1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHIẾN LƯỢC CUNG CẦU CỦA NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM

13 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 507,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHIẾN LƯỢC CUNG CẦU CỦA NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM Quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam là phát triển ngành dầu khí đồng bộ, trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, dựa trên t

Trang 1

CHIẾN LƯỢC CUNG CẦU CỦA NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM

Quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam là phát triển ngành dầu khí đồng bộ, trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, dựa trên tiềm năng dầu khí trong nước và ở nước ngoài; sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước, đồng thời tích cực đầu tư tìm kiếm, thăm dò ra nước ngoài, khai thác nhanh nguồn tài nguyên ngoài nước để bổ sung sự thiếu hụt từ khai thác trong nước Hiện nay, các hoạt động của ngành dầu khí Việt Nam bao gồm tìm kiếm, thăm dò dầu khí; khai thác dầu khí; công nghiệp khí và kinh doanh các sản phẩm dầu khí; dịch vụ kỹ thuật và chế biến dầu khí Đây được xem là những lĩnh vực cốt lõi của ngành dầu khí Việt Nam

1 Chiến lược trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò dầu khí

Đây là giai đoạn nghiên cứu địa chất, địa vật lý Tùy từng vùng địa chất cũng như phương pháp tìm kiếm, thăm dò để áp dụng các phương pháp công nghệ và kỹ thuật khác nhau như khảo sát địa chất, từ, trọng lực, điện, địa hóa, địa chấn, khoan Trên cơ sở đó lập bản đồ cấu trúc địa chất dầu khí Dựa vào kết quả các phương pháp tìm kiếm, thăm dò nêu trên để đánh giá hệ thống dầu khí, các vùng có cấu tạo triển vọng và đánh giá sơ bộ tiềm năng dầu khí của các cấu tạo này làm cơ sở để triển khai công tác thăm dò tiếp theo

Với những điều kiện của hoạt động dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam, hiện nay công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí được thực hiện bằng các tàu địa chấn, tàu khoan và giàn khoan tự nâng Để đánh giá và lập hồ sơ công nghệ mỏ sau khi khoan thăm dò phát hiện dầu khí cần phải khoan thẩm lượng Sau khi khoan thẩm lượng thì xác định được trữ lượng và cần đánh giá khả năng thương mại của phát hiện dầu khí Nếu phát hiện dầu khí có giá trị thương mại thì lập kế hoạch phát triển tổng thể làm cơ sở triển khai việc phát triển mỏ, bao gồm xây dựng các giàn khoan khai thác, hệ thống thu gom xử lý, hệ thống tách dầu - khí – nước, khoan các giếng khoan phát triển và khai thác

Thời gian qua, ngành dầu khí Việt Nam đã tích cực triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí được thực hiện bằng việc khảo sát điều tra cơ bản ở những vùng nhạy cảm thông qua việc đầu tư tàu địa chấn 2D (Bình Minh) để tổ chức khảo

Trang 2

sát địa chấn tại khu vực Phú Quốc và Lô 156, Lô 159 cho nhà thầu ExxonMobil (Mỹ), thực hiện chương trình hợp tác khảo sát địa chấn ba bên Việt Nam - Trung Quốc - Philíppin và hợp tác hai bên Việt Nam - Trung Quốc tại những khu vực nhạy cảm Hoàn thành việc khảo sát địa chấn phục vụ cho xác định ranh giới biển ngoài thềm lục địa, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ biên giới và an ninh trên biển của Việt Nam Đôn đốc các nhà thầu dầu khí thực hiện công tác khảo sát điều tra cơ bản theo đúng cam kết, giai đoạn 2006 - 2010, các nhà thầu tổ chức thu nổ trên 112.000 km địa chấn 2D và trên 24.000 km: địa chấn 3D; trong đó ở trong nước thu nổ được trên 92.000 km địa chấn 2D và hơn 23.000 km2 địa chấn 3D Ở nước ngoài, thu nổ hơn 6.800 km địa chấn 2D và hơn 2.000 km địa chấn 3D Đã có

