BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ỨNG DỤNG SIÊU ÂM VÀ XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐƯỜNG TIẾT NIỆU TRÊ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG SIÊU ÂM VÀ XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU TRONG
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐƯỜNG
TIẾT NIỆU TRÊN CHÓ
Họ và tên sinh viên : NGUYỄN THỊ TỐ NGA
Tháng 9/2008
Trang 2ỨNG DỤNG SIÊU ÂM VÀ XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐƯỜNG TIẾT NIỆU TRÊN CHÓ
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: NGUYỄN THỊ TỐ NGA
Tên luận văn: “Ứng dụng siêu âm và xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán và điều trị bệnh đường tiết niệu trên chó”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày 19 tháng 09 năm 2008
Giáo viên hướng dẫn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Kính dâng lòng biết ơn sâu sắc của con đến ba mẹ - Người đã sinh thành, dưỡng dục, hi sinh cả cuộc đời và dạy dỗ cho con có được ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Cơ Bản
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Bộ môn Nội Dược
Chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô đã tận tình hưỡng dẫn dìu dắt và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Ban Lãnh Đạo Chi cục Thú y thành phố Hồ Chí Minh, Trạm Chẩn đoán, Xét nghiệm và Điều trị cùng các cô chú, anh chị ở bộ phận Điều trị đã tận tình hỗ trợ
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Bác sĩ Vũ Kim Chiến, người đã tạo mọi điều kiện và tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Cảm ơn toàn thể bạn bè trong và ngoài lớp đã động viên, chia sẽ và giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Lời tri ân xin gửi đến giảng viên hướng dẫn, Tiến Sĩ Võ Thị Trà An
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng siêu âm và xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán
và điều trị bệnh đường tiết niệu trên chó” được tiến hành tại Trạm Chẩn đoán, Xét nghiệm và Điều trị thuộc Chi cục Thú y thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 25/02/2008 – 25/06/2008
Trong thời gian thực hiện đề tài, Trạm đã tiếp nhận 4278 chó đến khám và điều trị, trong đó có 649 ca được chỉ định siêu âm tổng quát Kỹ thuật siêu âm đã phát hiện được 329 ca có bệnh lý trên đường tiết niệu chiếm 50,69%, bao gồm 102 ca có bệnh lý
ở thận chiếm 31% và 227 ca bệnh ở bàng quang chiếm 69%
Trong 102 ca bệnh lý ở thận chúng tôi ghi nhận có các bệnh viêm thận, sỏi thận, thận ứ nước Trong đó, viêm thận là bệnh chiếm tỉ lệ cao nhất 72,55%
Bệnh lý ở bàng quang bao gồm bệnh viêm bàng quang, sỏi bàng quang, polype bàng quang, huyết khối bàng quang, vỡ bàng quang và sa bàng quang Trong đó bệnh viêm bàng quang và sỏi bàng quang là hai dạng bệnh lý thường gặp, chiếm tỉ lệ lần lượt 54,19% và 39,21% (tính theo tổng số ca bệnh ở bàng quang)
Xét nghiệm 30 ca nước tiểu chó bị sỏi bàng quang kết quả cho thấy nước tiểu
có tính kiềm (53,33%) nhiều hơn tính acid (33,33%), tỷ trọng nước tiểu giảm (40%), test protein dương tính chiếm tỉ lệ cao (83,33%) Mẫu nước tiểu có hồng cầu và bạch cầu dương tính chiếm tỉ lệ khá cao (70% và 76,67%) Cặn nước tiểu có chứa tế bào thượng bì thận, tế bào thượng bì bàng quang, hồng cầu, bạch cầu và tinh thể sỏi, trong
đó tinh thể sỏi urate chiếm tỉ lệ cao 42,31%
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt luận văn iv
Mục lục v
Danh sách các bảng vii
Danh sách các hình viii
Danh sách các biểu đồ ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3.Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Đặc điểm sinh lý của chó 3
2.2 Cấu trúc đường tiết niệu 4
2.3 Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu 8
2.3.1 Định nghĩa siêu âm 8
2.3.2 Cơ sở vật lý của phương pháp ghi hình siêu âm 8
2.3.3 Một số thuật ngữ siêu âm 10
2.3.4 Các hiện tượng thường gặp trong siêu âm 11
2.3.5 Các bước tiến hành siêu âm 12
2.3.6 Hình ảnh siêu âm thận và bàng quang bình thường 15
2.4 Xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu 16
2.4.1 Xét nghiệm nước tiểu 16
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu nước tiểu 16
2.4.3 Các thông số trong kiểm tra nước tiểu 18
2.4.4 Thay đổi về sinh lý, sinh hóa trên nước tiểu của một số bệnh trên đường tiết niệu 22
2.5 Phác đồ điều trị một số bệnh đường tiết niệu 22
Trang 7Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 24
3.1 Thời gian và địa điểm 24
3.2 Đối tượng khảo sát 24
3.3 Nội dung 24
3.4 Phương pháp thực hiện 24
3.5 Các chỉ tiêu khảo sát 26
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Bệnh lý ở các cơ quan được chẩn đoán bằng phương pháp siêu âm 27
4.2 Bệnh trên đường tiết niệu được chẩn đoán qua siêu âm 28
4.2.1 Bệnh lý ở thận 29
4.2.1.1 Viêm thận 29
4.2.1.2 Sỏi thận 32
4.2.1.3 Thận ứ nước 34
4.2.2 Bệnh lý ở bàng quang 36
4.2.2.1 Bệnh viêm bàng quang 36
4.2.2.2 Bệnh sỏi bàng quang 38
4.2.2.3 Polype bàng quang 40
4.2.2.4 Huyết khối bàng quang 41
4.2.2.5 Vỡ bàng quang 42
4.2.2.6 Sa bàng quang 43
4.3 Thay đổi thông số sinh lý, sinh hóa của một số ca sỏi đường tiết niệu 44
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 53
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang Bảng
Bảng 2.1: Chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó trưởng thành 4
Bảng 4.1: Kết quả siêu âm tổng quát 27
Bảng 4.2: Tỉ lệ các dạng bệnh lý ở thận 29
Bảng 4.3: Tỉ lệ các dạng bệnh ở bàng quang 36
