Qua khảo sát chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau: * Tình hình viêm tử cung, viêm vú của heo nái và tiêu chảy trên heo con theo mẹ các vi khuẩn này cho kết quả như sau: - E.coli nhạy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌNH HÌNH VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ CỦA HEO NÁI VÀ TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ - THĂM DÒ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM PBT4-WAY LÊN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA HEO NÁI TẠI TRẠI HƯNG VIỆT
Trang 2TÌNH HÌNH VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ CỦA HEO NÁI VÀ TIÊU
CHẾ PHẨM PBT4-WAY LÊN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA HEO NÁI TẠI TRẠI HƯNG VIỆT TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Tác giả
TỪ TÂN XUYÊN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ
ngành Thú Y
Giáo viên hướng dẫn:
TS NGUYỄN VĂN KHANH ThS NGUYỄN NGỌC CÔN
Tháng 02/2008
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thành kính ghi ơn
Cha và mẹ, người suốt đời tận tụy, hy sinh tất cả vì con
Biết ơn sâu sắc
Đến TS Nguyễn Văn Khanh, Th.S Nguyễn Ngọc Côn đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt kiến thức quí báu cho em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Chân thành nhớ ơn
Ban Giám hiệu trường đại học nông lâm TP HCM Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi - Thú Y
Quý thầy cô khoa Chăn Nuôi - Thú Y
Đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá học tập
và thực tập tốt nghiệp
Trân trọng cảm ơn
Ban giám đốc tại heo Hưng Việt – cô Lê Thị Long Tài, kỹ sư Lê Văn Việt
và cô Quách Thị Kim Thoa cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trại Hưng Việt đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong thực tập tốt nghiệp
Cảm ơn
Các bạn bè lớp Thú Y 02 Vĩnh Long đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian học tập tại trường và hoàn thành khóa luận này
Từ Tân Xuyên
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài được tiến hành từ ngày 15/08/2007 đến 15/01/2008 tại trại chăn nuôi Hưng Việt - Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu với mục đích khảo sát tình hình viêm tử cung, viêm vú và tiêu chảy trên heo con theo mẹ - Thăm dò ảnh hưởng của chế phẩm PBT4 - Way lên khả năng sinh sản của heo nái Qua khảo sát chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau:
* Tình hình viêm tử cung, viêm vú của heo nái và tiêu chảy trên heo con theo mẹ
các vi khuẩn này cho kết quả như sau:
- E.coli nhạy cảm 100% với kháng sinh Cephalexin, Amoxicillin/clavulanic
acid, Tobramycin và 50% với kháng sinh Kanamycin
- Streptococcus spp nhạy cảm cao nhất với kháng sinh Vancomycin 66,66%
- Staphylococcus spp nhạy cảm 100% với kháng sinh Cephalexin, Vancomycin,
Amoxicillin/clavulanic acid, Tobramycin, Tetracyclin
- Staphylococcus aureus nhạy cảm 100% với kháng sinh Cephalexin,
Vancomycin, Doxycyclin, Tetracyclin
Qua kết quả phân lập vi khuẩn chỉ tìm thấy vi khuẩn E.coli trong phân tiêu chảy heo con Vi khuẩn E.coli phân lập được nhạy cảm cao nhất với kháng sinh
Amoxicillin/clavulanic acid 60% Đề kháng 100% với kháng sinh Peniciline và 90% với kháng sinh Colistin, Doxycyclin
* Thăm dò ảnh hưởng của chế phẩm PBT4 - way lên khả năng sinh sản của heo nái
Trên heo nái
- Sản lượng sữa và khối lượng giảm trọng ở lô đối và lô thí nghiệm Sai khác không có ý nghĩa về mặt thống kê
Trang 5- Tỷ lệ lên giống và tỷ lệ đậu thai ở lô đối chứng và lô thí nghiệm Qua xử lý thống kê không có ý nghĩa
Trên heo con
- Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh, trọng lượng bình quân heo con cai sữa và tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở lô đối chứng và lô thí nghiệm Qua xử lý thống kê sự khác biệt không có ý nghĩa
Chế phẩm PBT4 – way chưa chứng tỏ được tác dụng của mình trong việc nâng cao năng suất sinh sản của heo nái
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt ix
Danh sách các bảng x
Danh sách các biểu đồ xii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI HEO HƯNG VIỆT 3
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.2.1 Chứng viêm tử cung heo nái sau khi sinh 4
2.2.1.1 Khái niệm viêm tử cung 4
2.2.1.2 Nguyên nhân gây viêm tử cung 5
2.2.1.3 Tác hại của viêm tử cung 9
2.2.1.4 Biện pháp phòng và điều trị viêm tử cung 9
2.2.2 Viêm vú 10
2.2.2.1 Viêm vú 10
2.2.2.2 Cơ chế gây viêm vú 11
2.2.3 Bệnh tiêu chảy heo con 13
2.2.3.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở heo con 13
2.2.3.2 Bệnh tiêu chảy 13
2.2.3.3 Nguyên nhân gây tiêu chảy 13
2.2.3.4 Cơ chế sinh bệnh 16
2.2.3.5 Triệu chứng 17
2.2.3.6 Chẩn đoán 17
Trang 72.2.3.7 Điều trị 17
2.3 GIỚI THIỆU VỀ CHẾ PHẨM PBT4 – WAY 18
2.3.1 Đặc điểm PBT4 - WAY 18
2.3.2 Kết quả thử nghiệm khi sử dụng PBT4 - WAY 18
2.3.3 Các vitamin và khoáng chất sử dụng trong chế phẩm 19
2.3.3.1 Vitamin A 19
2.3.3.2 Vitamin E 21
2.3.3.3 Vitamin D3 21
2.3.3.4 Magnsesium (Mg) 22
2.3.3.5 Mangan (Mn) 22
2.3.3.6 Đồng (Cu) 22
2.3.3.7 Sắt (Fe) 23
2.3.3.8 Cobalt (Co) 23
2.3.3.9 Kẽm (Zn) 23
2.3.3.10 Iodine (I) 23
2.3.3.11 Sodium (Na) 24
2.3.4 ĐIỀU KIỆN CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG HEO KHẢO SÁT TẠI TRẠI HƯNG VIỆT 24
2.3.4.1 Chuồng trại 24
2.3.4.2 Thức ăn 24
2.3.4.3 Chăm sóc nuôi dưỡng 26
2.3.4.4 Vệ sinh phòng bệnh 28
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 29
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 29
3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 29
3.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 29
3.3.1 Nội dung khảo sát 29
3.3.2 Phương pháp tiến hành 30
3.3.2.1 Theo dõi nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi 30
3.3.2.2 Trên heo nái 31
3.3.2.3 Trên heo con 32
Trang 83.3.2.4 Bố trí thí nghiệm sử dụng chế phẩm PBT4 - WAY 32
3.4 XỬ LÝ SỐ LIỆU 33
Chương 4 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 34
4.1 KHẢO SÁT NHIỆT ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ CHUỒNG NUÔI 34
4.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CÁC CHỈ TIÊU TRÊN NÁI 35
4.2.1 Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú trên heo nái 35
4.2.2 Tỷ lệ viêm tử cung theo tháng đẻ trên nái khảo sát 36
4.2.3 Khả năng cho sữa lúc 21 ngày tuổi, tỷ lệ sụt cân, tỷ lệ lên giống lại của heo nái sau cai sữa 37
