối Cấm, Prek Naille, Prek Ten, Prek Dok và Prek Toa Các suối trong xã thuộc lưu vực sông Sài Gòn; chúng được bắt nguồn từ hku vực phía Đông nam xã Lộc Tấn và Lộc Thạnh; chảy theo hướng Đông bắc – Tây nam hoặc Đông – Tây và đổ vào Tônle Chàm Tổng chiều dài các suối trong xã lên đên 67 km, đạt mật độ khoảng 0,5 km dài/ km2

Về thủy văn, hệ thống sông suối ở dây thường có lưu vực nhỏ, cự ly nhắn, dốc, lưu lượng nước không lớn và có sự phân biệt rất rõ theo mùa, thường đầy nước vào mùa mưa nhưng lại cạn kiệt trong mùa khô Do vậy, khả năng bồi đắp phù sa là rất hạn chế và không đủ khả năng cung cấp nước cho sản xuất và tiêu dùng Muốn sử dụng được nguồn nước này cho sản xuất cần có những đầu tư lớn vào các công trình xây dựng các hồ, đập đầu nguồn

3.1.2 Các nguồn tài nguyên

3.1.2.1 Tài nguyên đất

Tài nguyên đất đai là một tài nguyên quý giá, có giới hạn về không gian, chất lượng đất không đồng nhất, không thể thay thế và cố định vị trí vĩnh cửu về chức năng, làm vật

Trang 26

mang và là đối tượng tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp Thực chất quy hoạch

sử dụng đất đai là bố trí sử dụng tài nguyên này một cách hợp lý và có hiệu quả

Trong dự án Xây dựng mô hình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai phục vụ yêu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Nông nghiệp nông thôn huyện Lộc Ninh (năm 2004), nhóm công tác đã thực hiện một chuyên đề riêng “ Đánh giá tài nguyên đất đai huyện Lộc Ninh ở tỷ lệ bản đồ 1/25.000” Bao gồm các sản phẩm chính:

o Bản đồ thổ nhưỡng 1/25.000;

o Bản đồ tài nguyên đất đai 1/25.000, và

o Bản đồ đánh giá đất đai cho các mục đích sử dụng đất 1/25.000

Trên bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 vừa nêu, đất xã Lộc Tấn có hai nhóm đất, với bốn đơn

vị bản đồ đất:

(1) Nhóm đất đỏ vàng: Nhóm đất đỏ vàng có 13.355 ha, chiếm 99,45% diện tích tự nhiên Nó được hình thành trên đá bazan và mẫu chất phù sa cổ Dựa theo mẫu chất thành tạo và màu sắc chủ đạo trong đất, nhóm đất đỏ vàng được chia ra ba đơn vị chú dẫn là: Đất nâu đỏ trên bazan (Fk); đất nâu vàng trên bazan (Fu); và đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp)

(a) Đất nâu đỏ trên bazan (Fk): có 4.301 ha, chiếm 32,0% diện tích tự nhiên;

phân bố thành khu vực tập trung ở phía Nam và phía Đông nam của xã

Đất nâu đỏ trên bazan có thành phần cơ giới nặng, cấp hạt sét chiếm đến 45 – 55%, thậm chí đến 60%; cấu tượng viên hạt, tơi xốp Đất thường chua (pH H2O: 4,4 – 4,6); dung tích hấp thu, cation kiềm trao đổi và độ no bazơ thường thấp ( CEC: 9,0 – 13,0 me/100gđ; BS: 29 – 38%); mùn và đạm tổng số giàu (1,8 – 4,1% OM; 0,14 – 0,20% N), lân tổng số khá (0,21 – 0,23% P2O5) song lân dễ tiêu và kali tổng số lại nghèo (1,59 – 1,92mg

P2O5/100gđ và0,14 – 0,25% K2O)

Đất nâu đỏ trên bazan là một loài đất có độ phì cao, vào bậc nhất trong các đất đồi núi

ở nước ta, nó thích hợp với hầu hết các cây trồng cận nhiệt đới, đặc biệt là các loài cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cao su, tiêu và các cây ăn quả; đồng thời cũng thích hợp với các cây hàng năm như bắp, đậu, hoa màu khác,…

