1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC VƯỜN CÂY CẢNH ĐẶC TRƯNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

78 295 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH **************** PHẠM THỊ KIM DUYÊN KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC VƯỜN CÂY CẢNH ĐẶC TRƯNG PHỤC VỤ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

****************

PHẠM THỊ KIM DUYÊN

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC VƯỜN CÂY CẢNH ĐẶC TRƯNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGÀNH CẢNH QUAN VÀ KỸ THUẬT HOA VIÊN

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 7/2008

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH

****************

PHẠM THỊ KIM DUYÊN

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG

KHAI THÁC CÁC VƯỜN CÂY CẢNH ĐẶC TRƯNG

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Cảnh Quan và Kỹ Thuật Hoa Viên

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Con xin cảm ơn Ba Mẹ đã nuôi dạy con khôn lớn đến ngày hôm nay

Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên

trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, chân thành cảm ơn:

TS Ngô An, TS Trần Viết Mỹ đã hướng dẫn tận tình chu đáo

Quý thầy cô bộ môn Cảnh quan và kỹ thuật hoa viên đã truyền đạt trong quá trình

học tập

Chú Nguyễn Thành, Trung Tâm Khuyến Nông TP Hồ Chí Minh đã tận tình giúp

đỡ trong quá trình khảo sát hiện trạng

Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm khuyến nông, Hội làm vườn

và Trang trại các quận vùng ven và ngoại thành thành phố tạo điều kiện thuận lợi

trong quá trình khảo sát làm đề tài

Và tất cả bạn bè đã động viên, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Tp Hồ Chí Minh, ngày

20/6/2008 Phạm Thị Kim Duyên

Trang 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu “Khảo sát đánh giá hiện trạng và khả năng khai thác phát triển các vườn cây cảnh đặc trưng phục vụ du lịch sinh thái tại thành phố Hồ Chí Minh”

được tiến hành tại Thành Phố Hồ Chí Minh, thời gian từ tháng 2/2008 – 6/2008

Kết quả thu được:

1 Đã khái quát được điều kiện, kinh tế - xã hội cũng như hiện trạng các vườn cây cảnh đặc trưng các quận vùng ven và ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

2 Đã phân tích đánh giá được tiềm năng để phục vụ phát triển du lịch sinh thái

3 Đã phân loại được vườn có khả năng phát triển thành điểm phụ vục du lịch sinh thái

4 Trình bày giải pháp phát triển các vườn cây cảnh đặc trưng thành các điểm phục vụ cho du lịch sinh thái

Trang 5

SUMMARY

The study “Investigation and evaluation of specialized gardens to serve the

ecotourism development in Ho Chi Minh city” have been doing from February to

june, 2008 in Ho Chi Minh city

3 Classified specialized gardens which can develop into ecotourism

4 Suggested the solutions to change specialized gardens into ecotourism places

Trang 6

MỤC LỤC TRANG

2 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHÊN CỨU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.3 Địa chất 4 2.1.4 Khí hậu 6 2.1.5 Nguồn nước và thuỷ văn 8

2.1.6 Thảm thực vật 8

2.2 Đặc điểm kinh tế _xã hội 10

2.2.1 Dân số và sự phân bố 10

2.2.2 Đặc điểm kinh tế 10

2.3 Khái niệm và các nguồn tài nguyên du lịch sinh thái 10

2.3.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch sinh thái 12

2.3.2.2 Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái 14

2.3.2.3 Các loại tài nguyên cơ bản 16

Trang 7

2.5 Tình hình du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh 18

3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.2 Nội dung nghiên cứu 21

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

4.1 Hiện trạng hệ thống vườn kiểng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 23

4.2 Đặc điểm mảng xanh của một số vườn cây cảnh đặc trưng ở quận ven

4.4 Khả năng sử dụng và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh phát triển 39

các vườn cây cảnh đặc trưng phục vụ DLST ở tp HCM

4.4.1.Khả năng sử dụng mảng xanh trong vườn cảnh trong việc phục vụ 39

du lịch sinh thái

4.4.2.Một số định hướng và giải pháp phát triển các vườn cây cảnh đặc trưng

nhằm phục vụ du lịch sinh thái tại thành phố Hồ Chí Minh 46

4.4.2.1 Tăng chất lượng mảng xanh và cải tạo, nâng cấp hạ tầng cơ sở

các khu vườn 46 4.4.2.2 Liên kết giữa các các vườn nhau tạo “Cụm Vườn Du Lịch Sinh Thái“ 49

4.4.2.3 Liên kết với một số điểm du lịch ở tạo tour du lịch tham quan 50

vườn sinh thái

4.4.2.4 Thông tin,tuyên truyền, quảng bá trên phương tiện công chúng 51

Trang 8

4.4.2.5 Một số chính sách hỗ trợ việc phát triển “Vườn du lịch Sinh Thái Đẹp” 51

5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52

5.2 Kiến nghị 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

PHỤ LỤC 55

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí các điểm du lịch ở TP.Hồ Chí Minh 20

Hình 4.3 Khu vực cây quất 29

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG BẢNG TRANG

Bảng 4.2 Danh sách các vườn kiểng đặc trưng được xếp hạng 41

theo khả năng tiếp cận của khách du lịch

và xây dựng cơ sở hạ tầng dối với mỗi vườn

Trang 11

Chương 1

MỞ ĐẦU

Trong cuộc sống hiện nay, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một xu thế tất yếu, nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao Sự phát triển kinh tế kéo theo sự gia tăng số lượng phương tiện giao thông, phương tiện sản xuất Các nhà máy hoá chất, các xí nghiệp, khu chế xuất, các loại rác thải…làm môi trường sống ngày càng ô nhiễm, làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của cộng đồng Trước những nguy hại đó, chúng ta càng nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của mảng xanh và sinh thái cảnh quan đối với con người

Đặc biệt thành phố Hồ Chí Minh đang trên đà đô thị hoá mạnh, đời sống văn hoá – xã hội có nhiều biến chuyển rõ rệt Là trung tâm công nghệp văn hóa, khoa học kỹ thuật; đồng thời là trung tâm lớn về thương mại, giao dịch quốc tế, và du lịch ở vùng Đông Nam Á Mặc dù không có lợi thế bờ biển đẹp hay có di sản văn hoá thiên nhiên thế giới như ở khu vực miền trung, thành phố Hồ Chí Minh đã biết phát huy tối đa về cơ sở hạ tầng và dịch vụ du lịch

Nhờ vị trí thuận lợi, thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút dân cư cả nước Điều này đã là cho thành phố luôn quá tải về dân số và phương tiện giao thông Bên cạnh