17 phát hiện dầu khí mới, trong đó ở trong nước, có 12 phát hiện và ở nước ngoài

có 5 phát hiện (3 phát hiện Lô SK 305 và 2 phát hiện Lô PM 304 ở Malaixia) Trọng năm 2015, riêng Vietsovpetro đã khoan 5 giếng thăm dò và đều có phát hiện thương mại; thực hiện 78.100 m khoan, kết thúc thi công 26 giếng và thực hiện sửa chữa lớn 62 lượt giếng khoan

Đến nay, ngành dầu khí Việt Nam đã ký được tổng SCM 114 hợp đồng dầu khí (còn hiệu lực cũng như hết hiệu lực), trong đó có 90 hợp đồng ở trong nước,-

24 hợp đồng ở nước ngoài và 3 thỏaa thuận hợp tác chung trong lĩnh vực dầu khí với các công ty dầu khí quốc gia của Nicaragoa, Bolivia, Cuba, ký kết 2 thỏa thuận nghiên cứu chung về tiềm năng dầu khí tại thềm lục địa của Nicaragoa Thành lập Liên doanh khai thác và nâng cấp dầu Lô Junin 2 tại Vênêxuêla, thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Liên doanh Rusvietpetro với Tổng Công ty cổ phần mỏ OAO Zarubezhneft (Liên bang Nga) để tiến hành công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại khu tự trị Nhenhexky (Liên bang Nga), thành lập Công ty Liên doanh Gaspromviet với Tập đoàn Dầu khí Gazprom (Nga) để tiến hành công tác tìm kiếm, thăm dò tại khu vực mỏ Nagumanov ở Liên bang Nga và thành lập Liên doanh điều hành chung phát triển khai thác Lô 433a & 416b (Angiêri)

2 Lĩnh vực khai thác dầu khí

Có nhiều công nghệ khai thác khác nhau tùy thuộc vào áp suất vỉa, tính chất hóa lý của dầu, độ thẩm của vỉa Thông thường, khi bắt đầu đưa giếng vào khai thác do áp suất vỉa ban đầu lớn nên giếng thường tự phun và dòng sản phẩm bao

Trang 3

gồm dầu, khí, nước và các tạp chất khác được chuyển lên theo các ông dẫn khai thác, qua hệ thống xử lý tách dầu - khí nước Vì áp suất ở đầu giếng lớn nên dòng dầu tự chảy, khi chạy qua bình tách, một phần khí đồng hành đươc tách ra khỏi hỗn hơp dầu Khí đồng hành một phần qua hệ thống ngưng tụ tạo thành khí ngưng tụ (condensate), phần khí dư thừa khác được truyền qua hệ thống đuốc để đốt, những hỗn hợp dầu nước và các tạp chất khác được chuyển tới bình chứa Tại bình chứa này, khí được tiếp tục tách ra khỏi dầu và nước, do áp suất ở bình này nhỏ hơn bình tách nên khí đồng hành hầu như được tách hết khỏi nước và dầu Sau khi dầu đươc tách khỏi nước và các tạp chất cơ học, dùng các máy ly tâm có công suất phù hợp

để bơm dầu từ các bình chứa ở các giàn tới các tàu chứa dầu

Dầu khí của Việt Nam bắt đầu được khai thác từ năm 1986 Bước sang đầu những năm 2000, sản lượng hằng năm đạt khoảng 15-16 triệu tấn, tức khoảng 210.000 - 215.000 thùng/ngày, chủ yếu được khai thác từ mỏ Bạch Hổ Trữ lượng dầu của Việt Nam, theo tính toán mang tính tối ưu nhất thì sẽ đạt khoảng 2,7 tỷ thùng, nhưng với mức khai thác 215.000 thùng/ngày, khả năng sẽ không còn dầu để khai thác trong vòng chưa đầy 30 năm nữa

