BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH TRÙNG THƯỜNG GẶP TRÊN CHÓ ĐƯỢC KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN THÚ Y TRƯ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH TRÙNG THƯỜNG GẶP TRÊN CHÓ ĐƯỢC KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Họ và tên sinh viên : NGUYỄN THỊ THANH HẰNG
Niên khóa : 2003 – 2008
Trang 2TÌNH HÌNH NHIỄM KÝ SINH TRÙNG THƯỜNG GẶP TRÊN CHÓ ĐƯỢC KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI
HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tác giả
NGUYỄN THỊ THANH HẰNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ
ngành Thú y
Giáo viên hướng dẫn:
Tháng 09 / 2008
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Kính dâng cha mẹ
Lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, người đã tận tụy nuôi nấng dạy dỗ cho con có được như ngày hôm nay
Xin chân thành biết ơn sâu sắc
TS Nguyễn Như Pho
TS Nguyễn Văn Nghĩa Những người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú Y
Cùng toàn thể quý thầy cô đã tận tình giúp đỡ, chỉ dạy và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Thành thật biết ơn
TS Nguyễn Văn Phát ThS Bùi Ngọc Thúy Linh Cùng toàn thể quý thầy cô, các anh chị và các bạn sinh viên ở Bệnh viện Thú y đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài này
Cảm ơn các bạn trong và ngoài lớp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thanh Hằng
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài: “Tình hình nhiễm ký sinh trùng thường gặp trên chó được khám và điều trị tại Bệnh viện Thú y trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh”
Qua kiểm tra lâm sàng, khảo sát 345 mẫu phân, 67 mẫu máu và khảo sát ngoại
ký sinh 450 chó được mang đến khám và điều trị tại Bệnh viện Thú y kết hợp với phân loại từ ngày 01 tháng 3 năm 2008 đến ngày 30 tháng 6 năm 2008, kết quả đạt được như sau:
Trứng của 3 loài giun tròn đường ruột được tìm thấy trong phân của 261 chó
bằng phương pháp phù nổi, chiếm tỷ lệ 75,07% Trong đó, tỷ lệ nhiễm Toxocara canis
là 40,29%, Ancylostoma spp là 62,32% và Trichocephalus vulpis là 2,61% Toxocara
canis nhiễm cao trên chó dưới 3 tháng tuổi (62,35%) và giảm dần theo tuổi Ancylostoma spp nhiễm cao ở đa số các lứa tuổi Không tìm thấy Trichocephalus vulpis ở nhóm tuổi dưới 3 tháng, nhóm trên 24 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là
5,97% Nhóm giống chó nội có tỷ lệ nhiễm (83,75%) cao hơn nhóm giống chó ngoại (67,57%) Đa số chó nhiễm từ 1 – 2 loài trên 1 cá thể, các biểu hiện lâm sàng khi chó mắc bệnh giun tròn đường ruột là: gầy còm, bỏ ăn, tiêu chảy, tiêu ra máu, ói mửa Một
số ít có biểu hiện phù thũng, ngứa và hay chà hậu môn xuống đất
Không phát hiện được trường hợp nào chó nhiễm nguyên bào
Ấu trùng giun tim được tìm thấy trong 9 mẫu máu bằng phương pháp xem tươi, chiếm tỷ lệ 13,43% Giun tim có tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi chó và ở nhóm giống chó nội có tỷ lệ nhiễm (14,29%) cao hơn giống chó ngoại (12,82%) Các biểu hiện lâm sàng khi chó mắc bệnh giun tim là: ho, mệt mỏi, thở khó, phù thủng, ăn ít, bỏ ăn
Có 8 loại ngoại ký sinh được tìm thấy trên cơ thể của 146 chó, chiếm tỷ lệ
32,44% Trong đó, tỷ lệ nhiễm Boophilus là 6,67%, Rhipicephlus là 15,56%,
Ctenocephalides felis là 8,00%, Ctenocephalides canis là 4,22%, Sarcoptes là 0,44%, Demodex là 2,44%, Otodectes là 1,11% và rận là 2,89% Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh
chung biến động không theo quy luật tuổi Nhóm giống chó nội có tỷ lệ nhiễm (37,04%) cao hơn giống chó ngoại (29,12%)
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt luận văn iii
Mục lục iv
Danh sách chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng viii
Danh sách các hình ix
Danh sách đồ thị ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Đại cương giun tròn 3
2.1.1 Hình thái và cấu tạo 3
2.1.2 Đặc điểm sinh học của giun tròn 3
2.2 Sơ lược một số loài giun tròn trên chó 5
2.2.1 Giun đũa 5
2.2.1.1 Phân loại giun đũa trên chó 5
2.2.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo 5
2.2.1.3 Vòng đời 6
2.2.1.4 Triệu chứng của giun đũa 7
2.2.1.5 Chẩn đoán 7
2.2.1.6 Phòng trị 7
2.2.2 Giun móc 8
2.2.2.1 Phân loại giun móc trên chó 8
2.2.2.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo 8
Trang 62.2.2.4 Triệu chứng và tác hại 9
2.2.2.5 Chẩn đoán 10
2.2.2.6 Phòng trị 10
2.2.3 Giun tóc trên chó 11
2.2.3.1 Phân loại 11
2.2.3.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo 11
2.2.3.3 Chu kỳ phát triển 11
2.2.3.4 Triệu chứng 12
2.2.3.5 Chẩn đoán 12
2.2.3.6 Phòng trị 12
2.2.4 Giun tim 12
2.2.4.1 Phân loại 12
2.2.4.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo 13
2.2.4.3 Chu kỳ phát triển 13
2.2.4.4 Triệu chứng 13
2.2.4.5 Chẩn đoán 14
2.2.4.6 Phòng trị 14
2.3 Một số nguyên bào đường ruột ở chó 15
2.3.1 Vòng đời 16
2.3.2 Triệu chứng 17
2.3.3 Chẩn đoán 17
2.3.4 Điều trị 17
2.4 Một số ngoại ký sinh trên chó 17
2.4.1 Hình thái, cấu tạo 18
2.4.1.1 Ve 18
2.4.1.2 Họ mò bao lông Demodicidae 19
2.4.1.3 Giống Sarcoptes Latreille, 1806 19
2.4.1.4 Otodectes Cannestrini, 1894 19
2.4.1.5 Bộ rận Phthiraptera 19
2.4.1.6 Bộ bọ chét Aphaniptera 20
2.4.2 Vòng đời 20
Trang 72.4.2.1 Lớp hình nhện 20
2.4.2.2 Lớp côn trùng 20
2.4.3 Triệu chứng và tác hại 21
2.4.3.1 Lớp hình nhện 21
2.4.3.2 Lớp côn trùng 22