đó, hàng ngàn cơ sở sản xuất công nghiệp, nhà máy…phân bố xen kẽ trong khu dân

cư Kết quả các hoạt động này và lượng người quá lớn đã gây ra những tác động sâu sắc ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đô thị Trước cuộc sống tất bật, hối hả, môi trường ô nhiễm như nêu trên, thì nhu cầu tìm về cảnh thiên nhiên, với không khí trong lành tránh xa khói bụi nơi thành thị ngày càng cao

Nhận thức được tầm quan trọng của mảng xanh, con người đã cải tạo và phát triển mảng xanh thành các khu vườn cây cảnh nhằm phục vụ vào du lịch giải trí của con người Thành phố Hồ Chí Minh thì các vườn cây cảnh cũng không phải là

Trang 12

hiếm, và buổi đầu các mô hình liên kết các vườn cây cảnh đặc trưng phục vụ du lịch sinh thái ở tại thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành Vì thế, đó là lý do tôi chọn đề tài : “khảo sát, đánh giá hiện trạng và khả năng khai thác các vườn cây cảnh đặc trưng phục vụ phát triển du lịch sinh thái tại thành phố Hồ Chí Minh”

Trang 13

Chương 2 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHÊN CỨU VÀ VẤN

Chiều dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam là 102 km, từ Đông sang Tây là 75

km Trung tâm thành phố cách biển 50 km đường chim bay

Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang

2.1.2.Địa hình

Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ

và đồng bằng sông Cửu Long Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây

Có thể chia địa hình thành phố ra làm 3 dạng chính:

+ Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc, (bắc huyện Củ Chi, Đông Bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32 m, như đồi Long Bình (quận 9)

+ Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam (thuộc các quận 9, 8, 7

và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1 m, cao nhất 2 m, thấp nhất 0,5 m

Trang 14

+ Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm, gồm phần lớn các quận nội thành cũ, một phần quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn Vùng này có độ cao trung bình 5 - 10 m

Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá

đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt

Điểm chung của trầm tích này là, địa hình đồi gò hoặc lượn sóng, cao từ 20

-25 m và xuống tới 3 – 4 m, mặt nghiêng về hướng Ðông Nam Dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên như sinh vật, khí hậu, thời gian và hoạt động của con người, qua quá trình xói mòn và rữa trôi , trầm tích phù sa cổ đã phát triển thành nhóm đất mang những đặc trưng riêng Nhóm đất xám, với qui mô hơn 45.000 ha, chiếm 23,4% diện tích đất thành phố

Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc màu; đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng, và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu chiếm phần lớn diện tích Ðất xám nói chung có thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy nơi và tùy mùa biến động sâu

từ 1 – 2 m đến 15 m Ðất chua, độ pH khoảng 4,0 - 5,0 Ðất xám tuy nghèo dinh dưỡng, nhưng có tầng dày, nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp, có khả năng cho năng suất và hiệu qủa kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh, thâm canh tốt Nền đất xám, phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng cơ bản

+ Trầm tích Holoxen, trầm tích phù sa trẻ: có nguồn gốc ven biển, vũng vịnh,

Trang 15

phù sa, diện tích 15.100 ha (7,8%); nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2%); đất phèn mặn, 45.500 ha (23,6%) Ngoài ra, có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2%)

là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò Nhóm đất phù sa không hoặc bị nhiễm phèn, phân bố ở những nơi địa hình hơi cao khoảng 1,5 - 2,0 m, tập trung tại vùng giữa phía Nam huyện Bình Chánh, Ðông quận 7, Bắc huyện Nhà Bè và một ít ở huyện Củ Chi, Hóc Môn

Ðất phù sa nói chung có thành phần cơ giới từ sét trung bình tới sét nặng Ðất có phản ứng chua, pH 4,2 - 4,5 ở tầng đất mặt và xuống sâu 0,5 - 1,2 m độ chua giảm nhiều, pH lên tới 5,5 - 6,0 Hàm lượng mùn trung bình, các chất dinh dưỡng khá, là loại đất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển trồng lúa cao sản, chất lượng tốt

Nhóm đất phèn, có hai loại: phèn nhiều và phèn trung bình, phân bố chủ yếu

ở hai vùng Vùng đất phèn Tây Nam, kéo dài từ Tam Tân - Thái Mỹ huyện Củ Chi xuống khu vực Tây Nam huyện Bình Chánh gồm các xã Tân Tạo, Phạm Văn Hai,

Lê Minh Xuân Vùng này hầu hết thuộc loại đất phèn nhiều (phèn nặng); đất rất chua, pH 2,3 - 3,0 Nhóm này cùng điều kiện tạo thành và tính chất giống như đất phèn vùng Ðồng Tháp Mười Vùng đất phèn ven sông Sài Gòn - Rạch Tra và bưng Sáu xã (cũ) quận 9 Hầu hết thuộc loại đất phèn trung bình và ít, phản ứng của đất chua nhẹ ở tầng đất mặt, pH 4,5 - 5,0; song giảm mạnh ở tầng đất dưới, đất rất chua,

pH xuống tới 3,0 - 3,5

Ðất phèn có thành phần cơ giới từ sét đến sét nặng, đất chặt và bí Dưới độ sâu khoảng từ 1 m trở xuống, có nhiều xác hữu cơ nên đất xốp hơn Ðất khá giàu mùn, chất dinh dưỡng trung bình; song hàm lượng các ion độc tố cao, nên trên đất phèn không thích hợp với trồng lúa Tuy nhiên, tăng cường biện pháp thủy lợi tưới tiêu tự chảy để rửa phèn, có thể chuyển đất canh tác từ một vụ sang hai vụ lúa Ngoài ra, đất phèn rất phù hợp với các cây khóm, mía, điều và các cây lâm nghiệp như tràm, bạch đàn và một số loài keo Acacia

Nhóm đất phèn mặn: là nhóm có diện tích lớn nhất, phân bố ở huyện Nhà Bè

và gần như toàn bộ huyện Cần Giờ Tuỳ độ mặn và thời gian ngập mặn, nhóm đất

Trang 16

mặn được chia làm hai loại: đất phèn mặn theo mùa và đất phèn mặn thường xuyên (còn gọi là đất mặn dưới rừng ngập mặn)

