Nhiều sách, đề tài, luận án, luận văn, bài viết đã phân tích sâu sắc, trên từng góc độ tiếp cận thực trạng của hệ thống chính trị cấp cơ sở, nhất là ở vùng nông thôn miền núi, vùng dân t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các thông tin, số liệu là khách quan và dựa trên các kết quả nghiên cứu thực tế, các tài liệu đã được công bố và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
và chưa được công bố
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn chân thành nhất tới GS
TS Nguyễn Hữu Khiển, giảng viên Học viện Khoa học xã hội, người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Chính sách công, cùng cán bộ, giảng viên của Học viện Khoa học xã hội đã tạo điều kiện, nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong quá trình theo học chuyên ngành cao học Chính trị học tại Học viện
Trân trọng cảm ơn lãnh đạo chính quyền thành phố Buôn Ma Thuột, cùng các cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn thành phố đã quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Xin được bày tỏ lòng tri ân đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động, chia sẻ và khích lệ tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Hà nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả Luận văn
Nông Thị Loan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 15
1.1 Cơ sở lý luận 15
1.1.1 Khái niệm chính trị, hệ thống chính trị 15
1.1.2 Hệ thống chính trị cấp xã 19
1.2 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 24
1.2.2 Một số vấn đề về cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số và vai trò của họ đối với hệ thống chính trị cấp xã 24
1.2.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 26
Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT 32
2.1 Khái quát về điều kiện phát triển thành phố Buôn Ma Thuột 32
2.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên 32
2.1.3 Điều kiện phát triển văn hóa 34
2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột 35
2.2.1 Cơ cấu 36
2.2.2 Số lượng 38
2.2.3 Chất lượng 38
2.3 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột 41
2.3.1 Cơ sở đào tạo, bồi dưỡng 41
2.3.2 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 43
Trang 62.4 Đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người
dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột 47
2.4.1 Về mặt ưu điểm 47
2.4.2 Về hạn chế 49
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 52
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 55
3.1 Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước về đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số 55
3.1.1 Định hướng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên 57
3.1.2 Định hướng và mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Đắk Lắk 57
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột 62
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở Tây nguyên 62
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện chính sách về nội dung, chương trình, hình thức tổ chức và phương pháp giảng dạy 63
3.2.3 Giải pháp hoàn thiện chính sách, chế độ hỗ trợ, khuyến khích 64
3.2.4 Giải pháp hoàn thiện chính sách đầu tư cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trên địa bàn thành phố 65
3.2.5 Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển đội ngũ giảng viên 65
3.3 Một số kiến nghị 66
3.3.1 Đối với cơ quan Chính phủ 66
3.3.2 Đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột 67
KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Ủy ban nhân dân
Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Cơ cấu, quy hoạch cán bộ cấp xã là người DTTS nhiệm kỳ 2010 –
2015 và 2015 – 2020 của Thành ủy Buôn Ma Thuột năm 2017
Bảng 2.2 Số lượng và tỷ lệ cán bộ, công chức chia theo dân tộc ở thành phố
Buôn Ma Thuột năm 2017
Bảng 2.3 Số lượng và trình độ giáo dục, đào tạo của 25 cán bộ xã, phường
người DTTS ở thành phố Buôn Ma Thuột năm 2017
Bảng 2.4 Số lượng và trình độ giáo dục, đào tạo của 19 công chức xã,
phường người DTTS ở thành phố Buôn Ma Thuột năm 2017
Trang 9MỞ ĐẦU
Hệ thống chính trị cấp cơ sở có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong
hệ thống chính trị của nước ta, là nơi trực tiếp vận động, hướng dẫn người dân thực hiện đúng mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống chính trị cấp xã không thể đạm nhận được vai trò nếu thiếu nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là đội ngũ cán bộ, công chức Đội ngũ cán bộ, công chức
là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, lắng nghe, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân để báo cáo, phản ánh với cấp trên nhằm ban hành các chủ trương, chính sách sao cho phù hợp với thực tiễn của cuộc sống Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhất là cán bộ, công chức cấp xã là người DTTS là yếu tố trọng yếu trong công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước Để có thể xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
là người DTTS có phẩm chất đạo đức, lập trường chính trị và trình độ, kỹ năng đáp ứng yêu cầu thì hoạt động đào tạo, bồi dưỡng là con đường tất yếu
và quan trọng nhất
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”[13] Thấm nhuần lời dạy của người, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đặc biệt coi trọng và đã có nhiều Chủ trương, Chính sách và Nghị quyết về công tác cán bộ, nhất là đối với cán bộ trong hệ thống chính trị cấp xã Cán bộ, công chức xã có vai trò quan trọng trong hoạt động của cả hệ thống chính trị, trong vận động nhân dân thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Để có đội ngũ cán bộ, công chức xã đủ năng lực thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, Đảng và Nhà nước ta cần coi trọng và làm tốt các mặt công tác xây dựng và nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán
bộ, công chức xã Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã là một nhiệm vụ trong công tác cán bộ cơ sở của các cấp uỷ đảng ở địa phương, nhằm tạo ra một đội ngũ
Trang 10những người có đủ năng lực, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước, góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải cách nền hành chính nhà nước Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khóa X xác định: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao tính chuyên nghiệp của bộ máy hành chính, của cán bộ, công chức, đặc biệt là kỹ năng hành chính và áp dụng công nghệ thông tin và hoạt động của cơ quan hành chính”[4, tr.12]
Xác định tầm quan trọng trong công tác cán bộ, trong những năm qua, Đảng
bộ Thành phố Buôn Ma Thuột và các Đảng ủy các xã trên địa bàn thành phố luôn quan tâm và xem đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, chiến lược cán bộ đã đạt được những thành tựu đáng kể Tuy nhiên, trước yêu cầu đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xét một cách toàn diện, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở địa phương vẫn còn không ít hạn chế Số lượng,
cơ cấu thành phần, năng lực, trình độ, mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cả đội ngũ chưa đồng bộ Khá phổ biến là tình trạng cán bộ có trình độ thấp, năng lực bao quát, quyết đoán trong chỉ đạo thực tiễn không cao Thực tế trên tạo nên trở ngại lớn cho việc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở địa phương Những hạn chế đó có nguyên nhân từ việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trong những năm qua còn nhiều bất cập Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức xã chưa được trú trọng nhiều Khắc phục những hạn chế, yếu kém ấy là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của các cấp ủy đảng ở địa phương trong giai đoạn hiện nay
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên, tác giả chọn vấn đề “Thực hiện chính sách đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
a Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nói chung
Trang 11Ngay từ khi thành lập, Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ và xem đây là nhiệm vụ chính trị hàng đầu xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Vì vậy, Đảng
ta đã xây dựng chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề cán bộ trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả,
cụ thể như:
Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2011), Cơ sở lý luận thực tiễn xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tiếp tục đưa ra
