1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HÌNH NHIỄM ĐỘC TỐ AFLATOXIN VÀ SỬ DỤNG AGONIST, DIETHYLSTILBETROLTRONG THỨC ĂN HEO T HỊT TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ CHĂN NUÔI HEO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

71 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 824,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÌNH HÌNH NHIỄM ĐỘC TỐ AFLATOXIN VÀ SỬ DỤNG -AGONIST, DIETHYLSTILBETROLTRONG THỨC ĂN HEO TH

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÌNH HÌNH NHIỄM ĐỘC TỐ AFLATOXIN VÀ SỬ DỤNG

-AGONIST, DIETHYLSTILBETROLTRONG THỨC ĂN

HEO THỊT TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ CHĂN NUÔI HEO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Họ và tên sinh viên : TRẦN THỤY PHƯƠNG TRÚC

Niên khóa : 2003 – 2008

Trang 2

TÌNH HÌNH NHIỄM ĐỘC TỐ AFLATOXIN VÀ SỬ DỤNG -AGONIST,

DIETHYLSTILBETROL TRONG THỨC ĂN HEO THỊT

TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ CHĂN NUÔI HEO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

HỒ CHÍ MINH

Tác giả

TRẦN THỤY PHƯƠNG TRÚC

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ ngành Thú Y

Giáo viên hướng dẫn:

PGS.TS LÂM THỊ THU HƯƠNG ThS NGUYỄN LÊ KIỀU THƯ

Tháng 09/2008

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Chân thành cảm tạ

 Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

 Ban Chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi - Thú Y

 Quý thầy cô Khoa Chăn nuôi - Thú Y

Đã tạo điều kiện học tập và truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt thời gian học tại trường

Chân thành ghi ơn

 PGS-TS Lâm Thị Thu Hương đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt những kiến thức quý báu để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

 ThS-BSTY Nguyễn Lê Kiều Thư đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ và cung cấp những thông tin cho tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp

Chân thành cảm ơn

 Ban lãnh đạo Chi Cục Thú Y Thành phố Hồ Chí Minh

 Các cô chú, anh chị và toàn thể cán bộ công nhân viên chức của Trạm Chẩn Đoán- Xét Nghiệm và Điều Trị, Chi Cục Thú Y TP.HCM

Đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt nhiều kinh nghiệm, đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp

Trần Thụy Phương Trúc

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài: “TÌNH HÌNH NHIỄM ĐỘC TỐ AFLATOXIN VÀ SỬ DỤNG

-AGONIST, DIETHYLSTILBETROL TRONG THỨC ĂN HEO THỊT TẠI MỘT

SỐ CƠ SỞ CHĂN NUÔI HEO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”,

thực hiện tại Trạm Chẩn Đoán-Xét Nghiệm và Điều Trị thuộc Chi Cục Thú Y Tp Hồ Chí Minh từ ngày 22/01/2008 đến 15/06/2008 Chúng tôi tiến hành phân tích 95 mẫu thức ăn gia súc và 266 mẫu nước tiểu tại một số CSCN heo trên địa bàn thành phố bằng phương pháp ELISA và LC/MS cho 2 chất là diethylstilbetrol và β-agonist, phương pháp TLC và HPLC cho aflatoxin Kết quả ghi nhận được như sau:

- Tất cả các mẫu thức ăn và nước tiểu thu thập được đều âm tính với diethylstilbetrol

- Các mẫu thức ăn lấy tại kho không phát hiện có chứa β-agonist Có 1 trên 43 mẫu thức ăn máng được phát hiện thấy có β-agonist chiếm tỉ lệ 2,33% với hàm lượng 1184,8 ppb Tỉ lệ mẫu nước tiểu tồn dư β-agonist là 2,26%; hàm lượng dao động từ 2,12 đến 206,40 ppb (trung bình là 65,83 ppb) Các mẫu thức ăn và nước tiểu tồn dư β-agonist thuộc 2 CSCN 1 ở quận 12 và 1 ở quận Củ Chi Tỉ lệ các CSCN không nằm trong mô hình kiểm soát vi phạm sử dụng β-agonist là 22,22%; tỉ lệ các CSCN trong

mô hình kiểm soát vi phạm sử dụng agonist là 0% Kích thích tố thuộc nhóm agonist được phát hiện là salbutamol

β Tỉ lệ nhiễm aflatoxin B1 trong thức ăn hỗn hợp cho heo thịt là 26,92% Trong

đó, tỉ lệ nhiễm trên các mẫu thức ăn tự trộn là 39,29%; mẫu thức ăn hỗn hợp bán sẵn trên thị trường là 12,50% Tỉ lệ nhiễm aflatoxin B1 trong thức ăn hỗn hợp vượt mức quy định về hàm lượng tối đa AFB1 cho phép là 7,69% Các mẫu thức ăn nhiễm aflatoxin tập trung ở mức hàm lượng từ ≥50-100 ppb Trong các mẫu cám tự trộn nhiễm aflatoxin B1 có 36,35% nhiễm aflatoxin vượt mức quy định về hàm lượng tối đa AFB1 cho phép trên thức ăn hỗn hợp cho heo thịt (≥100 ppb)

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa khoá luận i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt luận văn iii

MỤC LỤC iv

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH SÁCH CÁC HÌNH viii

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ viii

DANH SÁCH CÁC BẢNG ix

Chương 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu - Yêu cầu 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2: TỔNG QUAN 3

2.1 KHÁI NIỆM VỀ CHĂN NUÔI HEO AN TOÀN 3

2.1.1 Một số định nghĩa 3

2.1.2 Điều kiện vệ sinh thú y đối với thức ăn, nước uống cho heo trong chăn nuôi heo an toàn 3

2.2 MỘT SỐ CHẤT TỒN DƯ TRONG THỨC ĂN CHO HEO THỊT 3

2.2.1 GIỚI THIỆU VỀ NHÓM -AGONIST 3

2.2.1.1 Giới thiệu chung nhóm -agonist 3

2.2.1.2 Đặc tính hoá học 4

2.2.1.3 Tính chất 5

2.2.1.4 Dược lực học 6

2.2.1.5 Ảnh hưởng của sư tồn dư -agonist trong sản phẩm động vật lên người tiêu thụ 8

2.2.1.6 Những quy định về việc sử dụng nhóm -agonist 9

2.2.2 GIỚI THIỆU VỀ DIETHYLSTILBETROL (DES) 10

2.2.2.1 Giới thiêu chung - lịch sử sử dụng DES 10

Trang 6

2.2.2.2 Đặc tính hoá học 11

2.2.2.3 Dược lực học 11

2.2.2.4 Cơ chế tác động của DES lên kích thích tăng trọng 13

2.2.2.6 Ảnh hưởng của DES đến người tiêu dùng 13

2.2.2.7 Những quy định chung về việc sử dụng DES 14

2.2.3 GIỚI THIỆU VỀ AFLATOXIN 15

2.2.3.1 Lịch sử phát hiện aflatoxin .15

2.2.3.2 Các loại nấm mốc sản sinh aflatoxin và các yếu tố ảnh hưởng sự tạo thành aflatoxin 15

2.2.3.3 Các đặc điểm của aflatoxin 17

2.2.3.3.1 Cấu trúc hoá học 17

2.2.3.3.2 Đặc tính lý hoá 17

2.2.3.3.3 Hấp thu - Phân bố - Chuyển hoá - Bài thải 17

2.2.3.4 Tác hại của aflatoxin đối với gia súc và con người 20

2.2.3.5 Đề phòng và xử lý thức ăn nhiễm aflatoxin .22

2.2.3.6 Những quy định về mức aflatoxin được phép trên thức ăn hỗn hợp cho gia súc .23

2.3 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu có liên quan 24

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 26

3.1 Thời gian và địa điểm 26

3.1.1 Thời gian 26

3.1.2 Địa điểm 26

3.2 Đối tượng khảo sát 26

3.3 Nội dung khảo sát 26

3.4 Hoá chất .27

3.5 Phương pháp tiến hành 28

3.5.1 Phương pháp thu thập mẫu 28

3.5.2 Cách lấy và bảo quản mẫu 28

3.5.3 Phương pháp thí nghiệm 29

3.5.3.1 Quy trình xét nghiệm nhóm -agonist và diethylstilbetrol (DES) 29

Trang 7

3.5.3.2 Quy trình xét nghiệm xác định aflatoxin

trong thức ăn chăn nuôi 34

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 37

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Tình hình tồn dư diethylstilbetrol (DES) 38

