Nguyên nhân tiêu chảy được đề cập nhiều nhất là do vi khuẩn gây bệnh đường ruột, cho nên việc sử dụng kháng sinh trị tiêu chảy trên heo con là biện pháp cơ bản đầu tiên nhất.. 2.2.1 Chức
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ BẰNG DỊCH ÉP GỪNG, TỎI, NGHỆ
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THIÊN PHƯỚC
Niên khóa : 2004 - 2008
Tháng 09/2008
Trang 2KHẢO SÁT HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON
THEO MẸ BẰNG DỊCH ÉP GỪNG, TỎI, NGHỆ
Tác giả
NGUYỄN THIÊN PHƯỚC
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư
ngành Chăn Nuôi
Giáo viên hướng dẫn
ThS NGUYỄN THỊ KIM LOAN
Tháng 09 năm 2008
Trang 3LỜI CẢM TẠ Ghi nhớ công ơn
Ông bà, cha mẹ, các cậu dì đã động viên, an ủi, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con được học hành và có được như ngày hôm nay
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm, Ban Chủ Nhiệm và quý thầy cô khoa Chăn Nuôi Thú Y đã tận tình giảng dạy và hỗ trợ cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Loan đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, hỗ trợ em để có thể hòan thành đề tài tốt nghiệp này
Trang 4TÓM TẮT KHÓA LUẬN
dịch ép gừng, tỏi, nghệ” được tiến hành từ ngày 15/03/2008 đến ngày 20/07/2008 tại
trại heo tư nhân Thành An, địa điểm 57/4H, ấp Võ Dõng, xã Gia Kiệm, huyên Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
Tổng số heo thí nghiệm là 260 heo con theo mẹ chia làm hai đợt thí nghiệm, mỗi đợt thí nghiệm gồm 13 lô được bố trí như sau:
4 20 Dùng dịch ép tỏi với liều dùng 2cc/ con/ ngày
10 20 Dùng dịch ép hỗn hợp gừng, tỏi, nghệ (*) với liều dùng 2cc/ con/ ngày
11 20 Dùng dịch ép hỗn hợp gừng, tỏi, nghệ với liều dùng 4cc/ con/ ngày
12 20 Dùng dịch ép hỗn hợp gừng, tỏi, nghệ với liều dùng 6cc/con/ngày
13 20 Dùng hỗn hợp colistin+atropine với liều dùng 3cc/ con/ ngày
(*): Dịch ép gừng, tỏi, nghệ được pha trộn theo tỉ lệ 1: 1: 1
Kết thúc đề tài chúng tôi ghi nhận được:
- Thời gian điều trị trung bình là 2,96 ngày Trong đó:
+ Lô 11 có thời gian điều trị ngắn nhất là 1,25 ngày
+ Lô 9 có thời gian điều trị dài nhất là 5,25 ngày
- Tỉ lệ ngày con tiêu chảy trung bình là 6,77% Trong đó:
+ Lô 11 có tỉ lệ ngày con tiêu chảy thấp nhất 1%
+ Lô 9 có tỉ lệ ngày con tiêu chảy cao nhất là 16,8%
Trang 5- Tỉ lệ chữa khỏi trung bình là 89,38% Trong đó:
+ Lô 7 có tỉ lệ chữa khỏi thấp nhất (53,33%)
+ Các lô 2, 4, 5, 6, 10, 11, 12, 13 đều có tỉ lệ chữa khỏi là 100%
- Tỉ lệ tái phát trung bình là 6,55% Trong đó:
+ Lô 4 có tỉ lệ tái phát cao nhất (20%)
+ Các lô 2, 5, 6, 10, 11, 12 không có heo tái phát tiêu chảy
- Tỉ lệ chết trung bình là 2% Trong đó:
+ Lô 7 có tỉ lệ chết cao nhất (13,33%)
+ Các lô 3 và 9 có tỉ lệ chết bằng 6,25%
+ Các lô còn lại không có heo con bị chết do tiêu chảy
- Trọng lượng cai sữa trung bình là 6,32 kg Trong đó:
+ Lô 11 có trọng lượng cai sữa trung bình cao nhất (7,25 kg)
+ Lô 9 có trọng lượng cai sữa trung bình thấp nhất (5,4 kg)
- Chi phí điều trị tiêu chảy trung bình là 62,54 đồng/ kg Trong đó:
+ Lô 9 có chi phí điều trị tiêu chảy cao nhất (221,05 đồng/ kg)
+ Lô 10 có chi phí điều trị tiêu chảy thấp nhất (4,54 đồng/ kg)
+ Các lô 3, 9 có chi phí điều trị/ kg tăng trọng cao hơn so với lô 13 (lô đối chứng)
+ Các lô 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8, 11, 12 có chi phí điều trị/ kg tăng trọng thấp hơn so với lô 13 (lô đối chứng)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt khóa luận iii
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các biểu đồ x
Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích yêu cầu 2
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 Sinh lý heo con theo mẹ 3
2.2 Hệ vi sinh vật đường ruột 4
2.2.1 Chức năng của vi sinh vật đường ruột 4
2.2.2 Rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột 5
2.2.3 Sơ lược về E.coli 5
2.2.3.1 Đặc điểm 6
2.2.3.2 Sinh bệnh của E.coli gây tiêu chảy heo con 6
2.3 Các nguyên nhân gây tiêu chảy ở heo con theo mẹ 6
2.3.1 Do heo con 6
2.3.2 Do heo mẹ 8
2.3.3 Do vi sinh vật 8
2.3.4 Do ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng 9
2.4 Chứng tiêu chảy trên heo con theo mẹ 10
2.4.1 Sinh bệnh 10
2.4.2 Triệu chứng 11
2.4.3 Chẩn đoán 12
2.4.4 Điều trị 12
2.4.5 Phòng bệnh 13
2.5 Các loại chế phẩm trong thí nghiệm 14
Trang 72.5.1 Gừng 14
2.5.1.1 Thành phần hóa học 14
