Xuất phát từ thực tiễn muốn góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán và xây dựng dữ liệu giúp nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực siêu âm thú y, được sự đồng ý của khoa Chăn Nuôi-Thú Y và Chi cục
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN THAI VÀ BỆNH LÝ TRÊN HỆ SINH DỤC CHÓ CÁI
Họ và tên sinh viên : VÕ THỊ HẢI LINH
Niên khóa : 2003 – 2008
Tháng 9/2008
Trang 2ỨNG DỤNG KỸ THUẬT SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN THAI VÀ BỆNH LÝ TRÊN HỆ SINH DỤC CHÓ CÁI
Tháng 09/2008
Trang 3Cám ơn các cô chú, anh chị tại Trạm Chẩn đoán - Xét nghiệm và Điều trị, Chi cục Thú
y TP.HCM đã quan tâm, giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi – Thú Y
Cùng toàn thể thầy cô khoa Chăn nuôi Thú y và khoa Khoa Học trường ĐH Nông Lâm TP.HCM đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tại trường Cám ơn anh chị, bạn bè và tập thể lớp Thú Y K29 đã gắn bó và chia sẻ cùng tôi những vui buồn trong suốt quãng đường đại học
VÕ THỊ HẢI LINH
Trang 4
TÓM TẮT
Đề tài được thực hiện từ ngày 14/2/2008 đến 14/6/2008 tại Trạm Chẩn đoán- Xét nghiệm và Điều trị Chi cục Thú y Thành Phố Hồ Chí Minh Chúng tôi đã tiến hành ghi nhận tất cả những chó cái được đem đến siêu âm tại Trạm có dấu hiệu bệnh
lý trên hệ sinh dục và các chó được đem đến siêu âm thai
Trong 592 ca siêu âm thai có 559 ca siêu âm chẩn đoán sự mang thai và 33 ca siêu âm kiểm tra tình trạng chó mẹ sau khi sinh
Kết quả chẩn đoán bằng siêu âm xác định có 421 chó cái mang thai trong tổng
số 559 chó được chỉ định chẩn đoán siêu âm thai (75,31%) Trong đó có 364/421 ca thai sống, 46/421 ca thai chết, thai sống + chết có 9/421 ca và 2/421 ca túi thai không phát triển Thông qua việc xác định tần số tim thai hiển thị trên màn hình siêu âm, ta
có thể đánh giá sự sống hoặc chết của thai Kết quả cũng cho thấy có138/559 ca không
có thai trong đó có 21/138 ca thai giả và 117/138 ca siêu âm không có sự hiện diện của túi thai
Siêu âm để kiểm tra tình trạng của chó mẹ sau khi sinh có 33 ca Trong đó có 8
ca lưu thai (24,24%), 9/33 ca sót nhau (27,27%) và 16/33 ca không còn thai (48,49%)
Siêu âm phát hiện thai sớm vào giai đoạn thứ hai của kì mang thai (từ 25-30 ngày sau khi được phối giống) Siêu âm thai giai đoạn dưới 30 ngày có 14/421 ca chiếm tỷ lệ 3,33%, thai từ 30 – 40 ngày có 72/421 ca chiếm tỷ lệ 17,1%, có 335 thai trên 40 ngày (79,57%) Kết quả chẩn đoán bằng siêu âm phù hợp với kết quả thực tế
Bệnh lý hệ sinh dục chiếm 16,57% tổng số ca siêu âm tổng quát khảo sát trên chó cái Trong đó viêm tử cung có 114/125 ca chiếm tỷ lệ cao nhất (91,2%), u nang buồng trứng có 3/125 ca (2,4%), u tử cung chiếm 4/125 ca (3,2%) và tồn hoàng thể chiếm 4/125 ca (3,2%)
Với phương pháp siêu âm đã giúp chẩn đoán chính xác hơn những bệnh lý trên
hệ sinh dục chó, góp phần vào sự phát triển của ngành Thú y
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt luận văn iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình x
Danh sách các biểu đồ xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH 2
1.3 YÊU CẦU 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ SIÊU ÂM 3
2.1.1 Lịch sử của phương pháp chụp siêu âm 3
2.1.2 Vật lý học của sóng âm 4
2.1.2.1 Định nghĩa 4
2.1.2.2 Cơ sở vật lý của phương pháp ghi hình siêu âm và các yếu tố quyết định 5
2.1.3 Kỹ thuật và phương pháp tạo hình siêu âm 7
2.1.3.1 Nguyên lý cơ bản 7
2.1.3.2 Các hình thức thể hiện 7
2.1.3.3 Độ phân giải của ảnh 8
2.1.4 Máy siêu âm 8
2.1.4.1 Đầu dò 9
2.1.4.2 Thân máy 12
2.1.4.3 Thiết bị xuất 13
2.1.5 Một số thuật ngữ siêu âm 13
2.1.5.1 Hình bờ 13
2.1.5.2 Hình cấu trúc 14
Trang 62.1.5.3 Độ hồi âm (mức độ phản âm) 14
2.1.5.4 Mật độ của mô 15
2.1.6 Các hiện tượng hay gặp 15
2.1.7 Khái niệm về mặt cắt 17
2.1.8 Sự an toàn của các thiết bị siêu âm chẩn đoán 17
2.1.9 Các ưu - khuyết điểm của phương pháp siêu âm 17
2.1.10 Các sai lầm thường gặp khi sử dụng máy siêu âm 18
2.2 GIẢI PHẪU CƠ THỂ HỌC CƠ QUAN SINH DỤC CHÓ CÁI 18
2.2.1 Buồng trứng 18
2.2.1.1 Hình thái 18
2.2.1.2 Cấu tạo 18
2.2.2 Ống dẫn trứng 19
2.2.3 Tử cung 19
2.2.3.1 Kích thước và hình dạng bên ngoài 19
2.2.3.2 Cấu tạo tử cung 20
2.2.4 Âm đạo 21
2.2.5 Tiền đình 21
2.2.6 Âm hộ 21
2.2.7 Dây rộng 21
2.2.8 Tuyến vú 22
2.3 SINH LÝ SINH SẢN - CHU KỲ ĐỘNG DỤC 22
2.3.1 Giai đoạn tiền động dục 22
2.3.2 Giai đoạn động dục 22
2.3.3 Giai đoạn sau động dục 23
2.3.4 Giai đoạn nghỉ ngơi 23
2.3.5 Giai đoạn mang thai 23
2.4 KỸ THUẬT SIÊU ÂM 23
2.4.1 Chẩn đoán thai và sự phát triển của thai 23
2.4.2 Hình ảnh siêu âm buồng trứng bình thường 26
2.4.3 Hình ảnh siêu âm tử cung bình thường 27 2.5 LƯỢC DUYỆT VÀI CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 28
Trang 72.5.1 Các nghiên cứu trong nước 28
2.5.2 Các nghiên cứu ngoài nước 28
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 29
