BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ BỔ SUNG RAU XANH TRONG THỨC ĂN ĐẾN SỨC SỐNG VÀ SỨC SINH TRƯỞNG CỦA GÀ TAM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ BỔ SUNG RAU XANH TRONG THỨC ĂN ĐẾN SỨC SỐNG VÀ SỨC SINH TRƯỞNG CỦA GÀ
TAM HOÀNG LAI 1 – 10 TUẦN TUỔI
Họ và tên sinh viên : Phan Thị Hồng Vân
Trang 2ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC ĐỘ BỔ SUNG RAU XANH TRONG THỨC
ĂN ĐẾN SỨC SỐNG VÀ SỨC SINH TRƯỞNG CỦA GÀ TAM HOÀNG
LAI 1 – 10 TUẦN TUỔI
Tác giả
PHAN THỊ HỒNG VÂN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ ngành Thú Y
Giáo viên hướng dẫn
PGS TS LÂM MINH THUẬN
Tháng 09/2008
Trang 3Lời cảm tạ
Kính dâng lòng biết ơn sâu sắc lên Ba Mẹ và anh Hai đã động viên và hết lòng lo
cho con đến ngày hôm nay
Chân thành cảm tạ
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi – Thú Y
Quý Thầy Cô đã tận tình dạy dỗ và dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại
trường
Chân thành ghi ơn
Sự giúp đỡ của PGS TS Lâm Minh Thuận đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận
văn tốt nghiệp
Sự giúp đỡ nhiệt tình của các Bác Nguyễn Văn Cần cùng các Cô, các Anh tại trại
gà Uy Tín đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn
Sự giúp đỡ của bạn bè trong và ngoài lớp đã gắn bó, động viên giúp đỡ tôi vượt
qua những khó khăn trong quá trình học tập và góp sức giúp tôi hoàn thành luận văn
này
Đại học Nông Lâm TP HCM
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nhằm tìm ra qui trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thả vườn thích hợp trong điều kiện
diện tích vườn chăn thả hẹp, chúng tôi thực hiện đề tài: ảnh hưởng của mức độ bổ sung
rau xanh trong thức ăn đến sức sống và sức sinh trưởng của gà Tam Hoàng lai 1 – 10 tuần
Đề tài được tiến hành từ 30/01/2008 đến 10/04/2008, tại trại gà Uy Tín, ấp Hòa Bình, xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
Nguồn gốc đàn gà: giống Tam Hoàng lai được nhập từ trại Việt Cường, Hà Nội
Bố trí khảo sát: trong giai đoạn úm 1 – 4 tuần, khảo sát sức sống của 3 ô úm Sang giai đoạn 5 – 10 tuần, phân lô bổ sung rau xanh và theo dõi khả năng sinh trưởng và sức sống của gà
Kết quả chúng tôi ghi nhận được như sau:
Giai đoạn 1 – 4 tuần tuổi
Tỷ lệ chết loại của đàn gà khá cao: ở 1 ngày tuổi tỷ lệ chết loại 6,7%, xét cả giai đoạn 1 – 4 tuần tuổi tỷ lệ chết loại 10,03%
Giai đoạn 5 – 10 tuần tuổi
Tỷ lệ chết loại ở lô III (bổ sung 10% rau xanh) cao nhất với 6%, kế đến là lô II (bổ sung 5% rau xanh) với 5% và thấp nhất là lô I (bổ sung 0% rau xanh) với 3%
Ở 10 tuần tuổi gà ở lô II có trọng lượng trung bình cao nhất (1.479,8 g/con), kế đến
là lô III (1.461,00 g/con) và thấp nhất là lô I (1.456,8 g/con)
Chỉ số chuyển biến thức ăn thấp nhất ở lô I (3,18), kế đến là lô II (3,23) và cao nhất
là lô III (3,38)
Hiệu quả kinh tế: bổ sung rau xanh ở mức 5% đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng của gà ở lô II thấp nhất (16.456 đồng), kế đến là lô I (16.619 đồng) và cao nhất là lô III (17.039 đồng)
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ viii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2.MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1.Mục đích: 2
1.2.2.Yêu cầu: 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1.Sơ lược về rau xanh 3
2.1.1.Sơ lược về bèo tấm 3
2.1.2.Sơ lược về rau dền 4
2.1.3.Sơ lược về rau muống 5
2.2.Sơ lược về con giống 8
2.3.Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức sống của gà con .9
2.4.Sinh lý tiêu hóa của gà 10
2.5.Tác động của rau xanh đối với hệ tiêu hóa .12
2.6.Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiêu hóa thức ăn của gà 13
2.7.Một số bệnh thường gặp trên gia cầm 14
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 20
3.1.NỘI DUNG 20
3.2.THỜI GIAN ĐỊA ĐIỂM 20
3.3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
Trang 63.3.1.Đối tượng nghiên cứu 20
3.3.2.Bố trí thí nghiệm 20
3.3.3.Điều kiện thí nghiệm 22
3.3.3.1 Giai đoạn nuôi úm (1 – 4 tuần tuổi) 22
3.3.3.2 Giai đoạn thí nghiệm (5 – 10 tuần tuổi) 23
3.4.CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI .25
