HỒ CHÍ MINH PHAN VĂN TẾ NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY HỒNG LỘC Syzygium oleinum Wight BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM CÀNH VỚI CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG 2,4D Axit-2,4- dicloro-
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
PHAN VĂN TẾ
NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY HỒNG LỘC (Syzygium
oleinum Wight ) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM CÀNH
VỚI CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG 2,4D (Axit-2,4-
dicloro-phenoxiaxetic) TẠI VƯỜN ƯƠM BỘ MÔN CẢNH
QUAN & KỸ THUẬT HOA VIÊN_ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP
HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGHÀNH CẢNH QUAN & KỸ THUẬT HOA VIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 5/2008
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
PHAN VĂN TẾ
NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH CÂY HỒNG LỘC (Syzygium
oleinum Wight ) BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIÂM HOM CÀNH
VỚI CHẤT KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG 2,4D (Axit-2,4-
dicloro-phenoxiaxetic) TẠI VƯỜN ƯƠM BỘ MÔN CẢNH
QUAN & KỸ THUẬT HOA VIÊN_ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP
HỒ CHÍ MINH
Ngành: Cảnh Quan & Kỹ Thuật Hoa viên
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS ĐINH QUANG DIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 5/2008
Trang 3MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING NONG LAM UNIVERSITY HO CHI MINH CITY
PHAN VAN TE
PROPAGATION Syzygyum oleinum Wight BY PROPAGILE WITH 2,4D(Acid-2,4-diclorophenoxiaxetic) IN NURSERY
NONG LAM UNIVERSITY HO CHI MINH CITY
DEPARTMENT OF LANDSCAPING AND ENVIRONMENTAL
HORTICULTURE
GRADUATION ESSAY
Advisor: DINH QUANG DIEP,PhD
Ho Chi Minh City May-2008
Trang 4Lời cảm ơn!
Để hoàn thành tốt tiểu luận tốt nghiệp này tôi xin chân thành cảm ơn!
Thầy Đinh Quang Diệp, cô Cao Thị Ngọc Cương, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện tiểu luận này
Đồng cảm ơn tới tất cả các thầy cô, bạn bè đã có sự đóng góp chân thành về chuyên môn cũng như sự động viên, cổ vũ tinh thần cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện tiểu luận này
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2008
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Nhân giống vô tính cây Hồng Lộc(Syzygium oleinum
Wight) bằng phương pháp giâm hom cành với chất kích thích sinh trưởng 2,4D (Axit-2,4- dicloro phenoxiaxetic).” được tiến hành tại vườn ươm Bộ Môn Cảnh
Quan & Kỹ Thuật Hoa Viên_ Đại Học Nông Lâm TP.HCM, thời gian từ tháng 3 đến tháng 5/2008
Kết quả thu được: Tỷ lệ ra rễ của hom giâm sau 8 tuần tuổi giữa các nghiệm thức xử lý chất kích thích 2.4D
Trang 6SUMMARY
Essay “propagation syzygyum oleinum wight by propagile with
2,4d(acid-2,4-diclorophenoxiaxetic)”thesis has been carried out from in nursey of landscaping
and environmental horticuture department – Nong Lam University Ho Chi Minh City, time from march to may, 2008
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Tóm tắt ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh sách các hình viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các biểu đồ x
Chương 1 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích đề tài 2
1.3 Giới hạn đề tài 2
Chương 2 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 3