nhiều luận cứ khoa học của việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành ở nước ta Qua đó, nhiều vấn đề được khẳng định: về vị trí, vai trò nhân tố quyết định
sự thành bại của cách mạng của cán bộ và công tác cán bộ; về yêu cầu đức - tài, phẩm chất - năng lực của tiêu chuẩn cán bộ đặt trong trong quan hệ với nhiệm vụ chính trị, với xu thế của thời đại; về trách nhiệm của các cấp chủ thể, nhất là cấp ủy
và người đứng đầu cấp ủy, hệ thống chính trị; về quan điểm, mục tiêu, phương hướng, giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bên cạnh đó, một số đề tài khoa học, luận văn, luận án gần đây mở rộng được phạm vi hoặc đi sâu vào một số nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cụ thể: Đề
tài khoa học Trần Thị Hương “Vấn đề tạo nguồn cán bộ các xã vùng sâu, vùng xa
đặc biệt khó khăn - thực trạng và giải pháp” (Mã số KHBD (2009) - 51) đưa ra khái
niệm “Tạo nguồn cán bộ cơ sở cấp xã vùng cao, vùng xa đặc biệt khó khăn là quá trình phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng những người công tác tại cơ sở xã, thôn bản thuộc khu vực này, hoặc có thể là học sinh, sinh viên, để giúp họ có đủ các điều kiện tiêu chuẩn của cán bộ cơ sở” Khái niệm cho thấy: đối tượng tạo nguồn là người đang công tác tại chỗ, hoặc học sinh, sinh viên; nội dung tạo nguồn là phát hiện, quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng đối tượng; mục tiêu tạo nguồn là giúp đối tượng có đủ điều kiện tiêu chuẩn của cán bộ cơ sở Có thể đánh giá: với mục tiêu nói trên, thì nội dung tạo nguồn mà tác giả đề cập chưa thể đáp ứng, bởi sau khi phát hiện và quy hoạch, chỉ bằng công tác đào tạo, bồi dưỡng thì sẽ không đủ để chuẩn hóa nguồn theo tiêu chuẩn cán bộ cơ sở
Trang 12b Nhóm công trình nghiên cứu về đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức xã
là dân tộc thiểu số
Xây dựng đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị cấp xã là đối tượng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm, không chỉ bởi vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở, mà còn liên quan đến vai trò và thực tế việc xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ chủ chốt ở đây Nhiều sách, đề tài, luận án, luận văn, bài viết đã phân tích sâu sắc, trên từng góc độ tiếp cận thực trạng của hệ thống chính trị cấp cơ sở, nhất là ở vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số, với những khó khăn, vướng mắc về điều kiện kinh tế - xã hội, về đội ngũ cán bộ, công chức với nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, trong đó có 2 yếu tố quan trọng nhất: con người và cơ chế - những điều kiện đảm bảo cho hệ thống chính trị
vững mạnh Tiêu biểu như đề tài khoa học cấp Bộ 2007 “Xây dựng đội ngũ cán bộ
cơ sở theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX)” của Nguyễn Thế Vịnh; luận văn
thạc sĩ “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã trước yêu cầu đổi mới” (2003) của
Lê Thị Lý v.v kết quả nghiên cứu của các công trình trên có thể giúp cho luận văn định hướng rõ yêu cầu công tác xây dựng đội ngũ cán bộ luôn gắn với trách nhiệm của cấp ủy đảng các cấp, vai trò chủ động tham mưu và tổ chức thực hiện chủ trương của cấp ủy của các cơ quan, tổ chức, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị Cán bộ người dân tộc thiểu số là nhóm đối tượng đặc biệt quan trọng của công tác cán bộ vùng miền núi, dân tộc
Sách “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc
nước ta hiện nay” của Lô Quốc Toản (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010) đưa ra
định nghĩa khái niệm Nguồn cán bộ dân tộc thiểu số “là những người có nguồn gốc xuất thân từ các dân tộc thiểu số, được tuyển chọn, được đào tạo, bồi dưỡng, được rèn luyện, thử thách để bố trí, sắp xếp vào các cương vị công tác trong bộ máy của
hệ thống chính trị” Tác giả phân biệt tiêu chuẩn nguồn cán bộ nói chung so với nguồn cán bộ dân tộc thiểu số chỉ khác ở chỗ thành phần dân tộc xuất thân (dân tộc thiểu số không phải là dân tộc Kinh), còn các tiêu chuẩn khác thì giống nhau Điều này theo chúng tôi là chưa phù hợp, bởi trong thực tế điều kiện phát triển của đồng
Trang 13bào dân tộc thiểu số vùng miền núi chưa cho phép Khi quan niệm phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số là “phát triển những con người ở các dân tộc thiểu số, tạo điều kiện thuận lợi để họ trở thành cán bộ” và “phát triển về năng lực và trình độ công tác của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số”, là tác giả đã phân biệt 2 nhóm nguồn khác nhau: người dân tộc thiểu số chưa là cán bộ và cán bộ người dân tộc thiểu số Điều này đồng nhất với nhiều tác giả trong quan niệm về nguồn cán bộ, và cho thấy phát triển nguồn nằm trong nội hàm khái niệm tạo nguồn, nhưng chỉ là một khâu của tạo nguồn Ở mục đánh giá về công tác phát triển nguồn, tác giả đề cập đến 3 việc cụ thể: khôi phục và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú; thực hiện chế độ cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng và trung cấp; đào tạo cán bộ nguồn quy hoạch lãnh đạo, quản lý càng thể hiện rõ quan niệm phát triển nguồn theo tác giả thực chất chỉ là nội dung đào tạo, bồi dưỡng nguồn Tuy vậy, xét trên khía cạnh này, thì đây là những gợi ý quan trọng để luận văn tiếp tục triển khai nội dung đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số
c Nhóm công trình nghiên cứu về đội ngũ cán bộ, chức chức xã là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng
Tây Nguyên và các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên từ trước đến nay luôn hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong nghiên cứu, khám phá những giá trị về văn hóa, những đặc trưng về xã hội, những biến động về kinh tế, chính trị Nhất là từ sau những biến động chính trị do các thế lực thù địch kích động đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chống phá chính quyền, phá hoại khối đoàn kết các dân tộc năm 2001 và 2004, hàng loạt công trình khoa học được triển khai cụ thể như:
Sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây
Nguyên” (2005) và sách “Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên” (2008) của Trương Minh Dục (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); sách
“Văn hóa xã hội và con người Tây Nguyên” (2005) của Nguyễn Tấn Đắc (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội); sách “Kinh tế - xã hội các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên
những năm đầu thế kỷ XXI - Thực trạng và xu hướng phát triển” (2007) của Phạm
Trang 14Hảo chủ biên (Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội); sách “Một số vấn đề về văn
hóa - xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay” (2010) của Dương Thị
Hưởng, Đỗ Đình Hãng, Đậu Tuấn Nam đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội) v.v Điểm chung của các công trình là phản ánh được điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Tây Nguyên, sự tác động của các yếu tố dân tộc, tôn giáo, sự chống phá của các thế lực thù địch cùng những giải pháp có tính đồng bộ về tận dụng lợi thế, tiềm năng, về xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, về phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc để tiếp tục xây dựng Tây Nguyên ngày càng ổn định và phát triển
Cùng với các công trình trên, tác giả Bùi Minh Đạo (Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội) trong sách “Tổ chức và hoạt động buôn làng trong phát triển bền vững
vùng Tây Nguyên” (2010) đề cập đến nhiều đặc trưng văn hóa, xã hội, con người
Tây Nguyên hình thành từ những tác động của điều kiện tự nhiên - xã hội Trong
đó, có một yếu tố quan trọng được nhiều tác giả lưu ý, đó là hình thái tổ chức xã hội
cổ truyền “làng” (plei, plơi, buôn, bon) - đơn vị tự quản, cư trú độc lập và duy nhất,
có chung quy tắc ứng xử lệ tục Mỗi làng là một thể chế kinh tế, văn hóa, xã hội và một không gian sinh tồn tự nhiên khép kín Đồng bào dân tộc thiểu số sống trong làng, chịu sự quy định của lệ tục làng, và nhân cách con người cũng từ đó mà được hình thành Tuy nhiên hiện nay, làng của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên không còn là thực thể đơn nhất, mà bao trùm lên nó là hệ thống thể chế chính trị của Nhà nước Vì vậy buôn làng trở thành “cánh tay nối dài” của chính quyền xã đến các hộ gia đình Đặc trưng xã hội này là điểm cần chú ý để luận văn xác định những yếu tố tác động (cả tích cực lẫn tiêu cực) đối với mỗi con người thuộc cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
Luận án tiến sĩ "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng bộ