4.2 Tình hình tồn dư nhóm β-agonist 40

4.2.1 Kết quả khảo sát tồn dư -agonist 40

4.2.2 Tình hình tồn dư -agonist theo nguồn gốc mẫu 42

4.2.3 Tình hình phát hiện các chất trong nhóm β-agonist 47

4.3 Tình hình nhiễm aflatoxin trên thức ăn heo thịt 49

4.3.1 Kết quả khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin trên thức ăn heo thịt 49

4.3.2 Mức nhiễm AFB1 trên thức ăn tự trộn và TĂHH heo 51

4.3.3 Hàm lượng aflatoxin trong các mẫu vi phạm 53

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 60

Trang 8

MRL : Maximum Residue Limit (Giới hạn dư lượng tối đa)

IARC : International Agency for Research on Cancer (Trung tâm nghiên cứu ung thư thế giới)

FAO : Food and Agriculture Organization (Tổ chức Lương Nông thế giới)

WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

CSCN : cơ sở chăn nuôi

TĂHH : thức ăn hỗn hợp

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Cấu trúc chung của phenethanolamine 4

Hình 2.2 Công thức cấu tạo của 6 chất thuộc nhóm -agonist thường được sử dụng trong chăn nuôi 5

Hình 2.3 Cấu trúc không gian của R-salbutamol 5

Hình 2.4 Công thức cấu tạo của DES 11

Hình 2.5 Công thức phân tử của Aflatoxin B1 17

Hình 2.6 Cấu trúc 3D của Aflatoxin B1 17

Hình 3.1 Bộ kit ELISA cho β-agonist và Diethylstilbetrol 28

Hình 3.2 Thu thập mẫu thức ăn và nước tiểu 29

Hình 3.3 Chấm aflatoxin vào bản mỏng silicagel 35

Hình 4.1 Kết quả ELISA về tồn dư nhóm β-agonist 41

Hình 4.2 Giai đoạn nhỏ dung dịch ngừng phản ứng trong test ELISA 44

Hình 4.3 Giai đoạn đọc kết quả bằng máy ELISA 44

Hình 4.4 AFB1 phát quan trên bản mỏng silicagel 54

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 2.1 Hình thành AFB1-Epoxide bởi CYP 450 18

Sơ đồ 2.2 Chuyển hoá AFB1 bởi cytochrom P450 (CYP 450) và tạo aflatoxicol 19

Sơ đồ 3.1 Quy trình phân tích nhóm -agonist 32

(Theo Bioo Scientific – USA, 2008) Sơ đồ 3.2 Quy trình phân tích Diethylstilbetrol 33

(Theo Bioo Scientific – USA, 2008) Sơ đồ 3.3 Quy trình phân tích aflatoxin B1 36

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Đáp ứng tiêu biểu của gia súc, gia cầm khi được bổ sung

các -agonist trong khẩu phần 7

Bảng 2.2 Đáp ứng tăng trưởng trên 1 số động vật đối với DES 12

Bảng 2.3 Tồn dư Aflatoxin B1 trong mô bào của heo 19

Bảng 2.4 LD50 của aflatoxin B1 trên một số loài động vật 20

Bảng 2.5 Quy định về mức độ tối đa độc tố aflatoxin trong thứa ăn hỗn hợp 23

Bảng 2.6 Mức độ tối đa AF được phép ở một số nước trên thế giới 23

Bảng 3.1 Điều kiện phân tích aflatoxin bằng HPLC 35

Bảng 4.1 Tỉ lệ mẫu thức ăn và nước tiểu tồn dư DES 38

Bảng 4.2 Tỉ lệ mẫu thức ăn và nước tiểu tồn dư -agonist 40

Bảng 4.3 Tỉ lệ mẫu thức ăn và nước tiểu tồn dư -agonist theo quận 42

Bảng 4.4 Tỉ lệ các trại vi phạm sử dụng β-agonist theo mô hình trại 45

Bảng 4.5 Hàm lượng các chất thuộc nhóm β-agonist trong các mẫu dương tính 47

Bảng 4.6 Tình hình nhiễm aflatoxin trong thức ăn hỗn hợp cho heo thịt 49

Bảng 4.7 Mức nhiễm AFB1 trên thức ăn tự trộn và TĂHH heo 51

Bảng 4.8 Hàm lượng aflatoxin trong các mẫu vi phạm 53

Trang 11

do vi phạm tiêu chuẩn an toàn trong sản xuất

Theo kết quả nghiên cứu 428 mẫu thịt gia súc gia cầm (từ 12 tỉnh, thành, thời gian 20/6-1/11/2006) của Cục Chăn nuôi (Bộ NN-PTNT), Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam đã phát hiện 11% số mẫu có chứa hormone kích thích tăng trưởng, trong đó thịt heo chiếm tới 96,5% Kết quả phân tích định lượng cũng đưa ra những con số đầy lo ngại khi hàm lượng trung bình của các loại hormone tăng trưởng đạt trung bình từ 50-125 ppb, cao gấp 30-60 lần tiêu chuẩn an toàn, trong khi tiêu chuẩn quốc tế quy định mức tồn dư hormone tăng trưởng ở thịt heo là 0 ppb

Theo Bộ Y tế Việt Nam, hàng năm có 200.000 người bị ung thư và trong đó 35% số ca là có liên quan đến việc sử dụng những thực phẩm độc hại Do đó, việc kiểm soát vệ sinh trong chăn nuôi, giết mổ gia súc gia cầm cũng như việc kiểm soát chế biến và vận chuyển thịt và các sản phẩm từ thịt là mục tiêu cần được đặt lên hàng đầu Nếu như không chấp hành đúng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, trong bối cảnh toàn cầu hoá với sự phổ cập thông tin nhanh chóng như hiện nay, không những chúng ta sẽ gặp phải vấn đề sức khoẻ cho chính người Việt Nam mà chắc chắn

Trang 12

sẽ còn bị loại ra khỏi thị trường thế giới vốn rất nghiêm ngặt và nhạy cảm đối với vấn

đề sức khoẻ con người nói chung và an toàn thực phẩm nói riêng

Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của Bộ môn Bệnh Lý - Truyền Nhiễm - Ký Sinh thuộc Khoa Chăn Nuôi Thú Y - Trường Đại học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh và ban lãnh đạo Chi Cục Thú Y TP.Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành đề tài:

“TÌNH HÌNH NHIỄM ĐỘC TỐ AFLATOXIN VÀ SỬ DỤNG -AGONIST, DIETHYLSTILBETROL TRONG THỨC ĂN HEO THỊT TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ CHĂN NUÔI HEO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lâm Thị Thu Hương và ThS Nguyễn Lê Kiều Thư

1.2 MỤC TIÊU, YÊU CẦU

1.2.1 Mục tiêu

Đánh giá tình hình nhiễm độc tố Aflatoxin trong thức ăn gia súc và tình hình sử dụng nhóm -agonist và diethylstilbetrol (DES) tại một số cơ sở chăn nuôi heo thịt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ đó đề nghị những khuyến cáo góp phần thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng

 Phát hiện Aflatoxin trong các mẫu thức ăn bằng phương pháp sắc ký bản mỏng (TLC) và định lượng bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC)

Trang 13

- Không sử dụng các loại thức ăn hỗn hợp, thức ăn Premix khoáng vi lượng, vitamin quá hạn sử dụng

- Ghi chép đầy đủ số lượng thuốc thú y được bổ sung vào thức ăn

- Nước sử dụng trong chăn nuôi heo, chế biến thức ăn chăn nuôi phải đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành

2.2 MỘT SỐ CHẤT TỒN DƯ TRONG THỨC ĂN CHO HEO THỊT

2.2.1 GIỚI THIỆU VỀ NHÓM -AGONIST

2.2.1.1 Giới thiệu chung nhóm -agonist

-agonist là một nhóm chất hóa học được tổng hợp phỏng theo cấu trúc của nhóm catecholamine trong tự nhiên (epinephrine, norepinephrine, dopamine) do tuyến thượng thận tiết ra Catecholamine là những chất điều hoà chính của quá trình biến

Trang 14

dưỡng, điều hoà các hoạt động sinh lý như nhịp đập và sự co bóp của tim, sự tiết dịch của các tuyến tiêu hoá, giãn phế quản, sự tiết của tuyến nước bọt, sự tiết insulin của tuyến tụy, co và giãn mạch máu, co bóp tử cung và co bóp vỏ lách Cả 3 loại catecholamine tác động lên nhiều chức năng sinh lý bằng cách kích thích hoạt động của synape thuộc hệ thống thần kinh trung ương, hoặc kích thích trực tiếp các cơ quan thông qua hệ thống thần kinh dinh dưỡng Catecholamine sẽ gắn vào thụ thể của nó trên các tế bào để tạo ra sự đáp ứng vì hầu hết các tế bào của cơ thể loài hữu nhũ đều

có thụ thể cho catecholamine (trích dẫn Nguyễn Lê Kiều Thư, 2007)