(b) Đất nâu vàng trên bazan (Fu): có 90 ha, chiếm 0,67% diện tích tự nhiên;

Trang 27

phân bố ở khu vực ấp 6, ấp 5 C quanh khu vực đồi rừng Cấm

Đất nâu vàng trên bazan có thành phần cơ giới nặng (40 – 50% sét); chua (pH: 4,5 – 4,9); dung tích hấp thu và độ no bazơ thường thấp (CEC: 9,0 – 11,0 me/100gđ; BS:25 – 35%); mùn và đạm tổng số khá (1,6 – 2,7% OM; 0,12 – 0,14% N); lân tổng số trung bình khá (0,20 – 0,22% P2O5) song lân dễ tiêu rất nghèo, chỉ đạt 1,9 – 2,8 mg/100gđ; và kali tổng số cũng thấp (0,14 – 0,17% K2O)

Nhìn chung, đất nâu vàng trên bazan có độ phì tương đối cao, nó thích hợp với nhiều loại cây trồng cạn khác nhau Tuy nhiên, khả năng sử dụng của đất này phù thuộc rất nhiều vào độ dày tầng đất hữu hiệu Các đất có tầng hữu hiệu dày nên dành cho việc trồng các cây dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, tiêu và các cây ăn quả Các đất có tầng hữu hiệu mỏng giành cho việc trồng cây hàng năm như các loại đậu đỗ, bắp, hoa màu khác hoặc trồng điều

(c) Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): Đất nâu vàng trên phù sa cổ có 8,946

ha, chiếm 66,75% diện tích tự nhiên; phân bố ở phía Tây và Tây nam của xã thuộc khu vực ấp Thạnh Tây, Bù Núi, khu 32 hộ và K54 (đất rừng)

Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ (34 – 44% sét); chua (pH: 5,1 – 5,3); có dung tích hấp thu và bão hòa bazơ đều thấp (CEC: 5,62 – 7,43 me/100gđ; BS: 21 – 26%); các chất dinh dưỡng như mùn, đạm, lân và kali thường chỉ đạt đến mức trung bình thấp, song phần lớn là nghèo đến rất nghèo (1,3 – 2,5% OM; 0,11 – 0,21% N; 0,03 – 0,07% P2O5 và0,38 – 0,41% K2O)

Đất nâu vàng trên phù sa cổ tuy có độ phì không cao nhưng lại thích hợp với nhiều loại hình sử dụng đất, kể cả các đất xây dựng, nông nghiệp và lâm nghiệp.Trong nông nghiệp các loại hình sử dụng đất rất phong phú kể cả các cây dài ngày (cao su, cà phê, tiêu, điều,…), cây ăn quả và nhiều loại cây hàng năm Khả năng sử dụng đất phụ thuộc rất nhiều vào địa hình và độ dày tầng đất mịn: Các đất nâu vàng ở địa hình ít dốc và có tầng đất hữu hiệu dày có khả năng trồng được nhiều loại cây kể cả cây lâu năm và cây hàng năm, đặc biệt là các cây lâu năm như cao su, điều, cây ăn quả Các đất có tầng đất hữu hiệu mỏng, chỉ có khả năng trồng cây hàng năm Những nơi tầng đất quá mỏng hoặc địa hình dốc chỉ nên trồng rừng nhằm bảo vệ đất và môi trường

Trang 28

(1) Nhóm đất dốc tụ:

Đất dốc tụ có 24,8665 ha, chiếm 0,19% diện tích tự nhiên Đất hình thành ở địa hình thung lũng, trên các sản phẩm bồi tụ từ các khu vực đồi núi cao xung quanh đưa xuống Nhìn chung các đất dốc tụ có độ phì nhiêu tương đối khá, giàu mùn, giàu đạm, nhưng chua, đồng thời lân và kali chỉ ở mức trung bình thấp; mặt khác, phân bố ở địa hình thấp trũng, khó thoát nước, nên nó chỉ có khả năng sử dụng cho trồng các cây hàng năm như lúa, hoa màu, lương thực