Thời gian qua, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã đưa 14 mỏ mối vào khai thác, trong đó, 11 mỏ ở trong nước gồm mỏ Rồng Đôi/Rồng Đôi Tây (Lô 11-2), Cá Ngừ Vàng (Lô; 09-2), Phương Đông (Lô 15-2), Sư Tử Vàng (Lô 15-1), Sông Đốc (Lô 46-02), mỏ khí và mỏ dầu Bunga Orkid (Lô PM 3-CAA), Nam Rồng - Đồi Mồi (Lô 09-3 và 09-1), Pearl (Lô 01-02), Sư Tử Đen Đông Bắc, Topaz (Lô 01, 02), Lan Tây (Lô 06-1); 3 mỏ ở nước ngoài gồm mỏ Cendor (Lô 1 PM 304), mỏ D30 Lô SK 305 (Malaixia) và mỏ Nhenheski (Nga) Triển khai công tác phát triển mỏ đối với các

mỏ Sư Tử Trắng, giai đoạn 2 phát triển mỏ Đại Hùng, mỏ Hải Thạch - Mộc Tinh (Lô 05-2 và Lô 05-3), mỏ Tế Giác Trắng (Lô 16-1), mỏ Hải Sư Trắng và Hải Sư Đen (Lô 15-2/01), mỏ Chim Sáo, Dừa -Lô 12W, mỏ BRSL (Lô 433a & 416b) (Angiêri)

Tuy nhiên, từ năm 2005, sản lượng khai thác đã bắt đầu giảm dần do dầu ở

mỏ Bạch Hổ đã qua thời kỳ cho sản lượng cao Sản lượng dầu khai thác bình quân toàn Tập đoàn năm 2005 là 250.000 thùng/ngày, trong khi năm 2004 sản lượng khai thác là 270.000 thùng/ngày Đến năm 2007 còn dưới 211.000 thùng/ngày, tức

Trang 4

là không đến 16 triệu tấn/năm sản lượng dầu dựa vào mỏ Sư Tử Trắng được hy vọng sẽ tăng vào năm 2008 với trữ lượng theo báo cáo là rất lớn, nhưng khi đi vào khai thác, sản lượng lại rất ít do cấu trúc địa chất phức tạp, vì vậy sản lượng dầu chỉ đạt 15 triệu tấn/năm, giảm gần một triệu tấn so với năm 2007

Tương tự, hiện nguồn khí đốt khai thác gần bờ có chi phí thấp đáng dần suy giảm, các mỏ khí chuẩn bị khai thác lại xa bờ, chi phí cao, và dự báo chỉ trong vòng 2-3 năm tới, nguồn khí “giá rẻ” sẽ không còn đủ để cung cấp cho khu vực miền Nam Cụ thể, theo một báo cáo từ Tổng Công ty khí Việt Nam (PV Gas), ngành công nghiệp khí Việt Nam đang đối mặt với các thách thức từ khai thác, phân phối đến giá của khí Trong đó, các mỏ khí có giá trị khai thác thấp, dưới 5 USD/triệu BTU đang dần suy giảm sản lượng, một số mỏ khí chuẩn bị khai thác lại xa bờ, có chi phí phân phối cao lên đến gần 10 USD/triệu BTU Dự đoán đến năm 2018, các

mỏ khí có giá thấp có thể sẽ suy giảm đến mức độ phải ngừng cung cấp khí cho toàn bộ các vùng Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ

Biểu 1: Các mỏ mới được Petrovietnam đưa vào khai thác, giai đoạn 1986

-2015

Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam), năm 2015

Mặc dù vậy, các mỏ dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiếp tục được khai thác an toàn, kết quả khai thác dầu khí 5 năm 2006-2010 đạt tổng sản lượng là

Trang 5

118,24 triệu tấn quy dầu, trong đó, khai thác dầu đạt 79 47 triệu tấn (ở trong nước đạt 78,92 triệu tấn và ở nước ngoài đạt 0,55 triệu tấn) và khai thác khí đạt 38 77 tỷ m3 Tại hội nghị tổng kết năm 2015, đánh giá giai đoạn 2011-2015, Tập đoàn cho biết đã đưa 37 mỏ/công trình mới vào khai thác (trong đó có 12 mỏ/công trình nước ngoài) và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng như duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu đạt 10%/năm, đóng góp cho ngân sách khoảng 10,1 tỷ USD Petrovietnam cũng công bố, trong 5 năm 2011-2015, tổng sản lượng dầu khai thác