2.5.1.2 Tác dụng của gừng 14
2.5.2 Tỏi 15
2.5.2.1 Thành phần hóa học 15
2.5.2.2 Tác dụng của tỏi 16
2.5.3 Nghệ 18
2.5.3.1 Thành phần hóa học 18
2.5.3.2 Tác dụng của nghệ 18
2.6 Tổng quan về trại chăn nuôi Thành An 19
2.6.1 Vị trí địa lý 19
2.6.2 Nhiệm vụ của trại 19
2.6.3 Cơ cấu tổ chức 19
2.6.4 Công tác giống 19
2.6.5 Cơ cấu đàn 19
2.6.6 Chuồng trại 20
2.6.6.1 Khu chuồng nái hậu bị, mang thai và chờ phối 20
2.6.6.2 Khu chuồng nái đẻ 20
2.6.6.3 Khu chuồng heo cai sữa 21
2.6.6.4 Khu chuồng heo thịt 21
2.6.6.5 Chuồng đực giống 21
2.6.7 Công tác thú y 21
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 22
3.1 Thời gian và điạ điểm 22
3.1.1 Thời gian thực hiện 22
3.1.2 Địa điểm 22
3.2 Đối tượng thí nghiệm 22
3.3 Bố trí thí nghiệm 22
3.4 Điều kiện thí nghiệm 23
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.5.1 Thời gian điều trị 24
Trang 83.5.2 Tỉ lệ ngày con tiêu chảy 24
3.5.3 Tỉ lệ chữa khỏi 24
3.5.4 Tỉ lệ tiêu chảy tái phát 24
3.4.5 Tỉ lệ chết do tiêu chảy 24
3.5.6 Trọng lượng bình quân lúc cai sữa 24
3.5.4 Hiệu quả kinh tế 25
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 25
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 26
4.1 Thời gian điều trị 26
4.2 Tỉ lệ ngày con tiêu chảy 28
4.3 Tỉ lệ chữa khỏi, tỉ lệ tái phát và tỉ lệ chết 29
4.3.1 Tỉ lệ chữa khỏi 29
4.3.2 Tỉ lệ tái phát 31
4.3.3 Tỉ lệ chết do tiêu chảy 32
4.4 Trọng lượng cai sữa 34
4.5 Sơ bộ hiệu quả kinh tế 36
4.6 Hạn chế 37
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC 41
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu đàn của trại heo Thành An 20
Bảng 2.2: Qui trình tiêm phòng bệnh của trại heo Thành An 21
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 22
Bảng 3.2: Nhiệt độ trung bình qua các tháng thí nghiệm 23
Bảng 4.1: Thời gian điều trị 26
Bảng 4.2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 28
Bảng 4.3 Tỉ lệ chữa khỏi 30
Bảng 4.4 Tỉ lệ tái phát 31
Bảng 4.5 Tỉ lệ chết do tiêu chảy 33
Bảng 4.6 Trọng lượng cai sữa .35
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế 36
Trang 11DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1 Thời gian điều trị 27
Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ ngày con tiêu chảy 29
Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ chữa khỏi 30
Biểu đồ 4.4 Tỉ lệ tái phát 32
Biểu đồ 4.5 Tỉ lệ chết do tiêu chảy 34
Biểu đồ 4.6 Trọng lượng cai sữa 35
Trang 12Chương 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Đặt vấn đề
Trên thế giới, chăn nuôi heo là ngành kinh doanh lớn, thịt heo chiếm 40% tổng lượng các lọai thịt (thịt bò 31%, thịt gia cầm 23%, thịt cừu 6%) Ở Việt Nam, chăn nuôi heo là nghề truyền thống của hàng triệu hộ nông dân, thịt heo chiếm 70% tổng lượng các lọai thịt tiêu thụ hàng ngày trên thị trường Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ngành chăn nuôi đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng cuộc sống Trong chăn nuôi heo, ngoài công tác giống, dinh dưỡng, chăm sóc thì vệ sinh thú y đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao năng suất vật nuôi
Tiêu chảy heo con là vấn đề đáng lo ngại hàng đầu của các nhà chăn nuôi hiện nay Tuy không làm chết heo con hàng loạt như các bệnh truyền nhiễm khác, nhưng nó làm giảm số lượng heo con cai sữa, heo tiêu chảy còi cọc, chậm lớn… Từ đó làm giảm hiệu quả kinh tế
Tiêu chảy heo con đã được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu ở nhiều góc cạnh khác nhau và cũng đã tìm ra nhiều biện pháp khắc phục Nguyên nhân tiêu chảy được đề cập nhiều nhất là do vi khuẩn gây bệnh đường ruột, cho nên việc sử dụng kháng sinh trị tiêu chảy trên heo con là biện pháp cơ bản đầu tiên nhất Tuy nhiên trong điều kiện chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao, người tiêu dùng bắt đầu quan tâm đến an toàn của thực phẩm, mà đầu tiên là vấn đề tồn dư kháng sinh trong thực phẩm Vậy làm thế nào để giảm đến mức thấp nhất có thể lượng kháng sinh trong thực phẩm? Đã có nhiều đề tài nghiên cứu xung quanh việc sử dụng các loại dược thảo như một lọai kháng sinh thiên nhiên
Trang 13Góp phần nhỏ vào vấn đề rộng lớn trên, được sự đồng ý của trường đại học Nông Lâm, dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Thị Kim Loan và sự giúp đỡ tạo điều
kiện của trại heo tư nhân Thành An, chúng tôi đã tiến hành đề tài “Khảo sát hiệu quả