4.2.4 Tỷ lệ khô thai và chết thai 38
4.2.5 Kết quả phân lập vi khuẩn trong dịch viêm tử cung 39
4.3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CÁC CHỈ TIÊU TRÊN HEO CON 43
4.3.1 Số heo con sơ sinh/ổ, số heo con chọn nuôi/ổ, trọng lượng sơ sinh bình quân 43
4.3.2 Trọng lượng bình quân lúc 21 ngày tuổi 45
4.3.3 Tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại heo Hưng Việt 46
4.3.3.1 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 46
4.3.3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và thử kháng sinh đồ phân tiêu chảy trên heo con theo mẹ 47
4.3.3.3 Hiệu quả điều trị tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại Hưng Việt 48
4.4 KẾT QUẢ VIỆC SỬ DỤNG CHẾ PHẨM PBT4 - WAY 49
4.4.1 Chỉ tiêu theo dõi trên nái 49
4.4.1.1 Tỷ lệ lên giống của nái và hậu bị, tỷ lệ lên giống lại sau khi phối, tỷ lệ đậu thai 49
4.4.1.2 Năng suất sữa 50
4.4.1.3 Khối lượng giảm trọng 51
4.4.1.4 Tỷ lệ lên giống lại sau cai sữa 52
4.4.2 Chỉ tiêu theo dõi trên heo con 53
4.4.2.1 Số heo con sơ sinh bình quân 53
4.4.2.2 Số heo con sơ sinh chọn nuôi trên ổ 54
4.4.2.3 Số heo con cai sữa bình quân 55
4.4.2.4 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh 56
4.4.2.5 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa (21 ngày) 57
Trang 94.4.2.6 Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa 58
4.4.3 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 59
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
5.1 KẾT LUẬN 61
5.2 ĐỀ NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 66
Trang 10DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
WHO: World Health Organization
ME: Metabolizable Energy (năng lượng trao đổi)
DCP: Dicalciphosphat
UI: Unit International
PBT4 - WAY: Pre – Breeding Topdresser
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Thành phần chính của chế phẩm PBT4 - WAY 19
Bảng 2.2 Thành phần thực liệu cám 6 và 10 25
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng cám 6 và 10 25
Bảng 2.4 Thành phần dinh dưỡng cám viên đỏ và vàng cho heo con tập ăn 26
Bảng 2.5 Quy trình tiêm phòng của trại 28
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 33
Bảng 4.1 Kết quả khảo sát nhiệt độ và ẩm độ 34
Bảng 4.2 Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú trên heo nái sau khi sinh 35
Bảng 4.3 Tỷ lệ viêm tử cung theo tháng đẻ trên nái khảo sát 36
Bảng 4.4 Sản lượng sữa lúc 21 ngày, tỷ lệ sụt cân, tỷ lệ lên giống lại của heo nái sau cai sữa 37
Bảng 4.5 Tỷ lệ khô - chết thai 38
Bảng 4.6 Kết quả phân lập vi khuẩn trong dịch viêm tử cung 40
Bảng 4.7 Kết quả thử kháng sinh đồ với vi khuẩn E.coli và Streptococcus trong dịch viêm tử cung 41
Bảng 4.8 Kết quả thử kháng sinh đồ với vi khuẩn Staphylococcus trong dịch viêm tử cung 42
Bảng 4.9 Số heo con sơ sinh/ổ, số heo con chọn nuôi/ổ, trọng lượng sơ sinh bình quân .43
Bảng 4.10 Trọng lượng bình quân heo con lúc 21 ngày tuổi (kg) 45
Bảng 4.11 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy trên heo con theo mẹ 46
Bảng 4.12 Kết quả phân lập vi khuẩn E.coli và thử kháng sinh đồ phân tiêu chảy trên heo con theo mẹ 47
Bảng 4.13 Hiệu quả điều trị tiêu chảy trên heo con theo mẹ 48
Bảng 4.14 Tỷ lệ lên giống của nái và hậu bị, tỷ lệ lên giống lại sau khi phối, tỷ lệ đậu thai (2 đợt) 49
Bảng 4.15 Năng suất sữa 50
Bảng 4.16 Khối lượng giảm trọng 51
Bảng 4.17 Tỷ lệ lên giống lại sau cai sữa 52
Trang 12Bảng 4.18 Số heo con sơ sinh bình quân trên ổ 53
Bảng 4.19 Số heo con sơ sinh chọn nuôi trên ổ 54
Bảng 4.20 Số heo con cai sữa bình quân trên ổ 55
Bảng 4.21 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh 56
Bảng 4.22 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa (21 ngày) 57
Bảng 4.23 Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa 58
Bảng 4.24 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 59
Trang 13DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1 Trọng lượng toàn ổ lúc cai sữa 18
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ nái phối ngày thứ 7 18
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ đẻ 19
Biểu đồ 2.4 Số con đẻ ra còn sống 19
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ viêm tử cung trên heo nái sau khi sinh 35
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ viêm tử cung trên nái khảo sát 36
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ khô – chết thai 39
Biểu đồ 4.4 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh 44
Biểu đồ 4.5 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa 45
Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 47
Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ đậu thai 50
Biểu đồ 4.8 Năng suất sữa 51
Biểu đồ 4.9 Khối lượng giảm trọng 52
Biểu đồ 4.10 Tỷ lệ lên giống lại sau cai sữa 53
Biểu đồ 4.11 Số heo con sơ sinh bình quân 54
Biểu đồ 4.12 Số heo con sơ sinh chọn nuôi 55
Biểu đồ 4.13 Số heo con cai sữa bình quân 56
Biểu đồ 4.14 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh 57
Biểu đồ 4.15 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa 58
Biểu đồ 4.16 Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa 59
Biểu đồ 4.17 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 60
Trang 14Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay ngành chăn nuôi phát triển trên quy mô lớn cung cấp cho nhu cầu con người sản phẩm: thịt, trứng, sữa,….Trong đó, chăn nuôi heo chiếm vị trí rất cao vì nó đáp ứng những nhu cầu thực phẩm cho cả nước và tương lai còn vượt xa hơn trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước khác trong khu vực và trên thế giới
Vì lý do đó, ngành chăn nuôi truyền thống, lâu đời hiện nay đang dần dần có chiều hướng phát triển mở rộng từ hộ gia đình, các trang trại thủ công nghiệp có kỹ thuật cao (chuồng phun sương, chuồng có hệ thống xử lý nước thải, quạt thông gió…)
Từ thế mạnh đó, các nhà chăn nuôi - nhà chọn giống - di truyền học không ngừng chọn lọc, áp dụng các biện pháp lai tạo, nhân giống để tạo ra các giống cho năng suất cao, tăng khả năng sinh sản,…nhưng bên cạnh đó, còn nhiều yếu tố bệnh tật
từ công tác chăm sóc quản lý ảnh hưởng đến năng suất của heo nái và heo con theo mẹ
Trên đàn nái sinh sản, bệnh viêm tử cung, viêm vú thường xuyên xảy ra với tỷ