3.1.2.2 Tài nguyên nước

3.1.2.2.1 Nguồn nước mặt

Nhìn chung, hệ thống sông suối huyện Lộc Ninh nói chung và xã Lộc Tấn nói riêng tương đối ít Hệ thống sông suối ở xã Lộc Tấn không nhiều, ngoài suối Sông Cấm, suối Tonle Chum, suối Lovea, suối M’Lu, còn có một vài dòng suối nhỏ khác như Prek Naille, Dok, Ten, Toa…Những sông suối trong vùng có lòng sông hẹp, dốc, lũ sa, hạn chế khả năng cung cấp nước cho sản xuất và tiêu dùng Muốn sử dụng được nguồn nước này cho sản xuất cần có những đầu tư lớn vào các công trình thủy lợi

3.1.2.2.2 Nguồn nước ngầm

Theo các tài liệu địa chất thủy văn trong khu vực cho thấy khả năng về trữ lượng và chất lượng của nước ngầm có liên quan đến thành tạo địa chất như sau:(1) Tầng chứa nước lỗ hổng của các trầm tích Pliocene N2: Tầng này xuất hiện thành các dải hẹp trong huyện Lộc Ninh, bị các thành tạo Bazan(QII) phủ trực tiếp lên và bản thân nó cũng phủ trực tiếp lên các móng đá trước Kanozoi Theo phân cấp của tỉ lưu lượng có các mức độ: nghèo (0,20 – 0,01 l/sm); trung bình (0,05 – 0,21 l/sm) và phong phú (trên 0,51 l/sm) thì lượng nước tốt (M< 1,0 g/l) biên độ dao động hàng năm 0,68 – 1,2m, nguồn cung cấp từ nước mưa (2) Tầng chứa nước khe nứt – lỗ hổng của các thành tạo Bazan Đệ Tứ (QII): qua các số liệu lỗ khoan và thực tế cho thấy các thành tạo này chứa nước không liên tục trên mặt cắt địa chất Tại Lộc Ninh, mực nước tĩnh 30 – 53 m, lưu lượng Q = 1.111 l/s, tuy nhiên do biến động lớn về tính thấm nên tỷ lệ khoan khai thác nước không cao, tỉ lưu lượng q = 0,05 l/s, tổng độ khoáng hóa 0,12 – 0,53 g/l, nguồn cung cấp nước mưa tại chỗ, các dòng chảy trên bề mặt

Trang 29

Có thể nói, xã nằm trong khu vực có hạn chế về tài nguyên nước ngầm do đó cần phải

có biện pháp khai thác nguồn nước mặt tại chỗ từ các nơi khác đến để phục vụ sinh hoạt

và sản xuất

Nguồn nước ngầm của huyện chia ra hai tiểu vùng: vùng thứ nhất địa hình đồi cao

>100m (chủ yếu là đất đỏ bazan), vùng này nước ngầm sâu từ 50 – 100 m, lưu lượng 1,2 – 2,0 l/s Vùng thứ hai ở dạng địa hình thấp, độ sâu mực nước từ 10 – 15 m, lưu lượng từ

đã từng bị phá hoại trong thời gian chiến tranh và nạn phá rừng trong những năm trước đây Về thành phần chủng loại thực vật, rừng Lộc Tấn nói riêng và huyện Lộc Ninh nói chung rất đa dạng về họ và loài thực vật

Phân loại rừng theo kiểu rừng cho thấy rừng tự nhiên phòng hộ là kiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới mưa mùa, chủ yếu là cây thân gỗ, cao chừng 10 – 20 m, cây mọc cách nhau chừng 8 – 10 m, thân cây thẳng Phân loại theo trữ lượng cho thấy rừng tự nhiên phòng hộ là rừng gỗ có trữ lượng, có diện tích: 808,009 ha (trong đó trữ lượng cấp IV: 541,5888 ha, trữ lượng cấp V: 266,4202 ha) và rừng non có trữ lượng 4.690,939 ha Rừng trồng phòng hộ 1.148,8625 ha, phân bố ở phía Tây nam của xã, thuộc ấp Bù Núi và

ấp Thạnh Tây Tập trung chủ yếu ở ven sông Sài Gòn khu 32 hộ và khu suối Le

Phân loại rừng trồng theo trữ lượng có hai loại: rừng gỗ có trữ lượng (85,8061 ha) và rừng gỗ chưa có trữ lượng (1063,0564 ha)