các cấp ở Tây Nguyên hiện nay" (2000) của Nguyễn Mậu Dựng đề cập đến vai trò
của việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trong đó có cán bộ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên là việc làm thường xuyên và cấp bách, quyết định sự ổn định và phát triển của hệ thống chính trị nơi đây
Trang 15Bài viết “Đặc điểm tâm lý, văn hóa các dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên
ảnh hưởng tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay” của Nguyễn
Hồng Sơn (trong Sách “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Luận cứ và giải pháp” (2005) của
Lê Thị Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng (đồng chủ biên) cho rằng đặc điểm tâm lý - văn hóa của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên là sự đan xen giữa yếu tố tích cực lẫn tiêu cực, tiến bộ lẫn lạc hậu: giữa thụ động và phóng khoáng; giữa tư duy trực quan và ý tưởng thẩm mỹ bay bổng; chịu thương chịu khó nhưng ít thích làm giàu; tôn vinh trưởng thôn, già làng hơn thích làm quan; thích tự quản hơn lãnh đạo; thích cái cộng đồng hơn cái tôi tự do; thích nghệ thuật hơn làm kinh tế Bên cạnh cái bao dung, thật thà, dũng cảm, cần mẫn, biết sống chấp nhận quá khứ, trọng người già, phụ nữ, trọng đức, giản dị thì trong quá trình biến đổi tâm lý - văn hóa, trong một bộ phận cán bộ và nhân dân đã xuất hiện tính tự ti dân tộc, tính “tự trị”,
“bài Kinh”, nhẹ dạ cả tin, dễ bị lôi kéo, kích động thù hằn Đây là những tổng kết mang tính thực tế, thực tiễn sâu sắc, cần thiết cho đề tài khi bàn về đặc điểm nguồn cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số và những vấn đề đặt ra trong quá trình lựa chọn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng giáo dục nguồn cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Thực trạng và giải pháp tạo nguồn cán bộ cấp
xã người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được nhiều tác giả bài báo khoa học, nhiều tham luận tại các Hội thảo của khu vực quan tâm Đối với cán bộ cấp xã người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung có các công trình tiêu biểu:
Trong bài viết “Thực trạng và giải pháp để xây dựng cán bộ dân tộc
thiểu số tại chỗ cấp xã ở các tỉnh Tây Nguyên” (Tạp chí Dân tộc, số 3-2009),
Nguyễn Thị Tâm đề xuất giải pháp chủ động tạo nguồn cán bộ để phục vụ cả trước mắt và lâu dài, trong đó nhấn mạnh: Quy hoạch cán bộ cần chú ý cơ cấu nhưng phải đảm bảo tiêu chuẩn và “mở” để có thể thay đổi theo tình hình cụ thể Chú trọng chất lượng phát triển đảng viên, giáo dục và thử thách quần chúng qua phong trào thực tiễn, qua quan hệ với dân; chú ý phát hiện và loại bỏ phần tử cơ hội Trong đào tạo, nghiên cứu mô hình trường nội trú dân tộc cấp
Trang 16I, cụm xã; đánh giá lại hiệu quả của chế độ cử tuyển đại học Thành lập trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số trong Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các Học viện khu vực Giải quyết những bất cập giữa đào tạo và sử dụng, quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ
Bài viết: “Một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây
Nguyên” của Nguyễn Văn Quý, Bộ Nội Vụ (Webside của Sở Nội vụ Đắk Lắk, 7-3-
2011) cho thấy từ khi có Quyết định số 253/QĐ-TTg ngày 5-3-2003 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Một số giải pháp củng cố, kiện toàn chính
quyền cơ sở vùng Tây Nguyên" giai đoạn 2002-2010, hệ thống chính trị cơ sở ở Tây
Nguyên được củng cố, tăng cường về nhiều mặt; năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ được nâng lên Bên cạnh đó, vẫn còn một số khó khăn: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa ổn định; tỷ lệ hộ đói nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao; trình độ dân trí thấp so với mặt bằng chung của cả nước; an ninh chính trị vẫn tiềm ẩn những nhân tố bất ổn; trình độ của đội ngũ cán bô, công chức cơ sở được nâng lên nhưng năng lực quản lý, điều hành, thuyết phục, tập hợp quần chúng còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Vì vậy, trong giải pháp củng cố, kiện toàn chính quyền cơ sở vững mạnh, tác giả đề cập đến giải pháp quy hoạch tạo nguồn cán bộ và bảo đảm tỷ lệ cơ cấu cán bộ người dân tộc thiểu số trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tương đương với tỷ lệ dân tộc thiểu số trong dân cư Để làm được điều đó phải: Tăng cường kinh phí hàng năm để đào tạo cán
bộ, công chức là người dân tộc, đồng thời bổ sung, hỗ trợ thêm trong việc cử tuyển
đi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ Tăng cường chỉ tiêu cử tuyển trên cơ sở
đề nghị có địa chỉ theo nhu cầu của địa phương Ưu tiên bố trí và sử dụng hết số học sinh, sinh viên người dân tộc sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp về công tác lâu dài ở địa phương Xây dựng, hoàn thiện chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, có chính sách thu hút cán bộ, công chức
có trình độ, có năng lực hoạt động thực tiễn giảng dạy cho đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc Củng cố nâng cấp các trường dân tộc nội trú, các trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 17Sách “Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng các dân tộc thiểu số đối với
chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay - Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Đình Tấn và Trần Thị Bích Hằng (Nxb Chính trị quốc gia,
2010) đưa ra nhiều số liệu điều tra xã hội học đối với vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số ở miền Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, miền Nam Trong đó, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có nhận thức, thái độ và hành vi đối với chính sách dân tộc là thấp nhất, chưa tích cực nhất so với vùng còn lại Các kiến nghị của tập thể tác giả như nâng cao tính tích cực trong nhận thức, thái độ, hành vi của đồng bào dân tộc thiểu số ; phát huy vai trò của cộng đồng, người có uy tín; phối hợp trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể v.v là gợi mở tích cực cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ xã trên từng địa bàn Tây Nguyên có các
công trình sau: Về Gia Lai, có bài viết “Gia Lai coi trọng đào tạo cán bộ nguồn là
người dân tộc thiểu số cho cơ sở” của Trần Ngọc Chi (Tạp chí Xây dựng Đảng điện
tử, 19 9-9-2007) phản ánh chủ trương đào tạo cán bộ nguồn cho cơ sở của Tỉnh ủy qua việc tuyển chọn và mở các khóa dự nguồn hệ trung cấp lý luận chính trị cho học viên là người dân tộc thiểu số Kinh nghiệm tác giả rút ra là phải gắn đào tạo với quy hoạch; gắn đào tạo chính trị song song với chuyên môn; đảm bảo trình độ học vấn của học viên thông qua phát huy trách nhiệm của cấp huyện trong động viên, khuyến khích con em các dân tộc hoàn thành phổ thông trung học
Bài viết “Gia Lai: Tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học về cơ sở công tác
- Kết quả và kinh nghiệm” của Trần Thiết (Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử,
19-9- 2011) phản ánh tình hình sau 2 năm thực hiện Đề án 03 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai về "tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học bố trí về cơ sở công tác", bước đầu cho thấy mục tiêu của công tác này (tăng cường người có trình độ về vùng khó khăn; rèn luyện, thử thách cán bộ để đưa vào quy hoạch tạo nguồn) đang đúng hướng, nhưng để đạt mục tiêu thì phải rút kinh nghiệm để bổ sung, điều chỉnh một số khâu, như: trước khi bố trí sinh viên về xã cần bổ sung cho sinh viên kiến thức về chuyên môn, quản lý nhà nước theo từng nhóm chức danh; xây dựng các
Trang 18văn bản pháp quy về chế độ ưu tiên trong xét tuyển, chuẩn hóa chuyên môn theo chức danh được tuyển dụng hằng năm; phân công cán bộ, đảng viên theo sát, giúp
đỡ các sinh viên tiếp cận với thực tiễn, nhanh chóng hòa nhập vào môi trường công tác mới
Về Lâm Đồng, có bài “Tạo nguồn cán bộ xã ở Lâm Hà” của Viết Trọng
(Lâm Đồng online, 26-12-2010) khái quát lộ trình thực hiện chính sách đào tạo cán
bộ công chức cấp xã của huyện, hướng tới hoàn thiện qui trình đào tạo từ đầu vào cho đến đầu ra, từ việc xác định nhu cầu đào tạo, tạo môi trường làm việc, sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý, đánh giá CB, CC một cách khách quan khoa học
Bài “7 năm thực hiện Quyết định 253/QĐ-TTg: Cán bộ cấp xã đang từng bước “trẻ
hóa” và “chuẩn hóa” của Đức Hưng (Lâm Đồng online, 11- 4-2012) Nói chung
các bài viết đều đứng trên góc độ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để phản ánh kết quả tạo nguồn