Bảng 4.4: Kết quả xét nghiệm các thông số nước tiểu trên chó bị sỏi bàng quang (n=30) 44 Bảng 4.5: Tinh thể sỏi tìm thấy trong mẫu nước tiểu xét nghiệm tìm thấy cặn (n = 26) 46
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Hệ thống tiết niệu, sinh dục trên chó cái 5
Hình 2.2 Cấu trúc thận bình thường 5
Hình 2.3 Cấu trúc bàng quang của chó 6
Hình 2.4 Cấu trúc niệu đạo trên chó đực 7
Hình 2.5 Hình bờ thành bàng quang 10
Hình 2.6 Bóng lưng sỏi bàng quang 11
Hình 2.7 Hình ảnh sỏi bàng quang cho độ hồi âm mạnh 12
Hình 2.8 Hình siêu âm thận trái và thận phải bình thường 15
Hình 2.9 Hình ảnh siêu âm bàng quang bình thường 16
Hình 4.1 Hình siêu âm viêm thận 30
Hình 4.2 Hình siêu âm viêm thận mãn tính 31
Hình 4.3 Hình siêu âm sỏi ở thận trái và thận phải 33
Hình 4.4 Hình siêu âm sỏi thận trái và thận bên phải bình thường 33
Hình 4.5 Hình siêu âm thận ứ nước ở bên trái và bên phải 35
Hình 4.6 Hình siêu âm viêm bàng quang 37
Hình 4.7 Hình siêu âm sỏi bàng quang 38
Hình 4.8 Hình siêu âm sạn bùn bàng quang 39
Hình 4.9 Sỏi bàng quang 39
Hình 4.10 Hình siêu âm polype bàng quang 41
Hình 4.11 Hình siêu âm huyết khối bàng quang 41
Hình 4.12 Hình siêu âm bàng quang bị vỡ 42
Hình 4.13 Hình ảnh đại thể của sa bàng quang 43
Hình 4.14 Hình ảnh đại thể và tinh thể sỏi struvite 47
Hình 4.15 Hình ảnh đại thể và tinh thể sỏi carbonat calci 47
Hình 4.16 Hình ảnh đại thể và tinh thể sỏi ammonium urate 47
Hình 4.17 Hình ảnh đại thể và tinh thể sỏi oxalale 47
Trang 10DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1 Kết quả siêu âm tổng quát 27 Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ bệnh lý đường tiết niệu được chẩn đoán qua siêu âm 28
Trang 11Mặc dù chó cưng được quan tâm, chăm sóc chu đáo nhưng bệnh tật vẫn có thể xảy ra Vì thế việc chẩn đoán, điều trị cũng như phòng ngừa bệnh cho chó trở thành một trong những nhu cầu của xã hội ngày nay Nắm bắt nhu cầu thiết yếu đó nhiều phòng mạch thú y, trung tâm chẩn đoán và điều trị bệnh cho chó đã mở ra ngày càng nhiều hơn, đặc biệt là ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh
Trong những bệnh phổ biến thường xảy ra trên chó thì bệnh trên hệ thống tiết niệu chiếm tỉ lệ không nhỏ Theo khảo sát của tác giả Lý Sơn Ca trong thời gian từ 01/2006 đến 05/2006 tại Trạm Chẩn đoán, Xét nghiệm và Điều trị thuộc Chi cục Thú y thành phố Hồ Chí Minh thì tỉ lệ chó bệnh trên đường tiết niệu là 6,3% Cũng tại địa điểm trên trong thời gian từ 04/2006 đến 08/2006 tác giả Nguyễn Đỗ Như Quỳnh ghi nhận được 4,3% chó bệnh đường tiết niệu
Trước đây, việc chẩn đoán bệnh đường tiết niệu thường dựa vào khám lâm sàng Ngày nay, bên cạnh việc chẩn đoán lâm sàng các bác sĩ thú y còn được hỗ trợ bởi nhiều phương tiện chẩn đoán phi lâm sàng như siêu âm, X – quang, xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu,… Điều này giúp nâng cao chất lượng chẩn đoán và giúp cho công tác điều trị được hiệu quả hơn
Được sự đồng ý của bộ môn Nội Dược khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thú y thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự
Trang 12hướng dẫn của Tiến sĩ Võ Thị Trà An và BSTY Vũ Kim Chiến, chúng tôi thực hiện đề
tài: “Ứng dụng siêu âm và xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán và điều trị bệnh đường tiết niệu trên chó” tại Trạm Chẩn đoán, Xét nghiệm và Điều trị thuộc Chi cục
Thú y thành phố Hồ Chí Minh
1.2 Mục đích
Đề tài được thực hiện nhằm:
(1) Khảo sát các trường hợp bệnh lý đường tiết niệu được chẩn đoán bằng phương pháp siêu âm
(2) Phân tích nước tiểu một số trường hợp sỏi niệu
(3) Ghi nhận kết quả điều trị một số ca bệnh trên đường tiết niệu để góp phần xây dựng dữ liệu giúp các bác sĩ thú y đối chiếu, tham khảo khi chẩn đoán và điều trị bệnh trên đường tiết niệu
1.3 Yêu cầu
Ghi nhận tất cả các trường hợp bệnh lý đường tiết niệu được chẩn đoán qua siêu âm
Ghi nhận kết quả xét nghiệm nước tiểu một số trường hợp sỏi niệu
Theo dõi hiệu quả điều trị các trường hợp bệnh lý đường tiết niệu
Trang 132.1.2 Tần số hô hấp
Chó trưởng thành có tần số hô hấp từ 10 – 30 lần/phút, chó con từ 15 – 35 lần/phút Chó thở thể ngực, giống chó lớn con tần số hô hấp thấp hơn chó nhỏ con Tần số hô hấp thay đổi do các yếu tố sau: nhiệt độ bên ngoài, thời gian trong ngày, tuổi tác, thú mang thai, những hoạt động mạnh,… (Trích dẫn liệu Phạm Lương Hiền, 2005)
2.1.3 Nhịp tim
Nhịp tim chó trưởng thành từ 70 – 120 lần/phút, chó con từ 200 – 220 lần/phút Nhịp tim có thể thay đổi do loài, tuổi, tầm vóc, nhu cầu biến dưỡng của thú, tình trạng dinh dưỡng, công do động vật cung cấp, nhiệt độ bên ngoài và thân nhiệt (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2007)
2.1.4 Trưởng thành sinh dục và chu kỳ lên giống
Tuổi trưởng thành sinh dục của chó đực từ 7 – 10 tháng tuổi, chó cái từ 9 – 10 tháng tuổi Chu kỳ lên giống thông thường xảy ra mỗi năm 2 lần, thời gian động dục từ
12 – 20 ngày, giai đoạn thích hợp cho sự phối giống từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 13 sau khi xuất hiện dấu hiệu đầu tiên
Trang 142.1.5 Thời gian mang thai và số con đẻ ra trong một lứa
Thời gian mang thai từ 59 – 63 ngày, số con đẻ ra trong một lứa phụ thuộc vào giống lớn hay nhỏ, thông thường từ 3 – 15 con/lứa, tuổi cai sữa từ 8 – 9 tuần tuổi
2.1.6 Một vài chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu trên chó trưởng thành
Bảng 2.1: Chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu trên chó trưởng thành
ASAT(aspartate aminotransferase) <20 UI/l