lệ khá cao và có ảnh hưởng lớn đến thành tích của nái như: tăng tỷ lệ loại thải, kéo dài thời gian động dục trở lại, giảm khả năng nuôi con, tăng tỷ lệ tiêu chảy ở heo con theo
mẹ, chậm tăng trưởng, giảm sức đề kháng, tăng chi phí thuốc điều trị Hiện nay, viêm
tử cung, viêm vú của heo nái luôn là mối quan tâm lớn vì gây không ít khó khăn cho các trại và người chăn nuôi
Bên cạnh đó, một trong những vấn đề mà các nhà chăn nuôi quan tâm đến là việc bổ sung chế phẩm giúp nâng cao khả năng sinh sản cho heo nái nhằm tăng lợi nhuận cho các nhà chăn nuôi, nên chúng tôi đã đưa vào thử nghiệm PBT4 – WAY, một chế phẩm gồm nhiều loại vitamin và vi khoáng không có kháng sinh để kích thích nái đậu thai và nuôi con tốt hơn
Được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh với sự hướng dẫn trực tiếp của TS Nguyễn Văn Khanh và ThS Nguyễn Ngọc Côn, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Tình hình viêm tử cung, viêm vú của heo nái và tiêu chảy trên heo con theo mẹ - Thăm dò ảnh hưởng của chế
Trang 15phẩm PBT4 - WAY lên khả năng sinh sản của heo nái tại trại Hưng Việt tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu”
- Theo dõi nhiệt độ, độ ẩm của chuồng nuôi
- Khảo sát hiệu quả điều trị của trại
- Tìm nguyên nhân gây bệnh bằng cách xét nghiệm vi trùng, làm kháng sinh đồ nhằm tăng hiểu biết, để khắc phục tiêu chảy heo con theo mẹ
- Theo dõi khả năng sinh sản của heo nái khi có bổ sung chế phẩm PBT4 - WAY
Trang 16
Chương 2
TỔNG QUAN 2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI HEO HƯNG VIỆT
Trại heo tư doanh Hưng Việt thành lập ngày 11/6/1990, nằm trên Quốc lộ 56, cách thị xã Bà Rịa khoảng 3km về hướng Đông Bắc Trại nằm trên vùng đất có diện tích 75.000m2, tương đối bằng phẳng và màu mỡ, trong đó diện tích chuồng trại chiếm 2.900m2 Các dãy chuồng được bố trí như sau:
- Dãy A1 và B1 là chuồng nái đẻ và nuôi con
- Dãy A2.1 và A2.2 là chuồng nuôi heo con cai sữa
- Dãy A3 và B3 nuôi nái hậu bị, nái khô và nái mang thai
- Dãy A4 nuôi đực làm việc
- Dãy B2,A5.1,A5.2,A6 và B6 nuôi heo thịt
Ngoài ra còn có chuồng để nuôi bò sữa và bê thịt
Tại trại có tổng cộng 40 người phân theo trình độ gồm 1 Thạc sĩ, 3 Đại học, 1 trung cấp, còn lại là công nhân, bảo vệ và nhà bếp Trong đó, riêng tổ chăn nuôi heo có
13 người:
- Quản lý chung: 1 người
- Nái nuôi con và heo con theo mẹ: 3 người
- Heo con cai sữa : 2 người
- Nái khô, nái chửa, nái hậu bị và đực làm việc: 2 người
- Heo thịt: 5 người Các nhóm giống heo chính được nuôi chủ yếu tại trại là Yorkshire, Duroc, Landrace x Yorkshire, Pietrain x Duroc Cơ cấu đàn heo thay đổi từng ngày, theo ghi nhận ngày 15/01/2008, cơ cấu đàn heo của trại như sau:
- Nái sinh sản: 202 con
- Nái hậu bị: 103 con
- Đực làm việc: 6 con
- Heo con theo mẹ: 301 con
Trang 17- Heo con cai sữa: 180 con
- Heo thịt: 1308 con Phương hướng sản xuất chính của trại là sản xuất heo thịt, bê thịt cung cấp cho các lò mổ địa phương và các vùng lân cận, cung cấp heo giống, tinh heo cho các hộ chăn nuôi địa phương ngoài ra, trại còn trồng hoa màu như ớt, đu đủ và cỏ, rau muống phục vụ cho chăn nuôi
Qua 17 năm hình thành và phát triển, thông qua công tác quản lý chặt chẽ, luôn ứng dụng các thành tựu kỹ thuật mới kết hợp với đội ngũ công nhân lành nghề, trại đã
và đang từng bước phát triển vững mạnh hơn
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.2.1 Chứng viêm tử cung heo nái sau khi sinh
2.2.1.1 Khái niệm viêm tử cung
Viêm tử cung là dịch viêm tiết ra nhiều, tùy theo mức độ mà thành phần dịch viêm được phân chia ra các dạng: dạng viêm nhờn, dạng viêm mủ, dạng viêm mủ lẫn máu
Ảnh hưởng của việc viêm tử cung: viêm tử cung thường xuất hiện trên heo
nái sau khi sinh Khi viêm tử cung sẽ làm tổn thương lớp niêm mạc, từ đó gây ảnh hưởng sự phân tiết PGF2, làm xáo trộn chu kỳ động dục, làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh, làm ảnh hưởng đến sức sống của heo con và tình trạng sức khỏe của heo mẹ
Khi nái mang thai, nếu tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào nội mạc
tử cung tiết nhiều PGF2 gây phân hủy thể vàng, làm thú dễ bị sẩy thai do thiếu Progesterone từ thể vàng
Ở nái không mang thai, nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2 giảm, do đó thể vàng không bị phá hủy, vẫn tiếp tục tiết Progesterone làm cho thú không lên giống lại
Khi nhiễm trùng tử cung bởi vi khuẩn E.coli, nội độc tố của vi khuẩn này ức
chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa Prolactine từ tuyến yên, làm nái ít sữa (Trần Thị Dân, 2003)
Heo nái suy yếu, giảm sức đề kháng, giảm sản lượng sữa, ít cho con bú, đè con
Tổ chức tế bào thai thay đổi làm giảm khả năng sinh sản ở các lứa sau Khả năng thụ
Trang 18thai giảm, khả năng nuôi thai trong tử cung của nái cũng không bình thường Do lượng sữa trên heo nái giảm nên heo con đói Heo con liếm sản dịch viêm của heo nái dẫn đến tiêu chảy, còi cọc, tăng trọng chậm, có thể chết (Nguyễn Văn Thành, 2001)
Các dạng viêm tử cung:
- Dạng viêm nhờn: Thể nhẹ nhất thường xuất hiện rất sớm, sau khi sinh từ 2 -
3 ngày, lớp niêm mạc tử cung bị tổn thương nhẹ, kích thích tiết dịch nhờn ở tử cung Dịch chảy ra lỏng, lợn cợn, mùi tanh, vài ngày sau tiết dịch giảm dần, đặc lại, hết hẳn Đôi khi không điều trị mà có thể tự khỏi do tình trạng sức khỏe của nái rất tốt Theo Nguyễn Văn Thành (2001), ở dạng viêm này thân nhiệt thường tăng nhẹ (39,5 - 400C)
- Dạng viêm mủ: thể này tương đối nặng, niêm mạc tử cung bị tổn thương
nặng, có sự xâm nhập của vi trùng sinh mủ, hầu hết là vi trùng cơ hội như
Staphylococci, Streptococci Viêm mủ có thể trực tiếp từ dạng viêm nhờn không chữa
trị kịp thời Biểu hiện với các triệu chứng sốt, thân nhiệt tăng 40 - 410C, phản ứng viêm lan vào lớp cơ tử cung Dịch viêm tích lại trong xoang tử cung trở thành nhầy có
mủ vàng đục, sền sệt có pha máu, mùi tanh hôi, thường kéo dài từ 3 - 4 ngày hay có thể hơn, chán ăn vào những ngày cuối Theo N.N.Nikhalop (1970), ở dạng viêm mủ,
tử cung nái phù, xuất huyết, có nhiều vết loét nhất là cổ tử cung
Thể này có thể dẫn đến viêm vú do vi sinh vật xâm nhập vào máu tác động toàn thân, do không can thiệp kịp thời hoặc do xáo trộn sinh lý trầm trọng sau khi sinh
- Dạng viêm mủ lẫn máu: Đây là dạng viêm rất nặng thường đi kèm với
nguyên nhân đẻ khó, sót nhau…tử cung bị tổn thương nặng Theo Nguyễn Hữu Ninh