3.4.1.Sức sống 25
3.4.2.Sức sinh trưởng 25
3.4.2.1 Trọng lượng bình quân 25
3.4.2.2 Tăng trọng tuyệt đối 25
3.4.3.Chuyển hóa thức ăn 26
3.4.3.1 Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày 26
3.4.3.2 Chỉ số chuyển biến thức ăn 26
3.4.4.Hiệu quả kinh tế 26
3.5.PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ SỐ LIỆU 26
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1.Sức sống của gà ở giai đoạn 1 – 4 tuần tuổi 27
4.2.Giai đoạn 5 – 10 tuần tuổi 29
4.2.1.Sức sống của gà 29
4.2.2.Trọng lượng bình quân của gà .32
4.2.3.Tăng trọng tuyệt đối 37
4.2.4.Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày 38
4.2.5.Chỉ số chuyển biến thức ăn 40
4.2.6.Hiệu quả kinh tế 41
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1.Kết luận 42
5.1.1.Giai đoạn nuôi úm (1 – 4 tuần tuổi) 42
5.1.2.Giai đoạn nuôi thịt (5 – 10 tuần tuổi) 42
5.2.Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 7DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Sx : độ lệch tiêu chuẩn (Standard deviation)
CV : hệ số biến dị (Coefficient of variance)
TSTK : tham số thống kê
SCCBT : số con chết có bệnh tích
TTTĂ/kgTT : tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bèo tấm 3
Bảng 2.2: Bảng so sánh thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bèo tấm với một số loại khác .4
Bảng 2.3: Bảng thành phần hóa học của thân lá tươi cây rau dền gai .5
Bảng 2.4: Bảng giá trị dinh dưỡng của 1 kg cây dền gai tươi 5
Bảng 2.5: Bảng thành phần hóa học của cây rau muống 6
Bảng 2.6: Hàm lượng acid amin cần thiết trong lá rau muống 7
Bảng 2.7: Bảng thành phần hóa học của thân lá cây rau muống theo giống 7
Bảng 3.1: Sơ đồ vị trí các ô úm theo dõi 20
Bảng 3.2: Bảng thành phần thức ăn giai đoạn 1 – 4 tuần tuổi 21
Bảng 3.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 21
Bảng 3.4: Bảng thành phần thức ăn trong giai đoạn 5 – 10 tuần tuổi 22
Bảng 3.5: Qui trình chủng ngừa vaccine tại trại 24
Bảng 3.6: Các loại kháng sinh được sử dụng tại trại 24
Bảng 3.7: Bảng các loại thuốc bổ được sử dụng tại trại 25
Bảng 3.8: Bảng tên các loại thuốc sát trùng được sử dụng tại trại 25
Bảng 4.1: Tỷ lệ chết loại của gà ở giai đoạn 1 – 4 tuần tuổi (%) 27
Bảng 4.2: Tỷ lệ bệnh tích của gà ở giai đoạn 1 – 4 tuần tuổi (%) 28
Bảng 4.3: Tỷ lệ chết loại của gà ở giai đoạn 5 – 10 tuần tuổi (%) 29
Bảng 4.4: Tỷ lệ bệnh tích của gà ở giai đoạn 5 – 10 tuần tuổi (%) 31
Bảng 4.6: Trọng lượng trung bình của gà mái ở 10 tuần tuổi (g/con) .34
Bảng 4.7: Trọng lượng trung bình của gà trống ở 10 tuần tuổi (g/con) 36
Bảng 4.8: Tăng trọng hàng ngày của gà qua 6 tuần khảo sát (g/con/ngày) .37
Bảng 4.9: Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày (g/con/ngày) 38
Bảng 4.10:Chỉ số chuyển biến thức ăn 40
Trang 9DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ chết loại của gà ở giai đoạn 5 – 10 tuần tuổi (%) 30
Biểu đồ 4.2: Trọng lượng bình quân của gà lúc 10 tuần tuổi (g/con) 33
Biểu đồ 4.3: Trọng lượng trung bình của gà mái ở 10 tuần tuổi (g/con) .35
Biểu đồ 4.4: Trọng lượng trung bình của gà trống ở 10 tuần tuổi (g/con) 36
Biểu đồ 4.5: Tăng trọng hàng ngày của gà qua 6 tuần khảo sát (g/con/ngày) 37
Biểu đồ 4.6: Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày (g/con/ngày) 39
Biểu đồ 4.7: Chỉ số chuyển biến thức ăn 40
Trang 10Mặt khác, sự chênh lệch về giá gà con giữa thị trường miền Nam (7.500 đồng/con, trại giống Vigova, ngày 30/01/2008) so với thị trường miền Bắc (4.500 đồng/con, đã có phí vận chuyển, trại giống Việt Cường, Hà Nội ngày 30/01/2008) Sự chênh lệch về giá này làm người chăn nuôi gà có xu hướng nhập giống từ miền Bắc bất chấp sự khác biệt về điều kiện khí hậu, thời tiết Chính sự khác biệt về điều kiện chăn nuôi, vận chuyển xa và việc úm gà với số lượng lớn đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức sống, tỷ lệ nhiễm bệnh của gà trong quá trình nuôi
Trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp với diện tích chuồng nuôi hẹp, diện tích chăn thả bị hạn chế, mật độ nuôi cao, gà không tự kiếm thêm nguồn rau cỏ tươi từ thiên nhiên cũng làm ảnh hưởng đến sức đề kháng của gà Đây là một trong những yếu