ALAT (alanine aminotransferase) <30 UI/l
(Trích dẫn liệu Phạm Lương Hiền, 2005)
2.2 Cấu trúc đường tiết niệu
2.2.1 Thận
Thận có màu nâu nhạt và có hình hạt đậu, mặt dưới được bao phủ bởi một lớp màng bụng (phúc mạc) Bên ngoài, thận được bao bọc bởi một lớp màng mô liên kết, lớp màng này rất dễ bóc nếu thận bình thường và dính sát khi thận bị viêm (Phan
Quang Bá, 2004)
Trên chó thể trọng khoảng 10 kg thì khối lượng thận khoảng 15 g với độ dài 5,5
cm, rộng 3,5 cm và dày 2,5 cm (Lê Việt Bảo, 2002) Chó có hai quả thận: thận phải và thận trái nằm ở trần của xoang bụng, hai bên các đốt sống thắt lưng (hình 2.1) Động mạch, tĩnh mạch và ống dẫn tiểu đi vào thận qua rốn thận Thận phải nằm về phía phải
và hơi ở trước hơn thận trái, ngang với ba đốt sống thắt lưng đầu tiên Phần trước của thận nằm trong hố chậu của thùy Spiegel còn phần sau nằm trong bao mỡ Tĩnh mạch
Trang 15chủ sau chạy sát phía trong thận phải Thận trái nằm dưới các đốt sống thắt lưng 2, 3,
4, sát động mạch chủ sau ở cạnh trong và kết tràng xuống – tụy tạng ở dưới Khi dạ dày đầy thường đẩy thận trái về phía sau Thận trái cũng được bao trong mỡ như thận phải (Phan Quang Bá, 2004)
Hình 2.1 Hệ thống tiết niệu, sinh dục trên chó cái
(Trích dẫn liệu La Thế Huy, 2005)
Thận gồm vùng vỏ ở ngoài và vùng tuỷ ở trong Giữa vùng vỏ và vùng tuỷ có một vùng rất đậm màu (hình 2.2), gọi là vòng cung mạch quản là nơi mạch máu phân chia làm các mao quản để đến các đơn vị thận (Phan Quang Bá, 2004)
Hình 2.2 Cấu trúc thận bình thường
(Nguồn: http://www.petshealth.com/dr_library/felrenfail.html)
Trang 16Thận chứa vô số đơn vị sản xuất nước tiểu gọi là đơn vị thận Chó có 400.000 đơn vị thận ở mỗi quản cầu Mỗi đơn vị thận có quản cầu thận và ống thận Quản cầu thận là búi mao mạch nằm ở vùng vỏ Mao mạch quản cầu cho các tiểu động mạch vào Búi mao mạch được cấp máu từ tiểu động mạch vào Ống thận gồm bốn phần: Ống xoắn gần đặt trong vùng vỏ, phần kế tiếp là quai Henle đi vào vùng tuỷ, nhiều ống xoắn xa đi vào một ống góp Các ống góp nhỏ liên kết thành ống góp lớn đi vào vùng tuỷ đổ nước tiểu vào bể thận (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2007)
2.2.2 Niệu quản
Niệu quản là ống dẫn nước tiểu đi vào bàng quang Ống dẫn tiểu chia làm hai phần Phần bụng bắt đầu từ tể thận (nơi mạch máu thần kinh, ống dẫn tiểu đi vào thận) chạy ra sau, song song với các mạch máu lớn vùng thắt lưng Phần chậu đi vào xoang chậu các ống dẫn tiểu hơi chếch xuống dưới và vào trong để đổ vào cổ bàng quang (Phan Quang Bá, 2004)
Trang 17hoàn toàn trong xoang chậu Nếu bàng quang đầy sẽ có dạng hình bầu dục, phần trước lấn vào khối ruột để đi vào xoang bụng Cổ bàng quang là phần cố định ở phía sau, liên hệ với ống thoát tiểu, hai ống dẫn tiểu Còn phần trước của bàng quang tự do, có thể thay đổi vị trí Mặt dưới của bàng quang nằm trên sàn xoang chậu, mặt trên tiếp xúc với trực tràng, đoạn cuối ống dẫn tinh, túi tinh nang nếu là thú đực; với thân tử cung và âm đạo nếu là thú cái Bàng quang được cố định nhờ ba dây treo Dây treo dưới hay dây treo giữa, dây này nối phần trước của bàng quang đến cạnh trước xoang chậu và kéo đến tận rốn, gọi là thừng Ouraque Hai dây treo bên, có chứa vết tích của hai động mạch rốn khi còn là bào thai (Phan Quang Bá, 2004) Gần cổ bàng quang có hai ống dẫn tiểu mở vào hai bên, tạo với ống thoát tiểu thành một tam giác có đỉnh là cửa ống thoát tiểu (Trích dẫn liệu Nguyễn Đoan Trang, 2006)
2.2.4 Niệu đạo
Niệu đạo là phần nối tiếp phía sau của bàng quang để thải nước tiểu ra ngoài Niệu đạo ở thú đực (hình 2.4) gồm có hai phần Niệu đạo trong xoang chậu: có cấu tạo dạng xốp và cơ hành xốp Niệu đạo ngoài xoang chậu (dương vật) gồm rễ thận, qui đầu và có xương dương vật dài 8 -10cm nằm ở mặt lưng Phần cuối của xương dương vật là rãnh xoắn Nơi đây sỏi và các chất cặn bã thường hay đóng lại Hai nhánh tĩnh mạch của mặt lưng qui đầu đi đến xương rời nhập làm một Niệu đạo thú cái tương đương niệu đạo nằm trong xoang chậu của thú đực nhưng không có chứa tuyến (Trần Đình Cường, 2004)
Hình 2.4 Cấu tạo niệu đạo trên chó đực
(Nguồn: http://www.vetmed.wsu.edu/cliented/anatomy/dog_ug.asp)
Trang 182.3 Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu
2.3.1 Định nghĩa siêu âm
Âm là những rung động của vật chất có thể lan truyền trong tất cả các môi trường như chất khí, chất lỏng, chất rắn nhưng không qua được khoảng chân không Môi trường chất đàn hồi (khí, lỏng, rắn) có thể coi như những môi trường liên tục bao gồm những phần tử liên kết chặt chẽ với nhau Bình thường, các phần tử này có một vị trí cân bằng bền Khi có một lực tác động vào một phần tử nào đó của môi trường, phần tử này sẽ rời vị trí cân bằng của nó Do tương tác tạo nên bởi các mối liên kết giữa các phần tử kế cạnh: một mặt sẽ kéo về vị trí cân bằng, mặt khác còn chịu tác động của các phần tử có chu kỳ Nói một cách khác, sóng âm là hiện tượng vật lý trong đó năng lượng được dẫn truyền dưới dạng dao động của các phần tử vật chất
Đơn vị đo lường của sóng là Hz (Herzt), là tần số biểu thị chấn động trong một giây Sóng âm được chia theo dải tần số thành ba vùng chính:
- Sóng âm tần số cực thấp (vùng hạ âm) có tần số f < 20 Hz
- Sóng âm có tần số tai người có thể nghe thấy trong khoảng 20 – 20000 Hz (20 KHz)
- Sóng siêu âm có tần số trên 20 KHz
Tai người nghe được âm thanh có tần số từ 20 Hz đến 20000 Hz Những sóng