Trong nhân y, -agonist được dùng rộng rãi trong điều trị bệnh đường hô hấp mãn tính như hen suyễn và viêm phế quản (Witkamp, 1996) Trong thú y, ban đầu hầu hết -agonist được sử dụng để điều trị bệnh ở phế quản và trong sản khoa Sau đó, người ta phát hiện ra rằng nó cũng có tác động như một tác nhân điều phối, gia tăng quá trình phân giải mỡ trong cơ thể và phát triển cơ ở gia súc (Ricks và ctv, 1984), gia cầm (Dalrymple và ctv, 1984), heo (Jones và ctv, 1985) và cừu (Beermann và ctv, 1987) Để đạt được hiệu quả này thì cần sử dụng liều xấp xỉ gấp 5-10 lần liều điều trị thông thường Tuy nhiên vì tác hại của nó lên người tiêu dùng mà hiện nay chỉ duy nhất 1 chất thuộc nhóm -agonist được đăng ký trong thú y để điều trị cho gia súc, ngựa và thú nuôi trong nhà ở hầu hết các quốc gia Châu Âu là clenbuterol Một vài quốc gia ở Châu Âu cho phép mức giới hạn dư lượng tối đa (MRL: maximum Residue Limit) của chất này, như ở Anh MRL 0,5µg clenbuterol/kg đối với các mô ăn được, và

ở Hà Lan MRL 1µg/kg gan Không một quốc gia nào trong Cộng đồng Châu Âu cho phép sử dụng clenbuterol hay những -agonist khác vào mục đích kích thích tăng trưởng theo chỉ thị 96/22/EC

2.2.1.2 Đặc tính hoá học

Hình 2.1 Cấu trúc chung của phenethanolamine, Smith (1998)

Trang 15

Hình 2.2 Công thức cấu tạo của 6 chất thuôc nhóm -agonist thường được sử dụng trong chăn nuôi (Dương Thanh Liêm, 2007)

Salbutamol

- Tên hoá học 2-(hydroxymethyl)-4-[1-hydroxy-2-(tert-butylamino)ethyl]phenol

- Công thức phân tử C13H21NO3

- Trọng lượng phân tử 239.311g/mol

Hình 2.3 Cấu trúc không gian

của R-salbutamol

- Thời gian bán hủy 1,6 giờ

- Chuyển hoá ở gan, bài tiết chính qua thận

2.2.1.3 Tính chất

Đối với một -agonist, để có được tác động sinh học thì cần phải có 6 thành phần của nhân thơm, nhóm hydroxy gắn vào carbon  trong cấu hình R, thay hoàn toàn nitrogen vào nhóm ethylamine ở nhánh bên Sự thay thế hóa học của nhân thơm ảnh hưởng lớn đến sự tác động kéo dài của nhóm -agonist trong mô bào loài hữu nhủ

và hiệu quả của chúng tại các thụ thể (Smith, 1998) Những -agonist có vòng hydroxylate như salbutamol và ractopamine thì nhanh chóng bị bất hoạt bởi các enzyme ở gan và ruột, trong khi những -agonist có nhóm thay thế halogen thì chịu

Trang 16

đựng được những enzyme này Mabuterol và clenbuterol có cấu trúc đặc biệt để chống lại sự giảm hoạt tính nhanh chóng bởi các enzyme hoạt động nhắm tới gốc thơm hydrox

là 1, 2 và 3(Wika

i, tăng tốc độ dẫn truyền

glycogen, ở hệ thống thần kinh trung ương gây run và đau đầu (Drenn

y

Nhóm -agonist hoạt động thông qua sự liên kết với các thụ thể  định vị ở một

số loại tế bào khác nhau Có 3 type thụ thể của  đã được phân loại

mp, 1996) hiện diện trong tất cả các tổ chức với tỉ lệ khác nhau

- 1 có ở tim gây kích thích tim (tăng nhịp tim, làm tim co lạ

, dãn mạch vành), tế bào cầu thận kích thích giải phóng renin

- 2 ởcơ trơn (mạch máu, khí phế quản, ống tiêu hoá và niệu dục), ở bắp cơ, dẫn đến thư giãn phế quản, giảm biên độ, tần số và thời gian co cơ tử cung…, ở gan kích thích sự tiêu

an, 1994)

- 3 ở mô mỡ là

2.2.1.4 Dược lực học

ác động của ß-agonist trong điều trị hen suyễn

-agonist một loại thuốc cường giao cảm được sử dụng làm giãn khí quản theo

cơ chế cạnh tranh hoạt động trên thụ thể 2-adrenergic trên màng tế bào cơ trơn Thụ thể 2-adrenergic bị kích thích sẽ làm tăng hoạt tính adenyl cyclase, dẫn đến tăng lượng AMP vòng, AMP vòng hoạt hoá hệ thống protein kinase A làm giãn cơ trơn khí quản, ổn định màng tế bào Mast nên giảm tiết chất trung gian hoá học, làm giảm tiết

leucotrien, histamin ở tế bào dưỡng phổi, kích thích cơ vân (gây run), làm

chuyển dịch nhày nhờ các lông rung trên đường hô hấp và làm thông khí

Thuốc thường được sử dụng hiện nay ở

salmeterol và clenuterol (Nguyễn Tấn Dũng, 2004)

 Tác động của -agonist lên kích thích

Tác động lên thành phần quày thịt

Tác động chính của -agonist trên quày thịt là tăng lượng cơ và giảm khối mỡ, chúng không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít lên xương Tác động này thỉnh thoảng cũng đi kèm với sự tăng tốc độ tăng trưởng hay tăng hiệu quả sử dụng thức ăn Tuy nhiên, những đáp ứng này lên tăng trọng và hiệu quả thức ăn có liê

Trang 17

-agonist có tác động lên trọng lượng cơ thể là do tác động biến đổi mô mỡ thành mô cơ Khối mô phủ tạng và hầu hết các cơ quan khác thường không tăng, tuy nhiên trong vài trường hợp thì khối lượng mô gan bị giảm Vì thế, tỉ lệ trọng lượng thật của quày thịt thường tăng Tất cả các loài gia súc được kiểm tra (gồm gia cầm, loài nhai lại và heo) cho thấy chúng có đáp ứng khác nhau đối với -agonist Trên động vật có vú, độ đáp ứng của -agonist ở loài nhai lại cao hơn thú dạ dày đơn, mặc

dù chức năng của dạ cỏ không tham gia vào cơ chế tác động của thuốc trên bê hoặc cừu con (Williams, 1989)

Bảng 2.1 Đáp ứng tiêu biểu của gia súc, gia cầm khi được bổ sung các

-agonist trong khẩu phần

Tỉ lệ (%) Chỉ tiêu

Chuyển hoá thức ăn 5 0 - 20 0 - 15

Protein quày thịt 6 5 - 25 4 - 15

Lipid quày thịt giảm 4 đến 8 giảm 15 đến 40 giảm 5 đến 25

(Nguồn: Committee on Animal Nutrition Board, 1994; trích dẫn Nguyễn Lê Kiều Thư, 2007)

+ Phương thức tác động lên mô cơ

Các -agonist thường tạo ra bội dưỡng cơ, tuy nhiên đáp ứng sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng loại mô và loại -agonist sử dụng Sự gia tăng protein trong cơ có thể

là kết quả của sự gia tăng tổng hợp protein hoặc giảm sự thoái biến và cũng có thể là

cả 2

Có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các -agonist làm giảm tốc độ thoái biến protein trên cừu (Bohorov và ctv, 1987), chuột (Reeds và ctv, 1986) và gà thịt (Morgan và ctv, 1989) Cũng có dữ liệu cho rằng sự tổng hợp protein trong cơ có thể gia tăng trên chuột (Emery và ctv, 1984), cừu (Claeys và ctv, 1989) và heo (Bergen và ctv, 1989) (trích dẫn Nguyễn Lê Kiều Thư, 2007)

Theo kết quả nghiên cứu của Stirling Product Limited (Mỹ) tác dụng kích thích tăng trọng của R-salbutamol trên các loài như sau:

Trang 18

- Trên heo: có sự tăng trọng có ý nghĩa với R-salbutamol R-Salbutamol giúp cải thiện hiệu quả của thức ăn lên 21%, tăng 17% trọng lượng quày thịt, giảm 17% lượng mỡ

- Trên gia cầm: R-salbutamol có thể cải thiện hiệu quả của thức ăn tăng 5%, tăng 11% nạc và giảm đến 30% mỡ

- Trên cừu: R-salbutamol làm cơ thể tăng trọng gấp 4 lần Tăng 70% hiệu suất thức ăn khi cấp vào trong thức ăn cho cừu vào giai đoạn 35 ngày sắp xuất chuồng Tăng 18% thịt nạc, và tỉ lệ nạc và mỡ tăng 8%

- Trên gia súc: những dữ liệu lúc ban đầu chứng minh rằng R-salbutamol rất có hiệu quả trong việc làm tăng trọng lượng sống, nâng cao hiệu suất của thức ăn (giảm lượng thức ăn tiêu thụ cho mỗi kg tăng trọng) và chất lượng quày thịt trên gia súc Tăng trọng có thể tăng trên 10%, hiệu quả thức ăn có thể tăng 14% sau 30 ngày sử dụng