tố cần được nghiên cứu để điều chỉnh cho hợp lý
Chúng ta đều biết, lá cây, rau cỏ tươi có nguồn vitamin quý như tiền sinh tố A (- caroten), vitamin C, vitamin E, acid folic và nhiều vi khoáng có lợi cho sức khỏe của động vật nói chung và con người nói riêng mà gà có thể chuyển hóa các hoạt chất đó vào thịt và trứng với tỷ lệ khá cao, đặc biệt là gà mái đẻ có thể chuyển hóa các chất dinh dưỡng trong thức ăn vào trứng, tạo thành thực phẩm có giá trị sinh học cao (Lâm Minh Thuận và Hồ Mộng Hải, 2005)
Vì thế hiện nay một số người chăn nuôi gà có xu hướng cho gà ăn thêm rau xanh nhằm giảm chi phí thức ăn, bổ sung các vitamin, khoáng chất tự nhiên, cải thiện phẩm
Trang 11chất thịt, tạo cho gia cầm có môi trường chăn nuôi gần giống với điều kiện chăn thả tự nhiên
Tuy nhiên, việc bổ sung rau xanh vào thức ăn của gà Tam Hoàng thương phẩm thực tế có hiệu quả kinh tế hay không? cải thiện được phẩm chất thịt hay không? ảnh hưởng đến sức sinh sống và sức sinh trưởng như thế nào? bổ sung ở mức nào thì đạt hiệu quả tối ưu nhất? Để giải quyết những băn khoăn đó cần có những nghiên cứu, khảo sát thực tế thì mới đưa ra được những khuyến cáo cho người chăn nuôi hợp lý nhất
Xuất phát từ lí do trên, với yêu cầu của trại chăn nuôi gà Uy Tín, cùng sự chấp thuận của Khoa Chăn nuôi Thú y, Bộ môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa, dưới sự hướng
dẫn của PGS TS Lâm Minh Thuận chúng tôi tiến hành đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA
MỨC ĐỘ BỔ SUNG RAU XANH TRONG THỨC ĂN ĐẾN SỨC SỐNG VÀ SỨC SINH TRƯỞNG CỦA GÀ TAM HOÀNG LAI 1 – 10 TUẦN TUỔI”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
- Khảo sát tổng thể ba ô úm gà Tam Hoàng lai trong giai đoạn 1 – 4 tuần
- Tìm qui trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thả vườn trong điều kiện diện tích vườn chăn thả hẹp
Trang 12Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Sơ lược về rau xanh
2.1.1 Sơ lược về bèo tấm
Bèo tấm thuộc họ Lemnaccae, là một loài nhỏ, sống trôi nổi trên mặt nước, có thể
tìm thấy nhiều nơi trên thế giới
Bèo tấm là loài thực vật thường nhóm họp 2 – 3 cây một Mỗi cây chỉ gồm một phiến mỏng màu lục, hình bầu dục dẹt, mang một rễ
Bèo tấm có rất ít chất xơ (khoảng 5%), hầu hết các mô đều có thể hoạt động quang hợp Sự trao đổi chất cao và sinh sản bằng cách nảy chồi từ thân mang lại hiệu quả tốc độ sinh sản cao Khi theo dõi ở điều kiện thí nghiệm tối ưu, năng suất khoảng
180 tấn/ha/năm
Hầu hết bèo tấm đều có sức chịu đựng cao đối với điều kiện ngoại cảnh như: pH, nhiệt độ, hóa chất, được gây thả ở nhiều nơi để làm thức ăn cho gà, ngan, vịt, chim bồ câu Hàm lượng caroten ở bèo tấm khá cao cho nên dùng cho gà ăn rất tốt
Bảng 2.1: Bảng thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bèo tấm
Thành phần
hóa học (%)
Nước Protein Lipid Cellulose Dẫn xuất không protein Khoáng toàn phần
92 1,5 0,2 0,5 4,3 1,1
8,1 16,8 2,8 10,3 50,2 11,8
7
-
-
1.967 0,78
74
-
- (Nguyễn Bích Ngọc, 2000)
Trang 13Bảng 2.2: Bảng so sánh thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của bèo tấm với một
2.1.2 Sơ lược về rau dền
Rau dền gai phổ biến ở Ấn Độ, miền nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào,
Campuchia, Philippin, Indonexia Ở nước ta, rau dền gai mọc hoang khắp mọi nơi,
thường ở các bãi hoang, ven sông, ven suối, các bãi cát bồi, chỗ có nhiều ánh sáng
Cây thân cỏ, mọc thẳng, cao 0,3 – 0,7 m Thân và cành có gai (ở mỗi kẻ lá có hai
gai nhọn) Lá hình thoi hoặc hình ngọn giáo, có mũi nhọn, có cuống dài bằng phiến
Hoa nhỏ, màu xanh tím, tập hợp thành cụm hoa dạng bông dài ở các nách lá gần đầu
cành Quả nang hình trứng, nhọn đầu, hạt màu đen óng ánh
Công dụng của rau dền gai: được dùng làm thức ăn xanh cho các loại gia súc
Trang 14Bảng 2.3: Bảng thành phần hóa học của thân lá tươi cây rau dền gai
(%) Nước
Protein Lipid Cellulose Dẫn xuất không protein Khoáng toàn phần
83,1 4,3 0,8 2,3 6,2 2,6 (Nguyễn Bích Ngọc, 2000)
Bảng 2.4: Bảng giá trị dinh dưỡng của 1 kg cây dền gai tươi