âm có tần số cao hơn 20000 Hz thuộc phạm vi sóng siêu âm Trong y học người ta sử dụng sóng siêu âm có tần số 2 MHz – 10 MHz
2.3.2 Cơ sở vật lý của phương pháp ghi hình siêu âm
Cơ sở vật lý kỹ thuật ghi hình siêu âm chính là sự tương tác của các tia siêu âm với các tổ chức của cơ thể Sự tương tác này phụ thuộc vào:
(1) Tốc độ lan truyền của sóng âm (C)
Tốc độ lan truyền của sóng âm là quãng đường mà sóng âm lan truyền sau một đơn vị thời gian
Trong mô mềm, sóng siêu âm lan truyền với tốc độ gần bằng nhau (Cnước=
1540m/s, Cmỡ=1450m/s, Ccơ=1600m/s,Cgan=1550m/s) Ngược lại tốc độ lan truyền trong không khí lại chậm hơn mô xương rất nhiều (Ckhông khí=330m/s, Cxương=3000 –
4000m/s)
(2) Trở kháng âm của môi trường (Z)
Trang 19Trở kháng âm của môi trường được hiểu như là độ vang hay độ dội của sóng
âm trong môi trường, được tính bằng công thức:
Z = c.p
Trong đó: c (m/s) là vận tốc lan truyền của sóng âm
p (kg/m3) là mật độ của môi trường
Cấu trúc phản hồi nhu mô phụ thuộc vào các sóng phản hồi khuếch tán bởi vô
số dị vật phân tán kích thước bé như mao mạch, các mô liên kết,… Chính nhờ cấu trúc phản hồi của chúng mà các khối u thể rắn có sóng phản hồi khác hẳn với sóng phản hồi khối u thể lỏng
Phản xạ toàn phần là hiện tượng mà sóng âm sẽ không khúc xạ được sang môi trường thứ hai bên kia mặt phân cách và toàn bộ được phản xạ trở lại môi trường thứ nhất (4) Sự tán xạ
Một hiện tượng khác trong việc tạo hình bằng siêu âm là sự tán xạ của sóng siêu âm khi gặp một cấu trúc nhỏ hoặc với một bề mặt không đồng đều Khi đó, sóng siêu âm sẽ bị tán xạ đi khắp các hướng và chỉ có một phần nhỏ chắc chắn tới được đầu
dò Đây là hiện tượng quan trọng để đánh giá độ đồng nhất của các nhu mô
(5) Giảm âm và khuếch tán bù
Năng lượng của sóng siêu âm giảm dần trên đường lan truyền trong mô Đó là những tương tác mà trong đó năng lượng của các chùm tia tới được lấy bớt dần để truyền lại theo hướng khác nhau (do phản xạ hay khuếch tán) hoặc bị hấp thu bởi các
mô và chuyển đổi thành nhiệt (do hấp thu)
Năng lượng siêu âm càng đi sâu thì càng suy giảm Để khắc phục hiện tượng
đó, tín hiệu phải bù bằng hệ thống khuếch đại nhằm tạo ấn tượng ảnh đồng nhất ở tất
cả các độ sâu (TGC: Time Gain Compensation)
(6) Thông số của sóng siêu âm và kích thước hình học của tổ chức
Trang 20Vì sóng siêu âm phản xạ trên mặt phân cách, do đó năng lượng phản xạ còn phụ thuộc vào kích thước của mặt phân cách và độ dài bước sóng của chùm tia Sóng âm
có tần số càng cao thì càng dễ dàng phát hiện và phân biệt các vật nhỏ, song cũng vì vậy mà khó vào được sâu
2.3.3 Một số thuật ngữ siêu âm
Hình 2.5 Hình bờ thành bàng quang (được ký hiệu bằng mũi tên) của chó
Berger, 2 năm tuổi
2.3.3.2 Hình cấu trúc
Hình cấu trúc được phân biệt thành nhiều loại gồm: cấu trúc đặc có hồi âm đồng nhất (nhu mô phủ tạng đặc) hoặc không đồng nhất (nhu mô bệnh lý phủ tạng đặc); cũng có thể là cấu trúc lỏng rỗng có hồi âm bình thường (bàng quang, túi mật) hoặc bệnh lý (u nang, ổ máu tụ, thận ứ nước) Như vậy, siêu âm phân biệt được cấu trúc choán chỗ (Trích dẫn liệu Nguyễn Đoan Trang, 2006)
2.3.3.3 Độ hồi âm (mức độ phản âm)
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), độ hồi âm, đôi khi gọi tắt là echo, phản ánh đặc trưng của cơ quan phản xạ lại sóng siêu âm
Người ta phân biệt độ hồi âm thành ba mức độ: hồi âm dày (hồi âm cao, hyperechoic) cho hình ảnh sáng trên hình siêu âm (hồi âm của xương, chủ mô,…), hồi
Trang 21âm kém (hồi âm thấp, hypoechoic) cho hình ảnh tối trên hình siêu âm (hồi âm của mô, của dịch mủ,…), hồi âm trống (không có hồi âm, sonolucent) cho hình ảnh đen trên hình siêu âm (hồi âm dịch)
Độ hồi âm trên máy siêu âm phản ánh độ sáng hay tối của hình quan sát được Trên máy siêu âm đều có thang độ xám chuẩn, nhờ vậy ta có thể ước lượng được sự thay đổi nếu có
2.3.3.4 Mật độ của mô
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), căn cứ vào độ hồi âm ta có thể ước lượng được tổn thương ở dạng đặc hay lỏng Gồm 3 loại: tính chất đặc (hồi âm bên trong đồng nhất hoặc không đồng nhất), tính chất dịch (nang), tính chất hỗn hợp, có phần đặc – có phần dịch
Trên thực tế, nhiều khi bản chất mô đặc nhưng có độ hồi âm rất kém - gần như trống (ví dụ hạch lymphoma) hay ngược lại, là chất dịch mủ nhưng độ hồi âm lại rất dày (ví dụ abscess gan do vi trùng) Do đó cần dựa thêm vào nhiều yếu tố khác để xác định được dạng tổn thương
2.3.4 Các hiện tượng hay gặp trong siêu âm
2.3.4.1 Bóng âm
Ta sẽ thấy hiện tượng bóng âm (hay còn gọi là bóng lưng) mỗi khi chùm tia siêu âm bị một cấu trúc phản xạ rất mạnh chặn lại Trên ảnh siêu âm, vách phản xạ được biểu hiện bởi một sóng phản hồi rất đậm kèm theo sau đó là một vệt hình nón của bóng âm mà trong vệt bóng âm không một hình ảnh nào còn thấy rõ được (hình 2.6) (Trích dẫn liệu Nguyễn Đoan Trang, 2006)
Hình 2.6 Bóng lưng sỏi bàng quang (được ký hiệu bằng mũi tên) của chó Griff,
11 năm tuổi
Trang 222.3.4.2 Sự hồi âm mạnh
Mô xương, vôi có độ cản âm rất lớn nên khi gặp loại mô này hầu hết sóng siêu
âm đều bị phản xạ ngược trở lại Trên ảnh siêu âm, mô này cho hình ảnh có độ hồi âm rất dày (rất sáng), ví dụ như sỏi (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998)
Hình 2.7 Hình ảnh sỏi bàng quang cho độ hồi âm mạnh (được ký hiệu bằng mũi
tên) của chó Bắc Kinh, 8 năm tuổi
2.3.4.3 Sự tăng âm
Tăng âm là hiện tượng chùm tia siêu âm đi qua môi trường có độ cản âm thấp (ví dụ như nang) thì phần sâu sẽ nhận được nhiều tín hiệu siêu âm hơn chung quanh (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998)