và Bạch Đăng Phong (1979), niêm mạc tử cung bị hoại tử, vết thương nhiều nơi ăn sâu vào cổ tử cung làm tổn thương mao mạch gây chảy máu Các triệu chứng: dịch viêm sền sệt, có mủ lẫn máu, mùi rất tanh và hôi thối, các tiết vật và tiết chất có màu trắng xám xen lẫn máu hay xác tế bào Heo sốt 40 - 410C, không ăn kéo dài, sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, tăng tần số hô hấp, khát nước, heo nái mệt mỏi, hay nằm, hay đè con và kém phản ứng với tác động bên ngoài Thú có thể chết do nhiễm trùng máu nếu không chữa trị kịp thời hoặc không còn khả năng nuôi con
2.2.1.2 Nguyên nhân gây viêm tử cung
Đa số do heo nái đẻ khó, sót nhau khi can thiệp thụt rữa làm xây xát đường sinh dục, do gieo tinh nhân tạo không đúng kỹ thuật, làm trầy xước tử cung, làm tổn thương
Trang 19lớp niêm mạc tử cung Dinh dưỡng, chuồng trại dơ bẩn dễ bị xâm nhiễm các loại vi trùng
Dinh dưỡng
Theo Nguyễn Như Pho (2002), nguyên nhân gây hội chứng M.M.A là do thiếu dinh dưỡng, thiếu một hay nhiều sinh tố trong khẩu phần Có nhiều tác giả cho rằng viêm tử cung xảy ra trên heo nái quá mập trước và trong thời kì mang thai hơn là heo được cho ăn ít Sau đây là một số trích dẫn các yếu tố ảnh hưởng
+ Co (Cobalt): Theo Sansted (1953), viêm tử cung có thể phát sinh do thiếu Co trong khẩu phần
+ Ca, P (Calcium, Photpho): thiếu Ca, P trong khẩu phần là nguyên nhân gây ra viêm tử cung (Witz, 1956)
- Chất xơ
+ Theo Nguyễn Như Pho và cộng tác viên (ctv) (1991) khuyến cáo sử dụng chất
xơ 9% trong khẩu phần heo nái mang thai trong giai đoạn 2 của chu kì và sắp sinh sẽ giảm được hội chứng M.M.A Vì chất xơ có vai trò như chất độn làm cho con vật có cảm giác no Đồng thời làm tăng nhu động ruột, giảm táo bón là nguyên nhân gây hội chứng M.M.A
Ensor (1957), Broods Bank (1958), Fith (1960) cho rằng chứng táo bón là nguyên nhân gây hội chứng M.M.A
Trang 20Theo Trần Thị Dân (2003) độc tố nấm mốc và giảm Ca huyết khi không cân bằng Ca trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến hội chứng này
Quản lý - chăm sóc
Trong thời gian mang thai, nếu nái thiếu vận động, hoặc bị stress do nhốt chung quá đông, vệ sinh kém, sự thay đổi đột ngột của điều kiện môi trường (thời tiết quá nóng hay quá lạnh) có thể dẫn đến hội chứng M.M.A (Đặng Đắc Thiệu, 1978)
Việc thiết kế chuồng không phù hợp làm ứ đọng phân, nước tiểu, chất dơ bẩn trên nền chuồng, nhiệt độ, độ ẩm chuồng nuôi quá cao nái phải tăng tần số hô hấp để điều hòa thân nhiệt, điều này làm cho nái mau mệt, giảm sức đề kháng, chính các yếu
tố này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển gây bệnh
Ngoài ra, thay đổi chuồng, nền chuồng ẩm ướt và uống nước ít trong giai đoạn mang thai và vài ngày trước khi sinh cũng gây ra bệnh này (Trần Thị Dân, 2003)
Rối loạn sinh lý nội tiết
Martin và ctv (1967), nhận thấy sự mất cân bằng về sản xuất kích thích tố có thể giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên trạng thái bệnh này (Đặng Đức Thiệu, 1978)
Khi nghiên cứu trên heo nái mắc hội chứng M.M.A, người ta thấy những heo nái này thường có buồng trứng nhỏ, tuyến giáp teo lại Tuyến thượng thận lớn lên, các
mô trong tuyến thượng thận và tuyến yên bị thoái hóa (Martin và ctv 1967)
Bood (1957), báo cáo dùng chất trích tinh của não thùy sau chích cho heo nái ngay sau khi sinh làm giảm chứng M.M.A Chất trích này có thành phần là Oxytocine, gây co thắt cơ trơn làm tử cung co bóp để tống sản dịch ra ngoài, sản dịch này chủ yếu
là máu và chất nhầy, là môi trường rất tốt cho vi trùng phát triển
Theo Lê Xuân Cương (1967), heo nái sau khi đẻ bị rối loạn về kích thích tố trong cơ thể là một trong những biểu hiện dẫn đến hiện tượng chậm động dục sau cai sữa
Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Vicker (1960), khi điều kiện môi trường thay đổi đột ngột trong thời gian sinh
đẻ dễ dẫn đến chứng viêm tử cung
Nhiệt độ quá nóng gây stress nhiệt cho heo dẫn đến xáo trộn sinh lý làm giảm
tỷ lệ protein, Creatinin và Urea trong huyết tương Nếu nhiệt độ chuồng nuôi nái lên
Trang 21đến 300C, có nguy cơ dẫn đến chết thai trong bụng mẹ Chuồng nuôi có nhiều khí độc:
NH3, H2S, CO2… sẽ ảnh hưởng quá trình trao đổi chất của heo nái mang thai
Sinh sản không bình thường và tình trạng sức khỏe
- Lứa đẻ: nái hậu bị đẻ lứa đầu tiên khi khung xương chậu phát triển chưa hoàn
chỉnh gây tình trạng đẻ khó và tổn thương nặng trên đường sinh dục Nái hậu bị thường chiếm tỷ lệ cao trong trường hợp viêm tử cung, những nái có thể trạng béo tốt
tỷ lệ mắc bệnh cũng cao
Nái già hoặc nái có sức khỏe kém bị kế phát một số bệnh suy dinh dưỡng có sức rặn yếu gây khó đẻ nên dể mắc bệnh viêm tử cung
- Đẻ khó: Thai quá lớn, vị trí bào thai không bình thường, cấu tạo xương chậu
hẹp, nái mập mỡ, làm cho nái rặn nhiều, tự gây tổn thương trên đường sinh dục
Do sự phát triển kém ở heo nái tơ (phối giống quá sớm hoặc do nái già sinh đẻ nhiều lứa, mang thai nhiều con, thai quá lớn, thai chết, thai khô, vị trí và tư thế thai bất thường) Do heo nái biếng rặn hoặc rặn yếu, thời gian sinh đẻ kéo dài, trương lực cơ tử cung giảm, sự co thắt cổ tử cung yếu đi làm ứ đọng nhiều dịch chất trong tử cung Tuy nhiên, tổn thương ở bộ phận sinh dục thường do can thiệp bằng tay của người đỡ đẻ,
kỹ thuật đỡ đẻ không đúng, tạo điều kiện tốt cho vi khuẩn phát triển
- Sót nhau, sót thai
Theo Đặng Đắc Thiệu (1978), nái sau khi sinh bị sót nhau rất dễ đưa đến chứng mất sữa và nhiễm trùng tử cung Nhau và thai bị sót sẽ bị thoái rửa trong tử cung 24 -
28 giờ là môi trường tốt cho vi sinh vật phát triển và gây viêm tử cung
Các bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu với vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu có thể xâm nhập từ ngoài vào đường sinh dục
Trang 22Theo Hồ Thị Kim Hoa (1990): E.coli, Staphylococci, Klebsiella spp, Shigella spp, Proteus, Pseudomonas spp… là những vi sinh vật cơ hội có sẵn trong môi trường
xung quanh, chuồng trại, phân, nước tiểu… Đặc biệt với điều kiện vệ sinh kém khi heo nái đẻ: cổ tử cung mở, nái mệt mỏi, sức đề kháng giảm, niêm mạc tử cung bị tổn thương, sản dịch ứ đọng là điều kiện tốt để cho vi sinh vật xâm nhập vào, phát triển gây nhiễm tạo nên những biến chứng toàn diện và điển hình của bệnh viêm tử cung trên heo nái Ngoài ra những vi sinh vật cơ hội này có thể xâm nhập vào các bầu vú và qua vết trầy, cũng có thể qua ống dẫn sữa