Về Đắk Nông, có bài “Kết quả và kinh nghiệm thực hiện công tác dân tộc
trên địa bàn tỉnh Đắk Nông” của Trần Thanh Long (bdt.daknong.gov.vn ngày 15-
11-2012) phản ánh kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ vùng dân tộc theo phương châm “chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách
“trọng dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm với dân” Chú trọng phát huy vai trò người có uy tín trong đồng bào để xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở Trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ngoài kiến thức lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cần có thêm kiến thức về phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tâm lý dân tộc Nhà nước cần có chính sách đào tạo cán bộ dân tộc thiểu
số thông qua các trường phổ thông dân tộc nội trú của huyện và tỉnh Ưu tiên cho cơ
sở chỉ tiêu thu nhận sinh viên dân tộc thiểu số đã qua đào tạo cao đẳng, đại học
Về Kon Tum, có bài “Đảng bộ huyện Kon Plong đào tạo cán bộ dự nguồn
cơ sở” của Huỳnh Trung Kim (Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử, 1-9-2006) phản ánh
một mô hình mới, một cách làm hay: các cơ quan, đơn vị của Huyện tiết kiệm chi ngân sách thường xuyên để nhận đỡ đầu, nuôi dưỡng con em dân tộc thiểu số ở các
xã có trình độ học vấn từ lớp 8/12 trở lên và số cán bộ đương chức còn trẻ, có trình
Trang 19độ học vấn lớp 9 trở lên, trong quy hoạch cán bộ dự nguồn của xã để đào tạo theo hình thức vừa học văn hóa, vừa học lý luận chính trị vừa tập việc Sau đào tạo, các đối tượng được ưu tiên bố trí công tác, nhanh chóng góp phần đảm bảo số lượng và
chất lượng cán bộ cho cơ sở Bài “Công tác đào tạo, bồi dưỡng tạo nguồn cán bộ cơ
sở tỉnh Kon Tum - Thực trạng và giải pháp” (Tham luận của Sở Nội vụ Kon Tum
tại Hội thảo “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số ở Tây
Nguyên” ngày 10-11-2009 do Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum tổ chức) đề
xuất: bên cạnh việc đẩy mạnh dạy bổ túc văn hóa tại chỗ, cần tổ chức đào tạo, bồi dưỡng với các hình thức phù hợp với điều kiện công tác của cán bộ cơ sở như: đào tạo tại chức tại địa phương, kết hợp với dạy bổ túc văn hóa và lý luận chính trị để rút ngắn thời gian đào tạo và giảm chi phí; đào tạo, bồi dưỡng phải gắn liền với qui hoạch, tạo nguồn cán bộ; chú ý chọn các em tốt nghiệp phổ thông các trường dân tộc nội trú để đưa vào qui hoạch, tạo nguồn tại chỗ, đồng thời phải thực hiện tốt việc bố trí sử dụng cán bộ sau đào tạo; sớm khắc phục việc bố trí sử dụng không phù hợp với chuyên môn được đào tạo
Về Đăk Lăk, có bài “Công tác giáo dục dân tộc được nâng cao về chất
lượng” và bài “Nơi tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số” (Webside của Sở Giáo dục
Đào tạo Đăk Lăk) phản ánh thực trạng chất lượng giáo dục con em đồng bào DTTS tại các trường Dân tộc nội trú, khẳng định một mô hình tạo nguồn hay - thông qua
hệ thống trường nội trú, các em không chỉ được chăm lo, bồi dưỡng về văn hóa, thể chất, mà còn được trang bị những kỹ năng cần thiết để trở thành những cán bộ trong tương lai
Tác giả Nguyễn Phú Lập trong bài “Đăk Lăk tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng ở thôn, buôn, tổ dân phố” (Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử, 7-8-2012, trong
đó có nội dung đẩy mạnh việc bồi dưỡng, tạo nguồn để phát triển đảng viên, đặc biệt là ở những thôn, buôn chưa có hoặc ít đảng viên Trong công tác xây dựng và tạo nguồn cán bộ thôn, buôn, tổ dân phố cần tổ chức tốt việc tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng hoạt động; nghiên cứu đề ra những chính sách trợ cấp phù hợp; đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân
Trang 20lực làm cơ sở cho quy hoạch cán bộ từ xa Đây là kết quả của những nghiên cứu thực tế, gắn với từng địa phương cụ thể, luận văn có thể kế thừa để làm rõ tình hình, những yêu cầu đặt ra trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của các tỉnh Tây Nguyên hiện nay Tuy nhiên, các bài viết chú trọng phản ánh hiện tượng, yếu tố lý luận rút ra từ thực tiễn chưa rõ, nên nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo của luận văn là từ tình hình thực tế, từ kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở địa phương, tại những thời điểm nhất định mà khái quát thành lý luận chung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã người DTTS ở Tây Nguyên
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột nhằm chỉ ra các kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Từ đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột nói riêng và tỉnh Đắk Lắk nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ các khái niệm chủ chốt liên quan đến vấn đề thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
- Làm rõ thực trạng quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột trên các khía cạnh như: Số lượng, chất lượng, nhu cầu, mục tiêu, xác định đối tượng, xây dựng chương trình, lựa chọn phương pháp, xây dựng kinh phí và kết quả đào tạo, bồi dưỡng Qua đó, đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế thông qua kết quả đạt được qua quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột
Trang 21hiện nay
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại địa bàn các xã ở thành phố Buôn Ma
Thuột (bao gồm xã Cư Êbua, Hòa Thắng, Ea Tu, Hòa Xuân, Hòa Khánh, Hòa Phú,
Ea Kao, Hòa Thuận)
Phạm vi thời gian: Để tìm hiểu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số, chúng tôi nghiên cứu, cập nhật các số liệu từ năm 2010 đến năm 2017
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, kế thừa tài liệu và thư tịch sẵn có Tác giả thu thập tài liệu dựa trên những tài liệu đã được xuất bản chính thức, những đề tài nghiên cứu có liên quan Số liệu thống kê, các báo cáo tổng kết của Thành ủy, UBND thành phố Buôn Ma Thuột về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức cấp xã trên địa bàn thành phố
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Tác giả sử dụng phương pháp định tính, xây dựng bảng hỏi phỏng vấn sâu kết hợp với phương pháp quan sát để thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu Tác gỉa tiến hành phỏng vấn sâu đối với 25 cán
bộ và 19 công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột
Trang 22- Phương pháp chuyên gia hỏi ý kiến các nhà quản lý, các chuyên gia
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã hệ thống, cung cấp các cứ liệu, góp phần bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu về quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, làm phong phú thêm những nghiên cứu thực nghiệm về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng mang lại những kiến thức mới về quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột, luận văn đã cho thấy vai trò quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã nhằm cung cấp kiến thức để tăng cường năng lực và hiệu quả công tác Qua đó, đánh giá được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu
số trên địa bàn Những kết quả đó góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính sách địa phương tham khảo nhằm đưa ra các giải pháp thiết thực và phù hợp trong quá trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, đặc biệt là cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số ở địa phương
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chính trị về chính sách đào tạo cán bộ, công chức
cấp xã
Chương 2: Thực trạng chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp
xã là người dân tộc thiểu số ở thành phố Buôn Ma Thuột
Chương 3: Phương hướng và giải pháp
Trang 23Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chính trị, khái quát các khái niệm chúng
ta có thể định nghĩa chính trị như sau: Chính trị là hoạt động của các nhóm xã hội
và của cá nhân nhằm nhận thức và thể hiện lợi ích tập thể mâu thuẫn của mình, nhằm hoạch định những quyết định bắt buộc đối với toàn thể xã hội, được thực hiện nhờ quyền lực nhà nước [47, tr.22]
Chính trị không phải luôn tồn tại Sự xuất hiện của nó phản ánh quá trình phức tạp hóa đời sống xã hội được chế định bởi sự phát triển thường xuyên các năng lực của con người và phân công lao động xã hội [47, tr.23] Phạm vi và nội dung của chính trị đã biến đổi về căn bản trong quá trình tiến hóa của xã hội loài người Tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử, trình độ phát triển kinh tế và văn hóa của một xã hội cụ thể, người ta quan tâm tới chức năng xã hội của chính trị, hoặc là tới những phương tiện và những phương thức thực hiện các chức năng của chính trị [47, tr.26] vai trò và ý nghĩa của chính trị như một thiết chế xã hội được quy định bởi những chức năng mà nó hoàn thành trong xã hội Số lượng chức năng có thể khác nhau Các chức năng của chính trị trong một xã hội cụ thể càng nhiều hơn bao nhiêu thì xã hội và bản thân lĩnh vực chính trị chi phối các lĩnh vực khác càng kém phát triển hơn bấy nhiêu [47, tr.32]