điều trị tiêu chảy trên heo con theo mẹ bằng dịch ép gừng, tỏi, nghệ”
+ Theo dõi một số chỉ tiêu như thời gian điều trị, tỉ lệ ngày con tiêu chảy,
tỉ lệ chữa khỏi, tỉ lệ tái phát, tỉ lệ chết, trọng lượng heo cai sữa và hiệu quả kinh tế trên heo con theo mẹ
+ Số liệu và các chỉ tiêu phải được theo dõi đầy đủ và chính xác
Trang 14Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Sinh lý heo con theo mẹ
Heo con khi mới sinh phải thích nghi với môi trường sống hoàn toàn mới Khi còn là bào thai, nguồn dinh dưỡng do máu mẹ cung cấp qua tĩnh mạch rốn là nguồn dinh dưỡng có chọn lọc Khi ra khỏi bụng me, bộ máy tiêu hoá mới bắt đầu hoạt động
để đáp ứng nhu cầu sinh trưởng phát triển của chúng
Theo Nguyễn Như Pho (1995), heo con có sức tăng trưởng rất nhanh, nếu được nuôi dưỡng tốt sẽ đạt trọng lượng gấp đôi trọng lượng sơ sinh vào cuối tuần tuổi thứ nhất, gấp 5 lần trọng lượng sơ sinh vào cuối tuần tuổi thứ 4 và gấp 10 lần vào tuần tuổi thứ 8 Tuy vậy, về mặt tiêu hoá, bộ máy tiêu hoá của heo con theo mẹ chưa hoàn chỉnh
về cơ năng và tổ chức nên hoạt động rất yếu
Theo Phạm Khắc Hiếu (1997), ngay ngày đầu đã có HCl trong dạ dày, sau đó ngưng sản xuất gastrin kéo dài 2 - 3 tuần khiến dịch dạ dày thiếu HCl làm cho enzyme tiêu hoá không hoạt động tốt Lượng HCl rất ít, chỉ đủ để hoạt hoá men pepsinogen thành pepsin chứ không đủ làm toan dịch dạ dày
Ngoài ra, theo Phùng Ứng Lân (1986), còn có sự giảm acid trong dịch vị, thức
ăn liên kết với HCl làm cho lượng HCl tự do rất ít
Sự phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non kém chỉ đủ sức tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản như sữa Men saccharase chỉ hoạt động mạnh sau hai tuần, men mantase chỉ được phân tiết đầy đủ sau 4 tuần
Về thần kinh, những ngày đầu hoạt động có tính phản xạ, các dịch tiêu hoá chỉ được tiết ra khi thức ăn tác động trực tiếp lên thành dạ dày Các phản xạ bảo vệ cơ thể trước môi trường xung quanh cũng là các phản xạ không điều kiện do lớp vỏ đại não, trung tâm điều tiết nhiệt chưa phát triển (Phùng Ứng Lân, 1986)
Trang 152.2 Hệ vi sinh vật đường ruột
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), hệ vi sinh vật đường tiêu hoá của động vật rất phong phú đa dạng
Trên niêm mạc miệng và trong nước bọt có cầu khuẩn Micrococcus,
Staphylococcus, Streptococcus Trực khuẩn gram dương như trực khuẩn lactic, trực
khuẩn gram âm như E.coli, Pasteurella, Leptospira, Actinomyces, nấm men Candida
Trong dạ dày động vật non còn chứa Streptococcus, Bacillus subtilis, Bacterium
megatherium, Aerobacter aerogenes, trực khuẩn lactic, Lactobacterium delbrucki, Bacteriumlacti acidi
Ruột non có số lựơng vi khuẩn rất ít do dịch dạ dày, dịch ở niêm mạc ruột non, mật, dịch tụy tạng có tác dụng diệt khuẩn
Ở ruột non gia súc có cầu khuẩn, trực khuẩn lactic, Lactobacterium bulgarium,
Lactobacterium acidophilum Từ hồi tràng, số lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên
Trong ruột già chủ yếu có E.coli (75%) Enterococcus, trực khuẩn nha bào và
một số vi khuẩn gây bệnh
2.2.1 Chức năng của vi sinh vật đường ruột
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), trong dạ dày và ruột, vi sinh vật phân giải các chất dinh dưỡng, vi khuẩn lactic phân giải hydratcacbon, gluxit (tạo acid lactic có tác dụng khống chế vi khuẩn gây thối và một số vi khuẩn khác) acid acetic, acid propionic… cồn, CO2, CH4 Vi khuẩn trong ruột và dạ dày còn bài tiết ra amylase phân giải tinh bột Chất protit được phân giải trong ruột non một phần do trực khuẩn gây thối bài tiết ra men protidase Khi vi khuẩn chết, cơ thể động vật hấp thu protit vi khuẩn, sử dụng acid amin do vi khuẩn tạo ra Vi khuẩn ruột và dạ dày còn tổng hợp
vitamin như: Bacillus subtilis, Bacterium coli tạo vitamin B, một số vi khuẩn khác
tổng hợp được vitamin PP (acid nicotinic)
Trang 162.2.2 Rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), vi khuẩn gây thối rữa là nguồn gây bệnh đường ruột Khi sức đề kháng của động vật sút kém do sữa non kém hoạt chất, môi trường ruột thay đổi, vi khuẩn tăng độc lực và vi khuẩn gây thối rữa hoạt động khi ống tiêu hoá hoạt động rối loạn, mức tiêu hoá thấp Quá trình thối rữa, phân giải chất trong ruột sinh CO2, H2S, H2, NH3, CH4, phonol, indol, scatol, acid phenyl acetic… làm biểu