+ Phương thức tác động lên mô mỡ

Nhìn chung, các ý kiến đều cho rằng các -agonist tác động trực tiếp lên mô mỡ thông qua thụ thể  để kích thích sự phân giải mỡ Điều này cũng phù hợp khi người ta quan sát thấy sự gia tăng lượng acid béo tự do trong huyết thanh của thú thí nghiệm (Eisemann và ctv, 1988) Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng các -agonist có thể ảnh hưởng lên tốc độ tổng hợp acid béo trên động vật thí nghiệm (Peterla và Scanes, 1990), và sự giảm tổng chất béo có vai trò quan trọng trong việc giảm tổng lượng mỡ của cơ thể (Miller và ctv, 1988) (trích dẫn Nguyễn Lê Kiều Thư, 2007)

2.2.1.5 Ảnh hưởng của sư tồn dư -agonist trong sản phẩm động vật lên người

tiêu thụ

- Ngày 2/11/2005 hàng nghìn người dân Trung Quốc đã bị ngộ độc do ăn thịt heo tồn dư clenbuterol Ở Hồng Kông cũng xảy ra các vụ ngộ độc do ăn thức ăn có chứa nhóm -agonist vào những năm 1998, 1999, 2000

- Tháng 6 năm 2005, ở Bồ Đào Nha có 50 người bị ngộ độc do ăn thịt cừu và thịt bò có chứa chất tồn dư clenbuterol (Barbosa, 2005)

- Năm 1995, ở Italia có 16 người bị ngộ độc sau khi dùng thịt bò và người ta đã phát hiện hàm lượng clenbuteroltrong thịt bò trên 0,5 ppm (Maistro và ctv, 1995)

Trang 19

- Anomynous (1992) cũng thống kê tình hình ngộ độc từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1992 ở miền bắc Tây Ban Nha có 232 trường hợp ngộ độc do clenbuterol Trong

47 mẫu nước tiểu của những người bị ngộ độc, hàm lượng clenbuterol dao động từ 11 đến 486 ppb

- Tại miền trung Tây Ban Nha, từ tháng 10/1989 đến tháng 7/1990 người ta thống kê có 135 ca bị ngộ độc liên quan đến viêc sử dụng thực phẩm có chứa clenbuterol Các triệu chứng như tim đập nhanh, hồi hộp, lo âu, đau cơ, nhức đầu ở các bệnh nhân xuất hiện sau từ 30 phút đến 6 giờ dùng bữa với thực phẩm có tồn dư clenbuterol Trong số các bệnh nhân này có 43 gia đình ăn gan bò, chiếm 97% và những người còn lại ăn các sản phẩm thịt khác Kết quả phân tích có 2-4 ppb clenbuterol trong nước tiểu của bệnh nhân Những mẫu gan chưa được ăn sau khi đem gởi đi phân tích cũng cho kết quả hàm lượng clenbuterol từ 160 đến 291 ppb (Anomynous, 1992)

- Tại Pháp ngày 24/9/1990 có 22 người thuộc 8 gia đình ở Roanne và Ferrand phải nhập viện vì có những triệu chứng điển hình do ngộ độc clenbuterol Triệu chứng xuất hiện 1-3 giờ sau khi ăn gan bò và tất cả các bệnh nhân đã hồi phục sau 1-3 ngày Hai mẫu gan liên quan đến 2 vụ ngộ độc ở 2 vùng này có hàm lượng là

Clermont-375 và 500 ppb (Pulce và ctv, 1991)

2.2.1.6 Những quy định về việc sử dụng nhóm -agonist

Năm 1996, Cộng đồng Châu Âu ban hành chỉ thị 96/22/EC cấm việc sử dụng agonist và một số chất có tác động hormone hay kháng tuyến giáp khác trong chăn nuôi Chỉ duy nhất 1 chất thuộc nhóm -agonist được đăng ký trong thú y để điều trị cho gia súc, ngựa và thú cưng ở hầu hết các quốc gia Châu Âu là clenbuterol và việc

-sử dụng trên thú sản xuất là hoàn toàn bị cấm Chỉ thị 96/23/EC xác định chiến lược nghiên cứu các chất tồn dư đặc biệt là chất tồn dư hormone và thuốc thú y trên động vật và thịt tươi Chỉ thị này liên quan đến cả việc kiểm tra các chất có hoạt tính của -agonist

Ở Mỹ, ngày 22/12/1999 FDA cho phép sử dụng ractopamine như là chất kích thích tăng trưởng cho heo giai đoạn sắp xuất chuồng Gần đây zilpaterol chính thức được đăng kí sử dụng cho mục đích vỗ béo cho gia súc ở Nam Mĩ và Mexico

Trang 20

Ở Việt Nam, ngày 20/06/2002 Bộ Nông nghiêp và Phát triển Nông thôn đã ký quyết định số 54/2002/QĐ-BNN cấm sản xuất, nhập khẩu, lưu thông và sử dụng một

số kích thích tố thuộc nhóm -agonist (carbuterol, cimaterol, clenbuterol, fenoterol, mapenterol, ractopamine, salbutamol, terbutaline) trong sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi

2.2.2 GIỚI THIỆU VỀ DIETHYLSTILBETROL (DES)

2.2.2.1 Giới thiêu chung - lịch sử sử dụng DES

 Giới thiệu chung

DES là một estrogen tổng hợp Estrogen là một trong những hormone chủ yếu của buồng trứng và tác động dược lý của DES tương tự như của estrogen Những tác dụng này bao gồm sự phát triển và duy trì các cơ quan sinh dục của con cái và các đặc tính sinh dục thứ cấp, tác động đến sự phóng thích của hormone tuyến yên, ảnh hưởng đến sự tạo sữa, đến buồng trứng, hormone giới tính đực và việc tiết các hormone khác Chúng có hiệu quả trong việc đồng hóa và có tác động tổng hợp xương gồm việc gia tăng sự cung cấp calcium, hình thành xương, làm nhanh sự đóng cứng ở đầu xương Estrogen có thể tăng việc giữ lại muối trong cơ thể động vật và tăng hấp thu thức ăn ở

dạ dày ruột

 Lịch sử sử dụng DES

Diethylstilbetrol (DES) là một loại estrogen tổng hợp lần đầu được tạo ra trong phòng thí nghiệm năm 1938 bởi Leon Goldberg Nó được công bố đầu tiên trên tạp chí Nature ngày 5/2/1938

Trong suốt những năm 1038-1971, các bác sĩ Mỹ đã sử dụng cho thai phụ để ngăn ngừa sẩy thai và tránh những vấn đề khác có thể xảy ra trong lúc mang thai

Năm 1953, một nghiên cứu được công bố đã cho thấy rằng DES không thể ngăn ngừa sảy thai và sinh non Tuy nhiên, DES vẫn tiếp tục được kê toa cho đến năm 1971

Năm 1960, DES được phát hiện là có nhiều hiệu quả hơn androgen trong việc ngăn ngừa sự nguy cơ ung thư vú ở những người phụ nữ mãn kinh

Năm 1971, FDA (the US Food and Drug Administration) đã xuất bản 1 bản tin khuyên các bác sĩ ngừng kê toa DES cho những người phụ nữ có thai vì nó liên quan đến 1 vài trường hợp ung thư âm đạo ở con gái của những phụ nữ này Tuy nhiên, DES vẫn tiếp tục được sử dụng với những mục đích điều trị khác ít nhất là trong suốt

Trang 21

những năm của thập niên 70 và nó vẫn còn tiếp tục được sử dụng ở những quốc gia Châu Âu đến đầu những năm 80 Những mục đích điều trị đó bao gồm: liệu pháp thay thế hormone, kiểm soát rối loạn kinh nguyệt, làm giảm nhẹ hay ngăn ngừa sự dồn ứ sữa ở vú sau khi sinh, điều trị ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới, ung thư vú ở phụ nữ thời kỳ mãn kinh và ngừa thai (FDA, 1998)

1954 DES được sử dụng trong chăn nuôi như là một nhân tố kích thích tăng trưởng (bổ sung thêm vào trong thức ăn hay tiêm dưới da) ở gia súc, cừu và gia cầm Việc sử dụng DES như chất kích thích tăng trọng đã bị cấm vào năm 1979 ở Mỹ

2.2.2.2 Đặc tính hoá học

Hình 2.4 Công thức cấu tạo của DES

Tên hoá học 4-[4-(4-hydroxyphenyl)hex-3-en-3-yl]phenol

Công thức hóa học của DES C18H20O2

Trọng lượng phân tử của DES là 268.35 g/mol

- Bốc lên khói cay khi đốt nóng đến phân hủy

2.2.2.3 Dược lực học

 Tác động của DES trong điều trị trên gia súc

DES được sử dụng như một cách điều trị đối với những rối loạn thiếu hụt kích thích tố trong thuốc thú y và rất gần đây sử dụng cho những biện pháp sau giao phối