Năng lượng trao đổi (Kcal) Đơn vị thức ăn
Protein tiêu hóa (g) Canxi (g)
Photpho (g)
454 0,18
30 5,0 0,9 (Nguyễn Bích Ngọc, 2000)
2.1.3 Sơ lược về rau muống
Nguồn gốc và yêu cầu sinh thái
Rau muống có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Á, khu vực Nam và Đông Nam
Á, vùng nhiệt đới Châu Phi, Trung Á và Nam Mỹ, Châu Đại Dương
Rau muống là cây ngắn ngày, sinh trưởng tốt và cho năng suất cao ở nhiệt độ cao,
đủ ánh sáng ở vùng nhiệt đới ẩm Rau muống có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau: đất sét, đất cát, đất pha Độ pH thích hợp nhất cho sinh trưởng của rau muống là 5,3 - 6,0 (Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng, 2005)
Trang 15 Công dụng cây rau muống trên vật nuôi
Rau muống có chứa nhiều vitamin: trong 100g ăn được cho 710 µg vitamin A, 72
mg vitamin C (Trần Thế Tục và Lã Ngọc Kính, 2002) nên giá trị dinh dưỡng của rau cao, tỷ lệ xơ trong rau lại thấp nên rất phù hợp cho gia súc Rau có nhiều muối khoáng như muối, sắt…nên cũng là nguồn bổ sung chất cho vật nuôi
Rau muống non có thể dùng cho gia súc ăn sống Rau già dùng nấu cám với những thức ăn tinh khác Rau muống giúp lợn nái có nhiều sữa, lợn con mau lớn và có chất lượng thịt tốt Đối với trâu bò thì rau muống là nguồn thức ăn bồi dưỡng rất tốt khi trâu bò phải làm việc nặng nhọc
Nếu cho gia cầm ăn thì cần thái rau nhỏ để dễ tiêu hóa Riêng khi cho thỏ ăn rau muống thì cần lưu ý: rau muống phải rửa sạch rồi để ráo nước mới cho thỏ ăn vì nếu
ăn phải lá úa thỏ sẽ bị đau bụng
Có thể phơi ráo khô rồi nghiền thành bột để cho lợn ăn dần Bột rau khô có thể thay thế cho 1/2 đến 1/3 lượng cám trong khẩu phần ăn hàng ngày của lợn
Bảng 2.5: Bảng thành phần hóa học của cây rau muống
Thân lá
(%)
Khô (%)
Dây xơ (%)
Nước Protein Lipid Cenluloza Dẫn xuất không protein Khoáng toàn phần
91,6 1,9 0,8 1,4 3,2 1,1
14,6 11,1 4,3 13,2 40,1 16,7
89,7 1,5 0,1 5,9 1,8 1,5 (Nguyễn Bích Ngọc, 2000)
Trang 16Bảng 2.6: Hàm lượng acid amin cần thiết trong lá rau muống
Tên chất Trong 100g protein Trong 100g rau tươi Lizin
0,14 0,04 0,04 0,14 0,14 0,10 0,15 0,11 0,18 0,06 (Nguyễn Bích Ngọc, 2000)
Bảng 2.7: Bảng thành phần hóa học của thân lá cây rau muống theo giống
Tên chất Giống đỏ Giống trắng Giống lai Năng lượng trao đổi (Kcal)
14 0,7 0,4
280 0,11
14 1,0 0,5
365 0,14
23 3,0 1,0 (Nguyễn Bích Ngọc, 2000)
Trang 172.2 Sơ lược về con giống
2.2.1 Nguồn gốc con giống (Đặng Thị Hạnh, 1999)
Gà Tam Hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc Sau ngày giải phóng Trung Quốc (1949), công ty xuất nhập khẩu Trung Sơn độc quyền thu mua gà này để xuất khẩu sang cửa khẩu Thạch Kỳ nên người nước ngoài gọi là gà Thạch Kỳ
Gà Thạch Kỳ thuần chủng nhỏ con, khả năng sinh trưởng sinh sản không cao nên khoảng cuối thập niên 70 các nhà chăn nuôi Hồng Kông đã cho lai Thạch Kỳ với giống gà Kabir (Israel) tạo giống gà Thạch Kỳ lai hay Thạch Kỳ tạp
Gà Thạch Kỳ - Kabir được đưa trở lại Trung Sơn và được chọn lọc qua nhiều thế
hệ với các mục tiêu khác nhau tạo ra dòng gà Tam Hoàng có ngoại hình và năng suất khác nhau
Hiện nay gà Tam Hoàng được nuôi phổ biến ở Trung Quốc, đặc biệt vùng Quảng Đông Gà có màu lông vàng đến vàng hoa mơ, chân vàng và da vàng Gà có đặc điểm thân ngắn, lưng bằng, ngực nở, đùi phát triển, bước đi ngắn và chân thấp hơn gà Tàu Vàng Nam Bộ
Gà Tam Hoàng có sức chịu đựng tốt, thịt ngon, ngoại hình và màu sắc hợp với thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam
Giống gà Tam Hoàng được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam lần đầu năm
1993, kết quả nuôi thích nghi ở Quảng Ninh cho thấy thể trọng gà 90 ngày tuổi chỉ đạt bình quân 0,81 kg/con, tiêu tốn 4,5 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng và năng suất trứng đạt 131 quả/mái/năm
2.2.2 Phân loại các dòng gà Tam Hoàng
Tam Hoàng dòng 882 có màu lông khá thuần nhất: vàng rơm, chân vàng, da vàng, gà trống to con, cường tráng, mào đơn to và chân thấp hơn gà Tàu của Việt Nam Nuôi 3,5 tháng dạng bán công nghiệp đạt bình quân 1,75 kg/con Năng suất trứng của gà mái đạt 145 – 150 quả/mái/năm