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN KHẢO SÁT 29
3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 29
3.3 PHƯƠNG TIỆN CHẨN ĐOÁN 29
3.3.1 Thiết bị- Vật liệu 29
3.3.2 Phương pháp thực hiện 29
3.3.3 Tiến hành siêu âm 31
3.4 ĐO VÀ ƯỚC LƯỢNG TUỔI THAI 31
3.5 SIÊU ÂM BUỒNG TRỨNG - TỬ CUNG 32
3.5.1 Tiến hành siêu âm buồng trứng- tử cung 32
3.5.2 Bệnh lý mắc phải của tử cung và buồng trứng khi siêu âm 33
3.5.2.1 Bệnh u nang buồng trứng 33
3.5.2.2 Viêm tử cung 33
3.5.2.3 Ung thư tử cung 34
3.6 XỬ LÝ SỐ LIỆU 34
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 SIÊU ÂM THAI 35
4.1.1 Siêu âm chẩn đoán sự mang thai 35
4.1.2 Kiểm tra sau khi sanh 38
4.1.3 Tỷ lệ mang thai theo độ tuổi 39
4.1.4 Thời điểm siêu âm thai 40
4.1.5 Siêu âm tính tuổi thai và dự đoán ngày sinh 42
4.2 BỆNH LÝ Ở CƠ QUAN SINH DỤC 44
4.2.1 U nang buồng trứng 44
4.2.2 Khối u tử cung 45
4.2.3 Tồn hoàng thể 46
4.2.4 Viêm tử cung 46
4.2.4.1 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa tuổi 47
4.2.4.2 Các dạng viêm tử cung 48
Trang 84.3 HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ 50
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 KẾT LUẬN 53
5.2 ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 57
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ALARA : As low as reasonably acceptable
BD : Body Diameter
C : Vận tốc lan truyền của sóng âm
CRL : Crown- Rump Length
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: So sánh tính năng các loại đầu dò 11
Bảng 2.2: Sự phát triển của thai 26
Bảng 4.1: Phân loại các trường hợp trong siêu âm thai 35
Bảng 4.2: Kiểm tra sau khi sanh 38
Bảng 4.3: Tỷ lệ mang thai theo độ tuổi 39
Bảng 4.4: Thời gian phát hiện thai 40
Bảng 4.5: Thời điểm sinh 42
Bảng 4.6: Kết quả dự đoán ngày sinh theo nhóm giống 43
Bảng 4.7: Kết quả siêu âm bệnh lý trên hệ sinh dục 44
Bảng 4.8: Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa tuổi 47
Bảng 4.9: Tỷ lệ xuất hiện các dạng viêm tử cung 48
Bảng 4.10: Tỷ lệ điều trị khỏi bệnh 51
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Đầu dò Linear 10
Hình 2.2: Đầu dò Convex 10
Hình 2.3: Đầu dò Sector 11
Hình 2.4: Hình Bờ 14
Hình 2.5: Hồi âm trống 15
Hình 2.6: Hiện tượng bóng âm và tăng âm 16
Hình 2.7: Cấu tạo tử cung của chó 20
Hình 2.8: Hình ảnh tử cung sau khi sinh 27
Hình 3.1: Đo đường kính lưỡng đỉnh 32
Hình 3.2: Đo đường kính thân 32
Hình 4.1: Túi thai không phát triển 36
Hình 4.2: Thai chết lưu 37
Hình 4.3: Triển dưỡng tử cung 37
Hình 4.4: Hình ảnh sót nhau 39
Hình 4.5: Túi thai 28 ngày 41
Hình 4.6: Thai 45 ngày 43
Hình 4.7: Thai 57 ngày 42
Hình 4.8: Hình ảnh u nang buồng trứng 45
Hình 4.9: Khối u tử cung 45
Hình 4.10: Tồn hoàng thể 46
Hình 4.11: Hình viêm tử cung và thai chết 48
Hình 4.12: Viêm tử cung dạng viêm kín 49
Hình 4.13: Viêm tử cung dạng hở 50
Trang 12DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Tình trạng sau khi sanh 38
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ mang thai theo độ tuổi 40
Biểu đồ 4.3: Thời điểm sinh 42
Biểu đồ 4.4: Kết quả dự đoán thời điểm sinh 43
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ siêu âm bệnh lý trên đường sinh dục 44
Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa tuổi 47
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây đạt mức tăng trưởng khá cao Với mức tăng trưởng cao về kinh tế đã dẫn đến mức sống của người dân, đặc biệt
là người dân thành phố được nâng lên một cách rõ rệt Nhu cầu về giải trí ngày càng tăng Nhiều người dân chọn việc nuôi thú kiểng để tiêu khiển và giải tỏa căng thẳng sau những ngày làm việc vất vả Những con vật đáng yêu đã trở thành những người bạn thân không thể thiếu trong đời sống của họ Chính việc nuôi chó, mèo kiểng phát triển và ngày càng phổ biến như hiện nay đã kéo theo nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, điều trị bệnh ngày một gia tăng Việc chẩn đoán bệnh trước đây chủ yếu dựa trên lâm sàng, ít quan tâm đến chẩn đoán phi lâm sàng Với phương pháp siêu âm, bác sĩ có thể chẩn đoán nhanh sự thay đổi về mặt cấu trúc của các cơ quan trong cơ thể để từ đó đưa
ra phương pháp điều trị nhanh chóng và hiệu quả
Tuy nhiên hiện nay siêu âm vẫn chưa được đưa vào giảng dạy trong các trường Đại Học có đào tạo về Thú y tại Việt Nam Số lượng đề tài nghiên cứu còn ít, tài liệu giảng dạy không nhiều Do đó ứng dụng siêu âm trong công tác chẩn đoán trên thú trong nước chưa phổ biến
Xuất phát từ thực tiễn muốn góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán và xây dựng dữ liệu giúp nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực siêu âm thú y, được sự đồng ý của khoa Chăn Nuôi-Thú Y và Chi cục Thú y TPHCM, dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Văn Phát và BSTY Vũ Kim Chiến, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Ứng dụng kỹ thuật siêu âm trong chẩn đoán thai và bệnh lý trên hệ sinh dục chó cái”