2.2 Giới thiệu sơ nét về tình hình nghiên cứu và sản xuất cây con bằng phương pháp giâm hom .4
Trang 82.3 Giới thiệu khái quát về cây Hồng Lộc .5
2.4 Cơ sở sinh lý của quá trình tạo rễ của hom giâm 5
2.4.1 Sinh lý của sự ra rễ 5
2.4.2 Cơ sở của việc sử dụng chất kích thích sinh trưởng .6
2.4.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả giâm hom 7
2.5 Sơ lược về kỹ thuật giâm hom .7
2.5.1 Tiêu chuẩn chọn cây mẹ 8
2.5.2 Tiêu chuẩn chọn lựa hom giâm 8
2.5.3 Cắt và xử lý hom .8
2.5.4 Kỹ thuật cắm và chăm sóc hom .9
Chương 3 11
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11
3.2 Điều kiện nghiên cứu .11
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 11
3.2.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 11
3.3 Nội dung nghiên cứu. 12
3.4 Phương pháp nghiên cứu 12
3.4.1 Chọn lựa hom giâm 12
3.4.2 Cắt hom giâm .12
3.4.3 Chuẩn bị giá thể .13
3.4.4 Hệ thống che bóng và tưới phun .13
3.4.5 Chuẩn bị dung dịch kích thích ra rễ .13
Trang 93.4.6 Quy trình giâm hom .13
3.4.7 Kỹ thuật chăm soc hom sau khi giâm .14
3.4.8 Bố trí thí nghiệm .14
3.5 Phương pháp đo đếm và xử lý các chỉ tiêu 15
3.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu .16
Chương 4 17
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Xác định tỷ lệ hom sống sau 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 tuần tuổi 17
4.2 Đánh giá ảnh hưởng của kích thích tố 2,4D ở các nồng độ 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm, 1000 ppm đến tỷ lệ ra chồi của hom giâm sau 8 tuần tuổi .24
4.3 Đánh giá ảnh hưởng của kích thích tố 2,4D ở các nồng độ 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm, 1000 ppm đến số lượng chồi / hom sau 8 tuần tuổi .25
4.4 Đánh giá ảnh hưởng của kích thích tố 2,4D ở các nồng độ 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm, 1000 ppm đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm sau 8 tuần tuổi .26
4.5 Đánh giá ảnh hưởng của kích thích tố 2,4D ở các nồng độ 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm, 1000 ppm đến số lượng rễ / hom sau 8 tuần tuổi 28
Chương 5 30
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30
5.1 Kết luận. 30
5.1.1 Kết quả các chỉ tiêu đánh giá trên hom cành cây Hồng Lộc 30
5.1.2 Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm: 30
Trang 105.2 Kiến nghị 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC 33
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang Hình 1: Cây Hồng Lộc 5
Hình 2: Hom trước khi giâm .36
Hình 3 Kết quả ra rễ ở hom giâm được xử lý thuốc kích thích sinh trưởng 2,4D ở
nồng độ 1000 ppm sa 8 tuần tuổi 36
Hình 4 Kết quả ra rễ ở hom giâm được xử lý thuốc kích thích sinh trưởng 2,4D ở
nồng độ 250 ppm sau 8 tuần tuổi .37
Hình 5: Kết quả ra rễ ở lô ĐC sau 8 tuần tuổi 37
Hình 6: Kết quả ra rễ ở hom giâm được xử lý thuốc kích thích sinh trưởng 2,4D ở
nồng độ 500 ppm ppm sau 8 tuần tuổi .38
Hình 6: Kết quả ra rễ ở hom giâm được xử lý thuốc kích thích sinh trưởng 2,4D ở
nồng độ 500 ppm ppm sau 8 tuần tuổi .38
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tỷ lệ hom giâm còn sống sau 2 tuần tuổi 17
Bảng 4.2 : Tỷ lệ hom giâm còn sống sau 3 tuần tuổi 18
Bảng 4.3 Tỷ lệ hom giâm còn sống sau 4 tuần tuổi 19
Bảng 4.4 Tỷ lệ hom giâm còn sống sau 5 tuần tuổi 20
Bảng 4.5 Tỷ lệ hom giâm còn sống sau 6 tuần tuổi 21
Bảng 4.6 Tỷ lệ hom giâm còn sống sau 7 tuần tuổi 22