2.4.4 Chẩn đoán 22
2.4.5 Điều trị và phòng bệnh 23
2.5 Tổng kết các công trình nghiên cứu ký sinh trùng trên chó ở Việt Nam .24
2.5.1 Phần giun sán và nguyên bào 24
2.5.2 Phần ngoại ký sinh 26
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 28
3.1 Thời gian và địa điểm 28
3.2 Vật liệu thí nghiệm 28
3.2.1 Hóa chất 28
3.2.2 Dụng cụ 28
3.3 Đối tượng khảo sát 28
3.4 Nội dung đề tài 28
3.5 Các phương pháp tiến hành khảo sát 29
3.5.1 Chẩn đoán lâm sàng 29
3.5.2 Xét nghiệm phân bằng phương pháp phù nổi với NaCl (Willis) 30
3.5.3 Xem tươi tìm ấu trùng giun tim trong máu 30
3.5.4 Xem tươi tìm Sarcoptes, Demodex và Otodectes 30
3.5.5 Phân loại và định loại 30
3.5.6 Xác định tuổi chó 30
3.5.7 Xử lý số liệu 30
3.6 Các bước tiến hành 31
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng chung 32
4.2 Giun tròn đường ruột 34
4.2.1 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường ruột theo tuổi 34
Trang 84.2.3 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường ruột theo nguồn gốc giống 40
4.2.4 Triệu chứng thường gặp trên chó nhiễm giun tròn đường ruột 40
4.3 Giun tim 43
4.3.1 Tỷ lệ nhiễm giun tim theo tuổi chó 43
4.3.2 Tỷ lệ nhiễm giun tim theo nguồn gốc giống 44
4.3.3 Triệu chứng của bệnh giun tim 45
4.4 Ngoại ký sinh 46
4.4.1 Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh theo tuổi chó 46
4.4.2 Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh theo nguồn gốc giống 49
Chương 5 KẾT LUẬN, HẠN CHẾ VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Hạn chế 53
5.3 Đề nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 9DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
L: larva
A: Ancylostoma
U: Uncinaria
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng chung 32
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường ruột theo tuổi chó 35
Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm ghép các loài giun tròn đường ruột theo tuổi chó 39
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường ruột trên chó theo nguồn gốc giống 40
Bảng 4.5 Triệu chứng thường gặp trên chó nhiễm giun tròn đường ruột 41
Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm giun tim theo tuổi ở chó 44
Bảng 4.7 Tỷ lệ nhiễm giun tim theo nguồn gốc giống 44
Bảng 4.8 Triệu chứng bệnh trên chó nhiễm giun tim 45
Bảng 4.9 Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh theo tuổi chó 47
Bảng 4.10 Tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh theo nguồn gốc giống 50
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Vòng đời giun tim 13
Hình 4.1 Giun đũa 43
Hình 4.2 Trứng giun đũa 43
Hình 4.3 Giun móc 43
Hình 4.4 Trứng giun móc 43
Hình 4.5 Trứng giun tóc 43
Hình 4.6 Giun tim 46
Hình 4.7 Ấu trùng giun tim 46
Hình 4.8 Chó bị phù do bị giun tim 46
Hình 4.9 Chất tiết màu nâu tối từ tai của chó bị ghẻ tai 51
Hình 4.10 Otodectes 51
Hình 4.11 Chó bị Sarcoptes 51
Hình 4.12 Sarcoptes 51
Hình 4.13 Chó bị Demodex 51
Hình 4.14 Demodex 51
DANH SÁCH ĐỒ THỊ Trang Đồ thị 4.1 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường ruột theo tuổi chó 36
Trang 11Chó là một trong những loài thú trung thành, thân thiện và gần gũi với con người nhất Chúng giúp con người giải trí, bảo vệ tài sản Hiện nay, ở thành phố Vũng Tàu đã có hội đua chó khá quy mô phục vụ cho nhu cầu giải trí, kinh doanh của người dân và khách du lịch Bên cạnh đó, loài chó còn phục vụ cho những nhu cầu đặc biệt của con người như quốc phòng, an ninh Hơn thế nữa, trong quá trình hội nhập giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới, chế độ chính sách của nhà nước cho phép người dân có thể nhập và xuất các loài chó với các nước trên thế giới, nhiều người đã kinh doanh các giống chó và thu được lợi nhuận cao
Tuy nhiên, vấn đề bệnh tật đã thực sự trở thành nỗi lo và gây ra những sự thiệt hại cho những người nuôi chó hiện nay Trong đó bệnh ký sinh trùng đã ảnh hưởng không ít đến sức khỏe và vẻ đẹp thẩm mỹ của thú nuôi Khí hậu nước ta nóng và ẩm, thành phần loài phong phú, đa dạng, chó được nuôi còn thiếu sự quản lý Những yếu tố này đã góp phần làm cho bệnh ký sinh trùng phát triển nhiều hơn Hơn nữa, có những bệnh ký sinh trùng từ chó lây sang người đã gây ảnh hưởng và nguy hiểm đến sức khỏe của con người
Trang 12Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần làm cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh
ký sinh trùng trên chó có hiệu quả hơn, được sự đồng ý của khoa Chăn Nuôi – Thú Y, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Như Pho và TS Nguyễn Văn Nghĩa chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Tình hình nhiễm ký sinh trùng thường gặp trên chó được
khám và điều trị tại Bệnh viện Thú y trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh”
Xác định tỷ lệ nhiễm giun tim trên chó theo tuổi và nguồn gốc giống
Xác định tỷ lệ nhiễm ngoại ký sinh trên chó theo tuổi và nguồn gốc giống Ghi nhận những biểu hiện lâm sàng thường gặp khi chó nhiễm ký sinh đường ruột và giun tim
Trang 13- Đại bộ phận giun tròn có hình trụ tròn, ngoài ra còn có hình sợi tóc
Trichocephalus, hình cầu như giun cái Tetramares, hình sợi chỉ như Avioserpens taiwana, hình túi như giun cái Simondria paradoxa, hoặc có hình nhánh cây khô như Syngamus trachea
Cấu tạo
- Không có hệ tuần hoàn và hệ hô hấp