Quyền lực, trong ý nghĩa chung nhất, là năng lực và khả năng thực hiện ý chí của mình tác động đến hành động, hành vi của những người khác nhờ phương tiện
Trang 24nào đó, như uy tín, quyền hành, sự cưỡng bức (kinh tế, chính trị, nhà nước, gia đình) Quyền lực là quan hệ giữa những con người (nhóm người, tập đoàn người, cộng đồng người); đó là quan hệ đặc biệt - quan hệ ý chí giữa một bên nhận thức được, ý thức được lợi ích của mình và quyết tâm thực hiện lợi ích đó, thể hiện thành
ý chí; còn bên kia thừa nhận, chấp hành ý chí đó "Sự thừa nhận" là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong khái niệm quyền lực mà thiếu nó chỉ có thể là quyền uy Theo Ph.Ăngghen thì quyền uy lấy sự phục tùng làm tiền đề Quyền lực là sự tác động của chủ thể này đối với chủ thể khác, buộc chủ thể đó phải hành động theo kiểu cần thiết đối với nó
Quyền lực chính trị là quyền lực của một hay liên minh giai cấp, của các lực lượng xã hội để thực hiện sự thống trị hay lợi ích của mình cơ bản bằng nhà nước,
thông qua nhà nước; là năng lực tổ chức và thực thi các giải pháp phân bố giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình trong tương quan nhất định với lợi ích các giai cấp và các lực lượng xã hội khác Bản chất của quyền lực chính trị là quan hệ giữa các giai cấp trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước
Ở nước ta hiện nay quyền lực chính trị thuộc về nhân dân lao động: Quyền lực chính trị của nhân dân lao động là ý chí chung của quần chúng nhân dân lao động, thể hiện ở khả năng thực hiện lợi ích căn bản của những người lao động được thực hiện bằng quyền lực Nhà nước, bằng hoạt động, bằng quyền làm chủ trực tiếp hoặc gián tiếp của quần chúng thông qua sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Cấu trúc thực hiện quyền lực chính trị ở nước ta trên hai mặt: nội dung và thực thể
Về mặt nội dung: cơ chế tạo thành từ ba khâu: Cương lĩnh, đường lối thể hiện mục tiêu chính trị của giai cấp cầm quyền; Hệ thống Hiến pháp, pháp luật với
tư cách là sự thể chế hóa mục tiêu chính trị thành chế tài mang tính pháp lý; Hệ thống tổ chức thực hiện các quy định pháp lý, làm cho mục tiêu chính trị được hiện hóa trong đời sống xã hội
Về mặt thực thể: có ba loại tổ chức tương ứng đó là Chính Đảng của giai cấp cầm quyền; Cơ quan lập pháp do dân bầu cử ủy quyền; Cơ quan hành pháp, tư pháp
Trang 25và các tổ chức chính trị- xã hội trong hệ thống chính trị; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân lao động làm chủ
- xã hội nhằm bảo vệ, duy trì, phát triển xã hội, đảm bảo quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền [46]
Tiếp cận từ góc độ bản chất và tính chỉnh thể: Hệ thống chính trị là hệ thống
thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền, không chỉ gồm các khâu, các
bộ phận hợp thành về mặt tổ chức mà còn bao gồm cả mục tiêu và điều kiện bảo đảm cho các khâu, các bộ phận của hệ thống vận hành được Trong xã hội hiện đại, đứng trên quan điểm chủ quyền nhân dân, khi nói đến hệ thống chính trị là nói đến mặt nội dung của nền dân chủ Do vậy, từ góc độ này, HTCT được hiểu là hệ thống đảm bảo thực hành dân chủ [46]
Tiếp cận từ góc độ cơ chế thực hiện: HTCT là tổng thể các cơ chế đảm bảo
cho sự vận hành của quyền lực chính trị ( cơ chế quyết định đường lối chính trị; cơ chế thực hiện đường lối chính trị; cơ chế tham gia, giám sát việc thực hiện đường lối chính trị) [46]
Một cách cụ thể hơn, HTCT là hệ thống các thiết chế thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội gồm các đảng phái chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập hợp pháp, có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị, có mối quan hệ ràng buộc, tác động lẫn nhau xoay quanh việc tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị [46]
Trang 26Ở Việt Nam, thuật ngữ hệ thống chính trị được sử dụng lần đầu tiên tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, sau đó được chính thức đưa vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ năm 1991 và được sử dụng phổ biến trong các văn kiện của Đảng cũng như trong đời sống chính trị đến nay
Theo quan điểm chính thống thể hiện trong các văn kiện của Đảng ta thì HTCT bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
từ trung ương đến cơ sở, liên quan đến cả cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, bố trí cán bộ, phương thức hoạt động, lề lối làm việc và chế độ, chính sách đãi ngộ rất phức tạp và nhảy cảm [11]
Hệ thống chính trị nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác được thành lập, hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân [23]
Nguồn lực trong hệ thống chính trị:
Nguồn lực thường được hiểu là toàn bộ các yếu tố có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy quá trình vận động, phát triển của sự vật hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội
Khái niệm nguồn lực có phạm vi bao quát rộng, nó hàm chứa không chỉ các yếu tố vật chất, tinh thần đã và đang tạo ra sức mạnh trên thực tế mà cả những yếu
tố mới ở dạng tiềm năng; nó không chỉ nói lên sức mạnh mà còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi phát sinh hay nơi có thể cung cấp sức mạnh; nó phản ánh không chỉ có số lượng mà còn cả chất lượng các yếu tố và sự biến đổi không ngừng của các yếu tố
đó Với cách hiểu này thì nguồn lực là hệ thống các yếu tố cả vật chất và tinh thần
đã, đang và sẽ có khả năng tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần thúc đẩy quá trình
Trang 27cải biến tự nhiên và xã hội của một quốc gia, dân tộc hay một địa phương, đơn vị
Từ khái niệm nguồn lực có thể thấy, nguồn lực trong hệ thống chính trị chính là đội ngũ cán bộ, công chức Vai trò, nhiệm vụ trong hệ thống chính trị được thực hiện như thế nào, đến đâu phụ thuộc trước hết vào nguồn lực cán bộ, công chức, phụ thuộc vào số lượng, chất lượng, cơ cấu cũng như hiệu quả thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức Quá trình phát triển nguồn lực trong hệ thống chính trị là quá trình nâng cao phẩm chất và năng lực hiện có của đội đội ngũ cán bộ, công chức, khơi ngợi và đánh thức những phẩm chất và năng lực tiền tàng trong cán bộ để nó bộc lộ và lan tỏa ra bên ngoài tạo nên những chuyển biến mới trong hoạt động và hiệu quả mới trong thực tiễn
Nguồn lực trong hệ thống chính trị là nhân tố hàng đầu quyết định chất lượng
và hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị Vì vậy, xây dựng và phát triển nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức luôn là công tác trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay
1.1.2 Hệ thống chính trị cấp xã
Hệ thống chính trị cấp xã là tổng thể gồm Đảng bộ cơ sở, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động trong một cơ chế nhất định nhằm thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phát huy quyền làm của nhân dân ở cấp cơ sở
Hệ thống chính trị cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn), là cấp trực tiếp nhất trong hệ thống 4 cấp quản lý hành chính của nước ta hiện nay Hệ thống chính trị cơ sở có một vị trí và vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn hết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo và giữ vững ổn định chính trị - xã hội
để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh
Cấp xã vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo cấp độ của hệ thống chính trị, nhưng nó là cấp trực tiếp nhất, nền tảng xây dựng chế độ dân chủ của toàn
Trang 28bộ hệ thống chính trị của nước ta Vì cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động và cuộc sống của nhân dân, nơi chính quyền gần dân nhất Nơi tổ chức và triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Mọi đường lối, chủ trương có được thực hiện tốt hay không phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã, mà nhất là phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực, trình độ của động ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cấp xã Chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở có ảnh hưởng lớn đến tình cảm, thái độ, niềm tin của nhân dân