2.2.1.3 Tác hại của viêm tử cung
Từ những nguyên nhân trên ta thấy tác hại của viêm tử cung Sữa có thể giảm hoặc ngừng hẳn, heo con tiêu chảy, còi cọc chết dần do liếm sản dịch heo mẹ Trường hợp nái quá yếu có thể bị chết hoặc nếu chữa khỏi cũng không thể đưa vào sản xuất vì
tổ chức tử cung bị thay đổi, khả năng đậu thai giảm, khả năng nuôi thai cũng không tốt (Nguyễn Như Pho, 1995)
Mặt khác, viêm tử cung còn làm cho niêm mạc bị biến đổi về mặt mô học, xơ hóa, điều này hạn chế sự định vị của thai do đó sẽ làm giảm năng suất sinh sản của heo nái ở các lứa sau Bên cạnh viêm tử cung, viêm vú cũng gây biến đổi về mặt mô học,
sự xơ hóa làm cho ống dẫn sữa bị tắt hoặc mất chức năng vì thế sữa không tiết ra được
Nếu quá trình viêm kéo dài sự xơ hóa xảy ra trên 1 diện tích lớn, viêm có thể viêm lên phía trên gây viêm dính ống dẫn trứng, những yếu tố viêm dính và xơ hóa là nguyên nhân gây vô sinh
Chính vì thế nên cần tiến hành các biện pháp chăm sóc thích hợp trước và sau khi sinh để hạn chế mật độ vi khuẩn gây bệnh, đồng thời làm tăng sức đề kháng cho heo nái bằng cách bổ sung vitamin A, vitamin E, chất xơ, nguồn nước uống, cũng góp phần hạn chế viêm tử cung, viêm vú
2.2.1.4 Biện pháp phòng và điều trị viêm tử cung
Khâu vệ sinh quản lý, chăm sóc cũng rất quan trọng nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của vi sinh vật cơ hội vào tử cung, vú, gây hội chứng M.M.A Nhưng bên cạnh còn biện pháp kỹ thuật tác động vào việc phòng và trị bệnh viêm đường sinh dục
Trang 23 Sử dụng kháng sinh
Nguyễn Như Pho và Lê Minh Chí (1995), báo cáo sử dụng Tetramycine hay phối hợp Peniciline và Streptomycine chích cho heo nái một lần trước lúc sinh có tác dụng ngăn ngừa bệnh
Do sự đề kháng của vi khuẩn, các kháng sinh và Sulfamide thường sử dụng không còn tác dụng tốt Trước đây, Nguyễn Văn Thành (2002) đã tiến hành nghiên cứu các kháng sinh mới phòng ngừa viêm tử cung: Gentamycine, Cephalexin Các kháng sinh này chỉ cấp bằng thuốc đặt ngay sau khi sinh
Hiện nay, việc sử dụng kháng sinh bừa bãi, không còn hợp lý nên có nhiều vi khuẩn đã có sự đề kháng, nhiều kháng sinh không còn tác dụng đối với chúng Do đó việc sử dụng kháng sinh phòng ngừa và điều trị là vấn đề đáng quan tâm
Điều trị
Nguyễn Như Pho và cộng tác viên tiến hành các biện pháp điều trị hội chứng M.M.A bằng kháng sinh, Sulfamide Các tác giả cho biết để điều trị có kết quả cần tiến hành cấp thuốc ngay khi nái có dấu hiệu sốt, kháng sinh hoặc Sulfamide Nên sử dụng các loại mẫn cảm với vi trùng gây bệnh, đồng thời cần hỗ trợ thêm các biện pháp thụt rữa tử cung, chích oxytocine, xoa bóp bầu vú, tăng cường sử dụng vitamin C và các loại vitamin khác Trường hợp sốt cao, nên dùng thuốc hạ sốt và truyền dịch…
2.2.2 Viêm vú
2.2.2.1 Viêm vú
Trường hợp này ít gặp hơn viêm tử cung Viêm vú có thể xảy ra với mức độ nặng do kế phát từ nhiễm trùng toàn thân Viêm vú có thể xảy ra ở một hoặc vài vú
Trang 24hoặc cả bầu vú.Vú bị viêm sưng cứng, màu đỏ bầm, khi ấn vào còn để lại vết, vú không tiết sữa, sữa bị lợn cợn hoặc có lẫn máu Viêm vú luôn kèm với sốt cao, vú bị đau nên heo hay nằm úp vú xuống, không cho con bú
Tuy nhiên viêm vú ít xảy ra, nhưng khi xảy ra thì sẽ ở mức độ cao tác hại rất lớn Do tác động trực tiếp lên heo con sơ sinh Nếu chữa trị không kịp thời, vú viêm sẽ
bị teo lại, mất sữa, đôi khi còn bị xơ hóa, mất khả năng cho sữa
Viêm vú xảy ra ở bất kì, ở cấp độ nào cũng có thể ảnh hưởng đến sự tiết sữa, nếu can thiệp kịp thời vú bình phục sẽ còn khả năng cho sữa, nếu không vú sẽ mất sữa hoàn toàn
Sự giảm sữa có thể xảy ra ở bất kì thời điểm nào trong giai đoạn nuôi con của nái
2.2.2.2 Cơ chế gây viêm vú
Sơ đồ 2.1 Cơ chế gây viêm vú
(Dẫn liệu Nguyễn Văn Thành, 2002)
Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích sinh sản của heo nái
Thành tích sinh sản của heo nái được tính trên khả năng sinh đẻ, nuôi con, chỉ
số tiêu tốn thức ăn, số con đẻ mỗi lứa, trọng lượng heo sơ sinh, trọng lượng cai sữa, số lứa đẻ trong năm
Sinh lý sự tiết sữa
Vấy nhiễm vi
khuẩn từ môi
trường
Không bình thường Bình thường
Áp lực mút vú heo con
Giảm sữa sau khi sinh
Bệnh trên heo nái
Sưng vú sau khi sinh Nhiễm trùng
núm vú
Viêm vú cấp (đa tuyến) Bệnh
heo con
Trang 25 Yếu tố di truyền
Mỗi cá thể khác nhau có khả năng sinh sản khác nhau, trong một giới hạn nào
đó không vượt quá giới hạn của loài
Mỗi giống khác nhau có khả năng sinh sản khác nhau, tùy vào yếu tố di truyền
Sự lựa chọn giống heo tùy thuộc vào điều kiện sản xuất và mang tính chiến lược
Yếu tố dinh dưỡng
Giống heo cho năng suất cao, sản phẩm tốt thường yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc với quy trình nghiêm ngặt
Khẩu phần ăn, chế độ dinh dưỡng phải phù hợp với thể trạng của nái theo từng thời kỳ mang thai Đầy đủ các chất dinh dưỡng, khoáng chất, vitamin, nước uống
Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật giúp tăng hiệu quả kinh tế của heo nái như: tiến hành thụ tinh nhân tạo, sử dụng các chế phẩm sinh học cho thú mau lên giống trở lại, rút ngắn thời gian nuôi con của heo mẹ hoặc tạo nên sự lên giống đồng loạt để heo đẻ thời gian đã chọn
Yếu tố vệ sinh thú y là điều cần thiết bắt buộc, vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống, vệ sinh phòng dịch, sát trùng, dọn các chất thải…thức ăn không bị vấy nhiễm vi sinh vật gây bệnh, độc tố nấm, các chất tồn dư
Yếu tố môi trường
Cần thiết phải đảm bảo sự ổn định, nhất định của điều kiện môi trường Heo là động vật nuôi nhốt cố định trong chuồng, nên việc tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi tốt là cần thiết Chuồng trại phải đòi hỏi sạch sẽ thoáng mát, tránh mưa tạt gió lùa, không quá lạnh vào mùa đông, không quá nóng vào mùa hè Tránh những điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh tồn tại và phát triển Vì vậy, công tác vệ sinh chuồng trại tốt và đúng quy trình là hết sức cần thiết
Bệnh tật
Ảnh hưởng lớn đến năng suất vật nuôi, nhất là trong chăn nuôi công nghiệp với mật độ cao Cần tích cực, chủ động phòng ngừa Áp dụng đúng và đầy đủ các quy trình vệ sinh thú y như các biện pháp phòng và chống dịch bệnh
Bệnh truyền nhiễm gây sẩy thai, thai chết hóa gỗ, heo con sinh ra bị triệu chứng
thần kinh co giật, chết là hậu quả của bệnh do: Leptospira, Aujeszky, Parvovirus…
