Khái niệm Công cụ quản lý TNMT là tập hợp các biện pháp hoạt động về pháp luật, chính sách, kinh tế, kỹ thuật và xã hội nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững kt-xh..
Trang 1Chương 4:
Công cụ quản lý TNMT
Ngô Trí Dũng Viện Tài nguyên và Môi trường – ĐH Huế
Trang 2Khái niệm
Công cụ quản lý TNMT là tập hợp các biện pháp hoạt động về pháp luật, chính sách, kinh tế, kỹ thuật và xã hội nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững kt-xh
Mục tiêu quản lý môi trường:
trong hoạt động sống của con người
triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống,
nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội
các vùng lãnh thổ Các công cụ trên phải thích hợp cho từng
ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư
Quan niệm: Chính phủ có trách nhiệm trong việc bảo vệ sức
khỏe, phúc lợi và môi trường xã hội, tránh những rủi ro do ô
nhiễm gây ra
Các cơ quan điều hành đặt ra các luật lệ, quy định, tiêu chuẩn môi trường (chỉ tiêu) và đòi hỏi những kẻ gây ô nhiễm phải tuân theo, nếu không sẽ bị phạt
Trang 4Phân loại
1 Theo chức năng
Công cụ điều chỉnh vĩ mô: bao gồm luật pháp và chính sách giúp
điều chỉnh các hoạt động sản xuất gây phát sinh ô nhiễm;
Công cụ hành động: tác động trực tiếp bằng mệnh lệnh hành
chính, quy định xử phạt, công cụ kinh tế
Công cụ phụ trợ: không điều chỉnh/tác động trực tiếp tới hoạt
động (kiểm toán MT, quan trắc MT, GIS ứng dụng)
2 Theo bản chất công cụ:
Công cụ luật pháp chính sách: luật quốc tế, quốc gia; văn bản
dưới luật; kế hoạch chính sách quốc gia, địa phương;
Công cụ kinh tế: các loại thuế, phí đánh vào thu nhập, chỉ có tác
dụng trong nền kinh tế thị trường
Công cụ kỹ thuật quản lý: đánh giá MT, giám sát MT, xử lý chất
thải, tái chế
Trang 8(1) Công cụ luật pháp chính sách
bảo vệ môi trường được đề cập trong các văn bản luật khác:
Luật Khoáng sản, Luật dầu khí, Luật hàng hải, Luật đất đai, Luật lao động, Luật BVPTR;
Chính sách môi trường: tập hợp các chủ trương, biện pháp
mang tính chiến lược/thời đoạn nhằm giải quyết một nhiệm vụ môi trường cụ thể (NĐ 179/2013/NĐ-CP) về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Kế hoạch hoá môi trường: đảm bảo sự phát triển bền vững, tái tạo tiềm năng, nguồn lực cho các giai đoạn phát triển cao hơn
Tiêu chuẩn môi trường: là những chuẩn mực, giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ quản lý môi trường (theo luật BVMT của VN) Bao gồm: tiêu chuẩn nước, không khí, đất canh tác, BVTV, bảo vệ nguồn gen, bảo vệ cảnh quan, kt khoáng sản
Trang 10(1) Thuế phí bảo vệ môi trường
hoạt động của nhà nước, không chỉ chi riêng cho công tác BVMT
phí thường xuyên và ko thường xuyên đối với công tác
quản lý Khác với thuế mt phần lớn kinh phí thu phí sẽ
được sử dụng, điều phối lại cho công tác quản lý, BVMT
người được hưởng lợi hoặc sử dụng 1dịch vụ nào đó do
nhà nước hoặc 1 cơ quan được nhà nước cho phép cung cấp Lệ phí mt phần nào khác phí mt ở chỗ, muốn thu lệ phí
mt phải chỉ rõ lợi ích của dịch vụ mà người trả lệ phí được hưởng
Trang 11(2) Phí phát thải
gây tiếng ồn
ô nhiễm và chi phí tác hại gây cho mt
Thích hợp với những điều kiện ô nhiễm ở địa điểm cố định, phát thải có thể giam sát được
Trang 12(3) Phí đánh vào sản phẩm
trong các quy trình sản xuất, hoặc tiêu thụ hay loại thải nó
mt có liên quan đến sản phẩm đó
vào
kích thích các cơ sở giảm hoặc thay thế các nguyên nhiên liệu khác ít gây ô nhiễm hơn
dụng với các chất thải nguy hiểm
Trang 13(4) Quota: kiểm soát phát thải ô nhiễm
khoảng thời gian và không gian nhất định
khả thi cao
tương đối công bằng
để giảm thiểu chi phí phát thải
nhiễm cao, còn chất thải sẽ được xử lý ở nhà máy có chi phí xử lý thấp hơn
Trang 14(5) Hệ thống ký thác – hoàn trả
năng gây ô nhiễm
được trả lại
làm sạch hoặc phục hồi được trả từ số tiền ký thác, cam kết
đó
để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và
công tác bảo vệ môi trường
khắc phục môi trường nếu gây ô nhiễm hoặc suy thoái MT
Trang 15(6) Nhãn sinh thái cho sản phẩm
phẩm không gây ô nhiễm môi trường, an toàn sức khỏe
loại sản phẩm và thành lập được tổ chức có uy tín, có trình
độ khoa học cao,
Việc lựa chọn công cụ hay nhóm công cụ phục thuộc vào nhiều điều kiện, không chỉ là hiệu quả kinh tế mà những
điều mà nhiều khi các nhà phân tích chính sách thường bỏ qua
Vấn đề quan trọng là ở chỗ nhóm các công cụ được lựa
chọn vừa có hiệu quả kinh tế, vừa có tính công bằng, khả thi về mặt quản lý, tin cậy và thực sự góp phần cải thiện Mt