Kết cấu hệ thống chính trị cấp xã:
Đảng bộ cơ sở giữ vị trí hạt nhân lãnh đạo chính quyền, đoàn thể và nhân dân nhằm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, trong sạch
Chính quyền địa phương giữ vị trí trung tâm, trụ cột của hệ thống chính trị trực tiếp tổ chức, điều hành, quản lý xã hội đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, Nghị quyết của Đảng bộ cơ sở và nguyện vọng của nhân dân của địa phương
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đại diện và thay mặt nhân dân tham gia quản lý xã hội, quản lý nhà nước ở cơ sở và giám sát hoạt động của chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách, pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở
Nguyên tắc hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở:
Đảng bộ cơ sở, Đảng ủy thay mặt đảng bộ cơ sở lãnh đạo toàn diện bằng nghị quyết, định hướng nhiệm vụ trọng tâm, lựa chọn nhân sự, kiểm tra giám sát quá trình triển khai thực hiện nghị quyết của HĐND và UBND, kiểm tra chính quyền, cán bộ, công chức thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước
Chính quyền địa phương (HĐND và UBND), thực thi chính sách pháp luật của Nhà nước theo thẩm quyền luật định Trực tiếp điều hành, quản lý xã hội duy trì trật tự, an ninh, ổn định chính trị, tổ chức thực hiện kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Trang 29Mặt trận, các đoàn thể nhân dân thay mặt nhân dân tham gia quản lý Nhà nước ở địa phương và giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, cán bộ, đảng viên, công chức ở địa phương Tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Nguồn lực trong hệ thống chính trị cấp xã:
Nguồn lực hệ thống chính trị cấp xã chính là đội ngũ cán bộ công chức Theo quy định của pháp luật hiện hành, cán bộ, công chức là những đối tượng được quy định tại Điều 4, luật cán bộ, công chức Ngoài cán bộ, công chức ở các cấp Trung ương, tỉnh, huyện thì còn một bộ phận là cán bộ, công chức cấp xã Cán bộ, công chức cấp xã được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, cán bộ, công chức cấp xã bao gồm cán bộ cấp xã, công chức cấp xã và những người hoạt động không chuyên trách Theo nghĩa hẹp, cán bộ, công chức cấp xã là những người làm việc cho các cơ quan quản lý nhà nước ở cấp xã bao gồm cán bộ cấp xã
và công chức cấp xã
Theo luật cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ là công dân Việt Nam được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong thường trực HĐND, UBND Họ bao gồm những người giữ các chức vụ bí thư, phó bí thư Đảng ủy xã, chủ tịch, phó chủ tịch HĐND xã, chủ tịch, phó chủ tịch UBND xã, chủ tịch UBMTTQVN xã, bí thư Đoàn Thanh niên, chủ tịch Hội Phụ nữ xã, chủ tịch Hội Nông dân xã, chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã
Theo luật cán bộ, công chức năm 2008, công chức xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Họ bao gồm 7 chức danh thông qua tuyển dụng là Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường; Tài chính - kế toán; Tư pháp
- hộ tịch; Văn hóa - xã hội
Hệ thống chính trị cấp xã bao gồm các tổ chức được pháp luật công nhận như Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
Trang 30đoàn thể chính trị -xã hội (Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam; Hội Cựu chiến binh Việt Nam) Hệ thống chính trị cấp xã đều xây dựng với đầy đủ các tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể Bộ máy, chức danh CB,CC cụ thể trong từng cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị cơ bản thực hiện theo quy định chung, song có những vận dụng phù hợp với yêu cầu của địa phương Thông thường, mỗi xã có 6 chức danh cán bộ chủ chốt được bố trí theo cơ cấu: 2 cán bộ ở cơ quan đảng (1 bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch Hội đồng nhân dân; 1 phó bí thư đảng ủy trực kiêm chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra đảng ủy); 3 cán bộ ở Uỷ ban nhân dân (1 chủ tịch và 2 phó chủ tịch); 1 cán bộ ở Hội đồng nhân dân (phó chủ tịch Hội đồng nhân dân) Những xã vùng có đông đồng bào DTTS, vùng đặc biệt khó khăn, phức tạp về an ninh chính trị thì có thêm 1 cán bộ là phó bí thư đảng uỷ phụ trách mảng dân tộc và tôn giáo hoặc xây dựng cơ sở Có nơi, chức danh chủ tịch Hội đồng nhân dân do phó bí thư đảng ủy kiêm nhiệm, hoặc bí thư đảng uỷ đồng thời là chủ tịch UBND xã Các chức danh: văn phòng - thống kê, địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường, tài chính -
kế toán, tư pháp - hộ tịch, văn hoá - xã hội được bố trí 2 công chức trên mỗi chức danh [42,tr.32, 33]
Đảng bộ xã là tổ chức cơ sở đảng, cấp cuối cùng trong hệ thống tổ chức 4 cấp của hệ thống chính trị nước ta Đảng bộ xã trực thuộc cấp ủy cấp huyện, có cơ quan lãnh đạo giữa hai nhiệm kỳ 5 năm là đảng ủy xã, được bầu cử tại đại hội đại biểu đảng bộ, trong đó bí thư và phó bí thư đảng ủy là hai chức danh cán bộ theo Luật Cán bộ, công chức Đảng bộ xã có hai chức năng: hạt nhân lãnh đạo chính trị
và xây dựng nội bộ đảng trên địa bàn xã Nhiệm vụ của đảng bộ xã là chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề ra chủ trương, nhiệm
vụ chính trị của đảng bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả; xây dựng đảng bộ, các chi bộ trực thuộc đảng ủy, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trên cả ba lĩnh vực chính trị, tư tưởng và tổ chức; xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh, xây dựng Mặt trận và các đoàn thể chính trị
- xã hội trên địa bàn xã trong sạch, vững mạnh; chăm lo đời sống vật
Trang 31chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng
và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh ở xã
Chính quyền xã thuộc cấp chính quyền cơ sở, gồm hai cơ quan là Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã, được bầu cử dân chủ theo nhiệm kỳ 5 năm Trong bộ máy chính quyền cấp xã, có 4 chức danh cán bộ: Chủ tịch, phó chủ tịch HĐND và UBND và 7 chức danh công chức được Luật Cán bộ, công chức quy định thuộc Ủy ban nhân dân Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước của nhân dân ở xã, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng
để phát huy tiềm năng của xã, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, làm tròn nghĩa
vụ của xã đối với cấp trên; giám sát hoạt động của thường trực Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân cấp xã; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang và của công dân trên địa bàn Uỷ ban nhân dân cấp xã là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân xã, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn Với chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp xã góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã là cơ sở chính trị
- xã hội của đảng bộ, chính quyền xã; nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, trách nhiệm và sức mạnh của toàn dân trong việc góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam và trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã là cán bộ xã theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, được hình thành qua con đường bầu cử theo Luật Mặt
Trang 32trận và điều lệ của các đoàn thể Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân trên địa bàn xã; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện thắng lợi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của xã; giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, của CB, CC cấp xã; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền xã; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Các đoàn thể chính trị - xã hội đại diện, chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của cán bộ, đoàn viên, hội viên; tổ chức các hoạt động, tạo môi trường giáo dục, rèn luyện đoàn viên, hội viên nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của xã; phối hợp với chính quyền, các lực lượng khác để xây dựng Đảng vững mạnh Chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị các xã phụ thuộc vào trình độ, năng lực của đội ngũ CB,CC, đồng thời chịu tác động của độ phức tạp ở mỗi địa bàn Bên cạnh sự vững mạnh, đồng bộ trong hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã, thì vẫn còn không ít nơi, nhất là vùng có đông đồng bào DTTS sinh sống, hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã còn những bất cập, hạn chế Có nơi tổ chức đảng bao biện làm thay chính quyền, đoàn thể hoặc buông lỏng lãnh đạo, yếu kém; chính quyền quản lý xã hội không nghiêm, bị luật tục chi phối; Mặt trận và các đoàn thể hoạt động cầm chừng.