Trang 14Siêu âm thai: Phát hiện có thai, chẩn đoán tình trạng mang thai, tính tuổi thai,
dự đoán ngày sinh
Kiểm tra tình trạng chó sau khi sinh: lưu thai, sót nhau
Xác định tỷ lệ chó cái có bệnh lí trên đường sinh dục bằng phương pháp siêu
âm
Theo dõi quá trình điều trị của những chó cái có bệnh lí trên đường sinh dục sau siêu âm
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ SIÊU ÂM
2.1.1 Lịch sử của phương pháp chụp siêu âm
Phương pháp chụp siêu âm là một trong những đổi mới trọng đại về ghi hình trong y học trong những năm 1970 Nó dựa trên nguyên tắc thăm dò cơ thể người nhờ các sóng siêu âm Phương pháp xét nghiệm không gây thương tổn này tuy chi phí hơi cao nhưng bù lại đã thu được kết quả nhờ những tiến bộ rất nhanh chóng về mặt kỹ thuật (theo Bonnin và cộng sự, 1997)
Năm 1880, Pierre và Marie Curie đã phát hiện ra nguyên lý về khả năng của các tinh thể áp điện tạo ra được sóng siêu âm và đã đặt tên là Nguyên lý áp điện
Năm 1889, D’Arsonval (Pháp) đo sự dẫn truyền của siêu âm trong mô người sống
Năm 1916, Langevin đã khai thác nguyên lý áp điện vào việc chế tạo các bộ phận chuyển đổi siêu âm đầu tiên có đầu dò thạch anh dùng phát hiện các đối tượng tàu ngầm
Sokolov (1929) và Firestone (1945) đã dùng siêu âm để phát hiện các vết nứt trong kim loại
Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai (1939-1945), siêu âm được áp dụng vào việc thăm dò tàu ngầm và được gọi là Sonar (Sound Navigation Ranging) Trong y học sau chiến tranh, siêu âm được áp dụng trong điều trị bệnh Hội nghị tổng kết những kinh nghiệm điều trị bằng siêu âm đã được tổ chức tại Đức vào năm 1950 (Hoàng Kỷ, 2001)
Về mặt chẩn đoán, năm 1940, Dussik (Áo) đã thử ghi hình của sọ bằng năng lượng còn lại của chùm tia siêu âm sau khi xuyên qua hộp sọ nhưng không đạt được kết quả mỹ mãn (Hoàng Kỷ, 2001)
Trang 16Năm 1950, Viện nghiên cứu của Hải quân Mỹ đã thử dò sỏi mật bằng máy Sonar để thu sóng siêu âm được phản xạ về gọi là âm vang Sau đó bắt đầu có các công trình về áp dụng siêu âm các kiểu khác nhau Năm 1952, Howery và Wild đã trình diễn kết quả xét nghiệm các mô sinh học bằng phương pháp chụp sóng siêu âm phản hồi Năm 1953, Hertz và Edler - một kỹ sư và một bác sĩ người Thụy Điển - đã lần đầu tiên ghi hình được van hai lá hẹp bằng phương pháp siêu âm kiểu TM (Time Motion Mode) Trong những năm 60, kỹ thuật chẩn đoán bằng siêu âm đã được phát triển tại Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản Từ thập niên 70 trở đi, siêu âm đã có nhiều tiến bộ
về mặt kỹ thuật cho phép nó trở thành một trong những phương pháp chẩn đoán có giá trị và không gây nguy hại cho người bệnh (Hoàng Kỷ, 2001)
Hiện nay, ngành Y khoa đã sử dụng siêu âm kiểu một chiều (1D), hai chiều (2D), ba chiều (3D) phối hợp thêm với Hiệu ứng Doppler đen trắng - màu giúp chẩn đoán chính xác và điều trị bệnh trên các tạng trong cơ thể người (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Ở nước ta vào năm 2000, lần đầu tiên máy siêu âm chuyên dùng cho Thú y đã được đưa vào hoạt động tại Trạm Chẩn đoán-Xét nghiệm và Điều trị (trực thuộc Chi cục Thú y TPHCM) Từ đó, siêu âm đã giúp ích rất nhiều cho công tác chẩn đoán các bệnh vùng xoang bụng cũng như phát hiện thai trên chó, mèo đến khám và điều trị tại Trạm
2.1.2 Vật lý học của sóng âm
2.1.2.1 Định nghĩa
Các môi trường chất đàn hồi (khí, lỏng hay rắn) có thể coi như những môi trường liên tục gồm những phần tử liên kết chặt chẽ với nhau Lúc bình thường, mỗi phần tử có một vị trí cân bằng bền Nếu tác động một lực lên một phần tử nào đó của môi trường thì phần tử đó sẽ rời khỏi vị trí cân bằng bền của nó Do tương tác tạo nên bởi các mối liên kết với các phần tử ở bên cạnh, một mặt phần tử đó sẽ bị kéo về vị trí cân bằng, một mặt lại chịu tác dụng bởi lực tác động nên nó chuyển động qua lại vị trí cân bằng và kéo theo chuyển động của các phần tử kế cạnh Dạng dao động cơ - có tính chất lặp đi lặp lại - lan truyền trong môi trường đàn hồi được gọi là sóng đàn hồi hay sóng cơ Nói cách khác, sóng là hiện tượng vật lý trong đó năng lượng được dẫn
Trang 17truyền dưới dạng dao động của các phần tử vật chất (dẫn liệu của Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Về bản chất, sóng âm là sóng cơ học, do đó có quy luật hoạt động tương tự sóng cơ, có thể tạo ra sóng âm bằng cách tác động một lực cơ học vào môi trường truyền âm Đơn vị của sóng âm là Hertz (Hz) - là tần số biểu thị chấn động trong thời gian một giây (1s)
Nếu phân loại theo phương pháp dao động, người ta chia sóng âm làm hai loại: sóng dọc và sóng ngang
Khi phân loại theo tần số (f), sóng âm được chia làm ba dải tần số chính:
Sóng âm tần số cực thấp hay còn gọi là vùng hạ âm (Infrasound) với f < 16Hz
Sóng âm tần số nghe thấy (Audible sound) với f = 16-20.000Hz
Sóng siêu âm (Ultrasound) với f > 20.000Hz