Bảng 4.7 Tỷ lệ hom giâm còn sống sau 8 tuần tuổi 23
Bảng 4.8 Bảng phân tích ANOVA tỷ lệ hom giâm còn sống sau 8 tuần tuổi 24
Bảng 4.9 Tỷ lệ ra chồi của hom giâm sau 8 tuần tuổi 24
Bảng 4.10 : Số lượng chồi / hom sau 8 tuần tuổi 25
Bảng 4.11 Tỷ lệ ra rễ của hom giâm sau 8 tuần tuổi 26
Bảng 4.12 Bảng phân tích ANOVA tỷ lệ ra rễ của hom giâm sau 8 tuần tuổi 27
Bảng 4.13 Số lượng rễ / hom sau 8 tuần tuổi 28
Bảng 5.1 Trắc nghiệm so sánh theo LSD và Duncan với cùng mức ý nghĩa là 5% cho tỷ lệ hom sống sau 8 tuần tuổi 33
Bảng 5.2 Trắc nghiệm so sánh theo LSD và Duncan với cùng mức ý nghĩa là 5% cho tỷ lệ ra rễ sau 8 tuần tuổi .34
Trang 13IBA Thuốc kích thích sinh trưởng Indol butyric acid
NAA Acid Naphtyl acetic
IAA Acid Indole acetic
CRD Completely randomized design - Kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
R(%)TB Tỷ lề trung bình hom sống, hom ra rễ, hom ra chồi
Trang 14đã góp phần cải thiện môi trường, làm sạch không khí, ngăn bụi, cản tiếng ồn,…và
cả vấn đề tạo vẻ mỹ quan cho đô thị Do đó vấn đề lựa chọn cây trồng cho phù hợp với đô thị, các công viên, sân vườn, dải phân cách… là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn
Tại Việt Nam nói chung và TP HCM nói riêng đã có rất nhiều loại cây được
ưa chuộng và trồng phù hợp trong các khu đô thị như: dầu rái, phượng vĩ, lim xét, sao đen, cau, tre…trong đó có Hồng Lộc, là một loài cây trang trí, có màu lá đẹp, dáng đẹp, dễ cắt tỉa, sinh trưởng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai ở trong các khu đô thị Cây Hồng Lộc rất được ưa chuộng trong các khu đô thị,và được trồng nhiều ở các khu công nghiệp, công viên, các dải phân cách…
Hiện nay trên thị trường nguồn giống cho loài này còn khan hiếm, nhất là nguồn giống từ hạt Vì thế giải pháp cho vấn đề này là nguồn giống từ nhân giống
vô tính Được sự hướng dẫn của thầy Đinh Quang Diệp, tôi thực hiện đề tài:“Nhân
giống vô tính cây Hồng Lộc(Syzygium oleinum Wight) bằng phương pháp giâm hom cành với chất kích thích sinh trưởng 2,4D (Axit-2,4- dicloro phenoxiaxetic) tại
vườn ươm Bộ Môn Cảnh Quan & Kỹ Thuật Hoa Viên_ Đại Học Nông Lâm TP.HCM.”
1.2 Mục tiêu của tiểu luận
Trang 15Xác định nồng độ 2,4D thích hợp cho nhân giống hoàn cảnh cây Hồng Lộc ở giai đoạn vườn ươm
1.3 Giới hạn của chuyên đề
Do hạn chế về thời gian (3 tháng) và đây chỉ là một tiểu luận nên phạm vi nghiên cứu không rộng, chỉ nghiên cứu theo dõi những mục tiêu như ở phần
phương pháp nghiên cứu, không mở rộng thêm các phần khác
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực thí nghiệm
TP Hồ Chí Minh là một trong những khu vực thuộc vùng Đông Nam Bộ có chế độ nhiệt rất cao, ít bị thay đổi trong năm, nhiệt độ trung bình từ 26-28 oC, chênh lệch tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất 4-6oC Riêng trong 4 tháng đầu năm 2008 nhiệt
độ trung bình là 28,3oC
Lượng mưa : có sự phân hóa sâu sắc về mùa theo chế độ ẩm Ở đây một năm có hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11
Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Lượng mưa bình quân năm : 1949 mm
Ẩm độ không khí bình quân năm : 79,5% Riêng trong 4 tháng đầu năm 2008
ẩm độ trung bình là 69%
Số giờ nắng bình quân trong 4 tháng đầu năm 2008 là 187,5 giờ
Chế độ gió : trong khu vực chịu ảnh hưởng hướng gió Tây Bắc – Đông Nam