1.2 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu
đủ về số lượng, đảm bảo 11 chức danh cán bộ và 7 chức danh công chức, nhưng tính ổn định thấp và chất lượng không đồng đều Cán bộ chịu sự quy
Trang 33định của nhiệm kỳ, của độ tuổi làm việc, của chủ trương luân chuyển, điều động nên luôn có sự biến động, phải thường xuyên sắp xiếp, bố trí lại Tính chất công việc của công chức ổn định hơn, nhưng những người nằm trong quy hoạch nguồn cán bộ vẫn có sự thay đổi vị trí khi thực hiện luân chuyển hoặc
bổ nhiệm giữa nhiệm kỳ Yêu cầu về chuẩn trình độ đối với các chức danh cán
bộ, công chức khác nhau nên chất lượng công tác của mỗi người cũng khác nhau
Đội ngũ cán bộ, công chức xã là người DTTS gắn liền với vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quan hệ của mỗi người trong hệ thống chính trị xã, trên địa bàn dân cư họ sinh sống cán bộ, công chức cấp xã là người góp phần xây dựng
và trực tiếp tổ chức cho nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ở xã Họ là những người đi đầu trong việc tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân đoàn kết, đồng lòng thực hiện chủ trương, chính sách
Cán bộ, công chức xã tạo nên sự hài hòa, cân bằng về chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp xã Nơi nào bố trí cán bộ, công chức với những chức danh phù hợp với thế mạnh của họ, nơi ấy hoạt động của hệ thống chính trị thuận lợi và có hiệu quả
Theo Nghị định về công tác dân tộc năm 2011, dân tộc thiểu số là những dân tộc
có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vị lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có số dân dưới 10.000 người
Từ khái niệm cán bộ, công chức xã và khái niệm DTTS, có thể hiểu một cách khái quát khái niệm cán bộ, công chức cấp xã là người DTTS như sau:
Cán bộ cấp xã người DTTS là những người dân tộc thiểu số được bầu cử giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong thường trực HĐND, UBND, người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở cơ sở, bao gồm bí thư Đoàn Thanh niên, chủ tịch Hội Phụ nữ, chủ tịch Hội Nông dân và chủ tịch Hội Cựu chiến binh [45, tr.45]
Công chức cấp xã người DTTS là những người dân tộc thiểu số được
Trang 34tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND xã; bao gồm: trưởng Công an; chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường; Tài chính - kế toán; Tư pháp -
hộ tịch; Văn hóa - xã hội [45, tr.45]
1.2.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
Theo từ điển Tiếng Việt năm 2008 – Nhà xuất bản Đà Nẵng: “Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” Theo Nghị định
số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức có giải thích, “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” Như vậy, đào tạo được hiểu là quá trình truyền thụ kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ, thông qua đào tạo có thể tiếp nhận những tri thức, kỹ năng mới nhằm giúp đội ngũ cán bộ được đào tạo không chỉ văn bằng cao hơn trình độ trước đó mà còn có thể thực hiện
có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ trong công việc của mình
Đào tạo có quan hệ mật thiết với giáo dục Giáo dục là sự dạy dỗ đối với con người, nhằm cung cấp và chuyển giao một khối lượng kiến thức nhất định, các giá trị văn hóa, chuẩn mực xã hội để làm cho con người trở thành thành viên hợp cách của xã hội Đào tạo là giáo dục chuyên sâu, là quá trình học tập của con người để có kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc trong các lĩnh vực nhất định, ở một trình
độ nhất định
Đào tạo có những đặc điểm như sau:
Là quá trình tổ chức học tập có hệ thống Đào tạo được tổ chức theo một quy trình cụ thể, với những bước đi, thời gian thích hợp, có nội dung, chương trình đào tạo và yêu cầu đặt ra đối với giảng viên, học viên theo từng giai đoạn, được đánh giá qua các bài giảng, sự tiếp thu, các bài kiểm tra, thi tốt nghiệp Các yếu tố trong quá trình đào tạo nói trên tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất Tính thống nhất là đặc điểm không thể thiếu được của đào tạo
Đào tạo cán bộ, công chức không chỉ giúp cho cán bộ, công chức phát triển
Trang 35năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra mà còn trang bị những phương pháp, kỹ năng tạo nền mống cho cán bộ, công chức tiếp thu những kiến thức mới, trí tuệ nhân loại, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của xã hội
Theo từ điển Tiếng Việt năm 2008 - Nhà xuất bản Đà Nẵng: “Bồi dưỡng là tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhât, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” Như vậy, bồi dưỡng
là quá trình làm tăng thêm về trình độ hiểu biết, tư cách đạo đức, phẩm chất chính trị của con người Bồi dưỡng nhằm mục đích bổ sung kiến thức, thông qua quá trình bồi dưỡng sẽ giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức được bồi dưỡng nâng dần trình
độ, chất lượng công tác, đáp ững yêu cầu nhiệm vụ được giao
Có thể khẳng định rằng, hai khái niệm đào tạo và bồi dưỡng có nội hàm gần giống nhau Trong đào tạo đã bao hàm nghĩa bồi dưỡng, đào tạo khác bồi dưỡng ở chỗ đào tạo chỉ quá trình trang bị những kiến thức, kỹ năng mới mà trước đó cán bộ, công chức chưa được đào tạo Bồi dưỡng là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, quá trình tăng cường năng lực trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo Hoạt động bồi dưỡng
có nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới kiến thức, kỹ năng, thái độ cho cán bộ, công chức để thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn những nhiệm vụ được giao
Đào tạo và bồi dưỡng được tách ra thành hai khái niệm chỉ để phân tích sự giống và khác nhau Trên thực tế, xét theo khung cảnh thì đào tạo đã bao hàm cả bồi dưỡng Xét về mặt thời gian, đào tạo thường có thời gian dài hơn bồi dưỡng, thường thì thời gian đào tạo ít nhất là 1 năm trở lên còn bồi dưỡng thì thời gian ngắn hơn Xét về bằng cấp thì đào tạo có bằng cấp hoặc chứng chỉ chứng nhận trình độ đã được đào tạo, bồi dưỡng thường chỉ có chứng chỉ hoặc chứng nhận đã học qua khóa bồi dưỡng
Như vây, khái niệm đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tổ chức cho đội ngũ cán
bộ, công chức học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ công tác, giúp cho tổ chức đạt được mục tiêu về nguồn lực chất lượng cao
Trang 36Từ các khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thì đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số có thể hiểu như sau: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số là toàn bộ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số nhằm giúp họ nâng cao năng lực, trình độ để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Hay nói cách khác, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức người dân tộc thiểu
số được xác định là một quá trình có kế hoạch, làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc
kỹ năng của cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số thông qua việc học tập, rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó
Trong công tác cán bộ, tiêu chuẩn đối với từng chức danh cho cán bộ, công chức cấp xã như sau:
Đối với Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy, Chi ủy cơ sở xã:
Về trình độ: Giáo dục phổ thông: Tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học bổ túc Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp chính trị trở lên Chuyên môn, nghiệp vụ: Phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu tham gia giữ chức vụ từ đầu phải có trình độ trung cấp trở lên Đã qua bồi dưỡng một trong những nội dung như công tác xây dựng Đảng, công tác quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế [39, tr 36] Về năng lực: Có năng lực tổ chức quản lý, lãnh đạo, điều hành và tổng kết thực tiễn, đề ra được phương án và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước ở địa phương Có khả năng tập hợp cán bộ, quần chúng và nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước[39, tr 36] Về điều kiện: Những cán bộ lần đầu tham gia cấp ủy phải đủ tuổi để có thể công tác từ hai nhiệm kỳ trở lên hoặc