2.3.4.5 Hiện tượng dội lại (đa âm phản hồi)
Hình ảnh xuất hiện trên màn hình siêu âm là một loạt hình ảnh giả của mặt phân cách với những khoảng cách đều nhau phía sau mặt phân cách thật với kích thước và
độ hồi âm nhỏ dần (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
2.3.5 Các bước tiến hành siêu âm
2.3.5.1 Chuẩn bị thú
Để dễ dàng cho việc siêu âm, cần cho thú nhịn ăn tối thiểu 6 giờ trước khi thực hiện thao tác Cho thú uống nước (khoảng dưới 0,5 lít) trước khi siêu âm khoảng 30 phút đến 1 giờ để tạo được lượng nước tiểu vừa đủ trong bàng quang Tiếp theo là cạo lông vùng bụng và bôi lớp gel dẫn âm
Trang 232.3.5.2 Tư thế thú trong siêu âm bệnh đường tiết niệu
Tư thế nằm ngửa: tư thế này được xem là chuẩn mực cho khám nghiệm siêu âm bụng phù hợp với tình trạng sinh lý cơ thể, cho phép sự giãn cơ và làm dẹt lại khoang bụng, từ tư thế này có thể bộc lộ hầu hết các phủ tạng trong ổ bụng Ở tư thế nghiêng phải và nghiêng trái: lúc này mặt phẳng vành của cơ thể vuông góc với mặt giường Trong một số trường hợp cần thiết phải khám ở tư thế đứng
Tiến hành siêu âm ở tư thế thú đứng, nằm ngửa hoặc nằm nghiêng tuỳ trường hợp Tuy nhiên, tư thế nằm ngửa là tư thế được sử dụng phổ biến và thích hợp cho hầu hết trường hợp siêu âm (Trích dẫn liệu Nguyễn Đoan Trang, 2006)
2.3.5.3 Động tác quét đầu dò
Động tác quét đầu dò được liên tưởng như động tác sử dụng chiếc quạt tay Khi chiếc quạt chuyển động nhờ lắc cổ tay thì mặt phẳng của chiếc quạt sẽ làm nên hình khối dạng kim tự tháp Tương tự như vậy, thay vì giữ đầu dò cố định ở một vị trí và ta
sẽ chỉ nhận được thông tin trên một mặt phẳng cắt của đầu dò, việc quét đầu dò giúp nhận được lượng thông tin từ nhiều mặt cắt Nhờ đó, có thể thăm dò không những toàn
bộ khối thể tích mô trong khoảng thời gian ngắn mà còn nhận được thông tin về mối liên hệ trong không gian ba chiều của các thành phần trong cơ quan đang thăm dò
2.3.5.4 Động tác lia đầu dò
Nhược điểm của phần lớn thiết bị siêu âm ngày nay là chỉ tạo ra trường khảo sát nhỏ và giới hạn Để khắc phục nhược điểm này, ngoài động tác quét người ta có thể dùng động tác lia đầu dò sang hai phía mặt cắt (nghĩa là hướng chuyển động của đầu
dò lúc này vuông góc với hướng chuyển động của động tác quét) để mở rộng diện khảo sát đối với đầu dò loại rẽ quạt và cong, còn đối với đầu dò thẳng thì di chuyển trượt đầu dò sang hai phía
2.3.5.5 Phương pháp siêu âm thận
Tại sụn mấu kiếm, di chuyển đầu dò về phía phải Dùng gan làm cửa sổ siêu âm
để đánh giá độ hồi âm của thận Sau khi có cái nhìn tổng quát thận phải, di chuyển đầu
dò về phía trái và dùng lách làm cửa sổ siêu âm cho thận trái Để tiện cho việc quan sát, nghiên cứu và định vị chính xác bệnh tích, cần chú ý 5 đường cắt cơ bản
Đường cắt dọc giữa thận là đường cắt ưu tiên để quan sát tổng quát quả thận Quan sát từ ngoài vào trong, ta sẽ thấy:
Trang 24(a) Bao thận tạo nên bờ phân cách với gan (thận phải) và lách (thận trái) bằng một đường tăng âm mảnh, trơn láng và đều Nhờ hình ảnh này ta thấy được hình dạng elip hoặc bầu dục của quả thận
(b) Vỏ thận liền sau bao thận, có độ hồi âm hỗn hợp, mịn và đồng nhất Độ hồi
âm của vỏ thận ngang bằng hoặc giảm âm hơn độ hồi âm của gan nhưng lại tăng âm hơn độ hồi âm của lách
(c) Tuỷ thận có độ hồi âm kém, đôi khi không thấy hồi âm (echo trống)
(d) Xoang thận ở trung tâm quả thận, có độ hồi âm rất tăng, gần như bằng bao thận
Đường cắt lưng bên của mặt cắt dọc giữa thận
Hình ảnh siêu âm của mặt cắt này gần giống hoàn toàn mặt cắt dọc giữa thận tức là cũng có đường bao thận bên ngoài và cấu trúc tăng âm và vùng vỏ thận có độ hồi âm đồng nhất Tuy nhiên, ta cũng quan sát thấy sự khác biệt của vùng tuỷ thận và vùng xoang thận
Vùng tuỷ thận có sự xuất hiện của cấu trúc tháp thận – là những vùng có độ hồi
âm rất kém (echo trống), có dạng hình tháp hoặc tam giác, nằm ngay sau vùng vỏ thận
Vùng xoang thận không thể nhận thấy trên hình ảnh siêu âm ở mặt cắt này vì không thấy rõ vùng hồi âm trung tâm sáng
Ngách bể thận có hình dạng những hạt tròn nhỏ, tăng âm nằm nối tiếp với vỏ thận và chia cắt tháp thận – tủy thận
Đường cắt ngang qua cực trên thận
Đây là đường cắt ngang Để có được đường cắt này, thú được đặt nằm ngửa hoặc nghiêng sang phải hoặc trái tuỳ bên thận muốn khảo sát Trên hình siêu âm, cực trên thận có hình oval hoặc hình tròn Những cấu trúc được mô tả trên mặt cắt dọc (bao thận, vỏ thận, tủy thận, xoang thận) cũng được nhận thấy ở mặt cắt này
Đường cắt ngang qua rốn thận
Trên đường cắt này, thận được nhận thấy trên hình siêu âm có hình chữ C Vỏ thận, tuỷ thận, xoang thận, mỡ quanh xoang thận, bể thận, các mạch máu và niệu quản
có thể được thấy rõ trên mặt cắt này Đường viền hồi âm cho thấy lưng và bụng của bể thận và mạch máu toả ra từ xoang trung tâm đến vỏ thận Đường kẽ này được dùng đánh giá mức độ giãn của bể thận, một số tắc nghẽn của hệ thống mạch máu và hệ thống thoát tiểu
Trang 25Đường cắt ngang qua cực dưới thận
Tương tự như đường cắt ngang qua cực trên thận nhưng ở vị trí phần dưới của thận Ứng dụng mặt cắt ngang trên thận và dưới thận để định vị bệnh một cách chính xác hơn
2.3.5.6 Phương pháp siêu âm bàng quang
Trong siêu âm bàng quang cần chú ý các mặt cắt sau đây:
Mặt cắt ngang:
Mặt cắt ngang của bàng quang căng là cấu trúc dịch không hồi âm
Có dạng hình vuông (khi mặt cắt gần đáy bàng quang) hoặc dạng hình tròn (khi mặt cắt gắn với đỉnh bàng quang)