Tam Hoàng 882 – 2 (Hoàng Hệ), to con hơn và đẻ sai hơn Ba tháng tuổi đạt trọng lượng bằng dòng 882 lúc 3,5 tháng Năng suất trứng có thể đạt 160 – 170 quả/mái/năm
Tam Hoàng 882 – 3 nuôi ba tháng có thể đạt bình quân 1,9 – 2,2 kg/con và năng suất trứng có thể đạt 160 – 170 quả/mái/năm
Trang 18Gà Ma Hoàng (882 – 2) có năng suất thịt trứng qua khảo nghiệm gần tương đương với gà Tam Hoàng 882, nhưng màu lông vàng sẫm, điểm rằn rất giống gà ta nên cũng rất được người dân ưa chuộng
Gà Jiang cun nhỏ con hơn các dòng gà Tam Hoàng kể trên Ba tháng tuổi chỉ đạt 1,4 – 1,5 kg/con, song đặc biệt gà Jiang cun có phẩm chất thịt rất tốt Thịt thơm ngon
và tỷ lệ các phần thịt có giá trị (thịt ức, thịt đùi) trong thân thịt xẻ cao
Gà Lương phượng (hay Hoa Phượng) có màu lông giống gà Ma Hoàng, song gà Lương Phượng to con hơn, tỷ lệ đẻ cao hơn Năng suất trứng đạt 170 quả/mái/năm Bởi vậy người nghèo rất thích nuôi và thích ăn Tuy nhiên giống này có nhược điểm là
tỷ lệ phần thịt có giá trị trong thân thịt xẻ thấp hơn, do đó thị trường Hồng Kong đã không chọn Hoa lương phượng mà chuộng Jiang cun hơn
2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức sống của gà con (Lâm Minh Thuận, 2004)
Gà bố mẹ: ảnh hưởng nhiều đến sức kháng bệnh giai đoạn đầu của gà con
Qui trình nuôi dưỡng và phòng bệnh cho gà hậu bị phải chặt chẽ mới đảm bảo đàn gà con được thừa hưởng đầy đủ kháng thể mẹ truyền, đề kháng được một số bệnh thường
gặp như: Newcastle, Gumboro… đàn gà con phát triển tốt, sức sống cao
Vận chuyển gà con: vận chuyển bằng máy bay, xe hoặc các phương tiện
khác phải đảm bảo thông thoáng, đủ oxy, nhiệt độ không quá cao, số gà trong mỗi khay hợp lý để hạn chế gà bị stress, chết, ảnh hưởng sức sống của gà con
Nuôi dưỡng và chăm sóc gà con
Đặc tính sinh lý gà con: gà con mới nở có thân nhiệt thấp hơn gà trưởng
thành (380C), khả năng điều tiết thân nhiệt kém, gà con dễ mất nhiệt dẫn đến giảm thân nhiệt và chết vì lạnh Trong những tuần đầu gà con phải tập làm quen với thức ăn, nước uống, và mọi điều kiện ngoại cảnh khác xa với môi trường máy ấp Vì vậy muốn
gà con có mức sinh trưởng cao, sức sống cao cần phải giữ đủ ấm trong giai đoạn đầu
Trang 19và tạo mọi điều kiện để gà con thích nghi nhanh chóng với điều kiện nhiệt độ của môi trường bên ngoài
Chọn gà con: điều quan trọng nhất là gà con giống phải được chọn ấp từ
trứng của đàn gà giống đã được lựa chọn kỹ lưỡng, đạt tiêu chuẩn giống, khỏe mạnh, được nuôi dưỡng hợp lý Gà con chọn nuôi phải đồng đều, phản ứng nhanh nhẹn, đạt tiêu chuẩn gà loại I Vì chỉ gà con loại tốt mới có thể phát triển tốt và cho năng suất cao
Chuồng trại và trang thiết bị: chuồng úm gà con nên bố trí ở đầu hướng
gió, cách xa chuồng gà trưởng thành để tránh lây lan bệnh từ gà lớn sang gà con và phải đảm bảo nhiệt độ và ẩm độ trong chuồng úm ở mức độ thích hợp
Thức ăn: trong những ngày đầu cho gà tập ăn trên khay bằng bắp hoặc tấm
để gà con quen với việc mổ thức ăn và tiêu nhanh lòng đỏ trong ổ bụng Trong 3 tuần đầu cho ăn suốt ngày đêm để gà con có thể nhận lượng thức ăn tối đa để kích thích sự phát triển bộ máy tiêu hóa
2.4 Sinh lý tiêu hóa của gà (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 2003)
Cơ quan tiêu hóa của gia cầm bao gồm: khoang miệng, thực quản, diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, tá tràng, ruột non, ruột già và lỗ huyệt
2.3.1 Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm là loài ăn hạt hoặc thức ăn dạng nghiền hỗn hợp khô Thức ăn đi nhanh qua xoang miệng hầu như không thay đổi và được chuyển nhanh xuống diều qua đường thực quản
Đoạn thực quản có lớp niêm mạc nhầy, gấp nếp, tiết dịch làm trơn viên thức ăn
và đẩy nó xuống diều, ở diều thức ăn thấm dịch diều, khi đói viên thức ăn được đẩy thẳng vào dạ dày
2.3.2 Tiêu hóa ở diều
Dịch thực quản và diều có chứa musin và men amylase giúp tinh bột trong thức
ăn thủy phân thành đường, pH dao động từ 4,5 – 5,8
Ở diều thức ăn được thấm dịch diều làm mềm ra, trộn đều và được tiêu hóa từng phần dưới tác dụng của các men và vi khuẩn trong thức ăn Sau đó di chuyển xuống dạ dày tuyến, ở đó quá trình tiêu hóa thực sự bắt đầu