Ðất phèn mặn theo mùa có diện tích 10.500 ha, phân bố ở huyện Nhà Bè và Bắc huyện Cần Giờ Thời gian bị mặn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6 hoặc tháng 7 năm sau Ðất thịt, giàu mùn, chứa nhiều xác hữu cơ dưới môi trường yếm khí, chất dinh dưỡng khá; phản ứng của đất từ chua đến rất chua, pH ở độ sâu xuống tới 2,4 - 2,7 Tuy nhiên, về mùa lũ, mặn bị đẩy ra xa và nước được pha loãng trong thời gian dài 4 - 5 tháng; đồng thời đất có lớp phủ phù sa dày tới 20 - 30 cm, nên vẫn cấy được một vụ lúa với năng suất khoảng 2,0 tấn/ha Ðể đạt hiệu quả kinh tế cao hơn, vùng này đã và đang chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phương thức canh tác các loài cây ăn quả, cây rừng, nuôi tôm… theo các mô hình nông lâm ngư kết hợp

Ðất mặn dưới rừng ngập mặn: diện tích 35.000 ha, chiếm phần lớn diện tích huyện Cần Giờ Ðất thịt trung bình, màu xám đen, nhiều mùn nhão lẫn xác hữu cơ bán phân giải, bị ngập triều thường ngày, nói chung đất còn ở dạng bùn lỏng chưa

cố định, giàu chất dinh dưỡng, pH tầng đất trên 5,8 - 6,5 Ðất ngập mặn, phù hợp với duy trì và phát triển các loại cây rừng ngập mặn, nhằm giữ bờ lấn biển, bảo vệ môi trường cảnh quan, phục vụ phát triển du lịch sinh thái và nuôi dưỡng hệ sinh thái giàu tiềm năng ở vùng ven biển phía nam của thành phố

+ Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm Số giờ nắng trung bình/tháng 160 - 270 giờ Nhiệt độ không khí trung bình 27oC Nhiệt độ cao

Trang 17

nhất là tháng 4 (28,8oC), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25,7oC) Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25-28oC Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị

+ Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.949 mm Năm cao nhất 2.718 mm (1908)

và năm thấp nhất 1.392 mm (1958) Số ngày mưa trung bình/năm là 159 ngày Khoảng 90% lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11; trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất Các tháng 1, 2,

3 mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc Ðại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam

+ Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/năm 79,5%; bình quân mùa mưa 80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô 74,5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20%

+ Về gió, Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và chủ yếu là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc Gió Tây -Tây Nam từ Ấn

Ðộ Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10, tốc độ trung bình 3,6 m/s và gió thổi mạnh nhất vào tháng 8, tốc độ trung bình 4,5 m/s Gió Bắc

- Ðông Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 đến tháng 2, tốc độ trung bình 2,4 m/s Ngoài ra có gió tín phong, hướng Nam - Ðông Nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng 5 tốc độ trung bình 3,7 m/s Về cơ bản thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão Năm 1997, do biến động bởi hiện tượng El

- Nino gây nên cơn bão số 5, chỉ một phần huyện Cần Giờ bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ

Trang 18

2.1.5 Nguồn nước và thủy văn

Hầu hết sông rạch Thành phố Hồ Chí Minh đều chịu ảnh hưởng các chế độ bán nhật triều biển Ðông Mỗi ngày, nước lên xuống hai lần, theo đó thủy triều thâm nhập sâu vào các kênh rạch trong thành phố, gây nên những tác động không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành Mực nước triều bình quân cao nhất là 1,10 m Tháng có mực nước cao nhất là tháng 10 - 11, thấp nhất là các tháng 6 - 7 Về mùa khô, lưu lượng của nguồn các sông nhỏ, độ mặn 4% có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu, có năm đến đến tận Thủ Dầu Một và trên sông Ðồng Nai đến Long Ðại Mùa mưa lưu lượng của nguồn lớn, nên mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị pha loãng đi nhiều

Từ khi có các công trình thủy điện Trị An và thủy lợi Dầu Tiếng ở thượng nguồn, chế độ chảy tự nhiên chuyển sang chế độ chảy điều tiết qua tuốt bin, đập tràn và cống đóng - xả, nên môi trường vùng hạ du từ Bắc Nhà Bè trở nên chịu ảnh hưởng của nguồn, nói chung đã được cải thiện theo chiều hướng ngọt hóa Dòng chảy vào mùa kiệt tăng lên, đặc biệt trong các tháng từ tháng 2 đến tháng 5 tăng 3 -

6 lần so với tự nhiên Vào mùa mưa, lượng nước được điều tiết giữ lại trên hồ, làm giảm thiểu khả năng úng lụt đối với những vùng trũng thấp; nhưng ngược lại, nước mặn lại xâm nhập vào sâu hơn Tuy nhiên, nhìn chung, đã mở rộng được diện tích cây trồng bằng việc tăng vụ mùa canh tác Ngoài ra, việc phát triển các hệ thống kênh mương, đã có tác dụng nâng cao mực nước ngầm trên tầng mặt lên 2 – 3 m, tăng thêm nguồn cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của thành phố

Trang 19

 Quần xã rừng ẩm nhiệt đới

Phân bố ở những nơi có địa hình cao, trên các loại đất phát triển từ trầm tích phù sa cổ Đây là kiểu rừng thường xanh, nhiều tầng tán hiện còn rãi rác ở miền Đông Nam bộ với các loài đặc trung như Dầu, Sao đen, Vên vên, Gõ Đỏ, Cẩm lai, Bằng lăng,

 Quần xã rừng úng phèn, nước lợ:

Gồm một số các hội đoàn chính:

*Hội đoàn Dừa nước phân bố ven kênh rạch, vùng cửa sông

*Hội đoàn Bần, Bình bát…phân bố trên các loại đất có nguồn gốc sông biển vừa nhiễm mặn vừa nhiễm phèn

*Hội đoàn Bàng, Lác …phân bố trên đất phèn nặng

*Rừng Tràm phân bố trên các đầm lầy chua phèn, tầng sinh phèn dày, ngập nước thường xuyên

Vùng bưng trũng phía Nam, Tây Nam và ven sông Sài Gòn, Đồng Nai có sông rạch chằng chịt, các loài thực vật thích nghi với môi trường chua phèn, nước lợ tồn tại khá phong phú Vùng ngập mặn Cần Giờ đã bị huỷ diệt trong chiến tranh nay đã phục hồi với hơn 30000 ha, trong đó cây Đước chiếm ưu thế Các thảm thực vật rừng nguyên sinh, hiện tại hầu như không còn; song, sự tìm hiểu nó sẽ giúp ích cho việc đánh giá tiềm năng điều kiện lập địa, xác định phương hướng phục hồi và xây dựng các thảm thực vật đạt hiệu quả mong muốn, nhất là về cảnh quan, môi trường sinh thái ở một Thành phố đông dân cư của vùng nhiệt đới

Trang 20

2.2.Đặc điểm kinh tế _xã hội

2.2.1.Dân số và sự phân bố

Năm 2007,dân số thành phố khoảng 8 triệu, dân cư phân bố không đều, thể hiện rõ nét qua mật độ dân số 3 vùng: vùng nội thành cũ (gồm 13 quận) là 25.500 người/km2, các quận mới là 4200 người/km2 và vùng nông thôn (các huyện) là trên