mô tiêu hoá phồng lên, dộp ra, tróc đi tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào gây rối loạn dinh dưỡng cấp tính
Khi có bất cứ một tác nhân stress nào tác động vào hệ sinh thái đường tiêu hoá
sẽ ảnh hưởng đến sự cân đối của quần thể vi sinh vật cư trú sẵn trong dạ dày, ruột đều
có thể tạo thuận lợi cho những loài “vi sinh vật không mong muốn” phát triển dẫn tới tiêu chảy (Đào Trọng Đạt và cộng tác viên, 1995)
Hồ Văn Nam (1997) cho rằng, khi tiêu chảy số lượng E.coli tăng lên rất nhiều,
Salmonella bội nhiễm từ 64,13% ở phân heo thường lên đến 99,47% trong phân heo
tiêu chảy Còn vi khuẩn Bacillus subtilis giảm từ 56,92% xuống còn 25,18%
Theo Niconxki (1983) hệ vi khuẩn đường ruột bị rối loạn là một yếu tố làm phát sinh và phổ biến chứng khó tiêu ở heo con
Hệ vi sinh vật đường ruột cũng bị rối loạn trầm trọng sau khi sử dụng các loại kháng sinh để điều trị tiêu chảy kéo dài Vì vậy, trên thị trường hiện nay có rất nhiều chế phẩm gọi là “men tiêu hoá“ để phòng tiêu chảy hoặc làm gia tăng hệ vi sinh vật có lợi sau khi điều trị kháng sinh
Theo Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng (1986), nếu vi khuẩn
Lactobacillus thiếu hoặc giảm số lượng sẽ mắc bệnh về đường tiêu hoá Nhiều tác giả
coi việc thiếu hoặc giảm Lactobacillus là hiện tượng bệnh lý
2.2.3 Sơ lược về E.coli
Trong các vi khuẩn đường ruột, loài E.coli là loài phổ biến nhất Loài này xuất
hiện và sinh sống trong cơ thể động vật chỉ vài giờ sau khi sinh và tồn tại cho đến khi con vật chết
E.coli sinh sống bình thường trong đường ruột của người và động vật, khi các
điều kiện nuôi dưỡng, khẩu phần thức ăn, vệ sinh thú y kém, sức chống đỡ bệnh tật
của con vật yếu thì E.coli trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh (Đào Trọng Đạt,
1995)
Trang 17Nhiều tác giả cho rằng E.coli không những kế phát mà còn là nguyên nhân chính gây tiêu chảy trên heo con Trên heo con bị tiêu chảy E.coli trở nên cường độc
(dung huyết α) và cư trú ở cả những nơi mà trên heo con thường không bao giờ tìm thấy
2.2.3.1 Đặc điểm
Theo Trần Thanh Phong (1996), E.coli thuộc họ Enterobactericeae, là trực
khuẩn gram âm, không bào tử, có giáp mô, có lông tơ xung quanh
- Kích thước 0,5µm x 1,5µm
- Hiếu khí hoặc yếm khí tuỳ nghi có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 15oC – 40oC, thích hợp nhất là 37oC; pH từ 6,4 – 7,4
- Các loại kháng nguyên
Kháng nguyên O: Kháng nguyên thân chịu nhiệt
Kháng nguyên K: Kháng nguyên giáp mô
Kháng nguyên H: Kháng nguyên lông
Kháng nguyên F: Kháng nguyên tiêm mao kết dính với tế bào đường ruột Có dạng hình sợi dài 4µm, thẳng hay xoắn, đường kính 2,1 – 7,0 nm giúp kết
dính vào nhung mao ở ruột Các tiêm mao liên quan tới E.coli gây bệnh tiêu
chảy trên heo là F4 (K88), F5 (K99), F6 (987P), F41, F2413P, F107
E.coli còn sản sinh nội độc tố và ngoại độc tố (Enterotoxin LT, Enterotoxin ST,
Verotoxin, Cytotoxin, Haemolysin)
2.2.3.2 Sinh bệnh của E.coli gây tiêu chảy heo con
Các serotype gây bệnh phân lập được biến đổi từ vùng này sang vùng khác Khi
gặp điều kiện thuận lợi, E.coli nhân lên rất nhanh ở thành ruột non và sản xuất độc tố
gây hư hại thành ruột, gây tiêu chảy nước và làm giảm thể tích máu
2.3 Các nguyên nhân gây tiêu chảy ở heo con theo mẹ
Có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy trên heo con theo mẹ Các nguyên nhân này không riêng lẻ mà kết hợp như một chuỗi mắc xích, bổ sung lẫn nhau Sau đây là các nguyên nhân chính
2.3.1 Do heo con
Do đặc điểm sinh lý heo con trong những ngày đầu chưa kịp thích nghi với môi trường mới Cơ quan tiêu hoá chưa hoàn thiện về chức năng và tổ chức Các men tiêu
Trang 18hoá chưa đầy đủ, HCl phân tiết ít làm pH trong dịch đường tiêu hoá cao tạo thuận lợi cho vi khuẩn độc hại phát triển và gây bệnh
Do heo con thiếu sắt, mỗi ngày cần 7 mg, nhưng sữa mẹ chỉ cung cấp 1 mg Fe/ngày Heo con lại không có khả năng dự trữ sắt vì màng nhau là hàng rào hạn chế
sự vận chuyển sắt từ mẹ sang bào thai (Nguyễn Như Pho, 1995) Trong khi đó tốc độ sinh trưởng của heo con rất nhanh, lượng máu trong cơ thể cũng phải tăng lên cho phù hợp Sự thiếu Fe sẽ làm ngưng trệ quá trình thành lập Hemoglobin của hồng cầu dẫn đến bệnh thiếu máu do thiếu sắt Từ sự thiếu máu này dẫn đến tiêu chảy
Do heo con bú sữa mẹ không điều độ lúc quá ít, lúc quá nhiều dẫn đến chứng khó tiêu