2.3.3 Tiêu hóa dạ dày tuyến
Trang 20Dạ dày tuyến tiết dịch tiêu hóa có thành phần tương tự như dịch vị, chủ yếu là acid HCl, pepsin, men bao tử và musin Thức ăn chỉ đi qua dạ dày tuyến đủ thời gian thấm ướt dịch sau đó chuyển sang dạ dày cơ
2.3.4 Tiêu hóa ở dạ dày cơ
Chức năng cơ học của dạ dày cơ là nghiền nát thức ăn và trộn đều chúng với dịch
vị, enzyme và vi khuẩn trong thức ăn, thúc đẩy sự tiêu hóa thức ăn triệt để hơn
Đối với gia cầm, nếu trong dạ dày cơ có sỏi làm tăng ma sát giúp quá trình nghiền nát và làm sạch thức ăn trong khoang dạ dày tốt hơn Ở dạ dày cơ dưới tác dụng của acid HCl và pepsin thì protein bị cắt thành pepton và một phần thành acid amin, tinh bột bị phân giải thành các loại đường đơn, cơ thể hấp thu dễ dàng hơn với
sự có mặt của một lượng nhỏ dịch tá tràng và dịch mật đi ngược lên dạ dày Tuy nhiên các sản phẩm tiêu hóa từ thức ăn cũng như vi khuẩn không được thấm hút qua màng cứng của dạ dày cơ, mà được đẩy vào tá tràng từng phần nhỏ một cách điều hòa
Ở phần môn vị có dạng van, cấu tạo từ một hoặc hai nếp gấp hình bán nguyệt, đóng mở có phản xạ, cho phép thức ăn đi qua một cách dễ dàng nhưng sỏi lớn và thức
ăn có kích thước lớn bị cản lại
2.3.5 Tiêu hóa ở tá tràng
Ruột non có lớp niêm mạc dày đặc các hệ thống lông mao li ti, có chức năng tiêu hóa và hấp thụ thức ăn Dịch ruột là chất lỏng đục có phản ứng kiềm (pH = 7,42), chứa các men tiêu hóa như: proteoliaza, aminoliaza, amylaza, enterokinaza
Dịch tụy là chất lỏng không màu, hơi mặn, pH = 6 Dịch tụy của gia cầm trưởng thành chứa các men tiêu hóa như: trypsin, carbocipeptidaza, amylaza, maltaza, lipaza Mật gia cầm có màu xanh đậm, kiềm tính (pH = 7,3 – 8,5) Sự hấp thu các chất dinh dưỡng như: acid amin, glucid, acid béo, các chất béo, các chất khoáng và các vitamin xảy ra chủ yếu trên toàn chiều dài ruột non Đối với Vitamin có trong thức ăn được hấp thu vào máu qua tá tràng ở dạng nguyên vẹn, không bị phân giải ở ruột
2.3.6 Tiêu hóa ở ruột già
Ruột già gồm: manh tràng, trực tràng và lỗ huyệt Ở manh tràng nhờ có mặt của
hệ vi sinh vật như: Streptococcus, trực khuẩn đường ruột, Lactobacillus…đã cho thấy
trong manh tràng cũng có sự tiêu hóa protein, glucid và lipid Hệ vi sinh vật phát triển rất nhanh có thể tổng hợp được vitamin nhóm B cần thiết cho sự phát triển của chúng
Trang 21Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra Thực tế là ở những loài cầm nào có manh tràng phát triển hơn thì chất xơ được tiêu hóa nhiều hơn Ở các loại gia cầm khác nhau thì có trung bình từ 10 – 30% chất xơ được phân giải (Melekhin và Griđin, 1977), chất xơ được tiêu hóa thành đường glucose và hấp thu vào máu qua manh tràng Manh tràng ngoài việc tiêu hóa chất xơ còn có quá trình tiêu hóa protein, lipid, glucid, quá trình sinh tổng hợp vitamin nhóm B (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 2003)
Manh tràng và trực tràng hấp thu nước làm phân khô và định hình để chuẩn bị thải ra ngoài qua lỗ huyệt
2.5 Tác động của rau xanh đối với hệ tiêu hóa
Theo Lê Hồng Mận và Nguyễn Thanh Sơn (2001), thức ăn không đảm bảo đủ protein, năng lượng, vitamin… sẽ làm giảm khả năng tiêu hóa và sử dụng thức ăn của
gà Nuôi gà thả vườn trong diện tích hẹp dễ thiếu vitamin, vì thế nên bổ sung rau xanh
để đảm bảo các loại vitamin
2.5.1 Vitamin A
Ở thực vật không chứa vitamin A mà chỉ chứa β-caroten Khi Caroten vào trong
cơ thể dưới tác động của men carotinaza mới được chuyển thành vitamin A Nguồn caroten có nhiều trong: rau xanh, cà rốt, ngô…
β-Vitamin A có vai trò trong chức năng của tế bào cơ thể, trong tổng hợp tế bào tuyến giáp, tuyến tụy, tuyến trên thận, niêm mạc mắt, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục, chống sừng hóa da, còi xương Đặt biệt ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của gia súc, gia cầm non và sức sản xuất của chúng
Sự không đạt hàm lượng vitamin A trong thức ăn: làm cho gia cầm bị suy nhược
cơ thể, quáng gà, đi lại yếu, mất tính thèm ăn, lông xù; gia cầm non bị còi xương, vẹo cổ; ở gà sinh sản bị giảm sản xuất trứng, giảm tỷ lệ thụ tinh và ấp nở, trứng có vệt máu; dễ cảm nhiễm cầu trùng ở mọi lứa tuổi, mắc bệnh đường hô hấp