Trang 22

DES được dùng chủ yếu để trị chứng tiểu không kiềm chế được ở chó mèo cái,

hạn chế tình trạng có thai do giao phối tự nhiên hoặc không giao phối ở chó mèo

 Tác động của DES lên kích thích tăng trọng

Dinusson và cs (1948) đã báo cáo rằng cấy DES dưới da của bò cái tơ làm tăng

rõ rệt tăng trọng hàng ngày, tăng 12-16% Ở bò Hereford, DES làm tăng trọng lượng

sống lên 17% và chuyển hoá thức ăn khô lên 12% DES làm tăng protein trên mỗi đơn

vị protein ăn vào và mỗi đơn vị năng lượng ăn vào xấp xỉ 20% trọng lượng hơi và

khoảng 25% trọng lượng quày thịt

Tác động của DES lên thành phần quày thịt có thể có mối liên hệ với tỉ lệ giữa

protein và năng lượng trong khẩu phần Vì vậy khi tỉ lệ giữa protein tiêu hóa và năng

lượng tiêu hoá vượt quá 30, cấp DES sẽ làm giảm tích lũy mỡ trong quầy thịt ở cừu

(Preston và Burroughs, 1958); tỉ lệ tối ưu cho cừu khoảng 22 đến 23g protein tiêu hoá

cho mỗi megacalori năng lượng tiêu hoá (Preston, 1966) Với tỉ lệ này cấp DES sẽ ko

làm giảm tích lũy mỡ Ảnh hưởng chính của estrogen lên quày thịt là làm tăng tích lũy

protein (Gee và Preston, 1957)

Bảng 2.2 Đáp ứng tăng trưởng trên 1 số động vật đối với DES (Trenkle, 1969)

Loài Liều sử dụng Đáp ứng Tích lũy Mỡ

tăng trọng/ ngày tăng trọng

Trang 23

2.2.2.4 Cơ chế tác động của DES lên kích thích tăng trọng

- Làm tăng sản xuất ACTH và sự tiết các steroid của tuyến thượng thận bao gồm cả hormone androgen (Clegg và Cole, 1954)

- Làm tăng sự giải phóng những yếu tố kích thích giải phóng hormone tăng trưởng từ vùng dưới đồi (Grebing và ctv, 1970)

- Làm tăng tuần hoàn insulin ở gia súc và cừu, làm tăng hàm lượng glucose trong máu Insulin được biết là làm tăng sự vận chuyển amino acid qua màng tế bào,

do đó nó kích thích tổng hợp protein (Trenkle, 1969)

- Làm tăng tiết thyroxine (Burgess và Lamming, 1960)

- Ở loài nhai lại, DES kích thích tăng trưởng bằng cách tác động trực tiếp lên

mô thúc đẩy sự tận dụng NPN tốt hơn (McLaren và ctv, 1960) Ibrahim và Ingalls (1969) báo cáo rằng có sự tăng đáng kể ammonia trong dạ cỏ khi cho ăn DES Cùng với sự tăng này là sự tăng số lượng của nguyên sinh động vật trong dạ cỏ đã được xác nhận bởi báo cáo trước đó của Christiansen và ctv (1964)

2.2.2.6 Ảnh hưởng của DES đến người tiêu dùng

Diethylstilbetrol được coi là 1 chất sinh ung thư ở người Lần đầu tiên được xếp vào danh sách những chất gây ung thư trong The first Annual Report on carcinogens (1980) Những nghiên cứu dịch tễ học trên những người phụ nữ đã tiếp xúc với DES người ta thấy rằng:

 Ở phụ nữ mang thai: tăng nguy cơ ung thư vú lên sấp xỉ 30% (Đặc biệt trong thời kỳ mang thai nguy cơ càng cao hơn)

 Ở con gái của những người phụ nữ sử dụng DES: nguy cơ ung thư lớp tế bào biểu mô âm đạo và cổ tử cung cao hơn bình thường gấp 40 lần 1/3 con gái của những người mẹ có sử dụng DES có những cấu trúc ống sinh dục bất thường ở tử cung, cổ tử cung, ống dẫn trứng như: tử cung chữ T, cổ tử cung có màng che, cổ tử cung dạng mào gà Những biến chứng lúc mang thai bao gồm thai nằm sai vị trí tăng 3-5 lần so với bình thường, sinh non Tăng tỉ lệ vô sinh 24% so với người bình thường là 18% Sẩy thai, tăng hành vi đàn ông, tính tình không bình thường, dễ chán nản, phiền muộn

 Ở con trai của những người phụ nữ sử dụng DES: dương vật nhỏ hơn bình thường, dãn nở tỉnh mạch dịch hoàn và những bất thường bẩm sinh khác Tăng nguy

cơ u nang mào tinh hoàn 21% so với 5% ở những người bình thường Khả năng sản

Trang 24

xuất tinh dịch và thụ tinh rất kém, trở thành dạng người hiếm muộn Dương vật phát triển không bình thường teo nhỏ lại Dễ chán nãn, phiền muộn

 DES ảnh hưởng đến cháu gái: Kiểm tra khung xương chậu của 28 đứa cháu gái DES không khác với những đứa cháu gái mà mẹ không sử dụng DES

 DES ảnh hưởng đến cháu trai: phát triển không bình thường với khiếm khuyết như: lỗ niệu đạo ở đầu dương vật rộng lớn hơn bình thường, có thể gần giống như lỗ niệu đạo phụ nữ đi ra âm đạo; tỉ lệ khiếm khuyết này cao hơn gấp 20 lần so với những cháu trai mà bà của chúng không dùng DES

DES được phát hiện trên gan bò và cừu năm 1972-1973 Khi DES được sử dụng như 1 chất kích thích tăng trưởng cho cừu , gia súc; con người khi ăn thịt bò và cừu có thể nhiễm DES ở nồng độ lên tới 10 ppb (IARC, 1979)

Tại Mỹ các chất kích tố sinh dục nữ được sử dụng hợp pháp cho đến năm 1979 Sau đó người ta phát hiện thịt sản xuất có chất diethylstilbestrol có liên quan đến một

số bệnh ung thư trên người

Năm 1980 tại Italia, người ta phát hiện ra sự tồn dư của chất này trong thịt bê đóng hộp cho trẻ em đã gây ra một vụ bê bối lớn Các trường hợp đàn ông có vú to như phụ nữ, bệnh BD thường xảy ra ở những trẻ em sống trong vùng được quy là thịt

có diethylstilbestrol dùng làm thức ăn của trẻ khi chúng còn nhỏ

The National Occupational Exposure Survey (1981-1983) ước lượng có 1492 công nhân trong đó có 934 phụ nữ có khả năng đã tiếp xúc với DES trong khi sản xuất DES hay nghiên cứu công thức DES Nồng độ DES trong các mẫu không khí đuợc lấy

từ khu vực cây cối xung quanh nhà máy sản xuất DES trong khoảng từ 0,02 đến 24µg/m3 (IARC, 1979)

2.2.2.7 Những quy định chung về việc sử dụng DES

Năm 1979, Hiệp hội thức ăn và thuốc của Mĩ (the US Food and Drug Administration, FDA) đã cấm sử dụng DES như chất kích thích tăng trọng

1981, Hội đồng luật pháp Châu Âu đã ban hành chỉ thị 81/602/EEC cấm việc sử dụng một số hormone (diethylstilbetrol và một số stilbenes và chất có tác dụng kháng tuyến giáp khác)

Trang 25

Ở Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xếp DES vào danh mục

18 loại hoá chất và kích thích tố cấm sử dụng trong chăn nuôi (theo Quyết định 54/2002/QĐ-BNN, ngày 20 tháng 6 năm 2002)

2.2.3 GIỚI THIỆU VỀ AFLATOXIN

Năm 1960, hơn 10 vạn con gà tây đã chết không rõ nguyên nhân ở miền Nam

và Đông nước Anh chỉ với bệnh tích ở gan, nên người ta gọi là bệnh X của gà tây (Blount, 1961) Các hiện tượng tương tự cũng xảy ra trên vịt con, gà giò ở Tây Ban Nha, Hungary, Uganda mà điểm chung duy nhất là khẩu phần có bánh dầu đậu phộng nguồn gốc từ Brazin, Tây Phi, Đông Phi và Ấn Độ

Năm 1961, người ta đã tìm ra chất độc phát huỳnh quang xanh tím dưới đèn tử ngoại, chất này được gọi là aflatoxin và bệnh do nó gây ra gọi là aflatoxicosis (Asplin, 1962) Sự kiện trên nước Anh là bằng chứng đầu tiên về bệnh aflatoxin (Araullo và ctv, 1976) (Trích dẫn Lê Anh Phụng, 2001)