- Có hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, có cơ quan bài tiết, có cơ quan sinh dục (phân tính)
- Cơ quan sinh dục đực: gồm có 2 tinh hoàn, 2 ống dẫn tinh, có túi tinh, có lỗ huyệt (vừa là hậu môn, vừa là lỗ sinh dục) Gai giao phối (spicule) có khi có 1 hoặc 2 spicule hoặc không có Bộ phận điều chỉnh gai giao cấu gọi là bánh lái có tác dụng điều chỉnh spicule Ngoài ra còn có các bộ phận điểm tựa nón sinh dục, túi sinh dục, túi giao phối
Cơ quan sinh dục cái: gồm có 2 buồng trứng, 2 ống dẫn trứng, 2 tử cung, 1 âm đạo và 1 âm hộ thông ra ngoài ở mặt bụng của giun ở giữa thân, cuối thân hay gần đầu của giun Có trường hợp có 4 hoặc 6 tử cung Một số loài có nắp âm hộ
2.1.2 Đặc điểm sinh học của giun tròn
- Giun tròn không sinh sản vô tính
- Giun tròn đơn tính, con đực và con cái riêng biệt Con đực thường nhỏ hơn
Trang 14là giai đoạn gần trưởng thành (immature) Giun tròn có thể truyền trực tiếp hoặc gián tiếp
- Chu trình phát triển trực tiếp
Trứng giun ra môi trường ngoài, sau một thời gian tế bào phôi bên trong phát triển thành ấu trùng gây nhiễm Ấu trùng nằm trong trứng cho đến khi ký chủ cuối cùng ăn phải trứng, vào cơ thể ký chủ ấu trùng sẽ thoát ra khỏi trứng qua vài lần lột xác và phát triển đến giun trưởng thành Do ấu trùng được trứng bảo vệ nên có thể tồn tại ở môi trường ngoài trong một thời gian dài có thể đến vài năm Kiểu phát triển này
thường thấy ở những loài có vỏ trứng dày ví dụ như Ascaris, Trichocephalus
Trứng ra môi trường ngoài sau một thời gian sẽ nở ra ấu trùng 1 rồi lột xác 2 lần thành ấu trùng 3 (ấu trùng gây nhiễm) Ấu trùng 3 sẽ xâm nhập vào ký chủ cuối cùng và lột xác thêm 2 lần nữa thành ấu trùng 5 và thành giun trưởng thành Ví dụ các
loài giun móc (Ancylostoma, Uncinaria), giun kết hạt (Oesophagostomum)
- Chu trình phát triển gián tiếp
Ấu trùng 1 ở trong trứng hay thoát ra môi trường ngoài sau khi xâm nhập vào
ký chủ trung gian sẽ lột xác 2 lần thành ấu trùng 3 trong vật chủ trung gian Khi vật chủ trung gian bị vật chủ cuối cùng ăn phải, ấu trùng 3 sẽ qua 2 lần lột xác nữa trong vật chủ cuối cùng và thành dạng trưởng thành
Trứng của giun tròn có nhiều hình dạng, hầu hết có 3 lớp vỏ dày Lớp trong cùng mỏng Lớp giữa có cấu tạo chitine Lớp ngoài bao gồm protein rất dày và có sức chống đỡ tốt với môi trường bên ngoài Một số loài vỏ trứng rất mỏng và tạo thành lớp
vỏ bọc xung quanh larvae Một số trứng có thể tồn tại ở môi trường bên ngoài hàng
năm (Ascaris và Trichocephalus)
- Sự di hành của giun tròn
Khi xâm nhập vào ký chủ cuối cùng, trước khi đến vị trí thích hợp để ký sinh một số giun tròn có quá trình di hành qua nhiều cơ quan để lột xác và phát triển trước khi thành dạng trưởng thành Một số loài không có quá trình di hành Có tất cả 4 dạng
Trang 15Di hành đến khí quản (ấu trùng truyền từ mẹ sang con qua nhau thai)
2.2 Sơ lược một số loài giun tròn trên chó
2.2.1 Giun đũa
2.2.1.1 Phân loại giun đũa trên chó
Có 2 loài: Toxocara canis và Toxascaris leonina
Toxocara canis
Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Bộ Ascaridida Skrjabin và Achulz, 1940
Họ Anisakidae Skrjabin và Karoklsin, 1945
Giống Toxocara Stiles, 1905
Loài Toxocara canis (Werner, 1782)
Toxascaris leonina
Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Bộ Ascaridida Skrjabin và Achulz, 1940
Họ Anisakidae Skrjabin và Karoklsin, 1945
Giống Toxascaris Stiles, 1905
Loài Toxascaris leonina (Linstow, 1902)
(trích dẫn bởi Bùi Ngọc Thúy Linh, 2004)
2.2.1.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo
Toxocara canis:
- Thuộc họ Anisakidae ký sinh ở ruột non, bao tử của chó, cáo, thú ăn thịt Đầu
hơi cong về mặt bụng và có 3 môi, cánh đầu rộng, giữa thực quản và ruột có dạ dày
nhỏ, đây là một đặc điểm của họ Anisakidae Con đực dài 50-100 mm, đuôi cong hơi
tù, có cánh đuôi, có hai gai giao hợp bằng nhau dài 0,075 – 0,085 mm Giun cái dài 90 – 180 mm, đuôi thẳng
- Trứng hơi tròn kích thước 0,080 – 0,085 x 0,064 – 0,072 mm Vỏ trứng dày màu vàng có lợn cợn như tổ ong (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997)
Trang 16- Con cái dài 60 – 100 mm
- Trứng hơi tròn bên ngoài lớp vỏ nhẵn, đường kính 0,075 – 0,085 mm, gồm 2 lớp vỏ dày màu vàng nhạt (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997)
2.2.1.3 Vòng đời
Toxocara canis có chu trình phát triển hoàn hảo nhất và tiêu biểu cho họ giun
đũa Trứng ra ngoài sau 10 – 15 ngày phát triển thành trứng gây nhiễm bên trong có chứa L2 và có 4 cách truyền bệnh như sau:
- Chó dưới 3 tháng tuổi nuốt phải trứng gây nhiễm, L2 nở ra ở ruột, chui qua thành ruột theo hệ thống tuần hoàn di hành đến gan, phổi Tại đây chúng lột xác thành L3, rồi đến khí quản Khi ho, chúng được nuốt xuống ruột non, lột xác 2 lần nữa thành L5 và thành trưởng thành gọi là sự di hành gan – khí quản (hepatic – tracheal migration)
- Ở chó trên 3 tháng tuổi đường di hành này ít xảy ra, nhưng chó 6 tháng tuổi đường di hành theo hướng khác, L2 sẽ vào các mô như: gan, phổi, não, tim, vách ruột Nếu chó đang mang thai thì chúng di hành qua nhau thai, hoặc chờ đến khi chó có mang ấu trùng sẽ di hành trở lại Một số L2 qua nhau thai đến phổi của bào thai, vào lúc 3 tuần trước khi sinh sẽ lột xác thành L3, khi chó con sinh ra ấu trùng từ phổi ra khí quản về ruột phát triển thành trưởng thành sau 3 tuần Một số L2 trở về ruột của chó mẹ phát triển thành trưởng thành, vì vậy chó mẹ sau khi sinh vài tuần trong phân thường xuất hiện trứng giun đũa Chó mẹ nhiễm bệnh một lần có thể truyền bệnh cho chó con ở 3 lứa đẻ liên tiếp Vì vậy thường thấy khi chó mẹ sinh con thì cũng có giun đũa ở ruột