Sóng siêu âm ứng dụng trong Y học có tần số từ 700.000Hz đến 50 triệu Hz, trong đó siêu âm chẩn đoán sử dụng các tần số từ 2 triệu Hz đến 50 triệu Hz (dẫn liệu của Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
2.1.2.2 Cơ sở vật lý của phương pháp ghi hình siêu âm và các yếu tố quyết định
Theo Nguyễn Phước Bảo Quân (2002), cơ sở của kỹ thuật ghi hình siêu âm chính là sự tương tác của tia siêu âm với các tổ chức trong cơ thể Sự tương tác này phụ thuộc vào:
Vận tốc truyền của sóng siêu âm (C)
Vận tốc lan truyền C của sóng phụ thuộc vào mật độ ρ và vào vận tốc đàn hồi E của môi trường lan truyền Trong các mô mềm, vận tốc lan truyền gần như nhau (ví dụ: Cnước= 1540m/s, Cmỡ = 1450m/s, Cbắp cơ = 1600m/s, Cgan = 1550 m/s) Ngược lại, vận tốc lan truyền trong không khí hay trong xương lại khác hẳn nhau (Ckhông khí = 330m/s, Cxương = 3000-4000m/s)
Trở kháng âm của môi trường (z)
Trở kháng âm của môi trường là độ vang hay độ dội của sóng âm trong môi trường
Trở kháng âm được tính bằng công thức:
z = c × ρ
Trong đó: ρ = (kg/m3) - mật độ của môi trường
Trang 18C = (m/s) - vận tốc lan truyền của sóng âm trong môi trường
Trở kháng âm của môi trường có vai trò quyết định đối với biên độ của sóng phản xạ trên mặt phân cách giữa hai môi trường
Hiện tượng khúc xạ là hiện tượng sóng truyền tiếp không cùng hướng với sóng tới
Hiện tượng phản xạ toàn phần là hiện tượng mà sóng âm sẽ không khúc xạ được sang môi trường thứ hai bên kia mặt phân cách và toàn bộ năng lượng được phản
xạ trở lại môi trường thứ nhất
Sự tán xạ
Một hiện tượng quan trọng khác trong tạo hình bằng siêu âm là hiện tượng tán
xạ của tia siêu âm khi gặp cấu trúc nhỏ hoặc với bề mặt không đồng đều Khi đó tia siêu âm sẽ bị tán xạ đi khắp hướng, và chỉ một phần nhỏ chắc chắn tới được đầu dò
Tuy việc ghi nhận các tia tán xạ rất khó khăn nhưng chúng có lợi thế là không phụ thuộc vào góc tới của tia siêu âm và rất quan trọng trong việc đánh giá các cấu trúc nhỏ (ví dụ như đánh giá độ đồng đều của nhu mô gan, tụy hay vách liên thất…)
Các máy siêu âm chẩn đoán ngày nay chủ yếu làm việc trên tia tán xạ
Giảm âm và khuếch tán bù
Năng lượng của sóng siêu âm bị giảm dần trên đường lan truyền trong các mô Các cơ chế của giảm âm rất đa dạng Đó là những tương tác mà trong đó năng lượng chùm tia tới được lấy bớt dần để truyền lại theo nhiều hướng khác nhau (do phản xạ hay khuếch tán) hoặc bị hấp thụ bởi các mô và bị chuyển đổi thành nhiệt (do hấp thụ)
Để khắc phục sự giảm âm, tín hiệu phải bù bằng hệ số khuếch đại nhằm tạo ấn tượng ảnh đồng nhất ở tất cả các độ sâu
Trang 19 Thông số của sóng siêu âm và kích thước hình học của tổ chức
Sóng siêu âm phản xạ trên mặt phân cách, do đó năng lượng phản xạ còn phụ thuộc vào kích thước của mặt phân cách và độ dài bước sóng λ của chùm tia Sóng siêu âm có tần số càng cao, tức là λ càng nhỏ thì càng dễ phát hiện và phân biệt được các vật nhỏ song khó vào được sâu các tổ chức bên trong
2.1.3 Kỹ thuật và phương pháp tạo hình siêu âm
2.1.3.1 Nguyên lý cơ bản
Theo Nguyễn Phước Bảo Quân (2002), đầu dò được kích thích bởi xung điện
sẽ phát ra một xung động siêu âm đáp ứng Xung sóng siêu âm sẽ lan truyền dần theo hướng của đầu dò vào các mô sinh học Sóng siêu âm sẽ gặp các mặt phản hồi trên đường truyền từ đó tạo ra các sóng phản xạ và tán xạ quay trở về đầu dò và hồi âm được thu nhận tại đây
Đầu dò sẽ biến đổi sóng hồi âm thành tín hiệu điện thông qua hiệu ứng áp điện Tín hiệu này mang hai thông tin chính:
Thông tin về độ lớn biên độ - phản ánh tính chất âm học của môi trường
Thông tin về vị trí của nguồn tạo tín hiệu - qua trung gian đo được thời gian đi
và về của tín hiệu
Các thông tin này sau đó được xử lý và thể hiện thành hình ảnh trên màn hình
2.1.3.2 Các hình thức thể hiện
Kiểu A (A-mode, Amplitude Mode)
Tín hiệu hồi âm được thể hiện bằng xung hình gai trên dao động ký thông qua
Kiểu B (B-mode, Brightness Mode)
Tín hiệu hồi âm được thể hiện bởi những chấm sáng Độ sáng của các chấm này thể hiện biên độ của tín hiệu hồi âm Vị trí các chấm sáng xác định khoảng cách từ đầu
dò đến mặt phản hồi (Nguyễn Phước Bảo Quân,2002)
Trang 20 Kiểu TM (TM-mode, Time Motion Mode)
Dùng để thể hiện sự chuyển động cùng phương với tia siêu âm của các vật thể theo thời gian bằng cách thể hiện hình ảnh B-mode theo diễn biến thời gian với các tốc
độ quét khác nhau Kết quả là nếu nguồn hồi âm đứng yên thì sẽ tạo ra đường thẳng ngang qua màn hình, còn nếu mặt phản hồi chuyển động thì sẽ tạo ra đường cong phản ảnh sự chuyển động của mặt phản hồi (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
2.1.3.3 Độ phân giải của ảnh