là 85 triệu tấn, tổng sản lượng khí đã khai thác là 50 tỷ m3, tổng sản lượng quy dầu

là 135 triệu tấn; riêng năm 2015, tổng sản lượng khai thác cả năm đạt 29,42 triệu tấn dầu quy đổi, đã tăng trữ lượng lên 40,5 triệu tấn dầu quy đổi từ cả các mỏ mối được đưa vào khai thác giai đoạn 2012-2015 Trong giai đoạn 2010-2015, Tập đoàn

đã ký 37 hợp đồng dầu khí mới và nhiều thỏa thuận hợp tác quan trọng trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở trong và ngoài nước với các công ty dầu khí quốc tế; có 19 phát hiện dầu khí mới, gia tăng trữ lượng dầu khí vượt trên 15% kế hoạch, đưa 29 mỏ/công trình mới vào khai thác

Biểu 2: Tổng sản lượng khai thác dầu khí của Việt Nam, giai đoạn 1986 -2015

Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam), năm 2015

Trang 6

Riêng đối với Công ty Vietsovpetro, trong công tác khai thác dầu, năm 2015 Vietsovpetro khai thác 5,2 triệu 1 tấn dầu Cùng với dầu thô, Vietsovpetro đã cung cấp vào bờ hơn 1,4 tỷ m3 khí Doanh thu bán dầu cả năm đạt 2,19 tỷ USD

2 Chiến lược phát triển trong lĩnh vực công nghiệp khí và kinh doanh các sản phẩm dầu khí

Công nghiệp khí và kinh doanh các sản phẩm dầu khí là một bộ phận quan trong của ngành dầu khí Việt Nam Trong chuỗi giá trị của ngành dầu khí thì kinh doanh các sản phẩm dầu khí là khâu đưa sản phẩm đã được chế biến từ các nhà máy lọc hóa dầu, nhà máy điện, nhà máy xử lý khí tới người sử dụng Hiện tại, hệ thống phân phối này được thực hiện chủ yếu bằng hai kênh là kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối gián tiếp Ngoài ra, trong kinh doanh các sản phẩm dầu khí còn phải tính tới việc xây dựng hệ thống kho cảng, tàng trữ và hệ thống vận chuyển một cách hoàn chỉnh, đồng bộ Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOil) và Tổng Công ty Thương mại và Kỹ thuật Dầu khí (PETEC) là hai đơn vị thành viên của Petrovietnam có chức năng kinh doanh và phân phối xăng dầu tại Việt Nam và một

số nước trong khu vực như Lào, Campuchia

Hiện Petrovietnam tiếp tục vận hành an toàn và hiệu quả đường ống dẫn khí Rạng Đông Bạch Hổ - Bà Rịa - Vũng Tàu, đường ống Nam Côn Sơn và đã hoàn thành đầu tư và đưa vào vận hành đường ông dẫn khí PM3 - Cà Mau dể phục vụ cho vận hành các nhà máy điện tại khu vực Cà Mau và đường ống dẫn khí Phú Mỹ

- Nhơn Trạch để phục vụ cho vận hành Nhà máy điện Nhơn Trạch , hoàn thành đấu nối đường ống dẫn khí Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, hệ thống thu gom khí đồng hành

và Gasliít mỏ Rồng - Đồi Mồi, đường ống thu gom khí vòm Bắc Bạch Hổ vào đường Ống Rạng Đông - Bạch Hổ Trong 5 năm 2006-2010, Petrovietnam đã cung

phẩm khí hóa lỏng (LPG) và 385.000 tấn condensate

Các dự án đường ống dẫn khí Lô B Ô Môn, đường ống dẫn khí kết nối Đông

và Tây Nam Bộ, hệ thống kho chứa LNG, LPG, đường ống dẫn khí thứ hai từ bể Nam Côn Sơn, công tác xúc tiến đầu tư các dự án khí ở nước ngoài, đã và đang được triển khai tích cực các thủ tục đầu tư để sớm đưa vào phục vụ phát triển kinh

tế đất nước Theo quy hoạch phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam đến năm