Do cơ thể heo con lúc mới sinh thiếu vitamin Thiếu vitamin C do khả năng tổng hợp trong gan chưa hoàn chỉnh mà vitamin C là một yếu tố quan trọng trong hệ khử của Hemoglobin, thiếu vitamin C dẫn đến chứng Metahaemoglobin, làm cho quá trình thích nghi của gia súc non trong môi trường có nhiều tác nhân stress kém (Phạm Khắc Hiếu, 1997)
Do heo con chỉ tổng hợp được vitamin A từ 20 ngày tuổi trở đi Trong khi đó,
dạ dày và ruột thường xuyên có sự thay thế đều đặn các tế bào biểu bì nên khi thiếu vitamin A biểu mô niêm mạc xảy ra các quá trình loạn dưỡng làm rối loạn chức năng nhu động, phân tiết và hấp thu của dạ dày ruột Thiếu vitamin A làm giảm khả năng tạo kháng thể trong máu Do sừng hoá màng niêm mạc biểu mô nên giảm sức tiết của các tuyến, giảm tiết dịch tiêu hoá làm rối loạn hấp thu các chất dinh dưỡng Trong ruột phát sinh hiện tượng loạn khuẩn (Niconxki, 1983)
Ngoài ra ở heo con còn thiếu nhiều loại vitamin khác Heo con sơ sinh chỉ có thể sử dụng được các loại vitamin tan trong nước (vitamin nhóm B, C) còn các vitamin tan trong chất béo (vitamin nhóm A, D, E, K) phải từ 1 đến 3 tuần tuổi mới sử dụng được (Phạm Khắc Hiếu, 1997)
Về miễn dịch, heo con theo mẹ chỉ nhận được miễn dịch thụ động từ sữa đầu, miễn dịch này mạnh lúc mới sinh nhưng sau đó giảm và còn rất ít lúc 2 tuần tuổi Trong khi đó, miễn dịch chủ động đến 4 tuần mới hoạt động tích cực được Nên trong khoảng 2 đến 4 tuần tuổi, heo con giảm sức đề kháng dễ nhiễm bệnh, dẫn đến tiêu chảy
Trang 19Do khả năng điều tiết nhiệt của heo con kém, do lớp mỡ dưới da ít, trung tâm điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh nên heo con rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết, giảm khả năng tiêu hoá thức ăn dẫn đến tiêu chảy (Phùng Ứng Lân, 1986)
2.3.2 Do heo mẹ
Theo Nguyễn Như Pho (1995), trong thời gian mang thai do dinh dưỡng không đầy đủ như thiếu protein, thiếu vitamin A, thiếu Cu, Zn, Fe làm rối loạn quá trình trao đổi chất ở bào thai, heo con sinh ra yếu, sức đề kháng kém, dễ nhiễm bệnh
Vitamin càng nhiều trong sữa đầu và sữa của heo mẹ thì hàm lượng của nó càng cao trong gan heo con Những heo nái mà hàm lượng vitamin A trong máu thấp sẽ sinh
ra những heo con thiếu sức sống (Nixconxki, 1983)
Các bệnh thông thường của heo nái như bệnh mất sữa, viêm vú, sốt sữa, kém sữa, heo nái không cho con bú là các nguyên nhân làm cho heo con tiêu chảy (Vũ Văn Hoá, 1990)
Nguyễn Như Pho (1995) cho rằng heo mẹ mắc hội chứng MMA (Mastitis, Metritis, Agalactia), heo con bú sữa có sản vật hoặc liếm dịch viêm rơi vãi trên nền chuồng gây viêm ruột tiêu chảy Trên những heo mẹ kém sữa hay mất sữa, heo con bú được ít hoặc không bú được sữa đầu nên sức đề kháng kém, dễ phát sinh bệnh
Do sữa heo mẹ có hàm lượng mỡ cao, các thành phần đạm, đường, khoáng đều cao hơn sữa bò, đậm đặc hơn nên cần nhiều nước uống, heo con hay khát nước nếu chuồng trại thiếu nước heo con sẽ tìm nguồn nước dơ tù đọng, cả nước tiểu heo mẹ để uống và dễ bị nhiễm bệnh đường tiêu hoá
Ngoài ra sữa mẹ giàu chất dinh dưỡng, khó tiêu hoá nên heo con dễ bị chứng khó tiêu dẫn đến tiêu chảy
Do heo mẹ không được tiêm phòng đầy đủ nên không truyền được miễn dịch
cho heo con, heo con không đề kháng được bệnh Đặc biệt, vaccin phòng E.coli tiêm cho heo nái, heo con nhận kháng thể qua sữa đầu sẽ chống được tiêu chảy do E.coli, vì
E.coli không bám được vào nhung mao ruột để sinh độc tố
2.3.3 Do vi sinh vật
Theo tài liệu tổng hợp được, rối loạn đường ruột làm thay đổi hệ vi sinh vật
đường ruột là nguyên nhân cơ bản nhất gây tiêu chảy Tiêu chảy do E.coli là mối quan
tâm nghiên cứu của khá nhiều tác giả hiện nay
Trang 20Các độc tố nấm men, nấm mốc có trong thức ăn cũng gây tiêu chảy
Các bệnh do virus như: dịch tiêu chảy Porcine Epidemic Diarrhoea (PED), do
Rotavirus gây viêm dạ dày - ruột truyền nhiễm Các bệnh truyền nhiễm khác như: dịch
tả heo, giả dại… đều gây tiêu chảy với các đặc điểm khác nhau
Các ký sinh trùng đường ruột như giun đũa, sán lá cũng gây tiêu chảy
2.3.4 Do ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Điều kiện ngoại cảnh là tiên quyết cho mọi nguyên nhân dẫn đến bệnh tật Chúng ta có thể khắc phục để loại trừ các nguyên nhân gây bệnh khác
Do chăm sóc, nuôi dưỡng heo nái trong thời gian mang thai, trong khi nái nuôi con, lúc sinh, không đúng kỹ thuật làm nái mắc hội chứng MMA