Độ nét của các chi tiết trong ảnh phụ thuộc vào khả năng phân giải của hệ thống ghi hình Độ phân giải được xác định bởi khoảng cách tối thiểu ngăn cách giữa hai điểm đích để ảnh của chúng phân biệt rõ được Giới hạn phân giải của hệ thống ghi hình được xác định bởi độ dài bước sóng Khi độ dài bước sóng giảm thì tần số tăng lên nên khả năng phân giải cũng tăng lên theo tần số Bên cạnh đó, độ giảm âm cũng tăng ngang bằng với tần số; vì vậy, khi khảo sát các chủ mô gần bề mặt nên dùng đầu
dò có tần số cao và ngược lại, dùng đầu dò có tần số thấp để khảo sát các chủ mô ở sâu (Bonnin và cộng sự, 1997)
2.1.4 Máy siêu âm
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), có nhiều loại máy siêu âm được thiết kế sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Một cách tổng quát, có thể chia làm ba loại như sau:
Máy siêu âm màu với đầy đủ chức năng hiện đại
Máy siêu âm đa chức năng giải quyết được mọi yêu cầu chuyên khoa
Máy siêu âm xách tay với các chức năng đơn giản, chủ yếu dùng trong cấp cứu
Tuy nhiên, với sự phát triển của kỹ thuật, một số máy xách tay gần đây cũng có khá đầy đủ chức năng cần thiết Người sử dụng cần biết rõ yêu cầu của mình để chọn lựa thiết bị thích hợp Nắm vững các tính năng của máy sẽ giúp ta tránh nhiều sai lầm thường gặp
Một máy siêu âm có cấu tạo gồm ba phần:
Phần nhập: Đầu dò
Phần xử lý: Thân máy
Phần xuất: Màn hình
Trang 212.1.4.1 Đầu dò
Cấu tạo đầu dò
Theo Nguyễn Phước Bảo Quân (2002), dựa vào hiệu ứng áp điện thuận nghịch, người ta đã sử dụng tinh thể gốm áp điện để chế tạo đầu dò siêu âm Đầu dò vừa đóng vai trò đầu phát sóng vừa đóng vai trò đầu thu sóng Tinh thể gốm của đầu dò có khả năng phát ra các chuỗi xung cao tần và tiếp nhận sóng hồi âm sau mỗi xung phát Độ lặp lại của các chuỗi xung phụ thuộc vào độ sâu tối đa cần chẩn đoán Bề dày của tinh thể gốm sẽ quyết định tần số f của đầu dò (bề dày 1mm sẽ tương ứng với tần số 2 MHz) Tần số của đầu dò được dùng trong khám bụng tổng quát từ 3,5 MHz - 5 MHz
Phân loại đầu dò
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), ngoài các loại đầu dò chuyên dùng trong nội soi sinh thiết, phẫu thuật…, có ba loại đầu dò thường được sử dụng trong chẩn đoán hình ảnh:
Đầu dò tuyến tính (Linear)
Đầu dò cung (Convex)
Đầu dò tia (Sector)
Sự khác biệt giữa các loại đầu dò là do việc sắp xếp các chấn tử trên đầu dò dẫn tới việc tái tạo hình ảnh khác nhau Loại đầu dò có thể nhận biết dựa vào hình dáng bên ngoài hay hình ảnh mặt cắt siêu âm Trong khám bụng tổng quát, nên sử dụng đầu
dò Convex để có hình ảnh tổng quát; sau đó chuyển sang đầu dò Linear để xem xét các vùng nghi ngờ
Đầu dò Linear
Nguyên lý: Đầu dò được cấu tạo từ một dãy n tinh thể gốm áp điện Tia siêu âm được tạo thành từ nhóm gồm m đơn tinh thể đứng cạnh nhau và được quét bằng cách tắt tinh thể đứng đầu nhóm và bật thêm một tinh thể đứng kế tinh thể cuối cùng Như vậy tia siêu âm sẽ dịch đi được một khoảng az = ae
Ưu điểm: vùng thăm khám rộng, khả năng thể hiện các vùng gần bề mặt tốt
Nhược điểm: kích thước lớn, độ phân giải theo chiều dọc và ngang khác nhau
Ứng dụng: siêu âm vùng bụng, siêu âm sản khoa - phụ khoa, siêu âm tuyến giáp
và siêu âm gần bề mặt (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Trang 23 Đầu dò Sector
Nguyên lý: loại đầu dò này còn gọi là đầu dò rẽ quạt - Sector Tinh thể gốm áp điện được gắn trên trục, motor quay được để trong dầu đặc biệt và tiếp xúc với bệnh nhân qua 2 lớp vật liệu thấu âm Đầu dò này quét tia siêu âm theo hình rẽ quạt
Ưu điểm: bề mặt tiếp xúc nhỏ, độ mở lớn, các đầu dò đặc biệt có góc quét 360o
và hình ảnh ở vùng hội tụ rất rõ nét
Nhược điểm: do có phần cơ khí nên đầu dò hơi nặng và chuyển mode chậm
Ứng dụng: dùng trong siêu âm tim, siêu âm nội tổng quát và siêu âm sản - phụ khoa (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Hình 2.3: Đầu dò Sector
Nguồn: rbmed.com/ catalog.html?item=38
Bảng 2.1: So sánh tính năng các loại đầu dò
Trang 242.1.4.2 Thân máy
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), máy siêu âm thường có sáu bộ phận chính:
Gain (công suất phát sóng siêu âm)
Khi sử dụng máy siêu âm, ta cần tuân thủ nguyên tắc ALARA (As low as reasonably acceptable) nghĩa là dùng sóng siêu âm với công suất thấp nhất có thể được
Có hai phần để điều chỉnh Gain: Tổng cộng và từng phần Gain từng phần được thiết kế để bù lại lượng hao hụt năng lượng trên đường đi của sóng siêu âm Ở các máy siêu âm đơn giản, nó được chia làm hai phần gần và xa (Near Gain và Far Gain) Ở các máy siêu âm phức tạp hơn, nó có phần tinh chỉnh cho từng mức độ sâu 2cm (TGC: Time Gain Compensation) Nguyên tắc chỉnh: Tạo được hình ảnh đồng dạng Thường dùng Gain tổng cộng ở mức thấp nhất và Gain từng phần ở mức độ cao nhất có thể được
Bộ phận xử lý ảnh
Có nhiều cách xử lý ảnh khác nhau nhằm quan sát tổn thương rõ hơn Về cơ bản, có hai loại xử lý ảnh trước và sau khi cố định ảnh Những biện pháp làm tăng độ tương phản sẽ giúp thấy rõ hơn bờ của tổn thương nhưng đồng thời cũng làm giảm khả năng phát hiện tổn thương và ngược lại Yếu tố kỹ thuật quan trọng nhất là việc xác định vùng khảo sát động học (Dynamic range: DR) Nếu DR nhỏ, ảnh có độ tương phản cao nhưng không mịn và ngược lại