Trang 7

2015 và định hướng đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm

khí ngoài khơi đang được triển khai hiện nay gồm Lô B-52, Hải Thạch - Mộc Tinh, Thiên Ưng - Mãng Cầu, đường ống dẫn khí Lô B - Ô Môn, Nam Côn Sơn nhà máy chế biến khí tại Cà Mau và một số dự án thu gom khí như Hải Sư Đen, Hải Sư Trắng, Tế Giác Trắng,

3 Chiến lược trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật và chế biến dầu khí

Thăm dò và khai thác dầu khí là hoạt động cốt lõi của ngành công nghiệp dầu khí, gắn liền với nó là đầu tư cao, chi phí lớn, rủi ro cao và lợi nhuận lớn, nên công ty dầu khí nào cũng phát triển mạnh mẽ Do việc thăm dò, khai thác dầu khí

từ dưới sâu của lòng đất và thường ở sa mạc hoặc ngoài biển khơi nên đòi hỏi thiết

bị hiện đại và công nghệ tiên tiến Bởi vậy, sẽ là không hiệu quả khi các công ty dầu khí đầu tư để sử dụng một cách đơn lẻ Từ đó, xuất hiện các công ty chuyên cung cấp các loại dịch vụ kỹ thuật dầu khí cho các công ty dầu khí Họ tập trung đầu tư nghiên cứu và chế tạo ra các thiết bị hiện đại nhất, tiên tiến nhất đáp ứng mọi yêu cầu thực tế trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí

Các hoạt động dịch vụ dầu khí luôn được các nhà đầu tư quan tâm vì chúng mang lại lợi nhuận hấp dẫn và ít rủi ro Đặc biệt, khi giá dầu ngày càng tăng cao thì các công ty dầu khí liên tục gia tăng đầu tư vào tìm kiếm thăm dò, do đó làm cho các công ty cung cấp dịch vụ kỹ thuật lại càng phát triển Hoạt động dịch vụ kỹ thuật dầu khí là một bộ phận hữu cơ của ngành dầu khí gắn liền với cả ba khâu thượng nguồn, trung nguồn, hạ nguồn và mang lại chuỗi giá trị liên tục

Trong 5 năm 2006-2010, doanh thu trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí của Việt Nam đạt 384,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 27% tổng doanh thu của toàn Tập đoàn Doanh thu trong lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí của Việt Nam giai đoạn 2010-2015 đã đạt mức 1.170 nghìn tỷ đồng, tăng với tốc độ 9%/năm và chiếm 32% doanh thu của Tập đoàn Hầu hết các loại hình dịch vụ kỹ thuật dầu khí ở nước ta đều có bước phát triển mạnh, đặc biệt một số lĩnh vực dịch vụ đã có sự tăng trưởng

và phát triển rất tốt như dịch vụ kỹ thuật dầu khí (có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 26,1%/năm), dịch vụ khoan dầu khí bình quân (có tốc độ tăng đạt 38,2%/năm), ngoài ra các lĩnh vực dịch vụ khác như tài chính (có tốc độ tăng 60,4%/năm), bảo

Trang 8

hiểm (có tốc độ tăng 32,5%/năm), xây lắp (có tốc độ tăng 167,4%/năm), vận tải (có tốc độ tăng 58,6%/năm)

Trong những năm tới, ngành dầu khí Việt Nam tiếp tục tích cực mở rộng và phát triển các loại dịch vụ kỹ thuật mới nhằm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nâng cao chất lượng để mở rộng thị phần, tăng doanh thu và tạo việc làm cho người lao động, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động dầu khí, đồng thời mở rộng thị trường dịch vụ sang các nước trong khu vực và trên thế giới Hầu hết các dịch

vụ kỹ thuật dầu khí được thực hiện bỏi các đơn vị có năng lực cạnh tranh tốt, đáp ứng yêu cầu dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao Tiến độ đầu tư các dự án trọng điểm được giám sát chặt chẽ, bảo đảm tiến độ đề ra