Thủy văn : trong khu vực vườn ươm có Hồ Đất 1 với nguồn nước dồi dào quanh năm, tương đối sạch, đây là nguồn nước rất thuận lợi cho việc tưới tiêu trong vườn ươm
Trang 172.2 Giới thiệu sơ nét về tình hình nghiên cứu và sản xuất cây con bằng phương pháp giâm hom
Giống cây trồng là một trong những khâu quan trọng nhất trong chương trình trồng rừng kể cả rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, và các chương trình mảng xanh mỹ quan đường phố
Hiện nay trong công tác trồng cây, nhất là khâu cải thiện giống cây rừng của Việt Nam đang rất được chú ý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và điều kiện thích nghi của cây trồng đối với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng Việt Nam Bên cạnh việc nhân giống cây con từ hạt (gọi là cây sinh thực), còn có việc nhân giống cây con từ hom (gọi là cây phân sinh), nó có ưu điểm giữ được các đặc tính di truyền tốt của cây mẹ, cây sinh trưởng nhanh, sớm ra hoa kết quả, vì thế phương pháp nhân giống bằng hom đã từ lâu được áp dụng rộng rãi trong cây trồng nông nhiệp cũng như lâm nghiệp: như cây trồng ăn quả, cây trồng lấy hoa, cây cảnh, cây xanh đường phố, cây gỗ mọc nhanh, cây gỗ đặc hữu
Tuy nhiên, phương pháp này cũng tồn tại những nhược điểm đó là sự suy giảm sức sống của cây con một số vòng nhân giống, khả năng thích ứng với hoàn cảnh thay đổi kém hơn từ hạt
Giâm hom là một trong nhưng phương pháp nhân giống sinh dưỡng Hom là một đoạn thân, cành, rễ hoặc một mẫu phiến lá, được sử dụng để tái tạo ra cây con hoàn chỉnh Đối với những cây mà hạt giống hiếm, cây khó ra hoa hết quả hoặc trồng bằng hạt khó hơn trồng bằng hom thì việc trồng cây bằng hom, nhất là cây rừng lại có ý nghĩa thực tiễn :
Kỹ thật nhân giống này đã rất được chú ý trên các loài cây gỗ mọc nhanh, các loài cây có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu đa dạng về các nguồn nguyên liệu
gỗ, phục vụ cho nền kinh tế quốc dân cũng như thích hợp cho các vùng sinh thái khác nhau : cây keo lá tràm(Acacia auriculiformis), cây bạch đàn
(Eucalyptus sp), cây tràm (Melaleuca cajeputii L.)
Trang 18 Một số loài cây gỗ quý, đặc hữu cũng đã được nghiên cứu nhân giống thành
công bằng con đường giâm hom như: cây lát hoa ( Chukraria tabularis), cây
cẩm lai bà rịa (Dallbergia bariaensis),
Một số loài cây lá kim cũng đã được khảo nghiệm nhân giống bằng phương
pháp giâm hom như: cây thông đỏ (Taxus wallichiana), cây pơmu (Fokienia
hodginsii), cây bách xanh (Calocedrus macrolepis),
2.3 Giới thiệu khái quát về cây Hồng Lộc
Tên Việt Nam : Hồng Lộc
Tên khoa học : Syzygium oleinum Wight
Họ thực vật : họ Sim – Myrtaceae
Bộ : Myrtales
Mô tả : Cây gỗ nhỏ Vỏ ngoài màu xám nâu, nứt dọc nhẹ, thịt trắng hồng Lá đơn nguyên mọc đối, lá hình mác, dài 5 – 10
cm, rộng 1 -3 cm Lá non có màu hồng
đỏ, lá già màu xanh đậm
Hình 1: Cây Hồng Lộc Cụm hoa mọc trên cành già, hoa tháng 4,
quả mọng, khi chín màu tím Cây phân cành nhiều, sinh trưởng mạnh, dễ cắt tỉa, tạo
dáng đẹp, thường trồng ở các dải phân cách, trong công viên
Loài mới được nhập về Việt Nam trong vài năm gần đây Được trồng nhiều ở khu
vực TP HCM và các tỉnh miền nam
2.4 Cơ sở sinh lý của quá trình tạo rễ của hom giâm
2.4.1 Sinh lý của sự ra rễ
Trang 19Đối với hầu hết các loài thực vật, vấn đề có ý nghĩa quyết định trong quá trình giâm hom là việc ra rễ Rễ giữ vai trò quan trọng trong quá trình hút nước, hút chất dinh dưỡng để nuôi cây sống