Trang 26Bệnh không truyền nhiễm: sót nhau đẻ khó, các bệnh về dinh dưỡng và đặc biệt
là hội chứng M.M.A
Bệnh xảy ra toàn thân hay cục bộ ít nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe của thú nhất
là bệnh sẩy thai trên đường sinh dục, sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi, làm chậm động dục trở lại sau cai sữa hay phối giống không đậu thai, từ đó làm giảm số lứa đẻ trong năm của heo nái, giảm số con cũng như trọng lượng cai sữa toàn ổ…
2.2.3 Bệnh tiêu chảy heo con
2.2.3.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở heo con
Trong bụng mẹ, heo con nhận dưỡng chất trực tiếp từ máu thông qua động mạch rốn, nên lúc này bộ máy tiêu hóa chưa hoạt động Khi sinh ra heo con bị cắt đứt nguồn dinh dưỡng được cung cấp trực tiếp nên bộ máy tiêu hóa phải hoạt động để cung cấp chất dinh dưỡng cho sự tồn tại của chúng Tuy vậy, sự hoạt động của bộ hệ thống tiêu hóa vẫn chưa hoàn chỉnh
Theo Phùng Ứng Lân (1985), heo từ sơ sinh đến 25 ngày tuổi lượng HCl tiết ra trong dịch vị rất ít và nó nhanh chóng kết hợp với dịch nhầy làm hàm lượng HCl tự do trong dịch vị rất thiếu, độ tan trong dạ dày thấp tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển
và gây bệnh đường ruột
2.2.3.2 Bệnh tiêu chảy
Trên heo con bệnh tiêu chảy là bệnh rất đa dạng Đặc biệt là gây viêm dạ dày, ruột đi phân lỏng làm mất nước và chất điện giải, máu cô đặc làm con vật gầy nhanh dẫn đến tử vong hoặc còi cọc chậm lớn
2.2.3.3 Nguyên nhân gây tiêu chảy
Bệnh tiêu chảy ở heo con là một bệnh rất phổ biến, thường gặp ở heo con từ 1 -
21 ngày tuổi và cũng chiếm tỷ lệ cao ở giai đoạn sau đó Bệnh diễn biến ở nhiều mức
độ khác nhau và xảy ra do nhiều nguyên nhân kết hợp (Nguyễn Như Pho, 1995)
Do heo mẹ
Heo nái trong quá trình mang thai nuôi dưỡng kém, thiếu các chất khoáng, protein hay do mắc bệnh làm ảnh hưởng đến bào thai, nên trọng lượng của heo con sơ sinh giảm, khả năng chống đỡ bệnh rất yếu kém
Trang 27Do sữa mẹ không thích hợp, chăm sóc nuôi dưỡng kém, mẹ viêm vú, sót nhau, mắc một số bệnh truyền nhiễm…ảnh hưởng đến chất lượng sữa gây nên chứng tiêu chảy ở heo con theo mẹ
Heo mẹ bị hội chứng M.M.A, heo con bú sữa có chứa sản vật viêm, liếm dịch viêm dính trên nền chuồng gây tiêu chảy Trên những heo mẹ bị giảm sữa hay mất sữa, heo con bú được ít hay không bú được sữa đều nên sức đề kháng kém dễ phát sinh bệnh (Nguyễn Như Pho, 1995)
Do heo con
Ở heo con, do đặc điểm sinh lý là có bộ máy tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh, các enzyne tiêu hóa còn nghèo cả về chất lẫn lượng, lượng HCl trong giai đoạn
sơ sinh rất ít do đó dễ bị tiêu chảy Đây cũng là nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy
ở heo con (A.V.Kvanhixki, 1960), dẫn liệu Nguyễn Như Pho, 1995)
Lớp vỏ đại não của heo con chưa phát triển đầy đủ nên các phản xạ có chức năng bảo vệ nói chung còn kém, trong đó phản xạ điều tiết nhiệt độ của cơ thể không thực hiện được nên heo con dễ bị stress với những biến đổi về nhiệt độ của môi trường làm giảm sức đề kháng dẫn đến tiêu chảy (Phùng Ứng Lân, 1985)
Do heo con tăng trưởng quá nhanh nên thường hay bị thiếu Sắt (Fe) để tạo hồng cầu dẫn đến thiếu máu làm giảm sức đề kháng dẫn đến tiêu chảy Hoặc heo con bú quá
nhiều sữa, sữa không tiêu hóa hết hoặc heo con bị viêm rốn do E.coli cũng dẫn đến
tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 1995)
Thời kỳ heo con mọc răng cũng gây tiêu chảy cho heo con Giai đoạn heo con sốt và tiêu chảy cao là lúc 10 - 17 ngày tuổi và 23 - 29 ngày tuổi ứng với thời gian mọc răng sữa tiền hàm 3 hàm dưới và răng tiền hàm 4 hàm trên (Võ Văn Ninh, 1985, dẫn liệu Nguyễn Như Pho, 1995)
Heo tập ăn là lúc thành phần trong thức ăn sẽ khác nhiều với sữa mẹ, bộ máy tiêu hóa của heo con sẽ không tiêu hóa được hết vì bị thiếu enzyne tiêu hóa từ đó dễ nhiễm khuẩn dẫn đến tiêu chảy
Do đặc tính của heo con hay liếm nước đọng trên nền chuồng, dễ bị vi khuẩn gây bệnh vào đường ruột hoặc do heo con ăn thức ăn của heo mẹ, bộ máy tiêu hóa không tiêu hóa được dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây tiêu chảy
Trang 28 Do ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Do vệ sinh chuồng trại kém, hệ thống nước không vệ sinh hoặc cho heo con uống nước lạnh cũng gây tiêu chảy
Do nhiệt độ úm heo con trong tuần đầu không đủ, do bấm răng không kỹ nên khi bú heo con gây viêm vú mẹ (cắn là trầy, rách núm vú) Heo con bú sữa viêm, không bú sữa đầu đầy đủ, hoặc do thức ăn heo mẹ kém phẩm chất nên ảnh hưởng đến chất lượng sữa dẫn đến tiêu chảy (Nguyễn Như Pho, 1995)
Do thiết kế chuồng trại không đúng kỹ thuật, ẩm ướt, mưa tạt gió lùa, thiết kế máng ăn không phù hợp, thông thoáng kém, do sự biến đổi đột ngột của thời tiết hoặc
do nhiệt độ quá lạnh hay quá nóng cũng đều có thể gây tiêu chảy heo con (Đào Trọng Đạt, 1964, dẫn liệu Phan Hoàng Vũ, 1997)
Do quản lý, chuyển chuồng, nhập tách đàn gây stress hoặc cho heo con tập ăn đột ngột cũng gây tiêu chảy
Đôi khi heo con thiếu vận động cũng có thể cũng bị tiêu chảy, vì heo con được vận động sẽ làm tăng trao đổi chất nên tăng sức đề kháng với dịch bệnh (Phùng Ứng Lân, 1985)
Trang 292.2.3.4 Cơ chế sinh bệnh
Sơ đồ 2.2 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy heo con
(Phùng Ứng Lân, 1985) Theo Nguyễn Như Pho (1995), trong giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi, heo con thiếu HCl tự do làm giảm khả năng tiệt trùng dạ dày - ruột, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây thối rữa làm giảm khả năng tiêu hóa protein
Các vi khuẩn và các độc tố của chúng, chất độc do phân giải thức ăn sẽ tác động lên niêm mạc ruột làm nhu động ruột tăng gây tiêu chảy Sự tiêu chảy làm mất nước, mất chất điện giải, máu bị cô đặc, cơ thể bị trúng độc, thú bị suy nhược nặng do 2 yếu tố:
Cơ thể mất nước gầy nhanh, mắt hõm, bụng tóp, da nhăn
Heo con lười bú, nên bú được ít sữa, dẫn đến thiếu dinh dưỡng và sữa bị đẩy nhanh qua đường tiêu hóa do nhu động ruột tăng, chất dự trữ của cơ thể giảm, heo con
bị suy nhược nhanh và thường chết vào ban đêm do lạnh
Nhiễm độc
Rối loạn tiêu hóa
(rối loạn vận động,
hấp thu tiết dịch)
Rối loạn cân bằng
hệ sinh vật đường ruột (loạn khuẩn)
Tử vong
Rối loạn cân bằng điện giải (do mất nước)
Tiêu chảy, giảm sức đề kháng Niêm mạc đường ruột Nguyên nhân gây bệnh
Trang 302.2.3.5 Triệu chứng