Một số ấu trùng trong mô chó mẹ được bài thải theo sữa trong suốt 3 tuần đầu sau khi sinh, chó con bú sữa, ấu trùng vào ruột phát triển thành trưởng thành và không
có sự di hành
Trang 17- Loài gậm nhấm và chim nếu nuốt phải trứng có chứa L2 sẽ được tích trữ trong các mô, nếu chó ăn phải các con vật này sẽ nhiễm giun trưởng thành sau 4 – 5 tuần, trường hợp này không có sự di hành
Toxascaris leonina
- Trứng theo phân ra ngoài, nếu nhiệt độ 19oC – 22oC hình thành trứng gây nhiễm có chứa ấu trùng L2 sau khoảng 3 – 6 ngày Khi chó ăn phải trứng có chứa ấu trùng, không di hành, ấu trùng giải phóng ở ruột xâm nhập vào vách ruột, lột xác và phát triển thành trưởng thành Sau 6 tuần lột xác 3 lần thành L5, sau 75 ngày thành trưởng thành Chuột, chim là ký chủ tích trữ
2.2.1.4 Triệu chứng của giun đũa
- Chó mất tính thèm ăn, thiếu máu, gầy còm, chậm lớn, tiêu chảy, bụng to, ói mửa có lẫn cả giun Những triệu chứng này thường thấy ở chó dưới 2 tháng tuổi Chó
có triệu chứng thần kinh, co giật Ấu trùng di hành qua mặt thận, gan, phổi, não gây hoại tử các cơ quan và gây viêm phổi, phù thũng, xuất huyết
-Lịch trình phòng
Chó con 2 tuần tuổi nên xổ lần 1, sau đó 2 tuần xổ lần 2 Đồng thời trị cho chó
mẹ cùng thời điểm này
Chó 2 tháng tuổi xổ lần 3, ngừa sự truyền qua sữa, sau đó định kỳ 6 tháng xổ 1 lần
Có thể dùng fenbendazole cho ăn liên tục ở 3 tuần trước và sau khi sinh để phòng ngừa truyền từ mẹ sang con
Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng
Trang 182.2.2 Giun móc
2.2.2.1 Phân loại giun móc trên chó
Theo Soulsby (1977) và Phan Thế Việt (1977) (trích dẫn bởi Lê Hữu Khương, 1999), phân loại giun móc như sau:
Loài Uncinaria stenocephala
2.2.2.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo
- Ancylostoma caninum: bao miệng mỗi bên có 3 đôi răng chia 3 nhánh Con
đực dài 9 – 12 mm Đuôi phát triển có túi chitin 2 gai sinh dục dài bằng nhau dài 0,74 – 0,87 mm, đoạn cuối nhọn Con cái dài 10 – 21 mm Âm hộ nằm 1/3 phía sau thân Trứng hình bầu dục, hai đầu thon đều có hai lớp vỏ, trứng mới thải ra bên trong có 8 tế bào phôi, kích thước trứng: 0,056 – 0,075 x 0,034 – 0,047 mm (Lương Văn Huấn và
Lê Hữu Khương, 1997)
- Ancylostoma braziliense: Bao miệng chỉ có đôi răng không phân nhánh: con đực dài 6 – 6,75 mm, con cái dài 7 – 10 mm Trứng giống Ancylostoma caninum Kích
thước trứng 0,075 – 0,095 x 0,041 - 0,045 mm (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương,
1997) Phần đuôi con đực và cái giống như Ancylostoma caninum
- Uncinaria stenocephala: thành bao miệng có 5 phần mảnh lồi, có 2 tấm cắt
hình bán nguyệt xếp đối xứng nhau Con đực dài 6 – 16 mm, rộng 0,01 – 0,33 mm Thực quản dài 0,75 – 0,88 mm Con cái dài 9 – 16 mm Đỉnh của đuôi có gai mịn, âm
hộ nằm ở 1/3 phía sau thân (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997)
Trang 192.2.2.3 Chu kỳ phát triển của giun móc
- Chu kỳ phát triển của các loài trên đều phát triển trực tiếp không cần có sự tham gia của vật chủ trung gian
- Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện ngoại cảnh thích hợp sau 20 giờ tới một vài ngày hình thành ấu trùng trong trứng Ấu trùng chui ra khỏi trứng qua 6 – 7 ngày lột xác 2 lần để tạo thành ấu trùng gây nhiễm (L3) Ấu trùng gây nhiễm dài 0,59 – 0,69 mm, có thể bò ở nền chuồng hay cây cỏ quanh chuồng Nếu gia súc ăn phải ấu trùng gây nhiễm vào trong phổi, lột xác 3 lần tạo L4, về ruột lột xác thành L5 sau 14 –
20 ngày trở thành dạng trưởng thành
- Đường gây nhiễm chủ yếu cho chó, mèo và gia súc là đường chui qua da Gia súc non dễ bị ấu trùng xâm nhập qua da hơn là gia súc trưởng thành Ấu trùng gây nhiễm dạng còn non dễ xâm nhập qua da hơn là ấu trùng già Khi xâm nhập qua da chỉ
40 phút tất cả các ấu trùng chuyển vào hệ thống tuần hoàn của chó Trong hai ngày đầu ấu trùng xâm nhập vào phổi nhiều nhất sau đó về ruột và phát triển thành trưởng thành Trong khi cho con bú, L3 trong máu sẽ truyền qua sữa và gây nhiễm cho chó con Ấu trùng có thể bị chặn lại ở mô cơ của ruột non mà không phát triển thành dạng
trưởng thành Ở Uncinaria tương tự như Ancylostoma Khi nhiễm qua đường miệng
không có quá trình di hành
2.2.2.4 Triệu chứng và tác hại
- Chó thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, gầy còm suy nhược Khi nhiễm nặng chó, mèo bỏ ăn, kiết lỵ, táo bón, phân có lẫn máu Giun bám chặt vào thành ruột làm hư hại lớp nhung mao, ảnh hưởng đến khả năng hấp thu sắt, vitamine B2, B12 và C
- Giai đoạn ấu trùng xâm nhập qua da thường tạo phản ứng cục bộ để lại những nốt xuất huyết hoặc gây viêm da Trên chó con phản ứng này không rõ, nhưng trên chó lớn các nốt sần màu đỏ và ngứa nổi rõ trên kẽ ngón chân, sườn và bụng, có thể nhầm lẫn với triệu chứng của bệnh ghẻ (Hungeford, 1994) (trích dẫn bởi Lê Hữu Khương, 1999)
- Theo Georgi (1980) (trích dẫn bởi Lê Hữu Khương, 1999), biểu hiện của bệnh giun móc chia ra 4 thể bệnh:
Trang 20Thể quá cấp: thường xuất hiện trên chó con vài tuần (ngày thứ 15) sau khi sinh Tuần đầu thấy chó vẫn khỏe, nhưng tuần thứ 2 chó đột ngột bệnh, thiếu máu nặng và chết nhanh Xét nghiệm phân không có trứng giun móc