Trong giâm hom, sự hình thành rễ thường xuất hiện ở những mô sẹo Trước hết, người ta thấy phần gốc của hom giâm dày lên, xuất hiện các mô xốp, đó là dấu hiệu ban đầu cho sự hình thành rễ Rễ được hình thành bên cạnh và sát ngoài trung tâm của mô mạch và ăn sâu vào trong thân tới gần ống mạch sát bên ngoài tượng tầng
Thời gian hình thành rễ ở các loài cây và trên tưng cây là khác nhau, trong khoảng vài ngày đối với những loài dễ ra rễ, tới vài tháng đối với loài khó ra rễ Những tác động kỹ thuật như cắt hom không đúng kỹ thuật, xử lý hom với liều lượng thuốc quá nồng độ, thời gian, có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng ra rễ của hom giâm và dẫn đến chết hom
2.4.2 Cơ sở của việc sử dụng chất kích thích sinh trưởng
Theo tính chất của tế bào thì mỗi tế bào có tính độc lập về sinh lý rất cao, chúng có thể tái tạo lại các cơ quan không đầy đủ và hình thành nên các cá thể mới Đây là đặc tính tự nhiên của thực vật, tuy nhiên việc sử dụng chất kích thích đối với
sự sinh trưởng và phát triển của thực vật không thể nói là không cần thiết Vì quá trình sinh trưởng của thực vật phụ thuộc vào các chất kích thích sinh trưởng và ức chế sinh trưởng trong cây, nồng độ của các chất này do yêu cầu sinh lý của cây cần thiết trong từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của thực vật
Các chất kích thích thực vật đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành
mô sẹo và sự khác biệt giữa rễ và các mô mạch mới sinh Chúng là các hóa chất tự nhiên hiện diện với nồng độ thấp trong thực vật Bên cạnh các kích thích tố tự nhiên
có sẵn trong thực vật, có nhiều hợp chất tổng hợp hay tự nhiên có tác dụng tương
tự Các chất này cùng với kích thích tố thực vật, thường gọi chung là các chất điều chỉnh sinh trưởng của thực vật Có 5 nhóm chất kích và điều chỉnh được phân biệt
Trang 20trên ảnh hưởng ưu thế của chúng Đó là auxin, gibberelins, cytokinins, acid abscisic
và chất khí điều chỉnh sinh trưởng ethylene
Sự tái sinh rễ bất định ở cành giâm là một quá trình sinh lý phức tạp liên quan chặt chẽ với điều kiện nội tại và điêu kiện ngoại cảnh mà trong đó tác dụng kích thích của auxin là rất quan trọng Vì hàm lượng auxin nội sinh trong cành giâm không đủ cho sự hình thành rễ nhanh chóng, nên con người phải xử lý auxin ngoại sinh cho cành giâm để tiếp xúc sự xuất hiện rễ
Hiện nay, có hai phương pháp chính để xử lý auxin cho cành giâm
Phương pháp xử lý nồng độ đặc hay phương pháp xử lý nhanh Nồng độ auxin dao động từ 1.000 – 10.000 ppm Với cành giâm thì nhúng phần gốc vào dung dịch trong 3 – 5 giây, rồi cắm vào giá thể Phương pháp này có ưu điểm là hiệu quả cao vì gây nên “ cái sốc sinh lý” cần cho giai đoạn đầu của
sự xuất hiện rễ Ngoài ra, phương pháp này không đòi hỏi các thiết bị để ngâm cành giâm và hóa chất tiêu tốn ít hơn
Phương pháp nồng độ loãng – xử lý chậm Nồng độ auxin sử dụng từ 20 –
200 ppm tùy thuộc vào loài và mức độ khó ra rễ của cành giâm Đối với cành giâm, ngâm phần gốc vào dung dịch auxin 10 – 24 giờ, sau đó cắm vào giá thể Các chất auxin đươc sử dụng là : IBA, α – NAA và 2,4D (IBA > NAA > 2,4D)
2.4.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới kết quả giâm hom
Các điều kiện ngoại cảnh : Ánh sáng, nhiệt độ, giá thể
Hiệu quả của hai phương pháp xử lý
Đặc điểm cành giâm, tuổi cành, vị trí cành giâm, số lá để lại, cây mẹ
2.5 Sơ lược về kỹ thuật giâm hom