2.2.3.2 Các loại nấm mốc sản sinh aflatoxin và các yếu tố ảnh hưởng sự tạo thành aflatoxin

Loài nấm mốc đầu tiên được biết đến sản sinh aflatoxin là Aspergillus flavus và sau đó là A parasiticus Đây là 2 loài sản sinh aflatoxin mạnh nhất và nhiều nhất Ngoài ra có nhiều loài nấm mốc khác cũng sản sinh afatoxin: Aspergillus oryzae (Basappa và ctv, 1967), A niger, A wentii, A ruber, Penicillium puperulum, P

varabile, P frequentans, P citrinum (Kulik và Holaday, 1967), A ostianus (Scott và

ctv, 1968), A ochraceus, Rhizopus spp (Van Walbeek và ctv, 1968), A nomius

(Kurtzman cà ctv, 1987)

Trang 26

 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tạo thành aflatoxin

Aflatoxin là sản phẩm biến dưỡng thứ cấp từ các loại nấm sinh ra chúng nên aflatoxin chỉ được tạo thành khi nấm mốc đã phát triển Nhìn chung, các điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của nấm mốc cũng thuận lợi cho sự sản sinh aflatoxin (Lê Anh Phụng, 1998) Theo Moreau (1974) điều kiện để sản sinh độc tố nấm mốc khá chặt chẽ hơn so với các điểu kiện phát triển của nấm mốc, các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự tạo thành aflatoxin gồm loài nấm mốc, loại cơ chất và điều kiện ngoại cảnh

 Loài nấm mốc

Khả năng sinh AF của các loài nấm mốc, thậm chí của các chủng nấm mốc

trong một loài cũng rất khác nhau A flavus và A paraciticus có khả năng sinh AF nhiều nhất (Bùi Xuân Đồng, 1998) Các chủng A flavus chỉ sản sinh AF loại B và chỉ

có khoảng 50% chủng là có khả năng sinh độc tố, trong khi hầu hết các chủng A

paraciticus đều sinh AF cả nhóm B và G (Klich và Pitt, 1988)

 Loại cơ chất

AF được phát hiện trên các nguyên liệu có hàm lượng carbohydrate cao như bắp, hạt kê, đậu phộng, hạt cà phê, hạt cacao,… chủ yếu là trên các hạt có dầu trong đó đậu phộng (có hàm lượng lipid cao khoảng 430mg/g) là loại cơ chất thuận lợi nhất cho sản sinh AF (Sukardi, 1983) Riêng đậu nành là loại hạt duy nhất có khả năng tạo thành hexanal, có hoạt tính chống nấm (Doehlert, 1993)

 Điều kiện ngoại cảnh

Nhiệt độ tối ưu cho sự hình thành độc tố bao giờ cũng thấp hơn nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của nấm mốc Nhiệt độ thích hợp cho sự sản sinh AF là 25-28oC Nhiệt độ trên 45oC và dưới 17oC ức chế sự sinh trưởng và sản sinh AF của nấm mốc (Moreau, 1974)

Ẩm độ trong nông sản thích hợp cho sự sản sinh AF là 15-30% Tăng độ ẩm sẽ tăng sản xuất AF Đến khi ẩm độ đạt 50% thì độc tố bị giảm do hạt có quá nhiều nước gây ra thiếu thoáng khí làm tăng CO2 trong môi trường và thiếu O2 (Moreau, 1974)

Nấm mốc là loài hiếu khí nên việc giảm O2 và tăng CO2, N2 đều gây khó khăn cho việc tổng hợp AF Nồng độ O2 <1% ảnh hưởng đến sự sản xuất AF (Lander, 1967; trích dẫn Lê Anh Phụng, 1996)

Trang 27

Sự có mặt của một số acid amin, acid béo, kẽm cũng góp phần kích thích sự hình thành AF Sự cạnh tranh của nhiều loại nấm mốc trên một cơ chất cũng làm giảm lượng độc tố tạo thành (Widstrom, 1990; trích dẫn Trần Bắc Vi, 2005)

2.2.3.3 Các đặc điểm của aflatoxin

2.2.3.3.1 Cấu trúc hoá học

Năm 1962, Sergeant là người đầu tiên xác định công thức độc tố AF Theo Bhat (1991) AF là những hợp chất difuranocumarin Hiện có 20 dẫn xuất hóa học khác nhau của AF (kể cả các dẫn xuất đã được biến đổi trong cơ thể) Trong đó có 4 loại AF B1,

B2, G1, G2 được nấm mốc sản sinh nhiều nhất và có độc tính cao nhất (Dương Thanh Liêm, 2004) AF có cấu trúc gồm 1 gốc fumarin, 2 nhân furan và 1 vòng lacton

Công thức phân tử của aflatoxin B1 C17H12O6

Hình 2.6 Cấu trúc 3D của aflatoxin B1

(Dương Thanh Liêm, 2004)

Hình 2.5 Công thức phân tử của aflatoxin B1

2.2.3.3.2 Đặc tính lý hoá

AFB1 là những tinh thể màu vàng nhạt, có khối lượng phân tử thấp 312g/mol Tương đối bền với nhiệt độ: trên 100oC chỉ khử được phần nào AF, >200oC mới phá hủy được chúng (Dương Thanh Liêm, 2004) Nhiệt độ nóng chảy 268-269oC

Dễ bị phân hủy bởi các chất kiềm, tia cực tím, tia gamma…(Smith và Anderson, 1994)

AF hoà tan được trong các dung môi hữu cơ như chloroform, acetonitril, methanol, ethanol, aceton, benzen…nhưng không tan trong các dung môi béo như hexan, ether ethylic, ether dầu hoả

2.2.3.3.3 Hấp thu - Phân bố - Chuyển hoá - Bài thải

 Hấp thu: AF thường được hấp thu qua đường tiêu hoá, do có phân tử nhỏ và

có ái lực với lipid nên AF thường xâm nhập vào tế bào ruột theo cơ chế khuếch tán thụ động Sau đó AF được vận chuyển vào hệ tuần hoàn nhờ liên kết với tế bào máu hoặc

Trang 28

huyết tương Trong huyết tương hơn 90% độc tố ở dạng liên kết với albumin (Wong, 1980) Ngoài ra AF còn liên kết với thành phần lysin của albumin huyết tương tạo thành dạng Shiff base (Sabbioni, 1987; trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002)

 Phân bố: Sau khi qua hệ thống tĩnh mạch cửa, AF tập trung chủ yếu ở gan

Điều này có thể do: tính thấm cao của màng tế bào gan, hoạt động chuyển hoá cao và khả năng tạo các liên kết cộng hoá trị với các đại phân tử (Wilson, 1985)

Ở loài nhai lại thận có thể chứa hàm lượng AF cao nhất và cả dạng hydroxyl hoá của độc tố là AFM1 (Stublefield, 1983; trích dẫn Lê Anh Phụng, 2001)

Trên loài cầm mức AF cao nhất thường thấy ở mề, gan, thận của gà thịt, gà đẻ được cho ăn khẩu phần ăn có 0,5-3,3 ppb AFB1 trong 18-35 ngày (Wolzak, 1996; trích dẫn Lê Anh Phụng, 2001)

Ở cá không thấy có AFB1 và các chất biến dưỡng của nó trong thịt của cá khi cho ăn thức ăn nhiễm AFB1 mà có nhiều nhất ở gan (trích dẫn Lê Anh Phụng, 2001)

 Chuyển hoá: Lượng AF ăn vào thường được cơ thể bài thải hoặc biến đổi ở

gan qua hệ thống mono oxy hoá (MFO), Glutathione (GSH) hoặc bài tiết qua mật Do mono-oxygenase trong cytochrom P450, AFB1 được hoạt hoá thành AFB1-epoxide có độc tính (Neal, 1998; trích dẫn Bùi Ngọc Trang, 2005)

Sơ đồ 2.1 Hình thành AFB1-Epoxide bởi CYP 450 (Lê Anh Phụng, 1998)

Theo Cambell (1976), các chuyển hoá ở gan đóng vai trò chủ yếu trong chuyển hoá AFB1 tạo ra các chất có độc tính thấp hơn Cơ chế giải độc chủ yếu của gan là tạo kết hợp AFB1-epoxide với GSH, hoặc chuyển đổi AFB1-epoxide thành dihydrodiol, ngoài

ra các enzyme có Nicotamide Adenine Dinucleotide Phosphate (NADP) có thể khử AFB1, AFB2 thành aflatoxicol và cyclopentanol có độc tính thấp hơn (trích dẫn Trần Thị Bảo Trân, 2003)