Theo Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ (1995), heo con tiêu chảy đa số thân nhiệt không tăng, nếu có tăng sau vài ngày thân nhiệt cũng trở lại bình thường Việc xác định dựa vào trạng thái phân, phân lỏng, có màu trắng hay hơi vàng, nhiều bọt khí Heo con bị khát nước, đôi khi ợ và nôn ra sữa không tiêu, tăng số lần đi phân trong ngày
Ngoài ra, trạng thái phân còn quan sát một số triệu chứng lâm sàng như:
Lúc mới tiêu chảy, heo con vẫn còn phản xạ bú bình thường, sau đó tiêu chảy nhiều, bệnh nặng, heo con bỏ bú, gầy tóp nhanh do mất nước và các chất điện giải Niêm mạc mắt, mũi, mõm nhợt nhạt Heo bị thiếu máu thường nằm 1 chỗ và một số trường hợp heo con bị mất phản ứng rõ rệt với các kích thích run cơ, co giật, nhiệt độ giảm và thường dẫn đến chết
Một số tác giả cũng lưu ý khi theo dõi chăm sóc heo con, thường heo con trước khi tiêu chảy có giai đoạn heo con đi phân khó, bón, nhỏ và đen như hạt đậu
2.2.3.6 Chẩn đoán
Dựa vào triệu chứng lâm sàng đặc biệt là có hay không tiêu chảy Tuy nhiên, để xác định cần xét nghiệm vi trùng học, phân tích các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại Những chỉ tiêu trên cho ta khẳng định bệnh chính xác và loại trừ những ý kiến trái ngược nhau Chúng ta cũng nên làm kháng sinh đồ (bệnh phẩm là phân tiêu chảy)
2.2.3.7 Điều trị
Cần tích cực ngay từ đầu với các biện pháp sau:
- Cung cấp năng lượng, cung cấp nước và chất điện giải ngay cho heo con Thường người ta dùng nước sinh lý mặn, ngọt cung cấp qua xoang bụng với liều 20ml/lần, ngày 2 - 3 lần, kết hợp với Oresol cho uống (1 gói pha 1 lit nước sôi để nguội)
- Cung cấp kháng sinh ngăn chặn vi sinh vật có hại phát triển
- Cung cấp các vitamin: vitamin C, vitamin A
Sau khi bệnh thuyên giảm và liệu trình kháng sinh được 24 giờ, nên dùng các chế phẩm vi sinh vật: Biolactin, Neolactin cho heo con uống để phục hồi hệ vi sinh vật
có lợi cho đường ruột
Trang 31Trong quá trình điều trị cần giữ ấm cho heo con, cần vệ sinh ổ úm và chuồng trại thật sạch sẽ Trường hợp heo con bị nặng có thể tách riêng, cách ly mẹ vài ngày để điều trị
2.3 GIỚI THIỆU VỀ CHẾ PHẨM PBT4 – WAY
Chế phẩm PBT4 - WAY tên đầy đủ là Pre – Breeding Topdresser
2.3.1 Đặc điểm PBT4 - WAY
PBT4 - WAY là sản phẩm của Canada sản xuất, đang được lưu hành thông dụng ở nước ta, được nhiều trại chăn nuôi đã và đang thực nghiệm để kiểm chứng hiệu quả
Công dụng của chế phẩm PBT4 - WAY
- Nâng cao trọng lượng heo con cai sữa rõ rệt
- Tăng 1 cách đáng kể tỷ lệ đẻ trên nái
- Rút ngắn số ngày từ cai sữa tới lên giống của heo nái
- Cải thiện số lượng heo con đẻ ra trên lứa
2.3.2 Kết quả thử nghiệm khi sử dụng PBT4 - WAY
* Kết quả nghiên cứu công bố từ năm 1998 của viện nghiên cứu heo Alberta PBT4 - WAY có tác dụng Được thể hiện qua biểu đồ sau:
PBT4 - WAY Đối chứng
Biểu đồ 2.1 Trọng lượng toàn ổ lúc cai sữa Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ nái phối ngày thứ 7
Trang 32100.000 10.000 2.700
3 3.100 2.25
375
930 1,16 0,178 0,24
Trang 33Y tế Thế giới (WHO) năm 1960
1 IU = 0,3 μg vitamin A alcochol
1 IU = 0,344 μg vitamin A acetate
1 IU = 0,6 μg β – caroten
* Vai trò sinh học của vitamin A
Vitamin A là loại sinh tố cần thiết cho sự sinh trưởng, sinh sản và kháng bệnh (Võ Văn Ninh, 2003) Scott và cộng tác viên (1982), cho biết vitamin A có tác dụng trong việc liên kết lipid và protein để thành lập chất lipo – protein cấu tạo màng tế bào, giúp tế bào phát triển và giữ sự bền vững, chống hiện tượng hóa sừng và sự nhiễm trùng ở hệ thống niêm mạc hô hấp, tiêu hóa, sinh dục, và cả niêm mạc mắt (trích dẫn Nguyễn Như Pho, 2003) Khi thiếu vitamin A, cùng với hiện tượng sừng hóa niêm mạc, tạo kẻ hở cho vi trùng xâm nhập vào cơ thể thì cơ chế bảo vệ bên trong cũng giảm sút, có nghĩa là giảm thấp sự tạo thành γ – caroten kháng thể Cũng vì lẽ đó, người ta còn gọi vitamin A là vitamin chống bệnh truyền nhiễm Vitamin A còn có vai trò với sự hình thành hormone steroid của tuyến thượng thận và với sự sinh sản (Dương Thanh Liêm và cộng tác viên, 2002) Đối với thú cái, giúp phôi và thai phát triển bình thường, ngăn ngừa sự nhiễm trùng sau khi sinh, ngừa sót nhau Nhu cầu của vitamin A cho heo nái mang thai và nuôi con (theo NRC, 1998) là 4000 IU/kg thức ăn (trích dẫn bởi Dương Thanh Liêm và cộng tác viên, 2002)
Trang 342.3.3.2 Vitamin E
Vitamin E còn gọi là Tocopherol Trong tự nhiên có tám hoạt chất có tác dụng như vitamin E nhưng chỉ có α – tocopherol là có hoạt tính mạnh nhất Tocopherol tổng hợp có 2 dạng đồng phân D và L Hoạt tính sinh học của α – tocopherol tổng hợp (DL-α-tocopherol) nhỏ hơn 30% so với dạng tìm thấy trong tự nhiên (D-α- tocopherol)
OH
H3C
CH3O
H2C
H2C
H2
C HC
H2C
H2C
H2
C HC
H2C
H2C
Ở thú đực gây thoái hóa tinh hoàn, tinh trùng kỳ hình, kém hoạt lực, trên thú cái các buồng trứng vẫn phát triển bình thường nhưng gây chết thai, sẩy thai
2.3.3.3 Vitamin D 3
Vitamin D là một trong nhóm các sterol có chức năng tương tự như hormone (Nguyễn Phước Nhuận và cộng tác viên, 2003) Có lẽ do đó vitamin D được coi như một tiền hormone (prohormon) Vitamin D có 2 dạng, dạng tiền khởi và các sản phẩm chuyển hóa của chúng Trong y học và thú y người ta thường dùng 2 loại vitamin D3
(cholecalciferol) có nguồn gốc động vật và vitamin D2 Ergocalciferol có nguồn gốc thực vật Ở gia cầm sử dụng vitamin D2 kém hiệu quả hơn nhiều so với vitamin D3
Trang 35(Dương Thanh Liêm và cộng tác viên, 2002) Trong khi heo có khả năng sử dụng được
cả 2 loại này (Võ Văn Ninh, 2003) Vitamin D3 có tác dụng điều tiết sự hấp thu Ca ở ruột do nó kích thích sự tạo thành một loại protein vận chuyển đặc biệt ở tế bào niêm mạc ruột (Cabinding protein) vào trong máu
2.3.3.5 Mangan (Mn)
Mn là nguyên tố rất cần thiết để cấu tạo nên hợp chất chondroitin sulphate, nó
là một bộ phận mucopolysaccharid để cấu tạo nên mạng hữu cơ matrix trong xương để cho Ca tích lũy vào một cách bình thường Mn cũng là yếu tố cần thiết để phòng bệnh mất điều hòa, mất thăng bằng của thú sơ sinh
Trên nái sinh sản: làm cho nái đi lại dễ dàng hơn, vận động một cách bình
thường sau khi sinh (Dương Thanh Liêm, 2002)
2.3.3.6 Đồng (Cu)
Đồng tham gia kích hoạt các enzyne có liên quan đến trao đổi chất, tổng hợp lastin và collagen, sản xuất sắc tố melanin và hoàn thiện hệ thống thần kinh trung ương, giữ bình thường tế bào sản xuất hồng cầu