Để nâng cao tỷ lệ sống, trong kỹ thuật giâm hom ta cần tạo điều kiện cho hom ra rễ một cách thuận lợi nhất Thường đối với các loại hom (hom thân, hom cành ) việc đâm chồi , ra lá sớm hơn việc ra rễ nên dễ xảy ra hiện tượng mất cân bằng nước trong cây, bộ phận trên mặt đất thoát nước liên tục
Trang 21trong khi hệ rễ chưa kịp phát triển, việc hút nước chắc chắn sẽ gặp khó khăn, hom dễ bị khô héo và chết Do đó, việc đảm bảo các thao tác kỹ thuật trong giâm hom là điều rất quan trọng
2.5.1 Tiêu chuẩn chọn cây mẹ
Cây giống lấy hom được tuyển chon trên các cá thể trội để giữ được chất di truyền tốt nhất của cây mẹ Vì vậy cây mẹ phải đang trong giai đoạn sinh trưởng và phát triển tốt, không bị sâu bệnh Tuổi cây mẹ cũng là nhân tố quan trọng, cây mẹ càng trẻ cho tỷ lệ ra rễ càng cao
2.5.2 Tiêu chuẩn chọn lựa hom giâm
Hom được cắt từ cây mẹ là những cành bánh tẻ, chọn cành mập, không cong queo, lá không sâu bệnh, cành có nhiều mắt Hom càng mập thì dinh dưỡng dự trữ trong cây càng nhiều và đây là nguồn cung cấp năng lượng cho hom cây trong giai đoạn đầu, giúp hom cây ra rễ, ra lá tốt, đạt tỷ lệ sống cao
2.5.3 Cắt và xử lý hom
Chọn lựa hom cũng như cách cắt và xử lý hom là vấn đề cần được quan tâm
Không nên cắt hom vào thời kỳ cây đang sinh trưởng mạnh, nên cắt vào thời
kỳ hoạt động sinh lý trong cây giảm xuống thấp nhất, lúc các đỉnh sinh trưởng ở cành tạm dừng hoạt động và cây chưa trổ hoa
Khi cắt hom cành, mỗi hom để lại ít nhất là 3 mắt lá, sau đó cho tất cả vào nước sạch để tránh tình trạng mất nước của hom
Hom sau khi thu hái cần được xử lý ngay trong ngày Chiều dài hom từ 10 – 15cm, cắt bỏ 1- 2 cm phần ngọn hom để tránh tình trạng nuôi chồi Trên hom nên để một vài lá để quang hợp, lá chừa lại 1/2 - 1/3 diện tích tùy vào từng loại cây và kích thước lá
Khi cắt hom cành, vết cắt tạo thành một góc 45o tăng khả năng tiếp xúc với giá thể giúp hom hút nước tốt hơn
Trang 22 Khi cắt hom cành, nên sử dụng các dụng cụ sắc bén, vô trùng như : dao, kéo cắt cành, tránh làm vết cắt bị dập nát
Xử lý hom bằng cách nhúng phần gốc hom vào thuốc kích thích ra rễ với thời gian và nồng độ tùy thí nghiệm
Thời gian cắt hom được tiến hành vào sáng sớm hoặc chiều tối khi thời tiết mát mẻ nhằm hạn chế hiện tượng thoát hơi nước của hom, ảnh hưởng tới khả năng ra rễ sau này
Hom sau khi cắt, tùy vào đặc điểm của từng loài mà ta tiến hành giâm ngay hay để sau một thời gian cho ráo mủ mới tiến hành đem giâm Đối với các loài thân gỗ tốt nhất là nên xử lý và giâm liền, nếu không giâm liền thì phải cho hom vào nước sạch đẻ giữ cho ống mao quản ở đầu vết cắt của hom không bị teo lại và mức độ chuyển nước trong hom được đảm bảo liên tục
2.5.4 Kỹ thuật cắm và chăm sóc hom
Hom sau khi xử lý thuốc kích thích ra rễ, lần lượt cắm vào bầu giá đã xử lý theo từng nghiệm thức Dùng 1 que nhỏ tạo một lỗ sâu 3-4 cm giữa bầu, sau
đó cắm hom với phần gốc 2-3 cm sau đó ép chặt giá thể quanh hom giúp cho hom đứng vững
Cắm cành giâm vào giá thể, giá thể phải ẩm, thoáng, tốt nhất là cát sạch
Nhà giâm cành phải che ánh sáng trực xạ, chỉ sử dụng ánh sáng tán xạ
Phun ẩm thường xuyên bằng hệ thống phun sương hoặc bằng bình phun thuốc trừ sâu Trong thời gian đầu phải đảm bảo thường xuyên không bị héo,
lá luôn ướt, nhưng phải theo nguyên tắc là tưới nhiều lần trong ngày sao cho vừa đủ ấm, không để ngập úng Thời gian tưới kéo dài cho đến khi có bộ rể hoàn toàn, kết hợp với phun thuốc phòng chống sâu bệnh và che mưa nắng cho hom