Khám tổng quát: tính khoảng cách, diện tích, thể tích
Khám sản khoa: tính tuổi thai, số lượng thai
Khám tim: tính tần số tim đập
Trang 25 Các yếu tố xử lý ảnh khác
Vùng tiêu điểm (Focus): có thể thay đổi từ nông đến sâu Chú ý chọn đúng vùng khảo sát cần thiết, thường có liên quan đến độ sâu Độ sâu được chọn lựa khoảng 5-10 cm trong đa số trường hợp Nếu cần khảo sát tổn thương ở ngoài vùng tiêu điểm, cần chú ý định lại Cũng cần chú ý thêm, việc xác định quá nhiều vùng tiêu điểm cùng lúc có thể làm chậm quá trình xử lý ảnh, làm mất tính chất thời gian thực
Phóng đại (Zoom)
Lăn hình (Scroll)
Đổi chiều (Reverse)
Thang xám (Gray Scale)
Thang xám thường có từ 16- 64 nấc Số nấc trên thang xám càng nhiều thì khả năng phát hiện tổn thương càng cao
Trang 26Hình 2.4: Hình Bờ 2.1.5.2 Hình cấu trúc
Hình cấu trúc được phân biệt thành nhiều loại gồm: cấu trúc đặc đồng nhất (nhu
mô phủ tạng đặc) hoặc không đồng nhất (nhu mô bệnh lý phủ tạng đặc); cũng có thể là cấu trúc rỗng âm bình thường (bàng quang, túi mật) hoặc bệnh lý (u nang, ổ tụ máu, thận ứ nước) Như vậy, siêu âm phân biệt được cấu trúc choán chỗ (Bonnin và cộng
sự, 1997)
2.1.5.3 Độ hồi âm (mức độ phản âm)
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), độ hồi âm, đôi khi gọi tắt là echo,
phản ảnh đặc trưng của cơ quan phản xạ lại sóng siêu âm
Người ta phân biệt độ hồi âm thành ba mức độ:
Hồi âm dày (hồi âm cao, hyperechoic): cho hình ảnh sáng trên màn hình siêu
âm (hồi âm của xương, chủ mô )
Hồi âm kém (hồi âm thấp, hypoechoic): cho hình ảnh tối trên màn hình siêu âm (hồi âm của mô, của dịch mủ )
Hồi âm trống (không có hồi âm, sonolucent): cho hình ảnh đen trên hình siêu
âm (hồi âm của dịch )
Trang 272.1.6 Các hiện tượng hay gặp
Bóng âm
Ta sẽ thấy hiện tượng bóng âm (hay còn gọi là bóng lưng) mỗi khi chùm tia siêu âm bị một cấu trúc phản xạ rất mạnh chặn lại Trên ảnh siêu âm, vách phản xạ được biểu hiện bởi một sóng phản hồi rất đậm kèm theo sau đó là một vệt hình nón của bóng âm mà trong vệt bóng âm không một hình ảnh nào còn thấy rõ được (Bonnin
và cộng sự, 1997)
Trang 28 Sự hồi âm mạnh
Mô xương, vôi có độ cản âm rất lớn nên khi gặp loại mô này hầu hết sóng siêu
âm đều bị phản xạ ngược lại Trên ảnh siêu âm, mô này cho hình ảnh có độ hồi âm rất dày (rất sáng), ví dụ như sỏi (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998)
Sự tăng âm
Tăng âm là hiện tượng chùm tia siêu âm khi đi qua môi trường có độ cản âm thấp (ví dụ như nang) thì phần sâu sẽ nhận được nhiều tín hiệu siêu âm hơn xung quanh (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998)
Hình 2.6: Hiện tượng bóng âm và tăng âm
Hiện tượng dội lại (đa âm phản hồi)
Hình ảnh xuất hiện trên màn hình siêu âm là một loạt hình ảnh giả của mặt phân cách với những khoảng cách đều nhau phía sau mặt phân cách thật với kích thước và
độ hồi âm nhỏ dần (Nguyễn Phước Bảo Quân,2002)
Trang 29 Cắt liên sườn và dưới sườn
Trong siêu âm thú y, đường cắt chéo cũng như đường cắt liên sườn và đường cắt dưới sườn thường rất ít được sử dụng Lúc khởi đầu, cần chú ý các đường cắt chuẩn theo các mốc giải phẫu để xác định các cơ quan Tuy nhiên, khi đã thấy tổn thương, cần tìm đường cắt phù hợp để phản ánh hết các đặc tính của chủ mô từ đó giúp chẩn đoán xác định hoặc phân biệt
2.1.8 Sự an toàn của các thiết bị siêu âm chẩn đoán
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hậu quả sinh học của siêu âm chẩn đoán; chẳng hạn như hồi cứu hồ sơ bệnh án và tình trạng lâm sàng của nhóm quần thể được khám nghiệm siêu âm trong thời kì bào thai đem so sánh với những nhóm đối chứng không có khám nghiệm siêu âm Kết quả là đến nay vẫn chưa tìm ra bằng chứng nào về hậu quả sinh học của nó (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
2.1.9 Các ưu - khuyết điểm của phương pháp siêu âm
Ưu điểm
Không làm hư hại các tổ chức nội tạng
Không gây chảy máu
Quan sát các cơ quan trong trạng thái động ở thời gian thực
Không cần chuẩn bị đặc biệt và có thể sử dụng trong lúc mổ
Khuyết điểm
Sóng siêu âm có thể bị cản trở do xương, hơi trong bụng hoặc do mỡ quá dày
Có góc chết ở một số vị trí làm không quan sát được tổn thương
Đôi khi có khó khăn cho việc tiếp xúc da của đầu dò
Trang 302.1.10 Các sai lầm thường gặp khi sử dụng máy siêu âm
Chúng ta luôn phải nhớ rằng siêu âm không bao giờ sai, chỉ có người đọc siêu
âm sai mà thôi Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), những sai lầm thường gặp khi chẩn đoán bằng máy siêu âm có thể chia làm hai nhóm:
Nhóm lỗi nhận định phụ thuộc vào kinh nghiệm
Nhóm lỗi kỹ thuật phụ thuộc vào kỹ năng sử dụng máy
Dùng máy sai mục đích
Chọn sai đầu dò
Chỉnh sai Gain (gần/xa)
Chọn các thông số không đúng
Đo không chuẩn