600 người/km2

2.2.2.Đặc điểm kinh tế

Kinh tế thành phố tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao Bốn ngành dịch vụ tăng trưởng mạnh là tài chính - ngân hàng, du lịch, bưu chính viễn thong, và vận tải - dịch vụ - cảng - kho bãi Điều đó cho thấy, sự chuyển dịch cơ cấu các ngành dịch vụ đang đi đúng hướng, nhất là trong năm đầu Việt Nam gia nhập WTO Giá trị sản xuất công nghiệp thành phố tăng 13,5%, nông nghiệp tăng hơn 6 %, tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng 23% Năm 2007, một số hoạt động trong lĩnh vực văn hóa -

xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, quản lý đô thị có tiến bộ hơn; thu chi ngân sách tăng cao, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng và trật

tự, an toàn xã hội

Ngành du lịch thành phố năm 2007 đạt tổng doanh thu trên 15.000 tỉ đồng (khoảng 1 tỉ USD), tăng 40% so cùng kỳ Lượng khách quốc tế đến thánh phố đạt 1,9 triệu lượt, tăng 13,7% Vận tải hàng hóa đạt 74,72 triệu tấn, tăng 35,9% (cùng

kỳ 2006 tăng 8,3%) Lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng trên địa bàn đạt 39,6 triệu tấn, tăng 22,3% (cùng kỳ 2006 tăng 5,4%) Tổng số thuê bao điện thoại trên địa bàn đạt 8,16 triệu máy, bình quân 132 máy/100 dân; trong đó, thuê bao cố định tăng 20% (đạt 1,57 triệu máy) và thuê bao di động tăng 88% (đạt 6,59 triệu máy)

2.3 Khái niệm và các nguồn tài nguyên du lịch sinh thái

2.3.1.Khái niệm về du lich sinh thái

Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau Đối

Trang 21

với một số nguời du lịch sinh thái được hiểu một cách đơn giản là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ “du lịch” và “sinh thái”

Theo Phạm Trung Lương , đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã xuất hiện từ đầu những năm 1800 (Ashton.1993) Với khái niệm này, mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như leo núi, tắm biển…đều gọi du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái còn được hiểu dưới những tên gọi khác nhau như:

- Du lịch thiên nhiên (Nature tourism)

- Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature-base tourism )

- Du lịch môi trường (Environmental tourism)

- Du lịch đặc thù (Particular tourism)

- Du lịch xanh (Green tourism)

- Du lịch thám hiểm (Adventure tourism )

- Du lịch bản xứ (Indigenous tourism )

- Du lịch trách nhiệm (Responsible tourism)

- Du lịch nhạy cảm (Sensitized tourism)

- Du lịch nhà tranh (Cottage tourism)

- Du lịch bền vững (Sustainable tourism )

Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái lần đầu tiên được Hector Ceballos-lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” Hiệp hội du lịch quốc tế (WTO) cũng đưa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là việc

đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”

Định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh nhất là định nghĩa của Honey (1999): “Du lịch sinh thái là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra tác hại và quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự

Trang 22

quản lý cho người dân đại phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa

và quyền tự do con người”

Ở Việt Nam, du lịch sinh thái mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế

kỷ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Do trình độ nhận thức khác nhau Khái niệm về du lịch sinh thái còn nhiều điểm chưa được thống nhất

Để có sự thống nhất về khái niệm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn phát triển du lịch sinh thái, Tổng cục du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN…có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về du lịch sinh thái và các lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về”Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái

ở Việt Nam” từ ngày 7 đến ngày 9 - 9 - 1999

Một trong những kết quả quan trọng của hội thảo là lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái ở Việt Nam, theo đó: “du lịch sinh thái là loại hình dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho

nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” Đây được coi là sự mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình phát triển cuả du lịch sinh thái ở Việt Nam

2.3.2.Tài nguyên du lịch sinh thái

2.3.2.1.Khái niệm tài nguyên du lịch sinh thái

Tài nguyên theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng

và thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng

để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình

Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố về con người và xã hội Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung và khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch

Trang 23

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch (Luật du lịch, 2005)

Là loại hình du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong các hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó

Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là tài nguyên du lịch sinh thái mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra sản phẩm du lịch sinh thái, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng, mới được xem là tài nguyên du lịch sinh thái

Tài nguyên du lịch sinh thái rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, chỉ có một

số loại tài nguyên du lịch sinh thái chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch sinh thái bao gồm:

- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm (các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các sân chim,…)

- Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, trang trại, làng hoa cảnh,…)

- Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của

hệ sinh thái tự nhiên như các phương pháp canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết … của cộng đồng

2.3.2.2.Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái

 Tài nguyên du lịch sinh thái phong phú đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc có sức hấp dẫn lớn

Bản thân tự nhiên rất đa dạng và phong phú nên tài nguyên du lịch sinh thái cũng có đặc điểm này Có nhiều hệ sinh thái đặc biệt, nơi sinh trưởng, tồn tại và

Trang 24

phát triển nhiều loài sinh vật đặc hữu quý hiếm, được xem là những tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc, có sức hấp dẫn lớn đến khách du lịch

Ví dụ: Hệ sinh thái đất ngập nước đồng bằng sông Cửu Long, nơi cư trú khoảng

198 loài chim, chiếm ¾ số loài chim ở Việt Nam, trong đó có khoảng 16 loài đang

bị đe dọa ở quy mô toàn cầu với 5 loài chim quý hiếm (Sếu đầu đỏ, Te vàng, Ngan cánh trắng….); Hệ sinh thái núi cao thuộc vườn quốc gia Bi Đúp - núi Bà nơi đang bảo tồn được các loài thông 2 lá dẹp và thông đỏ Đây là thực vật được xem là chỉ tồn tại dưới dạng hoá thạch, là một trong những tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc

ở Việt Nam

 Tài nguyên du lịch sinh thái rát nhạy cảm với tác động

Do gắn liền với một hệ sinh thái cụ thể, nên có sự thay đổi tính chất của một số hợp phần tự nhiên hoặc sự suy giảm hoặc mất đi của một số loài sinh vật cấu thành dưới tác động của con người, nguồn tài nguyên này sẽ bị ảnh hưởng ở những mức

độ khác nhau

Ví dụ: Các hệ sinh thái rạn san hô ven biển Việt Nam bị suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động khai thác, đánh bắt bằng thuốc nổ, làm hàng lưu niệm…