Trang 29

Sơ đồ 2.2 Chuyển hoá AFB 1 bởi cytochrom P450 (CYP 450) và tạo aflatoxicol

 Bài thải: AF được chuyển hoá và bài xuất chủ yếu qua mật, nước tiểu, phân với

tỉ lệ 70:15:15 Ngoài ra, độc tố này còn được bài thải với số lượng ít qua sữa hoặc trứng

Bảng 2.3 Tồn dư Aflatoxin B1 trong mô bào của heo

(Johanna Fink-Gemmels, 1989, Tài liệu tổng hợp, trích dẫn Đậu Ngọc Hào và Lê Thị Ngọc Diệp, 2003)

Tồn dư (ppb) Hàm lượng AFB1

trong thức ăn Chất tồn dư Gan Thận Cơ

100-400ppb AFB1

AFM1

0,3-2,7 0,2-2

0,3 0,1-0,2

0,2 0,04-0,4

250-417ppb AFB1

AFM1

51-92 3-4

10-50 3-6

0,6 1,1-2,6

0,4

Trang 30

2.2.3.4 Tác hại của aflatoxin đối với gia súc và con người

 Nhiễm độc cấp tính

Ít gặp trong tự nhiên, chỉ xảy ra khi động vật ăn phải một lượng lớn độc tố và được thể hiện bằng liều gây chết LD50 Thường thú non mẫn cảm hơn thú trưởng thành, các loài gia cầm mẫn cảm hơn gia súc (Lê Anh Phụng, 2001)

Bảng 2.4 LD50 của aflatoxin B1 trên một số loài động vật (Linsell C.A, 1997; trích dẫn Lê Anh Phụng, 1996)

Loài động vật LD50 (mg/kg thể trọng) Loài động vật LD50 (mg/kg thể trọng) Thỏ

Chuột lang Khỉ đầu chó

Gà Chuột cống cái Chuột cống đực Chuột bạch

1,4-2

2 6,3 5,5-7,2 17,9

9

Cơ chế và con đường gây độc cấp tính của aflatoxin: để có thể gây độc đối

với tế bào gan cũng như tạo khối u, AF phải trải qua một quá trình biến đổi sinh học phức tạp, tạo thành 2,3-dihydrodiol ở trong gan (AFB1-dhd) Theo giả thiết của Neal

và ctv (1981), hợp chất này được thử nghiệm về khả năng ức chế tổng hợp protein trong ống nghiệm Nguyên nhân gây chết là do gan bị huỷ hoại rất nhanh (necrosis)

Sự mẫn cảm của các loài vật nuôi khác nhau là do quá trình chuyển hoá này Ở đây nhóm dialdehyd phản ứng với nhóm amin của protein để tạo thành kiềm ship (shiff’s base) Các kiềm ship có thể ức chế sinh tổng hợp ADN và gây ra nhiễm độc cấp tính (Đậu Ngọc Hào và Lê Thị Ngọc Diệp, 2003)

Triệu chứng: kém ăn, uống nước nhiều, còi cọc, ủ rũ, tiêu chảy và có các triệu

chứng thần kinh như nằm liệt, co giật rồi chết sau một thời gian ngắn thường dưới 72 giờ (Lê Anh Phụng, 2001)

Bệnh tích: chủ yếu trên gan như gan sưng cấp tính, gan nhạt màu, hoại tử, tăng

sinh các ống dẫn mật nhỏ Ngoài ra còn có thận viêm, tiểu cầu thận sưng, thoái hóa ống gần của thận… (Moreau,1974)

Trang 31

 Nhiễm độc mãn tính

Trên gia súc gia cầm thường chỉ gặp nhiễm độc mãn hoặc bán cấp tính Do thú tiêu thụ một lượng thấp AF nhưng thời gian tiếp xúc kéo dài

Triệu chứng: thú kém ăn và chậm lớn, đôi khi sút cân, giảm sức sản xuất

Bệnh tích: gan tụ huyết, xuất huyết, hoại tử với đặc trưng tăng sinh niêm mạc

ống dẫn mật, thoái hoá mỡ tế bào gan, thấm nhiễm lympho bào vào khu vực quanh cửa Nhiễm độc kéo dài có thể thấy thận tụ huyết, đôi khi cũng có viêm ruột xuất huyết, xuất hiện ung thư gan (Lê Anh Phụng, 1996)

Mức AF thú có thể chịu đựng được mà không gây biến đổi bệnh lý và không ảnh hưởng đến năng suất trong thức ăn hỗn hợp:

Thức ăn gia cầm con < 50 ppb AFB1

Thức ăn gia cầm lớn < 100 ppb AFB1

Thức ăn heo con < 50 ppb AFB1

Thức ăn heo lớn < 200 ppb AFB1

Thức ăn trâu bò < 300 ppb AFB1

(Merck manual, 1991; trích dẫn Phan Thị Thu Phương, 2007)

 Gây ung thư

AF đã được nghiên cứu và chứng minh là tác nhân gây ung thư ở động vật thí nghiệm và vật nuôi Bằng chứng này được 2 tổ chức thuộc Trung tâm nghiên cứu ung thư thế giới (IARC, 1979) cũng như Tổ chức y tế thế giới (WHO, 1979) ghi nhận

Trang 32

Cơ chế gắn AF vào chuỗi ADN: để gây được ung thư, AF phải xâm nhập được

vào các gen di truyền, làm thay đổi mật mã di truyền, tạo ra sự phân chia bất bình thường của tế bào Cơ chế gây khối u chưa hoàn toàn được biết đến, song có thể thấy vai trò quan trọng của 2,3 epoxide như một nhân tố tác động Như vậy, nó phải được hình thành trong quá trình chuyển hoá của cơ thể, cụ thể sự chuyển hoá AFB1 thành dạng AF-dhd, hoạt chất này chuyển hoá nhanh sang dạng 2,3 epoxide Quá trình liên kết giữa AFB1 với 2,3 epoxide xảy ra ở vị trí 7N Guanin của chuỗi ADN Đây là một liên kết đồng hoá trị rất bền vững, kết quả dẫn đến làm ức chế hoặc sai lệch sinh tổng hợp protein do “sao chép” sai lệch của ADN (Cliford, 1967; trích dẫn Đậu Ngọc Hào

 Xử lý thức ăn nhiễm nấm mốc

 Biện pháp vật lý: loại bỏ phần nhiễm mốc, rửa bằng nước, xử lý nhiệt, chiếu

xạ (tia X, tia gamma, tia UV), ly trích bằng dung môi, dùng các chất hấp phụ độc tố

 Biện pháp hoá học: sử dụng một số chất có tính acid, kiềm (ammonia, sút), chất có tính oxy hoá (peroxyd hydrogen, ozon), các chất khử (bisulfit), các chất có chlor, các muối…

 Biện pháp sinh vật học: có thể dùng một số vi khuẩn có khả năng phân giải

AF như Flavobacterium aurantiacum, Bacillus subtilis… nấm men sacharomyces

cerevisiae (Đậu Ngọc Hào, 2003)

 Các phương pháp khác: cải tiến khẩu phần, phối hợp các hạt nhiễm với hạt lành sao cho độc tố nấm đưa vào cơ thể ở mức thấp hơn mức tối thiểu gây độc cho thú,

Trang 33

bổ sung thêm methionine, vitamin nhóm B…để tăng khả năng giải độc của cơ thể (Lê

(Quyết định số 10/2001/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2001)

Bảng 2.6 Mức độ tối đa AF được phép ở một số nước trên thế giới

(Dương Thanh Liêm, 2004)

Quốc gia quy định Loại nông sản Mức quy định tối đa AF

(ppb)

Hạt ngũ cốc 5 Pháp

Hạt có dầu 1

Mỹ Thực phẩm, thức ăn chăn nuôi 20-25

Nhật Bản Khô dầu phộng cho thức ăn chăn nuôi 1000

Malaysia Tất cả các loại thực phẩm 0

Trang 34

2.3 LƯỢC DUYỆT MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

Trần Minh Sơn (2005) phân tích trên 56 mẫu thịt thịt bò, heo và gà tại Tp HCM tồn dư clenbuterol chiếm 46,30% với hàm lượng biến động từ 0,13-2,46 ppb

Lưu Thị Tuyết Âu (2006) phân tích 150 mẫu thịt heo trên địa bàn Tp HCM, kết quả tỉ lệ tồn dư clenbuterol là 23,33%

Phan Thị Nhã Tú (2007) phân tích 65 mẫu gan và 65 mẫu thịt heo trên heo trên địa bàn Tp HCM tỉ lệ mẫu gan có tồn dư β-agonist là 24,61%, thịt là 18,46%

Năm 1992 và 1993 kết quả của chương trình điều tra tồn dư -agonist ở các quốc gia Châu Âu có khoảng 30.000 con thú từ các quốc gia thành viên được kiểm tra tồn dư -agonist Kết quả mẫu dương tính lấy từ các trại hay lò mỗ biến động từ 0-7%