Thể cấp: biểu hiện thiếu máu, gầy yếu, chết kéo dài, xét nghiệm thấy trứng giun trong phân
Thể mãn: chó có khả năng tái tạo bù đắp lượng máu bị mất, thể trạng chung bình thường, xét nghiệm phân có trứng giun
Thể thứ phát: xuất hiện dấu hiệu của bệnh tim mạch do tình trạng thiếu máu kéo dài, lâu dần khả năng tái tạo máu không bù đắp nổi lượng máu bị thất thoát
- Georgi (1980) (trích dẫn bởi Lê Hữu Khương, 1999), đề nghị cách trị liệu: Thể quá cấp: thường trị liệu không có kết quả, nên kết hợp truyền máu đồng thời kết hợp dùng thuốc xổ giun
Thể cấp: dùng thuốc xổ và chú ý khẩu phần dinh dưỡng Cũng có thể truyền máu để chó mau hồi phục
Thể mãn: dùng thuốc xổ là đủ
Thể thứ phát: thường khó phát hiện nguyên nhân chính là do giun móc Nên dùng thuốc xổ giun kết hợp cấp sắt (ferrous sulfate), vitamine và nâng cao protein trong khẩu phần thức ăn
- Cách phòng (Hungerford, 1994) (trích dẫn bởi Lê Hữu Khương, 1999): chó con 1 tuần đến 6 tuần tuổi, dùng các thuốc xổ giun mỗi tuần 1 lần Chó 6 – 12 tuần, xổ giun 2 tuần một lần Chó trên 3 tháng, 3 – 4 tháng xổ 1 lần Chó mẹ xổ 2 lần vào ngày mang thai thứ 14 và sau khi sinh 1 tuần
Trang 21Có thể dùng fenbendazole liều 50 mg/kg thể trọng liên tục 3 tuần trước khi sinh đến 2 ngày sau khi sinh để ngăn ngừa giun móc và cả giun đũa cho chó con và chó mẹ (Urquhart, 1996) (trích dẫn bởi Lê Hữu Khương, 1999)
- Khi hàm lượng haemoglobin giảm dưới 5,5 g/100 ml cần phải truyền máu (20ml/kg), cấp 200 mg ferric hydroxide 3 lần/tuần
- Chăm sóc nuôi dưỡng chó mèo chu đáo để nâng cao sức đề kháng Nếu thấy chó, mèo gầy ốm thiếu máu cần phải kiểm tra phân, hoặc cho chó, mèo uống các loại thuốc trên để tẩy giun móc cho chó, mèo
- Xung quanh nhà ở nên phát quang các bụi cây để cho có ánh nắng trực tiếp xung quanh nhà sẽ có tác dụng diệt trứng và ấu trùng
2.2.3 Giun tóc trên chó
2.2.3.1 Phân loại
Trichocephalus vulpis (Frohlich, 1789) ở chó nhà và cáo
2.2.3.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo
- Những giun thuộc họ Trichocephalidae gồm có 7 loài thuộc giống
Trichocephalus Những giống Trichocephalus cơ thể chia làm 2 phần rõ rệt Đoạn
trước thắt nhỏ hình sợi tóc, đoạn sau lớn hơn Thực quản có hình chuỗi hạt Giun đực dài 20 – 80 mm, đuôi thường cong lại, có bao gai giao phối với nhiều gai nhỏ phủ ở trên, có 1 gai sinh dục dài cấu tạo tùy thuộc từng loài
- Giun cái dài 35 – 70 mm, đuôi không cong Âm hộ nhô ra dạng hình trụ, hơi cong ở đoạn dưới thực quản hay 1/3 phần sau thân Hậu môn ở cuối thân
Trứng có hình hạt chanh, lớp vỏ dày màu vàng sậm hoặc màu hơi đen Bên trong có chứa tế bào phôi màu vàng, hai đầu trứng có nắp mờ không bắt màu giống hình dùi trống Kích thước của trứng 0,027 – 0,040 mm x 0,052 – 0,08 mm (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997)
2.2.3.3 Chu kỳ phát triển
- Họ Trichocephalidae phát triển trực tiếp Trứng theo phân ra ngoài gặp các
điều kiện thuận lợi qua 25 – 28 ngày phát triển thành trứng có ấu trùng gây nhiễm (L1) Khi thú ăn phải trứng gây nhiễm vào ruột, ấu trùng được giải phóng chui vào lớp nhung mao của ruột Ở đây ấu trùng lột xác rồi quay trở xuống ruột phát triển thành
Trang 22trưởng thành Thời gian phát triển thành trưởng thành tùy thuộc theo loài
Trichocephalus vulpis sau 30 - 107 ngày
Sau 1,5 – 2 tháng tẩy lại cho gia súc sau đó không cần dùng thuốc vì tuổi cao tỷ
lệ nhiễm giun tóc ở gia súc thấp
Nuôi dưỡng, chăm sóc tốt Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ
Giống Dirofilaria Railliet er Henrry 1911
Loài Dirofilaria immitis Leidy 1856
(trích dẫn bởi Trịnh Thị Cẩm Vân, 1999)
Trang 232.2.4.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo
- Giun mảnh và dài Con đực 120 – 180 mm, hai gai giao hợp không bằng nhau dài 0,216 – 0,318 mm và 0,188 – 0,200 mm Con cái dài 250 – 300 mm Âm hộ cách đầu 1,6 – 2,8 mm Giun đẻ ra ấu trùng Ấu trùng microfilaria dài 0,220 – 0,290 mm rộng 0,007 mm và có vỏ bọc bên ngoài (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997)
2.2.4.3 Chu kỳ phát triển
- Giun trưởng thành ký sinh ở tâm thất phải, động mạch phổi Giun đẻ ra ấu trùng 1 (microfilaria) ở trong máu Ký chủ trung gian là muỗi Khi muỗi hút máu, ấu trùng vào bao tử muỗi rồi di hành đến ống malpighi, ở đây nó lột xác 2 lần rồi trở về vòi thành ấu trùng cảm nhiễm L3 mất khoảng 10 ngày Khi muỗi đốt L3 xâm nhập vào dưới da ký chủ, qua 2 lần lột xác sau vài tháng, cuối cùng trở thành L5 theo tĩnh mạch về tim, từ khi xâm nhập đến lúc trưởng thành mất ít nhất 6 tháng, giun có thể sống được 3 – 5 năm Mỗi giun cái đẻ được 5000 ấu trùng/ngày và microfilaria có thể sống được 3 năm
Hình 2.1 Vòng đời giun tim 2.2.4.4 Triệu chứng
Trang 24gây viêm nội tâm mạc và hở van tim Chất tiết và xác chết của giun trong máu có thể gây đột tử cho chó Ấu trùng có thể gây tắc nghẽn mao quản thận, viêm cầu thận do phức hợp kháng nguyên – kháng thể
- Thú thường thở nhanh, ho, lờ đờ, kém vận động, lâu ngày thường thấy phù thũng, trong nước tiểu có huyết sắc tố và hoàng đản
Theo Stanley và Anthony (2007), mức độ nghiêm trọng của bệnh giun tim được chia làm 3 cấp:
Cấp I: thú không có triệu chứng bệnh hoặc thỉnh thoảng ho
Cấp II: ho hoặc hơi mệt khi vận động, sụt cân nhẹ
Cấp III: thú có những triệu chứng nặng hơn như ho nhiều, mệt khi vận động, tích dịch, thể trạng kém, thiếu máu, ngất, khó thở, sụt cân
2.2.4.5 Chẩn đoán