 Tài nguyên du lịch sinh thái có thời gian khai thác khác nhau

Có loại khai thác quanh năm, có loại có tính thời vụ Sự giới hạn chủ yếu do thời tiết, diễn biến của khí hậu, của mùa di cư, sinh sản của các loài vật, đặc biệt các loài đặc hữu quý hiếm

Du khách chỉ có có thể có thể đến thăm những vườn cây đặc sản như Nhãn lồng, Vải thiều, Xoài cát vào mùa hạ, Cam giấy, Cam đường… vào mùa đông

Du lịch lặn biển để tham quan nghiên cứu các rạn san hô có thể được tổ chức quanh năm ở khu vực phía Nam (Đà Nẵng trở vào), khu vực phía bắc, hoạt động này chỉ thuận lợi vào mùa hạ, khi khí hậu ấm áp Các hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới rất phong phú và làm vừa lòng du khách khi đến tham quan nghiên cứu vào mùa mưa hơn là vào mùa khô, mặc dù mưa sẽ gây khó tiếp cận và những phức tạp khác

Trang 25

Như vậy, để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái, các nhà quản

lý, tổ chức điều hành cần có những nghiên cứu cụ thể về tính mùa của các loại tài nguyên để làm căn cứ đưa ra các giải pháp thích hợp

 Tài nguyên du lịch sinh thái thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch

Do sự tác động, khai thác vì các lý do khác nhau, phần lớn các tài nguyên du lịch sinh thái hiện còn nằm xa các khu dân cư Điều này giải thích tại sao phần lớn tài nguyên du lịch sinh thái chỉ còn ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên,… nơi có sự quản lý tương đối chặt chẽ

Khác với nhiều tài nguyên khác, sau khi khai thác có thể vận chuyển đến nơi khác để chế biến nhằm tạo ra sản phẩm rồi lại đưa đến nơi tiêu thụ, tài nguyên du lịch sinh thái thường được khai thác tại chỗ để tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu cầu du khách

Trong một số trường hợp thực tế có thể tạo ra những vườn thực vật, các công viên với nhiều loài sinh vật đặc hữu trong môi trường nhân tạo để du khách tham quan Tuy nhiên các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm du lịch sinh thái đích thực, chúng được tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch đại chúng, đặc biệt các khu

đô thị lớn mà mọi người dân ít có điều kiện đến các khu tự nhiên

Do những đặc điểm trên, để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái, cần thiết phải có sự đầu tư hạ tầng cơ sở để có thể tiếp cận tốt với các khu vực tiềm năng

 Tài nguyên du lịch sinh thái có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài

Phần lớn tài nguyên du lịch sinh thái được xếp vào loại tài nguyên có khả năng tái tạo, sử dụng lâu dài Điều này dựa trên khả năng tự phục hồi, tái tạo của tự nhiên Tuy nhiên thực tế cho thấy có nhiều loại tài nguyên du lịch sinh thái đặc sắc như các loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm hoàn toàn có thể mất do những tai biến tự nhiên hoặc tác động của con người

Do đó, việc nắm được quy luật tự nhiên, lường trước những tác động do con người đối với tự nhiên nói chung và tài nguyên du lịch sinh thái nói riêng để có

Trang 26

những định hướng, giải pháp có thể khai thác hợp lý, có hiệu quả, không ngừng bảo

vệ, tôn tạo và pháp triển các nguồn tài nguyên vô giá này Đây cũng là nhu cầu sống còn của du lịch để đảm bảo phát triển bền vững trong đó có du lịch sinh thái

2.3.2.3 Các loại tài nguyên DLST cơ bản

Theo Phạm Trung Lương (2002), ở Việt Nam, do đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình và hình thái lãnh thổ trãi dài trên 15 vĩ tuyến với hơn 3200 km đường bờ biển, tài nguyên du lịch sinh thái rất phong phú và đa dạng mà tiêu biểu là một số loại sau:

 Các hệ sinh thái điển hình và đa dạng sinh học

- Hệ sinh thái rừng nhiệt đới

Hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới

Hệ sinh thái rừng râm gió mùa ẩm thường xanh trên núi đá vôi

Hệ sinh thái rừng savan

Hệ sinh thái rừng khô hạn

Hệ sinh thái núi cao

- Hệ sinh thái đất ngập nước

Hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển

Hệ sinh thái đầm lầy nội địa

Hệ sinh thái sông hồ

Hệ sinh thái đầm phá

- Hệ sinh thái san hô, cỏ biển

- Hệ sinh thái vùng cát ven biển

- Hệ sinh thái biển – đảo

- Hệ sinh thái nông nghiệp

Dựa trên sự phân bố địa lý, cấu trúc quần thể động thực vật, sự khác nhau về

tổ hợp loài và giới hạn phân bố các loài mang tính chỉ thị, lãnh thổ Việt Nam chia thành các đơn vị địa sinh học ( đơn vị sinh học) chính, bao gồm:

- Đơn vị sinh học Đông Bắc

Trang 27

- Đơn vị sinh học đồng bằng sông Hồng

- Đơn vị sinh học Bắc Trung bộ (Bắc Trường Sơn)

- Đơn vị sinh học Nam Trung bộ và Tây Nguyên

- Đơn vị sinh học Đông Nam bộ

- Đơn vị sinh học đồng bằng sông Cửu Long

Việc phân chia đơn vị sinh học là cơ sở quan trọng để xác định tổ chức không gian

du lịch sinh thái ở Việt Nam

2.3.2.4.Một số tài nguyên DLST đặc thù:

- Miệt vườn: Dạng đặc biệt của HST nông nghiệp Miệt vườn là các khu chuyên canh trồng cây ăn quả, trồng hoa, cây cảnh…rất hấp dẫn với du khách Tính cách sinh hoạt của cộng đồng người dân nơi đây pha trộn giữa tính cách người nông dân và người tiểu thương

Đặc điểm này đã hình thành nên những giá trị văn hoá bản địa riêng được gọi

là “văn minh miệt vườn” và cùng với cảnh quan vườn tạo thành một dạng tài nguyên DLST đặc sắc

- Sân chim: là một HST đặc biệt ở những vùng đất rộng từ vài ha đến hàng trăm ha, hệ thực vật tương đối phát triển, khí hậu thích hợp với điều sống hoặc di cư theo mùa của một số loài chim Thường đây cũng là nơi cư trú hoặc di cư của của nhiều loài chim đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuỵệt chủng, vì vậy các sân chim cũng thường được xem là một dạng tài nguyên DLST đặc thù có sức hấp dẫn đối với du khách