Do chăm sóc heo con cắt, cột rốn, bấm răng, úm không đúng kỹ thuật làm heo con yếu, heo mẹ không cho con bú
Chuồng trại vệ sinh không tốt, dơ bẩn là nguồn gây nhiễm vi sinh vật gây bệnh
Kohler E.M (1996), cho rằng tỉ lệ mắc bệnh do E.coli chịu ảnh hưởng rất lớn do
việc quản lý đàn và dụng cụ chăn nuôi nên mục tiêu cơ bản đầu tiên để phòng tiêu
chảy do E.coli là vệ sinh tốt
Các yếu tố stress tác động rất lớn đến heo con Theo Đào Trọng Đạt (1964), các tác nhân ngoại cảnh như thời tiết thay đổi đột ngột, chuồng trại ẩm ướt, lạnh tác động vào cơ thể heo con gây rối loạn thần kinh dẫn đến rối loạn tiêu hoá
Đặc biệt ở nước ta, khí hậu nhiệt đới gió mùa, vào mùa nắng nhiệt độ quá cao
có khi trên 36oC, mùa mưa độ ẩm lại rất cao Thời điểm chuyển mùa là thời gian đặc biệt nguy hiểm đối với heo con vì thời tiết thay đổi thất thường, đột ngột Điều kiện chuồng trại khó tránh được tất cả các nhược điểm đó của khí hậu Heo con chỉ thích hợp với nhiệt độ từ 27 - 290C và ẩm độ 75 – 80% Nên trong thời gian chuyển mùa, số lượng heo con tiêu chảy tăng cao Theo Hoàng Văn Tuấn và cộng tác viên (1998) tỷ lệ chết do tiêu chảy tăng dần từ tháng 3, 4, 5 và từ tháng 6 tăng đột bíến đến tháng 10
Các nguyên nhân dẫn đến chứng khó tiêu như kiến trúc chuồng nuôi không thuận lơi, lạnh, ẩm ướt, không đủ chỗ cho heo vận động Chuồng nhiều khí NH3 sẽ kích thích mạnh hệ thần kinh trung ương, kích thích các niêm mạc, biến Hemoglobin của hồng cầu thành hematin kiềm làm giảm Hemoglobin trong máu, lượng acid cacbonic tăng lên làm suy giảm các quá trình oxy hoá trong cơ thể gây ra nhiễm acid,
Trang 21heo con uể oải, giảm ăn Nước nhiễm bẩn, nhiều NH3, Cl2, nitrat, SO4 2- đều gây bất lợi cho hoạt động của đường tiêu hóa (Niconxki, 1983)
Ngoài ra còn có các nguyên nhân như không đủ nước sạch cho heo uống, tập ăn cho heo con với khẩu phần không thích hợp, không bổ sung kịp thời các chất cần thiết cho heo con
mẹ, bào thai ở nhiệt độ 38-40 0C, ra ngoài phải đương đầu với nhiệt độ lạnh ẩm thay đổi, các catecolamin sản xuất nhiều hơn, hoạt động hệ trục H-H-H (hypothalamus, Hypophysis, Hyponephra) thay đổi để tự điều chỉnh Nếu stress kéo dài, hoạt động của
hệ trục H-H-H rối loạn, các hormon kích thích viêm ở vỏ thượng thận tiết nhiều, các receptor thụ cảm với các hormon ở dạ dày, ruột… dẫn đến viêm niêm mạc dạ dày, ruột
là cơ hội tốt để vi khuẩn độc hại E.coli, Salmonella, Clostridium… tấn công gây tiêu chảy
2.4 Chứng tiêu chảy trên heo con theo mẹ
Theo Phùng Ứng Lân (1986), tiêu chảy là một phản xạ bảo vệ cơ thể trước những tác nhân bất lợi
Trang 22Đào Trọng Đạt (1995) cho rằng do rối loạn trao đổi muối - nước nên mô bào mất khả năng giữ nước, trương lực mạch máu bị rối loạn, tính thấm của các mạch quản tăng cao làm tăng dòng chảy từ các mô, mạch làm cơ thể mất nhiều Na, K, Mg buộc
cơ thể phải tiêu phí gluxit, lipit để bù đắp làm cho heo con bị kiệt sức dẫn tới chết
Tiêu chảy trong khi nhiệt độ cơ thể vẫn bình thường, phân loãng có màu trắng hay hơi vàng, nhiều bọt khí, heo con bệnh khát nước đôi khi ợ và nôn ra những chất có mùi khó chịu, phân lỏng kiềm tính, đi phân 4-6 lần/ ngày
Quan sát bên ngoài, da khô nhăn nheo, hai bên sườn hõm vào, bụng thót, một số con rên rỉ, phân dính bê bết quanh hậu môn, hậu môn mở, heo con lờ đờ ít phản ứng,
Vi khuẩn
Nấm mốc Enteritis
(diarrhea)
Tiêu thụ thức ăn vi sinh vật
Các bệnh hệ thống, dị ứng
Môi trường độc tố
Quản lý, stress
Kí sinh trùng Virus
Trang 23thường nằm một chỗ Trong trường hợp bệnh nặng, heo con mất phản ứng rõ rệt với các kích thích, run cơ, co giật, nhiệt độ cơ thể giảm và chết
Nếu điều trị hợp lý, kịp thời bệnh sẽ giảm dần, số lần đi phân ít lại và khỏi Các tác giả cũng lưu ý người chăm sóc vì trước khi heo con tiêu chảy có giai đoạn heo con
đi phân khó, phân nhỏ và đen có thể can thiệp ngăn chặn tiêu chảy kịp thời trước khi xuất hiện các triệu chứng
2.4.3 Chẩn đoán
Dựa vào các triệu chứng như đã nêu trên, mỗi sáng cần kiểm tra sức khoẻ đàn heo càng sớm càng tốt Quan sát các dấu hiệu phân trên nền chuồng, tình trạng heo
mẹ, heo con, nhìn chung đàn sau đó quan sát từng con
Nếu cần thiết, số lượng heo bệnh nhiều, đồng loạt nhiều bầy thì phải kiểm tra các chỉ tiêu của heo con như: xét nghiệm vi trùng học, mổ khám bệnh tích những con heo con chết điển hình của đàn Gởi mẫu sớm, đúng qui định đến phòng xét nghiệm để tìm đúng nguyên nhân gây bệnh Làm kháng sinh đồ, xác định loại kháng sinh nhạy cảm