ít nhất phải trọn một nhiệm kỳ; phấn đấu từng bước thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán
bộ chủ chốt ở cơ sở [39, tr 36]
Đối với chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn xã, Chủ tịch cac đoàn thể:
Trang 37Về trình độ giáo dục phổ thông: Có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên Bí thư đoàn thanh niên phải tốt nghiệp phổ thông hoặc bổ túc trung học Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp hoặc tương đương trở lên Chuyên môn nghiệp vụ: Đã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với lĩnh vực công tác được phân công cán bộ đảm nhiệm[39, tr 38] Về năng lực: Có ý thức trách nhiệm và tinh thần đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Đối với các chức danh chủ chốt Ủy ban MTTQ và của đoàn thể phải có khả năng xây dựng, vận động và tập hợp hội viên, quần chúng dân dân thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương [39, tr 38]
Về độ tuổi: Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân nói chung thực hiện theo đúng bộ luật lao động Khi tham gia giữ chức vụ lần đầu không quá 55 tuổi đối với nam, không quá 50 tuổi đối với nữ Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh không quá 30 tuổi khi tham gia giữ chức vụ công tác Chủ tịch Hội Cựu chiến binh không quá 60 tuổi khi tham gia giữ chức vụ công tác [39, tr 38]
Đối với Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân:
Về trình độ: Giáo dục phổ thông: Tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học bổ túc; Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp trở lên; Chuyên môn nghiệp vụ: Phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế, kiến thức và kỹ năng hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân xã Về năng lực: Là cán bộ chuyên trách của Hội đồng nhân dân
xã, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp xã, đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, an ninh chính trị, trật
tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã [39, tr.39] Về độ tuổi: Tuổi tham gia nhiệm kỳ đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ
Đối với Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân:
Về trình độ: Giáo dục phổ thông: Tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học bổ túc; Lý luận chính trị: Có trình độ trung cấp trở lên; Chuyên môn nghiệp vụ: Phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên, đén sau năm 2010 phải có trình độ
Trang 38đại học Ngành chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính xã Đã qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế [39, tr.40] Về năng lực: Là cán bộ chuyên trách lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo điều hành hoạt động quản lý Nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng đã được phân cấp trên địa bàn xã [39, tr.40] Về độ tuổi: Tuổi tham gia nhiệm kỳ đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ
Tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số, khi đề bạt, bổ nhiệm thì căn cứ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để xem xét quyết định Tiêu chuẩn cho từng chức danh cán bộ trên đây là căn cứ để tiến hành quy hoạch cho từng chức danh cán bộ, có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ cũng như đề bạt bổ nhiệm bố trí, sắp xiếp và sử dụng cán bộ đúng quy định
Vai trò của cán bộ, công chức trong việc củng cố hệ thống chính trị cấp xã:
Cấp xã là đơn vị hành chính thấp nhất trong bốn cấp của hệ thống chính trị ở nước ta, có vị trí vô cùng quan trọng Cấp xã, phường, thị trấn ( gọi chung là cấp xã)
là cầu nối trực tiếp thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước với nhân dân
Cấp xã là đơn vị hành chính sâu sát trực tiếp với nhân dân, am hiểu phong tục tập quán, văn hóa truyền thống của nhân dân các dân tộc sinh sống ở địa phương Vì thế, cấp xã là cấp trực tiếp giải quyết tất cả các công việc liên quan đến dân một cách có hiệu quả nhất
Hệ thống chính trị cấp xã là nơi tổ chức giải quyết mọi khúc mắc của nhân dân, đồng thời là nơi trực tiếp thu nhận, lắng nghe ý kiến, mọi nhu cầu, nguyện vọng của người dân lên các cơ quan cấp trên để giải quyết
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vị trí, vai trò quan trọng Họ là những người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lóp nhân dân, làm cho nhân dân hiểu đúng, hiểu đầy đủ để không vi phạm các chính sách mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có vai trò quan trọng trong
Trang 39định hướng, khuyến khích, điều tiết, kiểm soát, hỗ trợ, tạo cơ chế thuận lợi cho các hoạt động, tạo lập các điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, góp phần nâng cao trình độ nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số Hệ thống chính sách đào tạo, bồi dưỡng đồng
bộ, thống nhất, phù hợp yêu cầu thực tiễn sẽ là công cụ quan trọng quyết định thành công sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng Vì vậy, chính sách luôn là công cụ định hướng cho sự phát triển, giúp cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo tính thống nhất, công bằng trong thụ hưởng các chế độ đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đồng thời tạo động lực để đội ngũ cán bộ, công chức yên tâm học tập, nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, vận dụng kiến thức vào thực
tế một cách có hiệu quả hơn
Tiểu kết chương 1
Đào tạo, bồi dưỡng là hoạt động nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng, năng lực quản lý, điều hành và thực thi công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã nhằm xây dựng đội ngũ thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu quyết định thành công sự nghiệp phát triển của đất nước trong giai đoạn mới
Việc nghiên cứu cơ sở lý luận chính trị về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói chung, cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số nói riêng để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu, tìm hiểu thực tế ở địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột Đây là cũng là chương khái quát cơ sở lý luận, làm tiền đề nghiên cứu cho chương tiếp theo
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở THÀNH PHỐ BUÔN
MA THUỘT
2.1.1 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên
Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh Đắk Lắk, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng – an ninh của vùng Tây Nguyên Thành phố Buôn Ma Thuột có diện tích tự nhiên là 37.718
ha chiếm khoảng 2,87% diện tích tự nhiên tỉnh Đắk Lắk Ranh giới hành chính được xác định như sau: Phía Bắc giáp huyện Cư M’Gar; phía Nam giáp huyện Krông Ana, Cư Kuin; phía Đông giáp huyện Krông Pắk; phía Tây giáp huyện Buôn Đôn và Cư Jút (tỉnh Đắk Nông) Thành phố Buôn Ma Thuột bao gồm 13 phường
và 8 xã Khu trung tâm bao gồm các phường Tân Tiến, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thành Công, Tân Lợi, Tự An, Tân Lập, Tân Thành Khu cận trung tâm, gồm các phường: Khánh Xuân, Tân Hòa, Thành Nhất, Ea Tam, Tân An Khu ven nội, gồm các phường, xã: Cư Êbur, Hòa Thắng, Hòa Khánh, Hòa Thuận, Ea Tu, Ea Kao, Hòa Phú, Hòa Xuân Trong tổng số 21 xã, phường của thành phố, có 248 thôn, buôn, tổ dân phố (gồm 73 thôn, 33 buôn và 143 tổ dân phố) Dân số tính đến năm 2015, có 360.828 người, gồm 40 dân tộc anh em cùng sinh sống với 57.786 người, chiếm 16,35% dân số toàn thành phố[40]
- Điều kiện tự nhiên
Địa hình: Thành phố Buôn Ma Thuột nằm trong vùng cao nguyên phía Tây
của dãy Trường Sơn, có độ cao trung bình 500 m so với mặt nước biển, địa hình dốc thoải 50 - 100 từ Đông sang Tây, chênh lệch về độ cao nhiều như vậy khiến cho
hệ sinh thái động thực vật biến đổi phong phú
Khí hậu: Thành phố Buôn Ma Thuột chịu chi phối của khí hậu nhiệt đới gió
mùa, nhưng đồng thời cũng chịu ảnh hưởng mạnh của tiểu vùng khí hậu cao nguyên