- Cảnh quan tự nhiên: Là sự kết hợp tổng thể thành phần tự nhiên, trong đó địa hình, lớp phủ thực vật và sông nước đóng vai trò quan trọng để tạo nên yếu tố thẫm

mỹ hấp dẫn du khách

2.4 Sơ lược vườn cây cảnh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Hiện nay diện tích xanh thành phố ngày càng bị thu hẹp, mảng xanh bị teo tóp,

ô nhiễm nặng, diện tích cây xanh bình quân đầu người thấp, mảng xanh trong nội thành chỉ tập trung vài nơi như công viên Để tăng cường diện tích xanh và cải thiện cảnh quan thành phố, cần tận dụng tất cả diện tích đất có thể phát triển mảng xanh

Trang 28

đô thị; trong đó, các quận vùng ven và ngoại thành thành phố có tiềm năng phát triển mảng xanh này Hệ thống vườn cây cảnh thành phố, bao gồm những vườn cây kiểng,vườn lan,vườn mai… phân bố chủ yếu ở các quận ven và ngoại thành như:

Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, quận 9, quận Thủ Đức, quận 12

Vườn cây cảnh có diện tích nhỏ so với tổng diện tích xanh toàn thành phố Tuy nhiên, những khu vườn có diện tích tương đối lớn có thể tham gia hoạt động dịch vụ nghỉ ngơi, du lịch, nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí của con người Mảng xanh trong mỗi khu vườn có đặc điểm riêng về loài cây, cách bố trí, có thể kết hợp sử dụng phục vụ cho nhu cầu du lịch sinh thái

2.5 Tình hình du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh một thời được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, nổi tiếng là một thương cảng trù phú sầm uất nhất của phương Nam Ngày nay, thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, thương mại, du lịch, văn hoá, khoa học,… của cả nước Cụ thể biểu hiện qua những con số doanh thu do du lịch mang lại:

Năm 2007, lượng khách quốc tế đến tp Hồ Chí Minh đạt trên 2.700.000 lượt người (cả nước 4.200.000 lượt người), tăng hơn 14% so với năm 2006, và khách nội địa là 10.000.000 lượt người (cả nước 19.200.000), tăng hơn 11% so với năm 2006 Tổng doanh thu từ du lịch năm 2007 đạt 24.000 tỷ đồng, tăng 45% so với năm

2006

Xét về phương tiện, lượng khách đến bằng đường hàng không là chủ yếu, ngoài ra lượng khách đến bằng đường bộ tăng ổn định do tuyến đường xuyên Á phía Việt Nam đã hoàn chỉnh với chất lượng tốt, thêm nhiều cửa khẩu quốc tế được nâng cấp Một vài điểm du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có thể tóm tắt theo bảng sau

Trang 29

Bảng 2.1: Danh sách các điểm du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh

STT Tên điểm du lịch Vị trí quận huyện Loại hình du lịch/ Sản phẩm du

lịch

1 KDL sinh thái Củ Chi huyện Củ Chi

Tìm hiểu văn hóa dân tộc nét văn hóa đẹp dân tộc thiểu

số

2 KDL Đầm sen quận 11 Trò chơi giải trí

3 KDL Suối Tiên Quận 9 Văn hóa, ẩm thực

4 Làng du lịch Bình Qưới Quận Bình Thạnh Văn hóa, ẩm thực

5 KDL Văn Thánh Quận Bình Thạnh Văn hóa, ẩm thực

6 KDL Tân Cảng Quận Bình Thạnh Văn hóa, ẩm thực

7 KDL Tàu Bến Nghé Quận 1 Ngắm cảnh trên tàu

8 KDL Rạch Dừa Quận 2 Văn hóa, ẩm thực

9 KDL Tân Duy Quận 7 Văn hóa, ẩm thực

10 KDL Vàm Sát Huyện Cần Giời Trãi nghiệm

ngắm cảng miền sông nước

11 Thảo Cầm Viên Quận 1 Ngắm cảnh, nghỉ ngơi

Trang 30

Hình 2.1: Sơ đồ vị trí các điểm du lịch ở TP.Hồ Chí Minh

Trang 31

Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1.Mục tiêu

Đánh giá hiện trạng và tiềm năng phát triển các vườn cây cảnh đặc trưng (vườn cây ăn trái,vườn cây kiểng…) ở các quận ven và ngoại thành tp Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất hướng khai thác, phát triển du lịch sinh thái

3.2.Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát, đánh giá hiện trạng các vườn cây cảnh trên địa bàn thành phố

- Khảo sát, đánh giá hiện trạng sử dụng các vườn cây cảnh đặc trưng phục vụ

du lịch sinh thái

- Đánh giá khả năng sử dụng và đề xuất hướng phát triển các vườn cây cảnh đặc trưng nhằm phục vụ du lịch sinh thái tốt hơn

3.3.Phương pháp nghiên cứu

- Tham khảo các tài liệu viết về vườn cây cảnh đặc trưng ở tp HCM

- Khảo sát thực địa theo điểm đại diện dựa trên hiện trạng các vườn cây cảnh đặc trưng (lựa chọn mẫu theo loại vườn, tổng số vườn)

- Phỏng vấn, thu thập ý kiến những người liên quan (chủ vườn, nhà quản lý, người du lịch…)

- So sánh, phân tích, tổng hợp đánh giá khả năng sử dụng và đề xuất hướng phát triển Tiêu chí áp dụng để lựa chọn vườn đặc trưng như sau:

+ Tiêu chí sinh thái

Gồm 3 tiêu chí: độ che phủ cây xanh, tiêu chuẩn sạch, tiêu chuẩn đẹp

 Độ che phủ cây xanh (%): là diện tích xanh phân bố trên tổng diện tích mặt bằng của vùng hoặc một địa bàn cụ thể

Trang 32

 Tiêu chuẩn đẹp:

Gồm 2 tiêu chí:

- Cây trồng vật nuôi được thiết kế, sắp xếp hài hoà, cây trồng được bố trí đúng

kỹ thuật, phối hợp được nhiều tầng, tận dụng tốt không gian sống, đảm bảo vẻ mỹ quan

- Cây xanh, hoa, cây kiểng không bị sâu bệnh tươi tốt, đầy sức sống, được tạo hình và cắt tỉa đúng kỹ thuật, có nét thẩm mỹ

+ Tiêu chí thiết kế vườn

Gồm 2 tiêu chí:

- Hệ thống kênh mương được thiết kế hợp lý, hệ thống tưới tiêu hiện đại, đáp ứng tốt cho việc cấp thoát nước

- Vườn có lối đi phù hợp cho việc tham quan, việc đi lại không ảnh hưởng đến

sự sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng, vật nuôi hiện có trong vườn

+ Tiêu chí sản xuất hàng hoá:

-Vườn phải có sản phẩm (Cây ăn trái, hoa kiểng, chăn nuôi và thuỷ sản) và hoạt động dịch vụ (các trò chơi giải trí, ẩm thực …)

-Cây đã ở giai đoạn cho trái thương phẩm

+ Tiêu chí quảng bá:

-Vườn là nơi giới thiệu, phổ biến kinh nghiệm, nơi giao lưu học hỏi, tham quan cho mọi người Vườn phải có cơ sở hạ tầng phù hợp với mô hình du lịch sinh

Trang 33

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Hiện trạng hệ thống vườn kiểng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Theo Tài liệu hội thi vườn sinh thái đẹp TP Hồ Chí Minh (2004), có thể khái quát hệ thống vườn kiểng trên địa bàn thành phố như sau:

Có khoảng 150 nhà vườn thuộc các quận huyện: Củ Chi, Hóc môn, Nhà bè, quận 2, quận 7, quận 9, quận 12, quận Thủ Đức, trong đó có các loại hình sau:

Hoa kiễng: 44 vườn, chiếm 29%

Thủy sản: 7 vườn, chiếm 8%

VAC tổng hợp: 73 vườn, chiếm 48%

Vườn Lan: 26 vườn, chiếm 17%

Quận 2: có khoảng 21 vườn, trong đó 6 vườn chuyên thủy sản, diện tích nuôi 1.000 đến 5.000 m2, 3 vườn hoa kiểng với quy mô diện tích từ 200 - 1.000 m2, 10 vườn mô hình VAC tổng hợp với diện tích sản xuất 2.000 – 5.000 m2

Quận 7: có khoảng 7 vườn, trong đó: 5 vườn hoa kiểng với diện tích từ 2.000 đến 5.000 m2, 1 vườn mô hình VAC tổng hợp với diện tích 2.000 - 5.000 m2, 2 vườn lan với diện tích 500 m2

Quận 9: khoảng 18 vườn, gồm 6 vườn trồng hoa kiểng với diện tích từ 2.000 đến 6.000 m2, 4 vườn trồng lan, 8 vườn mô hình VAC tổng hợp với quy mô từ 8.000 – 250.000 m2

Quận 12: khoảng 21 vườn gồm 7 vườn hoa kiểng, 8 vườn là mô hình VAC tổng hợp, 6 vườn trồng lan

Quận Thủ Đức: khoảng 13 vườn, trong đó 9 vườn hoa kiểng, với quy mô từ 6.000 – 150.000 m2, 4 vườn trồng lan

Trang 34

Huyện Hóc Môn: khoảng 10 vườn trong đó có 4 vườn hoa kiểng với diện tích

từ 2.000 – 6.000 m2, 6 vườn là mô hình VAC tổng hợp với quy mô từ 2.000 – 10.000 m2

Huyện Nhà Bè: khoảng 11 vườn trong đó có 1 vườn nuôi trồng thủy sản, 3 vườn hoa kiểng, 5 vườn là mô hình VAC tổng hợp với diện tích từ 4.000 – 8.000

Số vườn được khảo sát để chọn vườn đặc trưng trong luận văn là 27 vườn có thể tóm tắt như sau:

Bảng 4.1: Danh sách các vườn được khảo sát

STT Họ và tên chủ vườn Địa chỉ Loại hình Diện tích

1 Nguyễn Hữu Đức

Ấp An Hòa

Xã Trung An Huyện Củ Chi

Vườn cây ăn trái 5000m2

2 Nguyễn Văn Dân

Khu phố 8 P.Linh Trung Quận Thủ Đức

Vườn mai ghép 4.000m2

3 Cao Phú Hữu

Tổ 12 KP3B Thạnh Lộc Quận Thủ Đức

Vườn kiểng 2.000m2

4 Huỳnh Phúc Truyền P.Trường Thạnh

Quận 9 Vườn mai ghép 4.000m

2

5 Phạm Văn Ngọc Xã Tân Hiệp

Huyện Hóc Môn Vườn cây ăn trái 2.000m

2

Trang 35

6 Nguyễn Văn Tâm Xã Nhị Bình

Huyện Hóc Môn VAC tổng hợp 4.000m

2

7 Nguyễn Thành Lâm Tân Thới Nhì

2

8 Châu Thị Phương Truyền P.Long Trường

2

9 Cao Minh Truyền P.Long Trường

2

10 Trần Thanh Toàn P.Tân Phú

2

11 Nguyễn Thị Phi P.Tân Phong

2

12 Lê Thị Thanh Hải P.Linh Trung

Quận Thủ Đức Vườn lan 4.000m

2

13 Nguyễn Thị Tân Tân Hiệp Bình Phước

2

14 Trần Văn Chính Xã Long Hòa

Huyện Cần Giời VAC tổng hợp 4.000m

2

15 Phạm Ngọc Xuân P.An Phú Đông

Quận 12 VAC tổng hợp 4.000m

2

16 Trịnh Minh Tân XÃ Tân Phú Trung

Huyện Củ Chi VAC tổng hợp 50.000m

Trang 36

20 Phan Tấn Minh P.An Khánh

25 Trần Văn Bạch Xã Bình Hưng Hòa

Huyện Bình Chánh Vườn lan 10.000m

2

26 Nguyễn Minh Tâm Xã Bình Nhị

2

27 Dương Định Lương Xã Bình Mỹ

2

Căn cứ vào tiêu chí ở chương 3 chọn được 10 vườn đặc trưng như sau:

1 Vườn kiểng Nguyễn Thị Phương Truyền

2 Vườn kiểng Nguyễn Minh Tâm

3 Vườn kiểng Trịnh Minh Tân

4 Vườn lan Nguyễn thị Thanh Hải

5 Vườn lan Trần Văn Bạch

6 Vườn mai ghép Nguyễn Văn Dân

7 Vườn mai ghép Huỳnh Phúc Truyền

8 Vườn VAC tổng hợp Dương Định Lượng

9 Vườn VAC tổng hợp Cao MInh Truyền

10 Vườn VAC tổng hợp Kiều Lương Hồng

Trang 37

4.2.Đặc điểm mảng xanh của một số vườn cây cảnh đặc trưng ở quận ven và ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

Căn cứ vào những vườn đã được chọn nêu trên, dưới đây là hiện trạng một số vườn có tiềm năng về mảng xanh phát triển phục vụ sinh thái Qua khảo sát thực tế cho thấy 60% - 80% diện tích các khu vườn được phủ xanh với nhiều chủng loài khác nhau Mỗi vườn có cách bố trí, sắp xếp đặc trưng riêng