Phần lớn rừng ở Lộc Ninh ngoài nhiệm vụ che phủ giữ gìn cho đất dưới chân mình, còn có vai trò to lớn trong việc phòng hộ cho lòng hồ Dầu Tiếng, hồ Srok Pu Miêng, đồng thời điều tiết khí hậu trong khu vực; ngoài ra, với năng suất sinh học cao, còn có giá trị

Trang 30

kinh tế rất lớn Chính vì vậy cần phải tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, khoanh nuôi

và khôi phục rừng

3.1.3.Tình hình dân sinh, kinh tế, văn hóa, xã hội

3.1.3.1 Dân sinh – kinh tế

Theo báo cáo thực hiện công tác năm 2007 của Ủy Ban Nhân Dân xã Lộc Tấn: Năm

2007, trong xu thế và bối cảnh chung, ngoài những thuận lợi như thời tiết, giá nông sản tăng, còn gặp không ít những khó khăn thách thức có tác động trực tiếp đến nhu cầu sinh hoạt, nhu cầu sản xuất và tái sản xuất; nhưng được sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, sự giám sát của Hội Đồng Nhân Dân, sự phối hợp tích cực của Mặt Trận Tổ Quốc cùng các ban ngành đoàn thể và sự nhiệt tình của các thôn ấp, nên tiến độ phát triển kinh tế vẫn tăng đều Nhờ sự gắn kết đồng bộ đó, giá trị tổng sản phẩm nội địa ước đạt 54 tỷ đồng Bình quân thu nhập 5,3 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế tương ứng sau: nông lâm nghiệp 80%, thương mại dịch vụ 11%, ngành nghề khác 9%, cho thấy sự phát triển chuyển dịch tiếp tục đúng hướng, phù hợp xu thế thị trường hàng hóa

3.1.3.1.1 Sản xuất nông nghiệp

Năm 2007, tổng diện tích gieo trồng và chăm sóc các loại cây được 1.410 ha, tăng 134

ha so với năm 2006 Trong đó, cây hàng năm tăng 33 ha, cây lâu năm tăng 101 ha Bao gồm như sau:

- Diện tích cây hàng năm 568 ha Trong đó diện tích lúa là 242 ha, riêng lúa ruộng là

172 ha

- Diện tích màu lương thực 203 ha Trong đó riêng mì là 158 ha

- Diện tích cây thực phẩm 68 ha, gồm rau và đậu các loại

- Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày10 ha Và cây hàng năm khác 45 ha

- Diện tích cây lâu năm, đặc sản 842 ha Gồm có: Tiêu 310 ha, điều 137 ha, cà phê 10

ha Cây ăn quả các loại và cây lâu năm khác 160 ha, cao su 225 ha

3.1.3.1.2 Chăn nuôi

Tổng đàn gia súc 2.014 con, tăng 289 con so với năm 2006 Trong đó, trâu 404 con,

bò 1.610 con, heo 862 con, gia cầm các loại hơn 25.000 con Công tác tiêm phòng gia cầm, gia súc có sự tích cực của cán bộ thú y xã và hỗ trợ trực tiếp của thú y huyện nên

Trang 31

việc phát hiện và ngăn chặn dịch bệnh khi xuất hiện có hiệu quả kịp thời Tiêm phòng cho gia súc các loại đạt hơn 97% tổng đàn kể cả vùng đồng bào dân tộc Và tiêm phòng gia cầm H5N1 đạt 90% Riêng tiêm phòng đợt II được 1.959 con, trong đó miễn phí 785 con Tiêm phòng heo tổng số 862 con, trong đó miễn phí 508 con Ngoài ra, còn thực hiện chương trình quốc gia khống chế và thanh toán bệnh lở mồm long móng giai đoạn 2006 –

2010 đã tiêm được 1.875 con

3.1.3.1.3.Công tác khuyến nông

Toàn xã tổ chức được 6 lớp tập huấn, quảng bá kiến thức khoa học kĩ thuật cho các nhà vườn (2 lớp tại xã và 4 lớp tại ấp, thu hút hơn 350 lượt người tham dự) Triển khai khảo sát để quy hoạch một số diện tích phục vụ xây dựng nhà ở cho đồng bào dân tộc tập trung (thuộc chương trình 134)