2.5.2 Vitamin C
Nguồn cung cấp: có nhiều trong củ quả, bột cỏ, rau xanh, trong mầm hạt ngũ cốc Vitamin C có vai trò trong hô hấp tế bào, trong trao đổi protid, lipid, hydratcacbon làm vô hiệu các sản phẩm độc tố sinh ra trong quá trình trao đổi chất Nó cần thiết cho hấp thụ acid foric, sắt và có mối quan hệ với hàng loạt hooc mon và
Trang 22enzym Ngoài ra vitamin C còn chống bệnh Scocbut, chống béo, giảm đường huyết
Sự không đạt vitamin C trong thức ăn gây bệnh xơ cứng động mạch, chảy máu dưới da và cơ, sức đề kháng yếu
Ở gà bị tiêu chảy thì gây thiếu máu
2.5.5 Xơ
Xơ thô hoàn toàn không có ý nghĩa dinh dưỡng đối với gà Nhưng trong khẩu phần còn chứa một tỷ lệ thấp khoảng 3 - 5% để giúp trong quá trình vận chuyển và tiêu hóa thức ăn và thải phân ở ống tiêu hóa được tốt Ở manh tràng của gà trưởng thành có khả năng sử dụng 5% lượng chất xơ có trong thức ăn Đối với gà giai đoạn còn non trong khẩu phần không nên chứa quá 5% xơ thô, gia cầm trưởng thành không quá 7% xơ thô (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 2003)
2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiêu hóa thức ăn của gà
2.6.1 Tuổi của gà
Có ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa thức ăn Gà con có bộ máy tiêu hóa chưa
Trang 23hoàn chỉnh, gà già thì khả năng tiêu hóa kém, gà trưởng thành có khả năng tiêu hóa mạnh nhất vì có đủ số lượng men tiêu hóa
2.6.2 Đặc tính cá thể
Cùng một giống gà, cùng một lứa tuổi nhưng khả năng tiêu hóa lại khác nhau, giữa giống này và giống khác thì khả năng tiêu hóa cũng khác nhau rất nhiều Sự tiêu hóa giữa gà trống và gà mái cũng khác nhau
2.6.3 Thành phần trong khẩu phần thức ăn
Sự tiêu hóa còn phụ thuộc vào thành phần hóa học và sự phối hợp khẩu phần Nếu cho ăn chỉ một loại thực liệu thì thời gian tiêu hóa nhanh hơn cho ăn thức ăn hỗn hợp, nhất là nhiều xơ và chất béo
Thức ăn đơn độc thì lại thiếu dinh dưỡng, do đó nên cho ăn thức ăn gồm nhiều loại thực liệu trong khẩu phần và được xay nhuyễn phù hợp cho từng lứa tuổi của gà
2.6.4 Kỹ thuật chế biến thức ăn
Thức ăn phải được chế biến cho phù hợp với từng lứa tuổi từ lớn đến nhỏ Thức
ăn phải nhuyễn, thơm ngon, bổ dưỡng, hợp vệ sinh
2.6.5 Kỹ thuật cho ăn
Cần phải cho ăn đúng giờ để tiết nhiều dịch vị làm cho khả năng tiêu hóa thức ăn cao Đối với gà thịt cho ăn nhiều lần trong ngày nhằm thúc để gà vỗ béo
2.6.6 Thời tiết
Khi thời tiết quá nóng gà kém ăn, uống nhiều nước
Nếu thời tiết quá lạnh thức ăn phải được tăng thêm một ít, hoặc cho uống nước
ấm
2.7 Một số bệnh thường gặp trên gia cầm
2.7.1 Bệnh Cầu Trùng
2.7.1.1 Nguyên nhân (Nguyễn Khắc Thi, 2005)
Bệnh cầu trùng là bệnh gây nên do ký sinh trùng lớp đơn bào thuộc giống Eimeria và rất phổ biến ở gà
Giống Eimeria có 9 loài cầu trùng khác nhau, gà thường nhiễm một hoặc nhiều
loài cầu trùng, trong đó có một số loài hay gặp: Eimeria tenella, Eimeria acervulina, Eimeria brunettis và Eimeria necatrix
Trang 242.7.1.2 Triệu chứng (Lê Văn Năm, 2006)
Đối với gà bệnh thường xảy ra ở những đàn nằm trong độ tuổi 10 – 90 ngày tuổi, nặng nhất ở gà con từ 18 – 45 ngày tuổi
Thời gian ủ bệnh ngắn: 4 – 7 ngày, phụ thuộc vào chủng loại cầu trùng, nơi khu trú và mức độ nhiễm bệnh, số lượng căn nguyên xâm nhập vào cơ thể và tình trạng chung sức khỏe đàn gà
Bệnh có 3 thể biểu hiện:
Thể cấp tính
Bệnh chủ yếu xảy ra ở gà con
Thời gian phát bệnh nhanh với các biểu hiện: gà ủ rũ, lười đi lại, nằm hoặc đứng một chỗ, khi gà đứng đầu gà thường ngoặt sang một bên, mắt nhắm nghiền, hai cánh
sã xuống tận sàn nền chuồng, lông xù (gà khoác áo tơi), gà kém ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, nhưng lại uống nước nhiều
Lúc đầu mới phát bệnh gà ỉa khó, có biểu hiện táo bón, sau mấy tiếng đồng hồ thì
gà lại ỉa chảy toàn nước Phân sống nhầy màu nâu vàng, sau chuyển thành sáp nâu, cuối cùng có lẫn máu
Đặc biệt khi gà bị nhiễm chủng Eimeria tenella thì một số gà hậu môn chảy ra