2.4.4 Điều trị
Ngay khi phát hiện các dấu hiệu đầu tiên, việc điều trị phải nhanh chóng, tích cực Theo Nguyễn Như Pho (1995), cần cấp năng lượng, nước, chất điện giải ngay cho heo con bằng nước sinh lý mặn ngọt, serum glucose 20ml/ ngày vào trong xoang bụng
-Cấp kháng sinh để ngăn chặn vi sinh vật có hại phát triển, có thể cho uống hoặc chích
-Cấp chất chát để bảo vệ niêm mạc ruột
-Cấp các vitamin như A, B, C , bổ sung Ca
-Sau khi bệnh thuyên giảm và ngưng liệu trình kháng sinh được 24 giờ nên dùng các chế phẩm vi sinh vật như Biolactin, Neolactin… cho heo con uống để phục hồi hệ vi sinh vật đường ruột
Làm vệ sinh chuồng trại, giữ chuồng trại luôn đủ ấm, khô ráo Cách ly heo bệnh với các heo khác trong bầy Các thuốc kháng khuẩn không được sử dụng bừa bãi vì
E.coli thường phát triển rất nhanh sự kháng thuốc (Kohler E.M, 1996)
Trang 24-Tăng sức đề kháng cho heo con bằng cách tiêm phòng vaccine cho heo mẹ
hoặc cho heo mẹ ăn các môi trường có cấy E.coli ở giai đọan cuối thai kỳ Chương trình chủng phải tùy mỗi đàn riêng biệt vì có nhiều chủng E.coli khác nhau cùng gây tiêu chảy trên heo con theo mẹ Chỉ các môi trường nuôi cấy E.coli thuần chủng phân
lập tại đàn mới có hiệu quả trên đàn đó Chủng cho heo mẹ các vaccine có chứa kháng thể chống yếu tố bám (pili) của vi khuẩn, heo con nhận kháng thể từ mẹ qua sữa đầu sẽ được bảo vệ
Để phòng bệnh tiêu chảy cho heo con cần kích thích tiết HCl sớm và đủ bằng cách cho uống HCl pha loãng hoặc dùng acid lactic (cho heo con ăn thức ăn 2-3% acid lactic) (Phạm Khắc Hiếu, 1997)
Ở nước ta hiện nay sản xuất nhiều loại chế phẩm vi sinh vật sống đưa vào đường ruột nhằm khống chế sự phát triển của vi sinh vật gây thối và tạo thế quân bình của hệ vi sinh vật đường ruột Các chế phẩm thường gồm những vi sinh vật như:
Lactobacillus acidophilus, Bacillus subtilis, Streptococcus faecalis (Đào Trọng Đạt và
Trang 25-Tập cho heo con ăn sớm, thức ăn đầy đủ dinh dưỡng, khoáng, sắt, đồng, năng lượng…
-Cho heo con và heo mẹ vận động đều đặn trong những ngày nắng ráo
2.5 Các loại chế phẩm trong thí nghiệm
2.5.1 Gừng
Gừng còn được gọi là khương, sinh khương, can khương
Tên khoa học Zingiber offcinale Rose
Thuộc họ Gừng Zingiberaceae
Hiện nay, cây gừng được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới như các nước Đông Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Phi Trong đó Trung Quốc là nơi xuất khẩu lớn nhất
Ở Việt Nam, gừng cũng là cây trồng lâu đời và cho đến nay cây gừng được trồng khắp nơi trong cả nước Nó thích hợp với điều kiện nhiệt đới ẩm vì vậy nó được chọn làm cây để canh tác
2.5.1.1 Thành phần hóa học
3,7%, tinh bột và các chất cay như zingerola, zingeron và shogaola
Tinh dầu gừng có tỷ trọng 0,878, nhiệt độ sôi là 155 – 300oC Trong tinh dầu còn có α camphen, β phelandren, zingiberen C15H24, một rượu sesquitecpen, một ít xitrala bocneola và geraniola
Nhựa gồm một nhựa trung tính, hai nhựa axit
Gingerol là một chất lỏng sánh, màu vàng, không mùi, vị rất cay, nhiệt độ sôi là
235 – 240oC Khi đun sôi với Ba(OH)2 sẽ bị phân giải cho những chất andehyt bay hơi, những chất cay có tinh thể gọi là zingeron C11H14O3 và một chất ở thể dầu gọi là shogaola (Đỗ Tất Lợi, 2006)
Shogaola có nhiệt độ sôi là 201 -203oC
Zingeron có tinh thể, nhiệt độ sôi là 40 – 41oC, vị rất cay
2.5.1.2 Tác dụng của gừng
– Tác dụng thông thường
Theo Đông y, gừng tươi có tính cay, hơi ôn, có tác dụng làm ra mồ hôi, tán hàn,
ôn trung, tiêu đờm, làm hết nôn, hành thủy, giải độc; dùng chữa ngoại cảm, nôn mửa,
Trang 26bụng đầy, ho nhiều đờm, giải độc cua cá Gừng khô đã bào chế có vị cay, đắng, tính đại nhiệt, có tác dụng ôn trung, tán hàn, thông mạch, chữa thổ tả, đau bụng, chân tay lạnh, mạch nhỏ, phong, hàn Dân gian thường dùng gừng chữa kém ăn, ăn uống không
tiêu, nôn mửa, đi ngoài lỏng, cảm mạo phong hàn, ho mất tiếng
Gừng là chất gây co mạch, hưng phấn thần kinh trung ương, thần kinh giao cảm, tuần hoàn máu, tăng huyết áp nhẹ
– Tác dụng kháng khuẩn
Gừng có tác dụng ức chế một số vi khuẩn Bacillus mycoides, Staphylococcus spp
Tinh dầu gừng có thể ức chế Staphylococcus spp, E coli, Streptococcu spp,
chất sunfua có tác dụng diệt vi khuẩn rất mạnh đối với vi trùng Staphyllococcus,