Đồng thời với lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật dầu khí, ở Việt Nam, việc đầu tư phát triển trong lĩnh vực chế biến dầu khí được đẩy mạnh và đã thu được nhiều kết quả quan trọng Việt Nam đã chính thức có sản phẩm xăng dầu sản xuất trong nước của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất từ tháng 309 Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đã vận hành nhà máy Lọc dầu Dung Quất đạt hiệu quả trong những năm qua, đặc biệt trong năm 2015, đạt được kế hoạch sản lượng trước 50 ngày, với doanh thu đạt gần 95.000 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 20.300 tỷ đồng, lợi nhuận đạt gần 6.000 tỷ đồng Việc BSR đạt lợi nhuận cao là một thành công lớn cuối năm

2015 là năm “đen tối” đối với thị trường dầu Về kế hoạch năm 2016, BSR đưa ra chỉ tiêu sản xuất đạt trên 5,83 triệu tấn sản phẩm các loại, doanh thu đạt trên 82.000

tỷ đồng; nộp ngân sách trên 15.700 tỷ đồng (thấp hơn so với năm 2015 do giá xăng dầu giảm sâu)

Nhiều năm qua, Chính phủ đã ban hành và hoàn thiện cơ chế cho Dung Quất được giữ lại một “giá trị ưu dãi” theo mức thuế nhập khẩu (3% đối với sản phẩm hóa dầu, 5% đối với khí LPG, 7% đối với xăng dầu) Có nghĩa là trước khi bán ra thị trường, sản phẩm của Dung Quất dược cộng vào giá bán 3-7% thuế nhập khẩu (tùy sản phẩm) Tháng 11-2015, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam muốn tăng mức ưu đãi này khi đề nghị giảm thuế nhập khẩu dầu diezen sản xuất ở Nhà máy Lọc dầu Dung Quất từ 10% xuống 7% vì “sắp hết chỗ chứa hàng tồn kho” Bên cạnh đó, Nhà máy Đạm Phú Mỹ, Đạm Cà Mau được vận hành an toàn và ổn định, hằng năm đáp ứng khoảng 60-65% nhu cầu phân urê ở Việt Nam, góp phần tích cực ổn định

Trang 9

thị trường, tiết kiệm hàng trăm triệu đôla Mỹ do không phải nhập khẩu phân đạm từ nước ngoài, hỗ trợ đắc lực cho phát triển sản xuất nông nghiệp và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia

Ngoài ra, Petrovietnam cũng đang đẩy mạnh xây dựng các nhà máy sản xuất xăng dầu từ nhiên liệu sinh học như dự án nhà máy ethanol Phú Thọ, ethanol Dung Quất (Quảng Ngãi) và ethanol Bình Phước Các dự án nâng cấp Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, xây dựng Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa), Nhà máy Lọc dầu Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàụ), Tổhợp Hóa dầu miền Nam, Nhà máy sản xuất

xơ sợi tổng hợp polyester, nghiên cứu đầu tư hợp tác với các đối tác để xây dựng nhà máy sản xuất amoniac, sản xuất phân bón ở nước ngoài, đang được tích cực triển khai

4 Dầu khí đối với an ninh năng lưọmg quốc gia, đảm bảo mục tiêu tăng trường và phát triển kinh tế ở Việt Nam

Trong thời gian qua, đã xuất hiện những yếu tố mới không thuận lợi cho hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam như: (i) Nền kinh tế thế giới biến động mạnh, tình trạng lạm phát, suy giảm/suy thoái kinh tế toàn cầu đã có nhiều tác động đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dầu khí nói riêng, đặc biệt là giai đoạn từ đầu năm 2008 đến nửa đầu năm 2014 khi giá dầu tăng cao

và giai đoạn từ nửa cuối năm 2014 trở lại đây khi giá dầu lại giảm xuống mức thấp