- Qua lâm sàng, dịch tễ
- Tìm ấu trùng trong máu: xem máu tươi, tập trung, kỹ thuật Knott, kỹ thuật màng lọc
Một số kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học: kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang,
kỹ thuật miễn dịch men (ELISA), kỹ thuật miễn dịch thấm nhập nhanh
- Kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học phát hiện kháng nguyên của giun cái trưởng thành (heartworm antigen test)
- Chẩn đoán hỗ trợ: X – quang, điện tâm đồ
2.2.4.6 Phòng trị
Điều trị
Điều trị bệnh giun tim gồm 2 giai đoạn: diệt giun trưởng thành và diệt ấu trùng trong máu
Chó phải được nghỉ ngơi 1 – 2 tuần trước khi sử dụng thuốc
Việc điều trị giun tim gặp nhiều khó khăn nhất là trong giai đoạn diệt giun trưởng thành Sau khi thuốc diệt được giun trưởng thành, xác nó sẽ bị phân hủy và lưu chuyển trong máu có thể làm tắc nghẽn một số mạch máu gây chết đột ngột Ngay cả khi số lượng larva trong máu quá nhiều cũng có thể gây biến chứng sau khi điều trị
Để điều trị giun tim, hạn chế sự tắc nghẽn mạch, theo Stanley và Anthony (2007):
Trang 25Dùng corticosteroid (prednisolone hoặc prednisone 1 mg/kg thể trọng, 1 lần/ngày)
Sử dụng aspirin (5 -7 mg/kg thể trọng, 1 lần/ngày) hoặc heparin (75 đơn vị/kg thể trọng, tiêm dưới da, 3 lần/ngày) trước 1 tuần hoặc lâu hơn, trong và sau 3 – 4 tuần diệt giun trưởng thành Aspirin, heparin được dùng trong hầu hết bệnh ở thể nặng cấp III, aspirin không được chỉ định cho bệnh ở thể cấp I và cấp II Ngoài ra aspirin còn có tác dụng phụ là gây chảy máu dạ dày
Trong trường hợp chó bị phù, tích dịch sử dụng furosemid (1 – 2 mg/kg thể trọng, 2 lần/ngày) kết hợp với khẩu phần ăn ít muối, phospho, protein
Trị giun trưởng thành có thể dùng: thiacetarsamide, arsenical, antimonial, dimecaprol, Immiticide (melarsomine hydrochloride)
Theo Stanley và Anthony (2007), quy trình sử dụng immiticide:
Quy trình standard Immiticide: áp dụng đối với trường hợp bệnh ở thể cấp 1 Sử dụng liều 2,5 mg/kg thể trọng, tiêm bắp, 2 lần cách nhau 24 giờ Sau 4 tháng kiểm tra lại bằng antigen test, nếu kết quả dương tính thì quy trình điều trị lặp lại
Quy trình alternate Immiticide: áp dụng đối với trường hợp bệnh ở thể cấp I, II, III Sử dụng liều 2,5 mg/kg thể trọng, tiêm bắp, 1 lần duy nhất Sau 4 – 6 tuần, tiêm 2 liều cách nhau 24 giờ Sau 4 – 6 tháng kiểm tra lại bằng antigen test, nếu kết quả dương tính thì tiêm thêm 1 liều hoặc 2 liều cách nhau 24 giờ
Trị ấu trùng có thể dùng: levamisole, ivermectin, diethylcarbamazine, benzimidazole, selamectin (revolution)
Giữ gìn vệ sinh môi trường, diệt muỗi, khai thông cống rãnh
Phòng chống muỗi đốt chó bằng kem hoặc các loại thuốc bôi thoa
2.3 Một số nguyên bào đường ruột ở chó
Theo kết quả khảo sát của một số tác giả trước đây thì nguyên bào trong đường
Trang 26Isospora rivolta, Sarcocystis cruzi, Sarcocystis tenella, Sarcocystis capracanis, Sarcocystis levinei, Sarcocystis miescheriana
- Sinh sản vô tính (schizogony)
Xảy ra trong tế bào biểu mô ruột của chó do ăn phải noãn nang gây nhiễm Trong đường tiêu hóa dưới tác dụng của dịch tiêu hóa lớp vỏ noãn nang vỡ ra, phóng thích những sporocyst và sporozoite Các sporozoite này xâm nhập tế bào biểu mô ruột
và bắt đầu giai đoạn sinh sản vô tính Sau khi vào tế bào biểu mô ruột các sporozoite phát triển thành các schizont thế hệ 1, mỗi schizont thế hệ 1 sẽ tạo ra nhiều merozoit thế hệ 1 Sau vài ngày chúng phá vỡ tế bào ruột và phóng thích vô số merozoit thế hệ
1 Các merozoit được sinh ra xâm nhập vào một tế bào mới lại tiếp tục sinh sản sô tính
để cho ra nhiều merozoit thế hệ 2 Sau một thời gian, một số merozoit thế hệ 2 xâm nhập vào tế bào biểu mô bắt đầu sinh sản hữu tính
- Sinh sản hữu tính (gametogony)
Cuối giai đoạn sinh sản vô tính, các merozoit chui vào tế bào ruột hình thành các tiền giao tử đực và cái Mỗi tiền giao tử cái (macrogametocyte) phát triển tạo ra 1 giao tử cái (macrogamete), mỗi tiền giao tử đực (microgametocyte) cũng trải qua giai đoạn phân chia tạo ra giao tử đực (microgamete) Khi thành thục, giao tử đực sẽ thoát
ra khỏi tế bào ruột và xâm nhập vào tế bào ruột chứa giao tử cái Giao tử đực sẽ kết hợp với giao tử cái tạo thành 1 noãn nang (oocyst) và được phóng thích ra bên ngoài
Sarcocystis
Giai đoạn sinh sản vô tính xảy ra ở ký chủ trung gian (ngựa, heo, loài nhai lại,
gà, vịt), sinh sản hữu tính xảy ra và sinh bào trùng ở ký chủ cuối cùng (động vật ăn thịt, chó, mèo, người)
Trang 27Ký chủ trung gian khi ăn phải sporocyst trong phân của ký chủ cuối cùng Đến ruột, sporocyst được giải phóng và chui qua vách ruột theo các mao mạch vào các tế bào biểu mô Tại đây chúng trải qua 2 giai đoạn schizont 1 và schizont 2, còn schizont
3 được hình thành trong tế bào lympho Cuối cùng các schizont 3 vỡ ra, các merozoite
bên trong được phóng thích vào máu đến cơ định vị tạo thành Sarcocystis bên trong
chứa nhiều bradyzoite
Khi chó mèo ăn phải Sarcocystis trong thịt của ký chủ trung gian Đến ruột non,
dưới tác dụng của men tiêu hóa các bradyzoite được giải phóng sẽ xâm nhập vào biểu
mô ruột rồi phát triển thành giao tử đực (microgamete) và giao tử cái (macrogamete) Hai giao tử này phối hợp tạo thành hợp tử (zygote) và cuối cùng tạo oocyst có vỏ mỏng Oocyst tiếp tục phân chia tạo thành các sporocyst và sporozoite ở bên trong Màng oocyst dễ vỡ nên có thể thấy dạng sporocyst trong phân (đây là đặc điểm khác