thương hàn, phó thương hàn, lỵ, vi trùng tả, trực khuẩn sinh bệnh bạch hầu, vi khuẩn thối
Trong tỏi không có chất alixin ngay mà có chất aliin, một thứ axit amin, chất aliin chịu tác dụng của men alinaza cũng có trong tỏi mới cho chất alixin
Chất alixin tinh khiết là một chất dầu không màu, hòa tan trong cồn, benzen,
ete, vào dung dịch nước thì không ổn định, dễ bị thủy phân
Trang 27Phương trình tạo alixin từ aliin
Men alinaza
Aliin NH2 H2O axit pyruvic amoniac
+ CH2=CH-CH2-S-SO-CH2-CH=CH2
Alixin
Nhiệt sẽ làm nhanh chóng mất tác dụng của chất alixin, gặp kiềm cũng bị mất tác dụng, axit nhẹ bị ảnh hưởng Chất alixin dễ mất oxy và do đó mất tác dụng kháng sinh, vì vậy người ta cho rằng tác dụng kháng sinh của alixin là do nguyên tử oxy trong phân tử
Chất alixin rất dễ kết hợp với một axit amin có gốc SH là cystein để cho một hợp chất Gốc SH được coi là một nguyên nhân có tính chất kích thích sự sinh sản của
vi sinh vật hay tế bào Do đó tỏi ức chế sự sinh sản của vi trùng bằng cách phá hoại nhóm SH của cystein (Đỗ Tất Lợi, 2006)
Vitamin B2 chứa trong tỏi mang các loại axit là chất men chuyển đổi chất protein cần thiết Sự chuyển đổi này có ảnh hưởng đến vẻ đẹp của da vì vitamin B2 có tác dụng
giữ cho da đẹp
Trang 28Theo Ngưu Hồng Quân (2004), tỏi có chứa hàm lượng chất chống ung thư (nguyên tố vi lượng selen, germani) cho nên ăn tỏi phòng được ung thư dạ dày, ung
thư thực quản
– Tác dụng kháng sinh
Tỏi là kháng sinh phổ rộng, hoạt chất kháng sinh của tỏi chủ yếu là alixin Ngoài ra, còn có ajione, diallin, disulfit, diallil trisulfide và các hợp chất chứa lưu huỳnh khác được tạo ra từ tỏi
Tỏi tươi giã nát có thể ức chế 70 loại vi khuẩn gram âm và vi khuẩn gram
dương như Klebsiella, Pasteurella, Corynebacterium và các giống Mycobacterium,
thậm chí còn kháng được cả vi khuẩn đã lờn kháng sinh
Hoạt tính kháng sinh do alixin rất đáng lưu ý ngay cả độ pha loãng 1: 85.000 đến 1: 125.000 cũng có thể ức chế được nhiều vi khuẩn khác nhau cả gram âm lẫn
gram dương Bột tỏi đông khô còn có tác dụng chống lại E coli, Pseudomonas,
Salmonella, Micrococcus, Staphylococcus aureus, Klebsiella (Gonzales Fandox và ctv
(1944), Xyguang (1986), Kupinie và ctv (1980), trích dẫn từ Dương Vũ Ngọc Minh, 2005)
Đáng chú ý hơn là khả năng kháng những giống vi khuẩn E coli gây nhiễm độc
ruột và các vi khuẩn gây bệnh đường ruột khác, trong đó có tiêu chảy ở người và động vật thì dùng tỏi ngăn chặn tốt hơn so với việc dùng những vi khuẩn có lợi cho đường ruột để ngăn chặn tiêu chảy (Sharna và ctv (1997), Rurmar và Sharna (1982), Riss và
ctv (1993), trích dẫn từ Dương Vũ Ngọc Minh, 2005)
Tỏi đặc biệt tốt để phòng tránh các rối loạn men tiêu hóa Kích thích tiết dịch
vị, tiết mật Phòng tránh các nhiễm khuẩn dạ dày ruột
Tỏi có tác dụng trị các chứng rối loạn tiêu hóa do men hoặc do thần kinh gây khó tiêu, đầy hơi, trướng bụng, bí trung tiện - chống co thắt dạ dày ruột
- Một số tác dụng khác
Tỏi còn kháng lại virus, chống nấm, diệt kí sinh trùng, nguyên sinh trùng, giải độc kim loại nặng, phòng chống bệnh tim mạch, tăng cường miễn dịch, chống ung thư, giảm đường huyết, chống nhiễm độc phóng xạ, tăng cường chống bệnh đường hô hấp, kháng viêm
Trang 292.5.3 Nghệ
Còn có tên là uất kim, khương hoàng
Tên khoa học Curcuma longga L
Thuộc họ Gừng Zingiberaceae
Ta dùng thân rễ cây nghệ gọi là khương hoàng và rễ củ gọi là uất kim
mọc và được trồng ở các nước Ấn Độ, Inđônêxia, Lào, Trung Quốc và các nước nhiệt
2.5.3.2 Tác dụng của nghệ
– Tác dụng dược lý
Guy Laroche (1933), H Leclerc (1935) đã chứng minh tính chất kích thích sự bài tiết mật của các tế bào gan là do paratolyl metylcacbinol, còn curcumin có tính chất thông mật nghĩa là co bóp túi mật Curcumin có tác dụng phá cholesterol trong máu (Đỗ Tất Lợi, 2006)
gây ung thư có trong thức ăn, nước uống Bởi thế, nó giúp cơ thể vừa phòng ngừa vừa chống ung thư một cách tích cực chứ không phải chỉ dùng khi chữa bệnh
Ngoài ra, curcumin trong nghệ còn có khả năng giải độc và bảo vệ tế bào gan, làm tăng hồng cầu, hạ mỡ máu, giúp mau mọc tóc và giảm rụng tóc Nó còn là chất chống viêm và chống ôxy hóa điển hình, có thể sử dụng như một corticoid mà không
sợ gây loãng xương, loét dạ dày
Giảm đau, chống vàng da, đầy hơi, khó tiêu Các bệnh gây xuất huyết nội tạng, đặc biệt có tác dụng rất tốt với bệnh đau dạ dày