Điều tra về hộ trang trại theo đó tổng diện tích 347,36 ha, tổng số hộ 186 hộ, số lao động thường xuyên 537 lao động Trong đó lao động của riêng trang trại là 431, thuê 106 lao động

Làm việc với Sở nông nghiệp Tỉnh về tổng kết các dự án triển khai và xác định nhu cầu bố trí lại dân cư phục vụ dự án quy hoạch các xã biên giới Theo đó, kết quả các dự án

đã triển khai tại địa phương trong chu kỳ 2000 – 2006 có khối lượng công việc sau:

Thủy lợi: 1 đập tràn – 135 triệu

 Nhà văn hóa: 8 công trình – 1.294 triệu

 Dự án CHHTNT (ADB): Công trình hồ rừng cấm cấp nước sinh hoạt

 Điện khí hóa: 36 km – 2.300 triệu

 Dự án Huyện: trụ sở xã – 850 triệu

Trang 32

3.1.3.1.4 Công tác xóa đói giảm nghèo

Công tác xóa đói giảm nghèo được thường xuyên theo dõi để điều chỉnh Đến năm

2007, hộ nghèo còn 128 khẩu, tỷ lệ 4,99% Riêng trong vùng đồng bào dân tộc,qua điều tra khảo sát đã ghi nhận: hộ thiếu đất sản xuất là 49 hộ với 190 khẩu; hộ không có giếng

và bể nước là 47 hộ với 200 khẩu; hộ không có đất thổ cư là 39 hộ với 158 khẩu; hộ không có nhà là 21 hộ với 90 khẩu Công tác rà soát biến động hộ nghèo và lập danh sách cận nghèo trong 6 tháng đầu năm với 54 hộ, 159 khẩu Theo đó, có nhà tạm bợ là 26 hộ, không có nhà hoặc ở nhờ là 4 hộ Bình quân thu nhập 219.000 đồng/khẩu/tháng

3.1.3.2 Văn hóa, xã hội

Trong lĩnh vực giáo dục được thường xuyên hoạt động tốt Các trường trong xã đã tổ chức tốt ngày khai giảng năm học 2007 – 2008 Theo số liệu báo cáo nhanh ngày khai giảng, tổng số học sinh có 3.010 học sinh Trong đó trung học cơ sở 1.117 học sinh (dân tộc: 51 học sinh), trường trung học Lộc Tấn A 770 học sinh (dân tộc: 20 học sinh), trường trung học Lộc Tấn B 579 học sinh (dân tộc:89 học sinh), trường Mẫu giáo Hoa Hồng 202 học sinh (dân tộc:20 học sinh), trường Mẫu giáo Hoa Cúc 342 học sinh (dân tộc: 21 học sinh) Tổng số giáo viên, công nhân viên chức là 189 người với tổng số lớp là 97 lớp và

75 phòng học Tình hình chung về số học sinh tăng, giảm từng lớp không nhiều so với năm trước Nguyên nhân do một số chuyển trường, một số tự bỏ học vì nhiều lý do Ngày khai giảng, tỷ lệ học sinh đến trường đạt 96% Về trường lớp mới tạm đủ ở các điểm chính, riêng các ấp xa còn thiếu phòng học tại chỗ nên học sinh có khó khăn vào mùa mưa gió

Riêng hoạt động của Hội khuyến học xã: trong năm, với số tiền đã vận động ủng hộ được, đã tổ chức tuyên dương, cấp học bổng cho các em học sinh nghèo hiếu học, học sinh giỏi (30 học sinh) Tổng số tiền 4,5 triệu đồng

Y tế: Trạm xá làm tốt các phần việc thuộc chương trình y tế quốc gia

Trong năm với số lần khám chữa bệnh 8.200 lần Trong đó tại trạm là 4.890 lần, có

100 bệnh nhân ngoại trú

Về quản lý cán bộ y tế toàn xã có 27 cán bộ, trong đó tại trạm 4 cán bộ, các thôn ấp

15 cán bộ, tư nhân 7 cán bộ và y học dân tộc 1 cán bộ

Ngày đăng: 15/06/2018, 17:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w