Đồng thúc đẩy hấp thụ sắt trong đường tiêu hóa và giải phóng sắt ra khỏi hệ thống tế bào lưới, tế bào nhu mô gan để đưa sắt đi vào máu đến tủy xương tạo hồng cầu Điều này thực hiện được phản ứng oxy hóa sắt từ dạng Ferrous đến dạng Ferric để chuyển sắt từ tổ chức vào plasma Ceruloplasma là enzyme có chứa đồng rất cần thiết cho phản ứng oxy hóa này
Trang 36Đồng cũng rất cần thiết cho sự phát triển bình thường của bộ xương, bởi vì nó
có vai trò trong việc tổng hợp Collagen, elastin để tạo ra mạng lưới cho sự tích lũy Ca
Cobalt chỉ khi nào nằm trong cấu trúc của vitamin B12 thì nó mới trở thành yếu
tố cần thiết cho cơ thể Vì lẽ đó mà vai trò sinh học của nó chính là vai trò vitamin B12 Cũng chính vì lẽ đó, người ta không coi cobalt là nguyên tố vi lượng cần thiết cho thú, đơn vị mà vitamin B12 mới là yếu tố thiết yếu (Dương Thanh Liêm, 2002)
2.3.3.9 Kẽm (Zn)
Kẽm tham gia trong cấu trúc trong nhiều loại enzyme có chứa nguyên tố kim loại metalloenzyme như: phosphatase, alkaline phosphatase, Amin peptidase, Carboxyl – peptidase, carboxyanhydrase, glutamin dehydrogenase… Kẽm cũng có liên quan tới hoạt động tuyến tụy với sự tổng hợp Insulin
Do có nhiều yếu tố hạn chế sự hấp thu lợi dụng kẽm trong thức ăn, nên để xác định nhu cầu chính xác là công việc làm rất khó khăn Không thể khuyến cáo liều kẽm bao nhiêu cho đủ để bảo đảm năng suất tối đa cho thú, để tránh bệnh khô da, đặc biệt nhất là ở heo (Dương Thanh Liêm, 2002)
2.3.3.10 Iodine (I)
Iod là nguyên tố vi lượng chiếm tỷ lệ thấp trong cơ thể Iod tham gia cấu tạo nên thyroxin, một loại kích tố giáp trạng có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi chất, quá trình hô hấp tỏa nhiệt của tế bào (Dương Thanh Liêm và cộng tác viên, 2002) Hiện nay người ta cung cấp Iod cho thú dưới dạng hữu cơ, thường dùng nhất là casein
- Iod
Trang 37ăn, nên tổng lượng muối vào cơ thể cũng không nhiều Mặc khác ở xứ nóng, heo uống nhiều nước, ra mồ hôi cũng nhiều, mất chất diện giải cũng nhiều nên không hại gì cả,
về nhu cầu lý thuyết, thú chỉ cần 0,3 – 0,5 % Nacl là đủ Nhưng với thức ăn heo choai
và vỗ béo có thể gấp 3 lần vẫn không có hiện tượng xấu (Dương Thanh Liêm, 2002)
2.3.4 ĐIỀU KIỆN CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG HEO KHẢO SÁT TẠI TRẠI HƯNG VIỆT
2.3.4.2 Thức ăn
Thức ăn cho heo nái
Thức ăn hỗn hợp do trại tự trộn với thành phần thực hiện có thể thay đổi tùy theo mùa vụ và giá thành của từng loại nhưng luôn đảm bảo đầy đủ và cân bằng dưỡng chất cho heo: nái nuôi con sử dụng cám số 6, nái khô và nái mang đến 21 sử dụng cám
số 10 Thành phần thực hiện và thành phần dinh dưỡng của cám 6 và 10 được trình bày qua bảng 2.2 bảng 2.3
Trang 3888,30 3000,00 14,20 6,00 5,09 0,62 0,25 0,48 0,48 0,12 1,10 0,83 0,60 0,67 14,32
Trang 39Thành phần dinh dưỡng trong 1 kg thức ăn (Nguồn: Phòng kỹ thuật trại heo tư doanh Hưng Việt)
Thức ăn cho heo con tập ăn
Heo con từ 7 - 10 ngày tuổi bắt đầu tập ăn bằng cám viên dành cho heo con tập
ăn đỏ và vàng của công ty Cargill Việt Nam Lúc đầu heo chỉ ăn cám đỏ Sau 1 tuần cám đỏ được trộn chung với cám vàng với tỷ lệ tăng dần và đạt tỷ lệ 1 : 2 vào lúc cai sữa
Bảng 2.4 Thành phần dinh dưỡng cám viên đỏ và vàng cho heo con tập ăn
Thành phần dinh dưỡng Cám viên đỏ Cám viên vàng Đạm tối thiếu (%)
Béo tối thiếu (%)
Ca (%)
P tối thiểu (%)
Tylosin (mg/kg) Max
Colostin (mg/kg) Max
Xơ tối đa (%)
Muối tối đa (%)
Ẩm độ tối đa (%)
ME (Kcal/kg)
20
3 0,8-1,25 0,65
50
80
5 0,8
14
3200
19
3 0,8-1,25 0,65
50
80
5 0,8
14
3100 (Nguồn: Phòng kỹ thuật trại heo tư doanh Hưng Việt)
Nước uống: nước từ giếng khoan được bơm lên bể lắng Từ bể nước được đưa
lên tháp nước và nhờ áp lực, nước được phân bố đến núm uống tự động cho từng heo suốt ngày đêm Riêng nước dùng tắm cho heo và vệ sinh chuồng trại thì được bơm trực tiếp từ bể
2.3.4.3 Chăm sóc nuôi dưỡng
* Lượng thức ăn
Nái trước khi sinh một tuần cho ăn ở mức từ 1,4 - 1,7kg/ngày, ngày ăn 2 lần Sau khi sinh cho ăn hạn chế trong 5 ngày đầu, sau 5 ngày cho ăn tự do tùy theo khả năng của nái Trong giai đoạn này, nái ăn nhiều nhất có thể đạt 6kg/ngày Nái cai sữa, ngày đầu cho nhịn đói, ngày kế tiếp cho ăn 2 - 2,5kg/ngày, những ngày còn lại từ 2,5 -
Trang 403,8kg/ngày Tuy nhiên, trong những ngày lên giống, nái thường không ăn hoặc ăn rất ít Sau khi phối cho đến 21 ngày sau Lượng thức ăn của nái là 2,7 - 3kg/ngày
* Chăm sóc
- Nái sắp sinh: Được chuyển đến chuồng nái đẻ một tuần trước khi sinh, tắm
rửa nái sạch sẽ, nhất là vùng thân sau và các móng, tắm ngày nhiều lần tùy nhiệt độ trong chuồng nuôi
- Nái sinh và nuôi con: thường xuyên theo dõi nái trong lúc sinh đẻ, kịp thời
can thiệp trong những ca đẻ khó Sau khi nái sinh xong tiêm 4ml Oxytoxin để tống hết nhau ra ngoài, đếm số nhau, kiểm tra kỹ còn con hay không nhằm tránh tình trạng sót nhau và con, tiêm kháng sinh Duphapen 1ml/10kg thể trọng ngăn ngừa sự nhiễm trùng
tử cung Trong vòng 3 ngày, nái được thụt rữa tử cung ngày 2 lần bằng thuốc tím 0,1%, theo dõi dịch hậu sản để kịp thời điều trị nếu nái có biểu hiện viêm nhiễm Bên cạnh
đó, lượng thức ăn của nái cũng được theo dõi kỹ, đo nhiệt độ những nái không ăn hoặc
ăn ít, nái sốt, bỏ ăn hoặc ăn ít thì điều trị như sau:
Analgin + vitamin C + vimexysone Hoặc Analgin + vitamin C + Tylo D.C Forte (Sài Gòn vet)
Nái sinh khó, sốt cao, yếu sức trước và sau khi đẻ được tiêm truyền Glucose 5%
có bổ sung Analgine, vitamin C, Oxytetra hoặc Calcium B12; tiêm bắp vimexysone
Nái nuôi con không tắm, chỉ xịt rửa nền chuồng, máng ăn và làm mát nái khi heo con đã lớn nhưng hạn chế không làm ướt con
Nái khô và nái mang thai: tắm và xịt rửa chuồng ngày một lần vào buổi sáng
Buổi chiều làm mát nái khi trời nắng nóng Thường xuyên theo dõi nái sau cai sữa để kiểm tra sự lên giống và phối giống đúng lúc
Heo con theo mẹ: thực hiện các thao tác lau nhớt ở miệng, nhúng bột Mistral,
cắt rốn, bấm răng và cho heo con bú sữa đầu đầy đủ Sau đó tiến hành cắt đuôi, bấm tai, cân trọng lượng sơ sinh và tách ghép bầy cho hợp lý
+ 3 ngày: tiêm Fe - dextran 100mg với liều 2ml/con
+ 4 ngày: uống Baycox 5% liều 1ml/con ngừa cầu trùng gây tiêu chảy + 7 ngày: chích ADE lần một, liều từ 1ml/con
+ 7 - 10 ngày tuổi tập ăn cho heo con và thiến heo đực
+ Trước khi cai sữa một ngày chích ADE lần 2, liều 2ml/con