kỷ lục; (ii) Việc thực hiện chưa đầy đủ cơ chế tài chính theo tinh thần kết luận số 41-KL/TW của Bộ Chính trị (phần lãi dầu nước chủ nhà để lại cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) ảnh hưởng đến việc đầu tư của ngành; (iii) Việc tiếp nhận 5 dự án điện than có vốn đầu tư lớn; 5 dự án chuyển từ Vinashin về có hiệu quả rất thấp; tình trạng Tập đoàn Điện lực Việt Nam nợ tiền điện kéo dài; (iv) Các dự án nhiên liệu sinh học Quảng Ngãi, Bình Phước đã được đầu tư đi vào sản xuất nhưng không tiêu thụ được sản phẩm; (v) Một số nguồn vốn đầu tư của Tập đoàn (trên 70.800 tỷ đồng) vào các đơn vị không được hạch toán lợi nhuận hoặc chưa đem lại lợi nhuận

do những yếu tố khách quan đã ảnh hưởng đến hiểu quả sản xuất kinh doanh chung của Tập đoàn

Nguyên nhân của tình hình trên là do: (i) Công tác dự báo chưa thật chính xác, để ra kế hoạch khai thác dầu thô cao hơn khả năng thực tế; (ii) Tình hình

Trang 10

khủng hoảng kinh tế thế giới và khó khăn của kinh tế trong nước Điều kiện triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ngày càng khó khăn đòi hỏi chi phí cao so với trước; (iii) Sự can thiệp của nước ngoài ở Biển Đông gây cản trở cho hoạt động tìm kiếm và thăm dò; (iv) Sự mất ổn định về chính trị ở chính những khu vực có trữ lượng tiềm năng dầu khí lớn (Trung Đông, Nam Mỹ) dẫn tới việc tìm kiếm những

dự án dầu khí tốt ở nước ngoài để đầu tư gặp nhiều khó khăn; (v) Nhận thức về mô hình kinh doanh đa ngành chưa thống nhất, mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước đang trong giai đoạn thí điểm, hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ, Điều lệ hoạt động và quy chế tài chính của Công ty mẹ - Tập đoàn chưa tạo được sự chủ động và năng động cho Tập đoàn hoạt động theo Luật doanh nghiệp sửa đổi (2014)

Bởi vậy, có thể nói Việt Nam hiện chưa có một chiến lược chủ động và toàn diện gồm các giải pháp bảo đảm an ninh cung ứng xăng dầu cho mục tiêu phát triển kinh tế, một mảng rất quan trọng về an ninh năng lượng quốc gia trong khi dầu mỏ

ở nước ta được khai thác từ những năm 80 của thế kỷ XX với sản lượng đã đạt khoảng 16-17 triệu tấn/năm Sản lượng khai thác dầu khí chưa đạt mục tiêu chiến lược đề ra Trong quá trình xây dựng Tập đoàn theo mô hình kinh tế công nghiệp - thương mại - tài chính, tuy phù hợp với định hướng chiến lược, Điều lệ của Tập đoàn và không trái với chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhưng đã xảy ra tình trạng phát triển nhanh ở một số lĩnh vực xa ngành nghề chính nên hiệu quả chưa cao

Vấn đề đồng quan tâm là ở chỗ, toàn bộ nhu cầu sản phẩm xăng dầu cho nền kinh tế Việt Nam và cho hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải đường

bộ, đường thủy, đường không của nước ta lại lệ thuộc 100% vào nhập khẩu từ nước ngoài với giá cao và bị động theo giá của thị trường xăng dầu thế giới Năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 15,7 tấn dầu thô, đổi lại phải nhập khẩu 12 triệu tấn xăng dầu (tương đương 18-20 triệu tấn dầu thô) với giá cao hơn nhiều lần giá dầu xuất khẩu (vì để sản xuất được 1 tấn xăng dầu tinh chế phải cần đến 1,5-1,7 tấn dầu thô) Do đó, tiền bán dầu thô không đủ để nhập xăng dầu tinh chế về sử dụng Nghịch lý này thật chua chát ví như ta sản xuất được thóc lúa nhưng phải bán đi giá

rẻ và nhập gạo giá cao về ăn đong hằng ngày Điều đó làm cho an ninh dầu mỏ

Ngày đăng: 15/06/2018, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w