Thành bên tương ứng với bó cơ thắt lưng chậu
Hình 2.8 Hình ảnh siêu âm thận trái (A) và thận phải (B) ở chó với đường cắt ngang
qua rốn thận, trên hình siêu âm thận có hình chữ “C”, đường viền hồi âm cho thấy lưng và bụng của bể thận và mạch máu toả ra từ xoang trung tâm đến vỏ thận
(Nguồn http://members.rediff.com/kishorbm/Kidney.htm)
Hình 2.9 Hình ảnh siêu âm bàng quang bình thường của chó ta, 2 năm tuổi
Trang 262.4 Xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán bệnh đường tiết niệu
2.4.1 Xét nghiệm nước tiểu
Xét nghiệm nước tiểu là phân tích nước tiểu Phương pháp này có thể cho thấy
rõ bệnh lý, xét nghiệm nước tiểu là một phần trong xét nghiệm thường qui trong kiểm tra sức khoẻ Xét nghiệm nước tiểu bao gồm quan sát đại thể nước tiểu (coi màu sắc nước tiểu), xét nghiệm nước tiểu bằng các que nhúng và xét nghiệm vi thể nước tiểu
(a) Xét nghiệm đại thể nước tiểu: là quan sát trực tiếp nước tiểu, xem số lượng, màu sắc nước tiểu, đỏ, đục, lợn cợn,
(b) Xét nghiệm nước tiểu bằng que nhúng: đây là xét nghiệm có tính chất định lượng giúp trả lời có hay không có bất thường khi thử bằng que nhúng, xét nghiệm này làm trong vòng 1 phút Màu sắc thay đổi biểu hiện trên que nhúng sẽ được đọc bằng cách so sánh với màu chuẩn qui định trên mẫu Xét nghiệm bằng que thử có thể được
sử dụng để xác định độ pH của nước tiểu, độ đậm đặc của nước tiểu, đạm, đường, cetone, nitrite, heroin, thử thai và xác định có tính chất ước lượng số bạch cầu có trong nước tiểu
(c) Xét nghiệm vi thể nước tiểu: là xét nghiệm nước tiểu dưới kính hiển vi Xét nghiệm này đòi hỏi phải có kính hiển vi Mẫu nước tiểu được lấy và mang đến phòng xét nghiệm, lấy một giọt nước tiểu nhỏ lên lam kính để quan sát Trước tiên, nước tiểu được cho li tâm sau đó xem dưới kính hiển vi, tìm các tinh thể, trụ, tế bào vẩy, vi trùng
và các tế bào khác
Rất nhiều bệnh được phát hiện qua xét nghiệm nước tiểu Những thông số hóa
lý đo được sẽ cho phép xác định nguyên nhân và vị trí mắc bệnh Tuy nhiên, để có một kết quả xét nghiệm chính xác, các bác sĩ phải biết lấy nước tiểu đúng cách
Mẫu nước tiểu xét nghiệm đòi hỏi phải sạch, tươi Mẫu này cho phép thực hiện các xét nghiệm thường quy như test nhanh bằng que nhúng (dipsticks), kiểm tra đạm niệu hay các thành phần khác như hồng cầu, bạch cầu, trụ niệu, các tinh thể phosphat, oxalat calci, Khi có nghi ngờ bệnh lý chuyên khoa, có thể phải lấy mẫu nước tiểu với những quy trình riêng để đáp ứng được các nhu cầu xét nghiệm cần thiết
2.4.2 Phương pháp lấy mẫu nước tiểu
Thú bệnh cần lấy nước tiểu giữa dòng để đảm bảo sự chính xác khi xét nghiệm
vi khuẩn niệu Thú bệnh được vệ sinh sạch bộ phận sinh dục ngoài Khi bắt đầu đi tiểu
Trang 27cần bỏ phần nước tiểu đầu, sau đó hứng nước tiểu của thú vào ống nghiệm vô trùng để gửi đến phòng xét nghiệm Trong một số trường hợp, các cách lấy nước tiểu thông thường không cho phép bác sĩ xác định bệnh, cần lấy nước tiểu trực tiếp qua ống thông tiểu đưa vào bàng quang Kỹ thuật viên sẽ dùng một ống thông tiểu nhỏ đưa vào bàng quang để lấy mẫu nước tiểu xét nghiệm Thú bệnh được vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài, đặt ống thông tiểu, bỏ 10 – 20 ml nước tiểu đầu, sau đó lấy khoảng 20 ml vào ống nghiệm vô trùng để gửi xét nghiệm
Một cách lấy mẫu khác là chọc hút kim trên xương mu để đi vào bàng quang Đây là mẫu nước tiểu đảm bảo nhất cho xét nghiệm vi khuẩn niệu Tuy nhiên, việc lấy nước tiểu bằng chọc hút phức tạp hơn lấy mẫu nước tiểu giữa dòng hoặc qua sonde bàng quang Vì vậy, kỹ thuật này chủ yếu được tiến hành trong những trường hợp đặc biệt Trước hết, phải xác định bàng quang căng đầy Sát trùng trên khớp mu 2 cm, sau
đó chọc hút bằng kim và syringe Lọc bỏ đi 20 ml nước tiểu đầu, sau đó hút 20 ml để gửi xét nghiệm Sau đó, cần hút thêm để bàng quang hết nước tiểu, tránh rò qua đường kim
Để đánh giá chính xác sự bài tiết các sản phẩm giáng hóa và đạm niệu, cần lấy mẫu nước tiểu 24 giờ Xét nghiệm này được các bác sĩ quan tâm vì thể hiện được toàn
bộ các chất trong thời gian dài, chính xác hơn, đặc biệt là trong một số bệnh như viêm cầu thận, đái tháo đường,… Cách lấy: 6 giờ sáng cho thú đi tiểu hết, số lượng này bỏ
đi Sau đó, thú bệnh sẽ trữ nước tiểu vào bô, chú ý lấy cả nước tiểu khi đi đại tiện; 6 giờ sáng hôm sau tiểu lần cuối vào bô Để giữ nước tiểu không bị biến chất và thối, nên đổ thêm vào bô 20 ml acid chlohydric 1% (Nguyễn Vĩnh Hưng, 2004)
Lấy nước tiểu giữa dòng dùng để cấy tìm vi khuẩn niệu, kháng sinh đồ Thú được vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục ngoài Cần có vị trí sạch và thuận tiện cho việc lấy nước tiểu của thú bệnh Dùng nước muối sinh lý và gạc vô khuẩn rửa sạch lại lỗ niệu đạo và xung quanh Cho thú bệnh tiểu phần đầu bỏ đi Hứng nước tiểu giữa dòng vào 2 ống nghiệm vô khuẩn, lấy 10 ml nước tiểu vào 1 ống nghiệm nuôi cấy tìm vi khuẩn niệu và kháng sinh đồ; lấy 10 ml vào ống nghiệm khác để soi tươi và nhuộm gram, gửi ngay đến phòng xét nghiệm vi sinh, nếu chưa kịp đưa ngay phải bảo quản trong tủ lạnh Cần lưu ý rằng vi khuẩn ở ngoài có thể theo vào ống nghiệm khi mở hoặc đóng nút, nên phải đeo găng tay vô khuẩn khi lấy nước tiểu
Trang 282.4.3 Các thông số trong kiểm tra nước tiểu
2.4.3.1 Tính chất lý hóa
2.4.3.1.1 Khối lượng