2.2 GIẢI PHẪU CƠ THỂ HỌC CƠ QUAN SINH DỤC CHÓ CÁI
Cơ quan sinh dục chó cái bao gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo,
tiền đình, âm hộ, dây rộng
2.2.1.2 Cấu tạo
Buồng trứng có hệ thống mô liên kết, trên đó có nhiều nang noãn chứa noãn ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Các noãn còn non có nhiều lớp tế bào bao bọc, bên trong chứa dịch nang Noãn chín hay noãn trưởng thành có kích thước lớn, lớp bao bên ngoài mỏng dần do các lớp tế bào tiêu biến, có chứa dịch chất và trồi lên bề mặt của buồng trứng gọi là noãn De Graaf (Phan Quang Bá, 2004) Khi nang noãn vỡ các chất dịch thoát ra cùng với noãn bào, hiện tượng này gọi là sự xuất noãn Sau khi xuất
Trang 31noãn, xoang của nang noãn sẽ đông máu gọi là hồng thể Sau đó lớp tế bào của nang phát triển và thành lập hoàng thể Nếu không có sự thụ tinh, hoàng thể sẽ thoái hoá dần, mô liên kết phát triển thành sẹo có màu trắng hay nâu nhạt, được gọi là bạch thể (Lâm Thị Thu Hương, 2000)
2.2.2 Ống dẫn trứng
Đây là một ống ngoằn ngoèo, nối từ buồng trứng đến tử cung Một đầu ống dẫn trứng có đường kính nhỏ, đầu còn lại gần buồng trứng thì đường kính càng lớn dần, tới buồng trứng thì nở rộng ra tạo thành vòi Fallop Trứng rụng sẽ rơi vào vòi Fallop để đi vào ống dẫn trứng, trứng sẽ đi tiếp vào tử cung và sự thụ tinh xảy ra ở 1/3 phần trên ống dẫn trứng
Cấu tạo của ống dẫn trứng gồm 3 lớp:
Lớp áo trơn bên ngoài, dính trực tiếp với màng treo ống dẫn trứng
Lớp cơ gồm 2 lớp: cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong
Lớp niêm mạc nằm ở trong cùng, có nhiều nếp gấp, cấu tạo bằng những tế bào trụ có tiêm mao Các tiêm mao có chức năng hướng trứng về phía tử cung
2.2.3 Tử cung
Ở thú ăn thịt thì tử cung có hai sừng có kích thước rộng và dài Đối với chó cái
có tầm vóc trung bình thì tử cung có chiều dài từ 12 đến 16 cm, chiều rộng từ 8 đến 9
mm, nhưng thân tử cung có chiều dài không quá 3 đến 4 cm và cổ tử cung có chiều dài không quá 1,5 đến 2 cm và hai sừng tử cung có chiều dài khoảng vài cm Trong thực
tế, sừng tử cung bên phải dài hơn sừng tử cung bên trái Tử cung có chức năng giữ và nuôi dưỡng noãn trong quá trình phôi và bào thai được hình thành
2.2.3.1 Kích thước và hình dạng bên ngoài
Tử cung là ống tiếp nối ống dẫn trứng phía trước và âm đạo phía sau Tử cung
là một ống cơ rỗng, phần lớn nằm trong xoang bụng, phần còn lại nằm trong xoang chậu Kích thước của tử cung rất thay đổi, tùy thuộc vào tầm vóc của thú, số lần mang thai, tình trạng bệnh lý sinh sản, thú có mang thai hay không
Tử cung có cấu tạo gồm 3 phần: sừng tử cung, thân tử cung và cổ tử cung Sừng tử cung: có dạng hình chữ S, nằm hoàn toàn trong xoang bụng Các sừng
tử cung thường bị ép sát vào thành bụng bởi ruột, các sừng tử cung nhỏ về phía trước
và rộng dần về phía sau Sừng tử cung có chiều dài từ 5 đến 15 cm
Trang 32Thân tử cung: nằm một phần trong xoang bụng và nằm một phần trong xoang chậu Thân tử cung là nơi tiếp giáp giữa hai sừng Thân tử cung có đường kính lớn hơn nhưng ngắn hơn hai sừng tử cung Thân tử cung có mặt trên tiếp giáp với trực tràng, mặt dưới tiếp giáp với bàng quang
Cổ tử cung: là phần thu hẹp ở phía sau nhưng có thành rất dày, tiếp giáp giữa thân tử cung với âm đạo Cổ tử cung có kích thước 1-2 cm
2.2.3.2 Cấu tạo tử cung
Từ ngoài vào trong, tử cung gồm 3 lớp:
Lớp áo trơn: liên tục với dây rộng tử cung
Lớp cơ: gồm cơ dọc ở ngoài mỏng và cơ vòng ở trong dày hơn Giữa 2 lớp cơ
có 1 lớp mô liên kết chứa rất nhiều mạch máu Áo cơ dày nhất ở cổ tử cung
Lớp niêm mạc có màu hồng, với nhiều tế bào tiết dịch nhầy và có lông mao, khi
cơ hoạt động các tiên mao đẩy dịch nhầy về phía sau
Hình 2.7: Cấu tạo tử cung của chó Nguồn : http://www.vetmed.wsu.edu/cliented/anatomy/dog_ug.asp
Trang 332.2.4 Âm đạo
Âm đạo là đường sinh dục lớn, phía sau tiếp tục với cổ tử cung và âm hộ, đây là nơi tiếp nhận cơ quan sinh dục của thú đực Âm đạo nằm hoàn toàn trong xoang chậu, nằm phía sau cổ tử cung, phía trên tiếp xúc với trực tràng, phía dưới tiếp xúc với bàng quang và ống thoát tiểu Ở chó cái âm đạo có kích thước rất dài, chiều dài có kích thước từ 12-15 cm đối với những con chó có tầm vóc trung bình Nếu nhìn từ phía ngoài rất khó phân biệt ranh giới giữa âm đạo và tử cung
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
Áo trơn ở bên ngoài, gồm phần lớn là mô liên kết đàn hồi, phía trước được phần sau của màng bụng bao phủ
Áo cơ gồm 2 lớp: cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong
Lớp niêm mạc có nhiều nếp gấp dọc, nhờ đó âm đạo có thể tăng đường kính rất lớn
2.2.5 Tiền đình
Là giới hạn cuối âm đạo và âm hộ phía sau Ở chó cái, tiền đình có chiều dài từ
5 – 6 cm, tiền đình được che phủ bởi lớp màng nhầy trơn, màu đỏ xanh nhạt, sậm màu hơn âm hộ Chó cái có một bọng tiền đình có kích thước giới hạn, chiều cao từ 10-15