biệt để phân biệt với oocyst của isospora ở thú ăn thịt)
2.3.2 Triệu chứng
- Trong tự nhiên, chó nhiễm nguyên bào thường không có biểu hiện triệu chứng
rõ Chó thường mắc bệnh nhẹ như tiêu chảy rồi tự khỏi Hiện tượng sốt nhẹ có thể thấy vào giai đoạn sớm nhưng đa số là chó nhiễm nguyên bào có thân nhiệt bình thường
2.4 Một số ngoại ký sinh trên chó
Ngành Arthropoda gồm 5 lớp: Crustacea, Onychophora, Myriapoda, Insecta,
Arachnida Trong 5 lớp kể trên chỉ có 2 lớp liên quan đến chăn nuôi thú y là Insecta và Arachnida
Lớp hình nhện (Arachnida): gồm có ve, Demodex, Sarcoptes, Otodectes… Lớp côn trùng (Insecta): gồm có rận và bọ chét (Ctenocephalides canis và
Ctenocephalides felis)…
Trang 282.4.1 Hình thái, cấu tạo
2.4.1.1 Ve
Gồm họ Ixodidae (ve cứng) và họ Argasidae (ve mềm)
ĐẶC ĐIỂM IXODIDAE ARGASIDAE
Mai (scutum) + -
Đầu (capitulum) Nhô khỏi thân Nhô khỏi thân (Ấu trùng)
Khuất dưới bụng (thiếu trùng) Giác bàn chân + -
Tấm thở (stimagte) Sau gốc háng Giữa gốc háng 3-4
Tính biệt Đực khác cái Đực giống cái
Ixodidae (ve cứng): họ này thường có 7 giống ký sinh ở gia súc, gia cầm Trong
đó có 2 giống Boophilus Curtice, 1891 và Rhipicephalus Koch, 1844
Giống Boophilus Curtice, 1891
- Ve trưởng thành nhỏ lúc đói dài 2-4 mm, không có rãnh hậu môn, có mắt, bờ sau thân không có festoon Scutum cùng một màu không có ánh men Capilutum dài gần bằng rộng, ve đực có hai đôi mai bụng, một đôi cạnh hậu môn và một đôi phụ nằm
ở phía ngoài, ve đực có mấu đuôi Công thức tơ trên các lá van hậu môn thường từ 2/2
và 3/3 Coxa I có 2 cựa, coxa II và IV không quá 1 cựa Stigmate hình tròn hay bầu dục, basis capituli hình 6 cạnh Paloe ngắn, đốt 1 tiêu giảm Hypostome dài hơn palpe Công thức răng 3/3, 4/4 hay 5/5 (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1999)
Giống Rhipicephalus Koch, 1844
- Đặc điểm của giống này là rãnh hậu môn vòng dưới Capitulum dài gần bằng rộng Basis capituli hình lục giác hay 6 cạnh có góc lồi ở bên Coxa chân I có 2 cựa gai, có festoon ở phía cuối thân gồm 11 festoon, Hypostonme và palpe ngắn Ve đực
có Scutum bụng Stigmate dài hình dấu phẩy ở ve đực, dấu phẩy ngắn ở ve cái (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1999)
Khóa định tên các giống ve cứng Ixodidae (Phan Trọng Cung, 1973)
- Không có rua, không có rãnh hậu môn Háng 1 có 2 cựa rất ngắn Tấm thở
hình tròn hay bầu dục Ve đực rất nhỏ (Boophilus Curtice )
Trang 29- Có rua, rãnh hậu môn vòng sau, rõ Háng 1 có cựa dài Xúc biện gần hình nón cuối hơi nhọn Gốc đầu hình 6 cạnh Đốt II xúc biện của ấu trùng có những tơ nhỏ, ở
thiếu trùng các tơ này lại ở đốt IV… (Rhipicephalus Koch)
2.4.1.2 Họ mò bao lông Demodicidae
- Hình thái: mò nhỏ, cơ thể hơi dài, kích thước 0,1 – 0,39 mm, không có lông Bốn đôi chân rất ngắn, tiêu giảm giống như hình mấu Đầu ngắn hình móng ngựa, gồm
có Palp và Chelicerta Palp có 3 đốt, đốt cuối có 4 – 5 tơ hình que Mò gây rụng lông sau đó gây viêm, xung huyết, nếu viêm nhiễm tái phát có mủ (Unsworth, 1946; Gaajar
et al, 1958; Keutz et al, 1960) (trích dẫn bởi Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1997)
2.4.1.3 Giống Sarcoptes Latreille, 1806
- Giống ghẻ Sarcoptes ký sinh mặt trong da hay ngầm dưới da của gia súc và
người Cơ thể hình tròn hay hình bầu dục Trên mình phủ nhiều lông tơ Capitulum có hình nón, chiều ngang lớn gấp hai lần chiều dọc Mặt lưng có nhiều đường vân song song Có nhiều lông tơ, kích thước từ 0,2 – 0,5 mm Có 4 đôi chân nhú ra như măng mọc Mỗi chân có 5 đốt Cuối bàn chân có giác tròn với ống cán dài và có nhiều lông
tơ (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1999)
2.4.1.4 Otodectes Cannestrini, 1894
- Kích thước xấp xỉ 0,45 mm Gần giống với hình dạng của ghẻ Psoroptes Con
cái có giác bàn chân ở đôi 1 và đôi 2 Con đực có giác bàn chân ở cả 4 đôi Đôi chân thứ tư nhỏ ở con cái (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1999)
2.4.1.5 Bộ rận Phthiraptera
- Bộ rận chia thành 2 phân bộ Trong đó có phân bộ hút máu Anopeura và phân
bộ ăn lông Mallopphaga
- Phân bộ Anoplura (Siphunculata): râu có kích thước 2 mm – 6 mm Đầu kéo
dài về phía trước và có phần miệng thích ứng với sự hút máu và dịch tổ chức của vật chủ Thân hơi tròn, đầu kéo dài về phía trước có 2 antenne ở phía đầu, mỗi antenne có
5 đốt Mắt nhỏ hoặc không có Ngực gồm 3 đốt thường lớn hơn đầu Có 3 đôi chân Đôi thứ nhất nhỏ, đôi thứ 3 lớn nhất Bàn chân chỉ có một vuốt Bụng gồm 7 – 9 đốt, bên ngoài phủ Chitin dày Màu nâu đen hay nâu đỏ, vàng xám (Lương Văn Huấn và
Trang 30- Phân bộ rận ăn lông (Mallophaga): miệng có cấu tạo kiểu nghiền để thích ứng
với việc lấy thức ăn Đôi khi hút dịch chất tế bào của cơ thể vật chủ Đầu thường tròn hoặc hình tam giác, có hình thang, antenne gồm có 4 – 5 đốt Ngực và mắt kém phát triển, màu vàng Chân phát triển mạnh (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1999)
2.4.1.6 Bộ bọ chét Aphaniptera (Siphonaptera)
Gồm 2 loài: Ctenocephalides felis và Ctenocephalides canis
- Bọ chét dài 1,5 – 4 mm, có khi 0,8 mm Lớp chitine phủ bên ngoài dày và có màu vàng nâu hoặc nâu đen Mắt kép lớn có khi có mắt đơn hoặc không có mắt Đầu nhỏ tròn hay gãy góc Có phần phụ miệng kiểu chích hút Đầu có 2 antenne, mỗi cái có