Ở chó lượng nước tiểu khoảng 0,25 – 2 lít/24h Nước tiểu tăng hay giảm đều là các dấu hiệu bệnh lý Khối lượng nước tiểu của thú giảm trong suy thận, bệnh tim, xơ gan, mất nước, mồ hôi nhiều, huyết áp hạ, ăn uống ít nước và khối lượng nước tiểu của thú tăng trong đái tháo đường, đái tháo nhạt, tăng huyết áp, viêm thận mãn, uống nhiều nước, dùng các chất lợi niệu, thời kỳ lại sức sau viêm phổi, viêm gan do virút, thương hàn
2.4.3.1.2 Màu sắc
Bình thường màu vàng nhạt đến vàng tươi, lâu có cặn
Thay đổi sinh lý
- Lúc mệt nhọc, sốt nhiễm khuẩn, ăn uống thái quá: nước tiểu màu nâu sẫm
- Uống quinin, acid picric, santonin: nước tiểu màu vàng
- Ăn nhiều rau, thịt, nước tiểu đục do có nhiều phosphate
Thay đổi bệnh lý
- Màu đỏ: có máu
- Màu nâu: tiểu ra hemoglobin, porphyrin
- Đục: tiểu ra phosphate, urate; nước tiểu có mủ hoặc dưỡng chấp
2.4.3.1.3 pH
Dùng pH kế để đo hoặc dùng giấy đo pH
Bình thường pH nước tiểu của chó có tính hơi acid khoảng 6 – 7 pH nước tiểu được quyết định bởi sự điều hòa nồng độ bicarbonate và H+ của ống thận pH nước tiểu thường chịu ảnh hưởng của thức ăn hằng ngày Con vật ăn nhiều protein thì nước tiểu có
pH acid; ngược lại, ăn nhiều ngũ cốc hoặc cỏ thì nước tiểu trung tính hoặc hơi kiềm (Trích dẫn Huỳnh Thi Bạch Yến, 2006) Đo nước tiểu rất có lợi vì pH thay đổi có liên quan đến những bất thường trong cơ thể (Trích dẫn liệu Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)
pH nước tiểu có thể thay đổi khi nhiễm trùng sau khi thu thập mẫu Acid hoá hoặc kiềm hoá nước tiểu có thể tuỳ thuộc sản phẩm cuối cùng của sự biến dưỡng ở cơ thể bị nhiễm trùng pH của nước tiểu vô trùng sẽ không đổi nếu được giữ ở nhiệt độ phòng trong nhiều giờ (Trích dẫn liệu Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)
Trang 292.4.3.1.4 Tỷ trọng:
Bình thường tỷ trọng nước tiểu: 1,020 – 1,050
Lượng nước tiểu mỗi ngày thay đổi theo thức ăn, công việc, lượng nước tiêu thụ, mùa và nhiệt độ bên ngoài Lượng nước trong nước tiểu do sự vận chuyển thụ động từ gian bào vào ống thận do sự chênh lệch áp suất thẩm thấu Tỷ trọng nước tiểu thay đổi theo tỷ lệ tương đối các chất hoà tan và nước Đánh giá tỷ trọng có giá trị lâm sàng bởi vì tỷ trọng nước tiểu không bình thường do những thay đổi về môi trường sống (Trích dẫn liệu Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)
Tỷ trọng nước tiểu phản ánh không những số lượng các phần tử mà cả kích thước và sự hấp dẫn giữa phần tử Vì thế hàm lượng protein trên 400 mg/dl có thể làm tăng giá trị tỷ trọng lên 0,001; glucose trên 270 mg/dl làm tăng 0,001
2.4.3.2 Phân tích về sinh hoá
2.4.3.2.1 Các chất bình thường không có trong nước tiểu
Protein, đường, dưỡng chấp, hemoglobin, muối mật, sắc tố mật là những thành phần mà bình thường nước tiểu không có hoặc có rất ít, không đáng kể Nếu nước tiểu
có các chất này thì chứng tỏ có tổn thương của hệ thống thận hoặc tiết niệu
2.4.3.2.1.1 Glucose niệu
Bilirubin bị khử bởi tác dụng của glucose niệu do tăng đường huyết quá cao so với mức lọc tối đa của quản cầu thận hoặc do giảm khả năng tái hấp thu glucose ở ống thận Nói chung, đường huyết vượt quá 10 mmol/lít (180 mg/dl) đưa đến glucose niệu Tuy nhiên, vận tốc dòng chảy trong ống thận và khả năng tái hấp thu trong ống thận không đồng nhất cũng là các yếu tố gây glucose niệu (Trích dẫn liệu Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)
2.4.3.2.1.2 Protein niệu
Protein trong nước tiểu thường có nguồn gốc từ thận nếu không có lẫn hồng cầu hoặc tế bào bị viêm Nó có thể do rò rỉ ở quản cầu hoặc do tái hấp thu kém ở ống lượn gần hoặc cả hai; do viêm thận cấp hoặc suy thận mãn Protein trong nước tiểu có lẫn hồng cầu và bạch cầu thì việc giải thích khó khăn hơn Sự hiện diện bạch cầu báo hiệu một đáp ứng viêm cùng với khả năng rò rỉ protein huyết thanh Khi hồng cầu và bạch cầu hiện diện và phản ứng protein dương tính, khả năng có bệnh đi kèm ở một vị trí khác hay với nguyên nhân khác, vì thế cần giới hạn lại nguyên nhân hiện diện hồng
Trang 30cầu và bạch cầu và đánh giá protein trong máu tạm thời hay kéo dài (Trích dẫn liệu Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)
2.4.3.2.1.3 Kiểm tra máu và hemoglobin trong nước tiểu
Bình thường trong nước tiểu không có máu và hemoglobin Nước tiểu có máu
do rò rỉ hemoglobin (hemoglobin niệu) và myoglobin qua quản cầu (myoglobin niệu), tràn hồng cầu trực tiếp vào ống niệu sinh dục (huyết niệu) hay do vấy nhiễm Việc này xảy ra trong những bệnh tiêu huyết trong mạch máu Xuất huyết bất cứ nơi nào từ mao mạch quản cầu đến đầu mút cơ quan sinh dục đều có thể gây huyết niệu, do đó huyết niệu không thể cho là dấu hiệu tại chỗ Hemoglobin niệu do dung huyết thì nước tiểu
đỏ trong Hemoglobin niệu do huyết niệu thì nước tiểu đỏ đục (Trích dẫn liệu Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)
2.4.3.2.1.4 Bilirubin
Bilirubin gián tiếp thường không lọc qua thận, chỉ có một phần bilirubin trực tiếp có trong nước tiểu do việc lọc qua quản cầu Ở chó, ngưỡng bilirubin trực tiếp ở thận cho phép người ta sử dụng chó như là thú thí nghiệm nhạy cảm nhất đối với chứng viêm gan sớm và chứng nghẽn ống dẫn mật Bilirubin nước tiểu ở chó mất đi trong 24 giờ, sau khi nạp chất độc đối với thận như HgCl2 và uranyl acetate Tắc nghẽn ngoài gan do sỏi mật, ký sinh trùng và khối u làm bít ống dẫn mật nên bilirubin nước tiểu tăng cao nhất nếu chức năng trong và ngoài gan bình thường
Trong tình trạng chảy máu, lượng hemoglobin thừa hiện diện trong thận, một số