mm, có một đám rối thần kinh trải dài lớp màng nhầy tiền đình
2.2.6 Âm hộ
Âm hộ là cửa mở ra ngoài của cơ quan sinh dục cái, nằm dưới hậu môn, bên ngoài là lớp da chứa sắc tố, hình bầu dục Âm hộ có hai môi, một ống niệu dục ngoài
và một khe hẹp Mép dưới của âm hộ có thể tròn nằm trong một xoang nhỏ, đó chính
là âm vật hay dấu vết của dương vật trên thú đực Âm hộ phân biệt với âm đạo bằng một bờ liên kết thấp là dấu vết của màng trinh
2.2.7 Dây rộng
Là những nếp gấp phúc mô có nhiệm vụ treo các cơ quan sinh dục bên trong ngoại trừ âm đạo, âm hộ và gồm:
Màng treo tử cung: bắt nguồn từ phần bên xương chậu và vùng dưới thắt lưng
để bám vào cạnh của đoạn trước âm đạo, cổ tử cung, thân tử cung và sừng tử cung tương ứng
Trang 34Màng treo ống dẫn trứng: là phần nối tiếp phần trên để bám vào các ống dẫn trứng và tạo với màng treo buồng trứng thành túi buồng trứng
Màng treo buồng trứng: là phần dây rộng là thành vách phía trong của túi buồng trứng Túi buồng trứng là túi phúc mô mỏng, thành bao bọc và chứa đựng buồng trứng, túi thông vào xoang phúc mô qua một khe hẹp ở mặt trong (Phan Quang Bá,1998)
2.2.8 Tuyến vú
Phát triển hoàn toàn cho tới tuổi thành thục, vú phát triển dần theo chu kỳ động dục và suốt thời gian mang thai và sự tiết sữa xảy ra ngay sau khi sinh (Trần Thị Dân, 2000)
2.3 SINH LÝ SINH SẢN - CHU KỲ ĐỘNG DỤC
Tuổi thành thục hay trưởng thành sinh dục là tuổi mà cơ quan sinh dục bắt đầu hoạt động, buồng trứng của thú cái có thể sinh sản noãn bào, dịch hoàn sinh tinh trùng
và các tế bào giao tử này có khả năng thụ tinh
Chó có khoảng thời gian không động dục rất dài và trong kỳ sinh sản chỉ có một chu kỳ động dục Chó có 2 đợt động dục trong một năm, mỗi đợt cách nhau 6 tháng, thường vào mùa xuân từ tháng 1 đến tháng 3 và mùa thu từ tháng 7 đến tháng 9
Chu kỳ động dục của chó cái thường kéo dài 6 tháng hay có thể kéo dài đến
10-12 tháng Một chu kỳ được chia làm bốn giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn nghỉ ngơi
2.3.1 Giai đoạn tiền động dục (Proetrus)
Âm hộ sưng to, có chất nhờn, sau đó có máu, giai đoạn này kéo dài khoảng 9 ngày Nếu quá ngắn (2-3 ngày) hay quá dài (hơn 25 ngày) là tình trạng bất thường Giai đoạn này lượng estrogen tăng cao dưới sự kích thích của FSH và sự hỗ trợ của
LH Kết quả là lượng estrogen trong máu tăng cao dần và đạt đỉnh cao vào khoảng 1-2 ngày cuối của giai đoạn trước động dục
Giai đoạn này pheromon được phân tiết để dẫn dụ chó đực nhưng không cho chó đực giao phối
2.3.2 Giai đoạn động dục (Estrus)
Giai đoạn này xác định được khi chó có biểu hiện chịu đực, âm môn bớt sưng
và ít chảy máu Giai đoạn này kéo dài khoảng 9 ngày, chó có thời gian động dục từ
Trang 355-10 ngày thì tỷ lệ thụ thai rất cao, nếu kéo dài từ 17-19 ngày thì tỷ lệ thụ thai thấp, trứng rụng vào khoảng 3-4 ngày đầu của giai đoạn động dục Do đó nên phối giống vào 4 ngày đầu tiên của giai đoạn động dục Nếu cho giao phối hai lần thì lần đầu tiên vào ngày đầu khi chó bắt đầu chịu đực và lần phối giống thứ hai là vào ngày thứ ba
Giai đoạn này chó cái có những hành vi tính dục như tìm kiếm chó đực, đứng yên cho chó đực nhảy và chờ phối, âm hộ giảm trương phồng, dịch tiết trong và keo lại
2.3.3 Giai đoạn sau động dục (Diestrus)
Giai đoạn sau động dục kéo dài 70-80 ngày, trung bình là 60 ngày Từ giai đoạn động dục tới giai đoạn nghỉ ngơi, giai đoạn này chó có biểu hiện không chịu đực, giai đoạn này tử cung vẫn chuẩn bị cho sự mang thai hoặc chuẩn bị bước vào giai đoạn nghỉ ngơi, giai đoạn này kéo dài khoảng 2 tháng
Trong giai đoạn sau động dục, chó cái từ chối chó đực Âm hộ teo và không xuất dịch, cổ tử cung thắt lại
2.3.4 Giai đoạn nghỉ ngơi (Anestrus)
Giai đoạn nghỉ ngơi là giai đoạn dài nhất, giai đoạn này kéo dài khoảng 15 tuần, chó cái không có biểu hiện về hoạt động sinh sản, thể vàng teo dần và bắt đầu một chu
kỳ mới (Nguyễn Văn Thành, 2004)
2.3.5 Giai đoạn mang thai (Parturition)
Trong giai đoạn chó cái động dục nếu chó được phối giống và đậu thai, thú sẽ chuyển từ giai đoạn động dục sang giai đoạn mang thai Thời gian mang thai trung bình 63 ngày và trong khoảng thời gian này thì hàm lượng progesterone được phân tiết
từ nhau thai luôn được duy trì và nâng cao đến khi thú sinh nở
2.4 KỸ THUẬT SIÊU ÂM
2.4.1 Chẩn đoán thai và sự phát triển của thai
Siêu âm được dùng trong việc chẩn đoán sớm sự mang thai Theo phương pháp khám truyền thống, việc phát hiện thai sớm do tử cung giãn nở và sự hiện diện của túi thai trong khoảng từ 21-35 ngày sau khi phối Đây là thời điểm phát hiện thai sớm nhất
và chính xác nhất Nếu khám sớm hơn thì tử cung chưa mở sẽ khó phát hiện Quá 35 ngày, túi thai khó có thể sờ nắn được vì kích thước tử cung quá lớn Trong khi đó, X-Quang có thể chứng minh sự giãn nở của tử cung đi đôi với sự mang thai nhờ và sự cốt hóa thai từ ngày thứ 45 sau khi lượng LH cao nhất và vào ngày thứ 36-45 của túi