máu tươi, đôi khi có triệu chứng thần kinh liệt và bán liệt chân hoặc cánh, nằm tụm đống lại một góc chuồng kêu khác lạ nhưng rất đặc trưng
Thể cấp tính xảy ra hết sức nhanh chóng và chỉ kéo dài 2 – 3 ngày, ít khi sau 7 –
8 ngày, gà sẽ chết nếu không can thiệp thuốc kịp thời Qua nhiều lần thí nghiệm khẳng định tỷ lệ chết do cầu trùng thể cấp lên tới 90 – 95%, thậm chí 100% nếu không can thiệp điều trị
Thể mãn tính
Bệnh thường quan sát thấy ở gà lớn tuổi hơn từ 45 – 90 ngày tuổi, cũng với các triệu chứng đã mô tả ở thể cấp nhưng mức độ biểu hiện nhẹ hơn
Bệnh kéo dài 7 – 15 ngày, tỷ lệ chết 25 – 45%
Thể không có triệu chứng lâm sàng
Đây là thể mang trùng của gà đã trưởng thành Khi quan sát bề ngoài gà hoàn toàn khỏe mạnh, ăn uống, đi lại bình thường
Trang 25Triệu chứng lâm sàng duy nhất là đôi khi gà ỉa chảy, tỷ lệ đẻ không đều, năng suất trứng giảm 15 – 25%
Khi xét nghiệm phân gà có rất nhiều noãn nang cầu trùng
Ruột thừa phình to chứa đầy phân lẫn máu, đôi khi là máu hoàn toàn, niêm mạc ruột thừa viêm xuất huyết rất nặng
Niêm mạc ruột non dày lên, quan sát thấy vô số vết xuất huyết hoặc dải xuất
huyết Khi bị kế phát bởi Escherichia coli 078 thì cả ruột non phình to chứa đầy hơi
phân lẩn máu Nhìn qua màng ruột khi mới mổ gà ra ta thấy vô số nốt đỏ trắng
Khi mổ những đoạn ruột có biến đổi nói trên ta thấy: có phân sống, lẩn máu hoặc phân và niêm mạc ruột có màu nâu nhạt Đặc biệt rõ nhất ở đoạn ruột già Các biến đổi khác của cơ thể thuộc về tình trạng còi cọc và thiếu máu
2.7.2 Bệnh Hô Hấp Mãn Tính (Chronic Respiratory Disease – CRD)
Ở gà đẻ sản lượng trứng giảm nhưng vẫn duy trì ở mức độ thấp
Trên gà dò, bệnh thường nổ ra giữa 4 – 8 tuần với triệu chứng thường nặng hơn
Trang 26những đàn trưởng thành và do chúng kết hợp với các mầm bệnh khác đặc biệt là
Túi khí thường chứa dịch rỉ viêm
Một số mức độ viêm phổi có thể nhận biết
Một số ca bệnh nặng đặc trưng của viêm túi khí trên gà là fibrinous hoặc fibrin
mủ, viêm màng bao quanh gan, viêm bao tim dọc theo khối viêm túi khí do kết hợp
với Escherichia coli
2.7.3 Bệnh thương hàn gà
2.7.3.1 Căn bệnh
Bệnh thương hàn gà do Salmonella pullorum gây ra
Chỉ có kháng nguyên thân O, sản xuất nội độc tố
Gà mái: ống dẫn trứng, buồng trứng, phủ tạng, phân
Gà bệnh đẻ trứng thì vi khuẩn nhiễm trong lòng đỏ với tỷ lệ nhiễm cao hơn ngoài vỏ trứng
Gà trống: dịch hoàn và phủ tạng
Đường xâm nhập
Qua đường: tiêu hóa, tiếp xúc, giao phối
Đường lây nhiễm quan trọng nhất là qua trứng
Trang 272.7.3.3 Triệu chứng
Gà con: thường ở thể cấp
Phôi không đạp bể vỏ được nên bị chết Nở ra nhưng rất yếu và chết ngay sau đó
Gà bệnh thường ốm yếu, nhỏ hơn những gà khỏe mạnh khác
Gà bệnh có dấu hiệu sau: bụng trễ xuống do lòng đỏ không tiêu, xù lông, xã cánh, kêu xao xác, nhắm mắt, tụ lại thành từng đám, phân trắng bết vào hậu môn, có đốm casein trong nhãn cầu màu trắng đục
Gà lớn
Thể cấp tính
Gà giảm ăn đột ngột, mệt mỏi gục xuống, xù lông, màu tái nhợt, giảm sản lượng trứng, trứng giảm khả năng ấp nở
Tỷ lệ chết cao trong vòng 5 – 10 ngày
Thân nhiệt 41 – 430C trong 2 – 3 ngày
Tiêu chảy, mất nước, suy yếu
Thể mãn tính
Mặt, mào và yếm tái nhợt do thiếu máu, mào và yếm teo lại
Đẻ ít, đẻ không đều hay ngừng đẻ, trứng có vỏ xù xì, dính máu ở vỏ hay trong lòng đỏ
Bụng xệ xuống do viêm phúc mạc chứa nhiều dịch chất
Phân lúc bón, lúc tiêu chảy, gà ốm yếu, chết rải rác
2.7.3.4 Bệnh tích
Gà con
Lòng đỏ không tiêu, mềm nhão, màu xám xanh
Lách sưng to 2 – 3 lần, gan sưng xuất huyết, tuần 2 – 3 hoại tử
Viêm màng bụng, màng bao tim có dịch rỉ viêm Một số cơ quan khác như: phổi, tim, lách, và thành dạ dày cơ có hoại tử
Ruột viêm xuất huyết, manh tràng chứa đầy phân trắng
Viêm khớp, có dịch viêm màu vàng chanh hay màu cam xung quanh khớp
Gà lớn
Viêm buồng trứng và ống dẫn trứng, trứng méo mó có nhiều màu sắc khác nhau như: vàng sậm, màu đồng đen, dị hình kéo dài…Trứng có thể bị vỡ làm viêm phúc
Trang 28mạc
Gan sưng bở, có những đốm hoại tử, lách, thận sưng lớn
Viêm màng bụng, màng bao quanh gan, màng ngoài tim
Viêm ruột hoại tử, có thể loét
Dịch hoàn có nốt hoại tử, màu đen, thỉnh thoảng có casein ở phổi và túi khí Viêm khớp