đi qua thận nhưng một số lớn được thoái hóa thành bilirubin kết hợp ở ống thận và bài tiết vào nước tiểu Chứng bilirubin nước tiểu xuất hiện sớm trong bệnh dung huyết trên chó và có thể không do nghẽn hệ thống ống mật ở gan Ở chó đực bilirubin trong huyết tương Bilirubin có trong nước tiểu khi hồng cầu bị hủy quá nhiều, viêm gan, xơ gan, nghẽn ống mật, gan bị hư hại do độc chất, viêm gan mãn kết hợp nhiễm hemosiderin thứ phát và viêm gan hoại tử do thiếu máu (Trích dẫn liệu Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)
2.4.3.2.1.5 Aceton niệu
Ketone bất thường trong nước tiểu ở chứng ketoacidosis, đái tháo, quá liều insulin, nôn mửa, nhịn đói, ăn kiêng, sốt nặng do nhiễm trùng Thể ketone trong cơ thể bao gồm acetoacetate, -hydroxybutyrate và acetone Những hợp chất này được tạo từ phân giải lipid, số lượng được tạo ra tăng lên đáng kể trong tình trạng oxid hoá lipid để
Trang 31cung cấp lượng lớn năng lượng Thể ketone xuất hiện trong dịch lọc và được tái hấp thu bởi ống thận Trong điều kiện bình thường, thể ketone trong huyết tương rất thấp
và chúng không có trong nước tiểu Thể ketone thường thấy ở loài nhai lại trong lúc đói nhưng ít khi có trong chó mèo Tiểu đường là bệnh có liên quan đến ketone niệu (ketouria) (Trích dẫn liệu Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)
Tăng urobilinogen trong nước tiểu có thể do thận viêm và dung huyết; thiểu năng tế bào gan làm lượng urobilinogen tái hấp thu được bài tiết trở lại nước tiểu đưa đến tăng thất thoát ở đại tuần hoàn hoặc do gan quá tải, vỡ hồng cầu, tăng sản xuất urobilinogen, chức năng gan hạn chế, gan nhiễm khuẩn, ngộ độc, xơ gan
Urobilinogen ở mức thấp do sản xuất mật kém, nghẽn ống mật Mức bình thường trong nước tiểu ít hơn 17 μmol/l (<1 mg/dl) (Trích dẫn liệu Huỳnh Thị Bạch Yến, 2006)
2.4.3.2.2 Các chất bình thường cũng có trong nước tiểu
Các chất này luôn ở trong một giới hạn nhất định, ra ngoài giới hạn đó là bệnh
lý Thí dụ như ure: bình thường có 20 đến 30g/lít nước tiểu: giảm trong suy thận, tăng trong ăn nhiều thịt, một số bệnh nhiễm khuẫn cấp tính; acid uric: bình thường 0,5g/lít, tăng trong bệnh gút
2.4.3.2.3 Phương pháp xét nghiệm
Quan sát bằng mắt các chỉ tiêu: màu sắc, mùi, độ đục Sau đó sử dụng băng giấy thử Multiple reagent strips for urinalysis của công ty Bayer và đọc bằng máy so
màu tự động Clinitex
Trang 32Kiểm tra cặn nước tiểu bằng cách cho nước tiểu vào máy ly tâm với tốc độ
3000 vòng/phút trong 5 phút, gạt bỏ phần nước nổi và dùng tay búng lên thành ống ly tâm để trộn đều cặn Sau đó nhỏ 1 giọt thuốc nhuộm Steiheiner Malbin Staning lên mỗi giọt cặn trên lame và đậy lamelle lại Mẫu được xem dưới kính hiển vi quang học
ở độ phóng đại 400 và 1000 Ghi nhận sự xuất hiện các loại cặn có trong nước tiểu (Giáo trình thực hành chẩn đoán phòng thí nghiệm, 2000)
2.4.4 Thay đổi về sinh hóa trên nước tiểu của một số bệnh trên đường tiết niệu
Khi chó bị nhiễm trùng phần trên đường tiết niệu, xét nghiệm nước tiểu thường phát hiện máu, mủ, protein, vi khuẩn và bạch cầu bị bong tróc ở một vài loài
Trong trường hợp chó bị nhiễm trùng phần dưới đường tiết niệu, xét nghiệm nước tiểu thường thấy hồng cầu, bạch cầu, tế bào mủ, protein, có thể có vi khuẩn
Còn trong trường hợp chó bị sỏi tiết niệu, xét nghiệm nước tiểu phát hiện máu
và tinh thể niệu, các loại khoáng cấu tạo nên tinh thể, mủ, protein và vi khuẩn
2.5 Phác đồ điều trị một số bệnh đường tiết niệu
2.5.1 Viêm phần dưới đường tiết niệu (bàng quang, ống thoát tiểu)
Cần điều chỉnh thức ăn cho thú: hạn chế muối, chất đạm Nếu sử dụng kháng sinh trong điều trị thì nên lựa chọn kháng sinh thích hợp dựa vào việc nuôi cấy và thử kháng sinh đồ Thuốc phải có nồng độ cao trong máu và nước tiểu Thời gian điều trị khoảng 4 – 6 tuần Trong trường hợp thú bị bí tiểu thì nên dùng thuốc lợi tiểu: furosemide đồng thời tăng cường chức năng giải độc bằng cách truyền dịch glucose 5%
2.5.2 Bệnh viêm phần trên đường tiết niệu (bao gồm thận, niệu quản)
Lựa chọn thuốc thích hợp: nhóm penicillin dùng diệt vi khuẩn Staphylococcus,
Streptococcus, hoặc Proteus spp; trimethoprim – sulfadiazine (15 mg/kg, cho uống 2
lần/ngày) dùng khi nhiễm vi khuẩn Escherichia coli; cephalexin (30 mg/kg, cho uống
2 lần/ngày) dùng khi nhiễm Klebsiella spp; tetracycline (20 mg/kg, cho uống 2 lần/ngày) dùng để diệt Pseudomonas spp Đối với viêm cấp tính thì thời gian điều trị
khoảng 7- 10 ngày, còn đối với viêm mãn tính thì thời gian điều trị khoảng 4 – 6 tuần, kết hợp với việc dùng thuốc kháng viêm dexamethasone Nên cho thú uống nhiều nước để thú đi tiêu tiểu nhiều bài thải vi khuẩn qua nước tiểu Trợ sức cho thú bằng vitamin nhóm B, vitamin C
Trang 332.5.3 Sỏi tiết niệu
Cho thú uống nhiều nước mỗi ngày, cần điều chỉnh khẩu phần ăn một cách hợp
lý Dùng thuốc tiêu sỏi cho sỏi struvite, urate, cystine
Trong sỏi struvite dùng khẩu phần ăn hạn chế làm tiêu sỏi và dùng kháng sinh
thích hợp trong khoảng thời gian điều trị Sử dụng methionine với liều lượng 30 mg/kg, mỗi 8 giờ với tác dụng làm acid hóa nước tiểu góp phần làm tan sỏi
Sỏi urate hạn chế cho ăn thức ăn nhiều protein và purine, thức ăn kiềm, dùng
thuốc allopurinol (15 mg/kg, cho uống 2 lần/ngày), bổ sung potassium citrate (40 – 75 mg/kg, cho uống 2 lần/ngày) khi cần duy trì pH của nước tiểu khoảng 7
Sỏi cystine cũng dùng khẩu phần ăn hạn chế protein và purine, thức ăn kiềm, dùng thuốc 2 – MPG (Thiola, 15 mg/kg, cho uống qua đường miệng, cách nhau 12 giờ), và bổ sung potassium citrate (40 – 75 mg/kg, cho uống 2 lần/ngày) khi cần duy trì pH của nước tiểu khoảng 7