3 đốt Ngực gồm 3 đốt có mang 3 đôi chân, đôi thứ 3 rất to và khỏe Các khớp chân có chất Arthropodine co giãn, dẻo Có nhiều lược (ctenidium) hướng về phía sau Bụng gồm 8 – 10 đốt Đốt thứ 9 ở con đực và con cái có mang tấm lưng gọi là Sensilium hoặc Pygidium chức năng không rõ Thân dài khỏe có lược phụ
- Khóa xác định loài bọ chét (Soulsby 1971)
Gai trán của lược trước dài như gai thứ cấp Trán dốc xuống 2 lần so với cao
(Ctenocephalides felis)
Gai trán của lược trước ngắn hơn gai thứ cấp Trán ở đầu tròn bằng hoặc bằng
nửa so với dài cao (Ctenocephalides canis)
2.4.2 Vòng đời
2.4.2.1 Lớp hình nhện
Vòng đời trải qua 4 giai đoạn:
Trứng → ấu trùng → thiếu trùng → trưởng thành
Đa số các giai đoạn phát triển chúng đều ký sinh hoàn toàn trên cơ thể chó Ngoại
trừ hai loài ve cứng (Boophilus và Rhipicephalus) có giai đoạn ve cái trưởng thành hút
máu no rơi xuống đất để đẻ trứng Trứng nở thành ấu trùng trên bãi cỏ, sau đó ấu trùng mới bò lên cơ thể chó hút máu và tiếp tục phát triển để hoàn thành vòng đời
2.4.2.2 Lớp côn trùng
Vòng đời trải qua các giai đoạn:
Trứng → ấu trùng → thiếu trùng → trưởng thành
Trang 31Tất cả các giai đoạn chúng đều ký sinh hoàn toàn trên cơ thể chó Riêng đối với rận, vòng đời không có giai đoạn ấu trùng Rận cái trưởng thành đẻ trứng, trứng sẽ nở
ra thành thiếu trùng Sau ba lần lột xác sẽ phát triển thành trưởng thành
2.4.3 Triệu chứng và tác hại
2.4.3.1 Lớp hình nhện
Triệu chứng và tác hại chung chủ yếu là gây cho con vật ngứa, khó chịu, kém
ăn, mất ngủ, giảm ăn và giảm tăng trọng Khi nhiễm kế phát các vi khuẩn Streptococcus,
Staphylococcus, Corynebacterium có thể có mủ, nóng sốt, da loét khó lành
Triệu chứng và tác hại riêng
- Ve cứng: Khi số lượng ve nhiều làm cho thú có thể bị thiếu máu Chỗ bị cắn
đốt bị tiêu tế bào Trong tuyến nước bọt của ve có độc tố Ixodini, có tác dụng chống đông máu, dung giải tế bào, phân giải enzyme, gây tiêu tuyến và ngưng kết máu Truyền mầm bệnh là vi khuẩn, virus, nấm, giun sán nguyên bào vào trong cơ thể thú
Ví dụ Babesia, Rickettsia
- Mò bao lông (Demodex canis)
Dấu hiệu ở chó thường thấy những đám loang lỗ nhỏ, không có lông chung quanh mắt hay toàn bộ cơ thể Có hai dạng:
Dạng cục bộ tổn thương phân bố từng vùng nhỏ ở trên mặt, chân trước hoặc cả hai mắt Tổn thương cục bộ là trạng thái nhẹ thường không phát triển thành dạng viêm
mủ kế phát
Dạng toàn thân da đỏ với nhiều dịch rỉ máu và huyết thanh Nếu viêm là nhiễm
kế phát có mủ Các vi khuẩn thường là Staphylococcus aureus đặc biệt là
Pseudomonas sp Demodex làm suy giảm miễn dịch do xuất hiện trong huyết thanh
một nhân tố làm kìm hãm phản ứng của tế bào lympho T (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1999)
Nguyên nhân bị Demodex: những nhân tố gây giảm miễn dịch như
Antilymphocyte huyết thanh, Azathioprine và điều trị steroid kéo dài dẫn đến thú dễ nhiễm và không khỏi bệnh, làm cho lượng Phytohemagglutinin và Concanavalin A giảm thấp (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1999)
Trang 32- Ghẻ ngầm (giống Sarcoptes Latreille, 1806): có 3 biểu hiện chính
Ngứa: do ghẻ đào hang, tiết ra độc tố, nước bọt và các chất bài tiết làm cho con vật bị ngứa, khi trời nóng hoặc lúc thú vận động ngứa càng nhiều Chó bị ghẻ hay gãi, nhây cắn chỗ ngứa
Rụng lông: Ấu trùng chui vào bao lông gây viêm bao lông cùng với việc cọ xát làm rụng lông, lông rụng từng đám, lúc đầu nhỏ càng về sau càng lan rộng, cùng với
sự sinh sản, con cái thích đi xa để thành lập những quần thể mới
Da đóng vẩy: chỗ ngứa nổi những mụn nước bằng đầu kim, do cọ xát mụn vỡ chảy tương dịch rồi khô đi tạo vảy dính chặt vào lông và da, tiếp tục lan rộng sau 5 – 6 tháng da hoàn toàn trơ trụi, đóng vảy dày và nhăn nheo như da voi, bốc mùi hôi thối
Bệnh làm cản trở chức năng da, con vật bị ngứa liên tục, mất ngủ, trúng độc, chỗ gãi bị nhiễm trùng, viêm tạo ung nhọt trong da (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1999)
- Ghẻ tai (Otodectes cynotis)
Thú hay cào gãi hay chà xát tai vào trong chuồng, trong nhà, chó hay lắc đầu và tai, chó hay quay vòng tròn Tai có màu nâu tối Ống tai bị loét với những mụn nhỏ và dịch nhờn Viêm tai ngoài và loét
Số lượng ghẻ tai quá nhiều ở trong tai có thể khiến thú lắc đầu mạnh tạo nên bọc máu ở vành tai
2.4.3.2 Lớp côn trùng
- Ký sinh hút máu gây ngứa, con vật hay cào gãi, không ngủ, viêm da, rụng
lông, dị ứng Ngoài ra chúng còn là vật chủ trung gian truyền một số bệnh Dipylidium
caninum, Dipetalonema reconditum, Yersinia pestis
2.4.4 Chẩn đoán
- Vuốt ngược lông chó lên và quan sát tìm ve, rận, bọt chét
- Đối với ghẻ ngầm, mò bao lông, ghẻ tai chẩn đoán bằng cách xem tươi dịch cạo da hoặc dịch ráy tai dưới kính hiển vi Riêng đối với ghẻ tai cũng có thể nhận thấy trực tiếp bằng mắt thường trên cây bông đã ráy tai chó, ghẻ tai có màu trắng và di động
Trang 33- Vòng đeo cổ có tẩm amitraz, diazinon, dichlorvos đeo cho chó Một tháng thay một lần
- Những loại thuốc trên cũng phải được phun xịt lên cả vách chuồng, nền chuồng, tấm thảm, nơi ở, chỗ ngủ của chó
Amitraz bôi 1 tuần – 2 tuần /lần
Ivermectin chích dưới da liều 0,006 mg/kg thể trọng Không sử dụng ivermectin cho giống chó Collie
Milbemycin: uống trong thời gian 90 ngày (0,5 mg/kg thể trọng, 2 lần/ngày) Nếu không hết tăng liều lên (1,0 – 2,0 mg/kg thể trọng, 2 lần/ngày) Cứ sau 30 ngày kiểm tra lại 1 lần để xem chó còn bị mò hay không, hầu hết âm tính sau 60 – 90 ngày