Ở Belgium 1993 tỉ lệ các mẫu dương tính với -agonist lấy ngẫu nhiên từ các CSCN là 17,5% Ở Hàn Lan từ năm 1993-1995 có hơn 250 CSCN được điều tra và hơn 4000 mẫu nước tiểu, hơn 400 mẫu TĂGS được xét nghiệm Suốt giai đoạn này tỉ lệ phần trăm mẫu nước tiểu dương tính giảm từ 30% xuống còn <5%, và tỉ lệ mẫu dương tính TĂGS khoảng 11-15%

Ở Bồ Đào Nha giữa tháng 1/1991 và 31/12/1993 nước tiểu của bò được thu thập để phân tích tồn dư 2-adrenergic agonist Trong 1031 mẫu 24 mẫu có chứa clenbuterol và 1 mẫu có salbutamol

Bridge và ctv (2001) khảo sát tình hình tồn dư -agonist trên thực phẩm có nguồn gốc động vật tại Anh đã phát hiện 0,94% (1/107) mẫu thận bò có tồn dư -agonist

Theo kết quả điều tra trên thức ăn gia súc có nguồn gốc từ Châu Âu Năm 2003

có 12 mẫu phát hiện thấy có -agonist trên tổng số 806.525 mẫu Và năm 2004 là 45 mẫu trên tổng 807.000 mẫu trên bò trong đó có 1 mẫu salbutamol, 1 mẫu isoxsuprine còn lại là clenbuterol Ở heo có 13 mẫu có -agonist năm 2003, 11 mẫu năm 2004 Thêm vào đó 1 mẫu dương tính với salbutamol được tìm thấy trên gia cầm và 4 mẫu trên cừu

Hồ Hoa Phương Thảo (2006) khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B1 trong thức

ăn hỗn hợp của Heo tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu: tỉ lệ phát hiện AFB1 là 67%, trong đó tỉ

lệ nhiễm trên thức ăn cho heo thịt là 73,5%

Trang 35

Đặng Thị Duyên (2005) khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B1 trong thức ăn hỗn hợp của heo và gà ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu: tỉ lệ phát hiện AFB1 67,9%, trong đó

tỉ lệ nhiễm trên thức ăn cho heo thịt là 65%

Lại Kiều Oanh (2003) khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B1 trên thức ăn hỗn hợp cho heo tại Thành phố Hồ Chí Minh: tỉ lệ phát hiện AFB1 là 82,1%, trong đó tỉ lệ nhiễm trên thức ăn cho heo thịt là 96,1%

Trần Minh Đức (2002) khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B1 trong thức ăn hỗn hợp của Heo tại thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp: tỉ lệ phát hiện AFB1 là 100%

Lê Anh Phụng và ctv (1999) khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin trên thức ăn hỗn hợp cho heo tại Tp HCM năm 1998: tỉ lệ nhiễm AFB1 là 100%

Ngày đăng: 15/06/2018, 12:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Y Tế, 2002. Dược thư quốc gia Việt Nam, lần xuất bản thứ nhất, Hà Nội, trang 862-865 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược thư quốc gia Việt Nam
4. Tiêu chuẩn quy trình ngành Thú Y, 2006. Quy trình chăn nuôi lợn an toàn, NXB Nông Nghiệp, trang 160-166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn quy trình ngành Thú Y", 2006. "Quy trình chăn nuôi lợn an toàn
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
5. Dương Thanh Liêm, 2007. Bài giảng Độc chất học. Tủ sách Trường đại học Nông Lâm TpHCM, chương V trang 1-4, chương X trang 165-168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Độc chất học
6. Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc và Dương Duy Đồng, 2002. Thức ăn và dinh dưỡng động vật. Tủ sách Trường đại học Nông Lâm TpHCM, trang 172- 175, 214-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng động vật
7. Nguyễn Ngọc Tuân, 2008. Vệ Sinh Thịt. Tủ sách Trường đại học Nông Lâm TpHCM, trang 110-113, 119-121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ Sinh Thịt
8. Lê Văn Hùng, 2002. Giáo trình Miễn dịch học Thú Y. NXB Nông Nghiệp, TpHCM, trang 151-153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Miễn dịch học Thú Y
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
9. Đậu Ngọc Hào và Lê Thị Ngọc Diệp, 2003. Nấm mốc và độc tố aflatoxin trong chăn nuôi. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nấm mốc và độc tố aflatoxin trong chăn nuôi
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
10. G.Maghuin-Rogister và H.Brabander, 2000. Vệ Sinh và độc chất học thực phẩm có nguồn gốc động vật, trang 1-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ Sinh và độc chất học thực phẩm có nguồn gốc động vật
11. Claude Moreau, 1974. Nấm mốc độc trong thực phẩm (Đặng Hồng Miên dịch), NXB Khoa Học Kỹ Thuật, Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nấm mốc độc trong thực phẩm
Nhà XB: NXB Khoa Học Kỹ Thuật
12. Lê Anh Phụng, 2001. Nấm mốc sinh độc tố và ảnh hưởng của độc tố nấm mốc đối với động vật, Hướng khắc phục của độc tố nấm mốc. Chuyên đề cấp tiến sĩ. Tủ sách Trường đại học Nông Lâm TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nấm mốc sinh độc tố và ảnh hưởng của độc tố nấm mốc đối với động vật, Hướng khắc phục của độc tố nấm mốc
13. Nguyễn Lê Kiều Thư, 2007. Đánh giá kit ELISA phát hiện Dexamethasone, clenbuterol và biến động hàm lượng hai chất này trong thịt heo sau xử lý nhiệt.Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp. Tủ sách Trường đại học Nông Lâm TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kit ELISA phát hiện Dexamethasone, clenbuterol và biến động hàm lượng hai chất này trong thịt heo sau xử lý nhiệt
14. Trần Minh Sơn, 2005. Khảo sát dư lượng dexamethasone và clenbuterol trogn thịt bò, heo, gà tại thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn tốt nghiệp khoa Chăn nuôi- Thú y, trường Đại học Nông Lâm, TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát dư lượng dexamethasone và clenbuterol trogn thịt bò, heo, gà tại thành phố Hồ Chí Minh
15. Lưu Thị Tuyết Âu, 2006. Bước đầu khảo sát sự tồn dư dexamethasone và  - agonist trong thịt heo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp ELISA. Luận văn tốt nghiệp khoa Chăn nuôi-Thú y, trường Đại học Nông Lâm, TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu khảo sát sự tồn dư dexamethasone và ""-agonist trong thịt heo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp ELISA
16. Phan Thị Nhã Tú, 2007. Điều tra tình hình tồn dư dexamethasone và nhóm  - agonist trong gan và thịt heo bằng phương pháp ELISA. Luận văn tốt nghiệp khoa Chăn nuôi-Thú y, trường Đại học Nông Lâm, TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tình hình tồn dư dexamethasone và nhóm ""-agonist trong gan và thịt heo bằng phương pháp ELISA
17. Trần Minh Đức, 2002. Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B 1 trên thức ăn hỗn hợp cho heo tại thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Luận văn tốt nghiệp khoa Chăn nuôi-Thú y, trường Đại học Nông Lâm, TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B"1" trên thức ăn hỗn hợp cho heo tại thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
18. Lại Kiều Oanh, 2003. Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B 1 trên thức ăn hỗn hợp cho heo tại Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn tốt nghiệp khoa Chăn nuôi-Thú y, trường Đại học Nông Lâm, TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B"1" trên thức ăn hỗn hợp cho heo tại Thành phố Hồ Chí Minh
19. Đặng Thị Duyên, 2005. Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B 1 trong thức ăn hỗn hợp của heo và gà ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Luận văn tốt nghiệp khoa Chăn nuôi-Thú y, trường Đại học Nông Lâm, TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B"1" trong thức ăn hỗn hợp của heo và gà ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
20. Nguyễn Quốc Khanh, 2005. Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin trong thức ăn hỗn hợp cho heo của một số cơ sở sản xuất ở Bà Rịa-Vũng Tàu. Luận văn tốt nghiệp khoa Chăn nuôi-Thú y, trường Đại học Nông Lâm, TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin trong thức ăn hỗn hợp cho heo của một số cơ sở sản xuất ở Bà Rịa-Vũng Tàu
21. Hồ Hoa Phương Thảo, 2006. Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B 1 trong thức ăn hỗn hợp của heo ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Luận văn tốt nghiệp khoa Chăn nuôi- Thú y, trường Đại học Nông Lâm, TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình nhiễm aflatoxin B"1" trong thức ăn hỗn hợp của heo ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
22. Hồng Lê Thọ. “Vỗ béo bằng thuốc tăng trọng”. Truy cập ngày 29 tháng 05 năm 2008.&lt;http://devel.nhipcaudautu.com.vn/article.aspx?id=221&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vỗ béo bằng thuốc tăng trọng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w