Khi xuất hiện rễ thì giảm phun nước và có thể cho vào bầu đất nilông Giá thể tốt nhất là ½ phân chuồng mục và ½ đất màu Khi thấy rễ đâm ra sát túi nilông thì có thể trồng ra vườn ươm hoặc trực tiếp ra vườn Để cây có thể thích ứng với môi trường ngoại cảnh ta giảm dần độ che bóng và giảm dần lượng nước tưới một thời gian trước khi chuyển cây
Trang 23Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu :
Tiểu luận này được thực hiện trong 3 tháng từ tháng 3 đến tháng 5/2008
Từ 10/03/2008-20/03/2008 làm giàn che, hệ thống tưới, làm giá thể trồng
Từ tháng 21/03/2008-30/04/2008 bố trí thí nghiệm và theo dõi kết quả
Từ 1/05/2008-30/05/2008 tổng hợp số liệu và viết báo cáo
Địa điểm nghiên cứu :
Vườn ươm Bộ môn Cảnh Quan và Kỹ Thuật Hoa Viên - ĐH Nông Lâm TP.HCM
3.2 Điều kiện nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn giống cây Hồng Lộc dùng để lấy hom cành đươc mua từ vựa cây Tấn Đạt (499 Khai Vạn Cân, khu phố 5, phường Linh Đông, quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh) Nguồn cây mẹ ở đây là những cây có độ tuổi từ 2 – 3 năm
3.2.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
Vật liệu gồm:
Giá thể : hỗn hợp cát, xơ dừa, tro trấu( 40% xơ dừa+ 40% tro trấu+ 20% cát)
Bịch nilông đen thể tích 350 ml
Trang 24 Dụng cụ nghiên cứu: kéo cắt cành, thau chậu, bình pha dung dịch
3.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu tiểu luận tiến hành một số nội dung nghiên cứu sau:
Đánh giá ảnh hưởng của kích thích tố 2,4D ở các nồng độ 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm, 1000 ppm tới tỷ lệ hom sống theo thời gian 2,3,4,5,6,7,8 tuần tuổi
Đánh giá ảnh hưởng của kích thích tố 2,4D ở các nồng độ 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm, 1000 ppm tới khả năng ra rễ của hom giâm, đồng thời xác định tỷ lệ ra rễ, số rễ trên hom giâm sau 8 tuần tuổi
Đánh giá ảnh hưởng của kích thích tố 2,4D ở các nồng độ 250 ppm, 500 ppm, 750 ppm, 1000 ppm tới khả năng ra chồi của hom giâm, đồng thời xác định tỷ lệ ra chồi, số chồi trên hom giâm sau 8 tuần tuổi
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Chọn lựa hom giâm
Giá thể : hỗn hợp cát, xơ dừa, tro trấu( 40% xơ dừa+ 40% tro trấu+ 20% cát)
Cát, xơ dừa, tro trấu được sử dụng là những thành phần tương đối sạch, không có mầm cỏ, mầm bệnh
Trang 25 Cát có ưu điểm : khả năng thoát nước tốt, độ thông thoáng cao
Tro trấu, xơ dừa có ưu điểm : độ thông thoáng cao, thấm nước tốt, khả năng giữ nước được lâu và cung cấp một số chất dinh dưỡng cho hom giâm như kali, lân
Xơ dừa được xử lý độ chua bằng cách ủ chung với tro trấu, vôi sau thời gian một tuần
Giá thể được trộn đều sau đó cho vào bịch nilông đã được đục lỗ dưới đáy và xung quanh Các bịch giá thể được xếp thành các lô thí nghiệm sao cho phù hợp với việc bố trí thí nghiệm
3.4.4 Hệ thống che bóng và tưới phun
Hệ thống che bóng và tưới phun được chuẩn bị tương đối từ trước đảm bảo cho việc giâm hom
250ml 2,4D 1000 ppm + 750 ml nước sạch dd 1000ml 2,4D 250 ppm
500ml 2,4D 1000 ppm + 500 ml nước sạch dd 1000ml 2,4D 500 ppm
750ml 2,4D 1000 ppm + 250 ml nước sạch dd 1000ml 2,4D 750 ppm
3.4.6 Quy trình giâm hom
Sau khi hom giâm và dung dịch kích thích ra rễ đã chuẩn bị xong, nhúng phần gốc vào dung dịch thuốc kích thích ra rễ trong thời gian 1 phút rồi đem cắm vào giá thể, giá thể ban đầu ẩm, thoáng