4.2.1.Vườn kiểng

Vườn kiểng hiện có ở thành phố Hồ Chí Minh rất nhiều, mảng xanh ở mỗi vườn khác nhau Qua khảo sát vườn kiểng của bà Nguyễn Thị Phương Truyền (Phường Long Trường,quận 9) với diện tích 6500 m2, trong đó , mảng xanh chiếm khoảng 70% tổng diện tích cho thấy: về chủng loại cây tương đối đa dạng chủ yếu

là một số loài cây cho hoa đẹp như Sò đo cam (Spathodea cam.panulata Beauv), Sơri Mỹ (Eugenia uniflora), Bướm hồng (Mussanaenda erythrophylla), Bướm bạc phi (Mussanaenda philippia), Cát đằng thon (Crossandra infundibuliformis), Huỳnh liên (Tecoma stans), Muồng hoàng yến (Cassia fistula), Bằng lăng ổi (Lagerstroemia calyculata), Chuổi ngọc (Duranta repens), Chuối hoa lai (Canna

hybrida Forst), Sứ đại (Plumeria rubra L.var.actifolia Woods), Bụt (Hibiscus rosa – sinensis), Đỗ quyên (Rhododendron sp), Bụt cam (Hibiscus hirsutus), Bụt hồng

(Hisbiscus hybrid), Ngọc nữ (Clerodendrum thomsonae), mảng xanh trong vườn

phát triển tốt Vườn được bố trí theo phong cách tự nhiên, lối đi dạo trong vườn mô phỏng theo đường cong tự nhiên và cây cối được trồng dọc theo lối đi, cây trồng dọc theo tường (đối với dây leo cho leo tường), dùng cây xanh tạo hàng rào ngăn cách giữa các không gian, phong lan được bố trí ở khu vực riêng

Củ Chi là địa bàn có nhiều vườn kiểng với diện tích lớn Điển hình vườn kiểng Minh Tân thuộc xã Tân Phú Trung, diện tích 50.000m2, mảng xanh chiếm 90% tổng diện tích khu vườn Đây vườn kiểng sưu tập rất nhiều chủng loại cây, và các loài có công dụng khác nhau được bố trí thành những khu vực riêng, cụ thể:

+ Quất (cây lớn): khoảng 1000 chậu (hình 4.3)

Trang 38

+ Phong lan: chủ yếu các loài Denrobium, Oncidium, với diện tích khoảng 1000m2 (hình 4.4)

+ Bon sai: Mai chỉ thiên (Wrightia antidysenterica), Mai chiếu thuỷ (Wirightia religiosa), Me (Tamarindus indica), Sơn liễu (Phyllanthus insularis Beille), Ngâu (Aglaia duperreana), Gừa (Ficus microcarpa L.f), Si vàng (Ficus

microcarpa L.f.Golden leaves), Đa búp đỏ (Ficus elastica Roxb.ex Horn), Bồ đề

(Ficus religiosa), Mai tứ quí (Ochna atropurpurea), Mai vàng (Ochna integerrima), Duối nhám (Streblus asper Lour), Ổi kiểng (Psidium cujavillus),Cần thăng (Feroniella lueida Swingle), Kim quít (Triphasia trifoliata), …(Thảm khảo Danh

mục một số loài cây bon sai trong phần phục lục) diện tích khoảng 8000m2 (hình 4.2)

+ Diện tích giành cho kiểng đại cảnh khá lớn, khoảng 8000 m2 diện tích

vườn, gồm những loài như: Công chúa (Canaga odorata), Hoa sữa (Alstonia

longifolia), Đào tiên (Crescentia cujete), Gõ đỏ (Alezelia xylocarpa), Móng bò tím

(Bauhinia purpurea), Lim xẹt (Peltophorum pterocarpum), Cẩm thị (Diospyros

maritima), Sơn liễu (Phyllanthus insularis Beile), Lộc vừng (Barringtonia acutangula), Me tây (Samanea saman), Vông nêm (Erythrina suberrosa Roxb),

vương tùng (Araucaria columnaris), Xirô (Carissa carandas), Đủng đỉnh (Caryota

mitis), Vàng anh lá lớn (Saraca dives), Vàng anh lá nhỏ (Saraca indica), Keo kiểng

(Pithecellobium dulce),…(Tham khảo Danh mục một số loài cây kiểng đại cảnh

trong phần phục lục)

+ Kiểng nội thất, diện tích khoảng 1000 m2 (hình 4.1), Trầu bà vàng

(Epipremum pinnatum), Kim phát tài (Zamioculcas zamiifolia), Chân chim vàng (Schefflera actinophylla), Mật cật (Rhapis excelsa), Trúc mây (Rhapis subtilis), Lá măng (Asparagus plumosus), Lan chi (Dianella ensifolia), Râu rồng (Lycopodium

phlegmaria), Hòn ngọc viễn đông (Medinilla magnifica), Phát tài núi (Dracaena arborea), Buồm trắng (Spanthiphyllum patinii), Hồng môn (Anthurium andraenum), Môn đốm (Caladium bicolor), Ráy mỹ xẻ (Monstera deliciosa), Phất

Trang 39

(Agave americana), Ráng thái (Dryopter ludens),…(Tham khảo Danh mục một số

loài cây kiểng nội thất trong phần phục lục)

Ngày đăng: 15/06/2018, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô An, 2006. Bài giảng du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên (bản thảo). Đại học Nông Lâm TP. H ồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên
3. Vũ Xuân Đề, 1993. Phân vùng đất và quy hoạch khoảng không gian xanh vùng ngoại thành nhằm sữ dụng hợp lý đất và bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn thành phố Hô Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng đất và quy hoạch khoảng không gian xanh vùng ngoại thành nhằm sữ dụng hợp lý đất và bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh
4. Chế Đình lý, 2006. Giáo trình môn du lịch sinh thái (bản thảo). Viện Môi Trường và Tài Nguyên, Đại Học Bách Khoa Tành PHố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình môn du lịch sinh thái
5. Trần Hợp, 2000. Cây cảnh và Hoa Việt Nam, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cảnh và Hoa Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
6. Trần viết Mỹ, 2007. Giáo trình môn quy hoạch cảnh quan đô thị (bản thảo). Trung tâm Khuyến nông thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình môn quy hoạch cảnh quan đô thị
9. Website http://www.laodong.com.vn/Home/kinhte/2007/3/28628.laodong 10. Website http:// www.tourism.hochiminhcity.gov.vn Link
2. Nguyễn Thị Bắc. Hoàn thiện môi trường du lịch quốc tế nhìn từ góc độ môi trường sinh thái. Đề tài khoa học tham gia EUREKA7, 1998 Khác
7. Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004. Hệ Sinh Thái Rừng Nhiệt Đới (Tropical Forest Ecosystems). NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội Khác
8. Trung tâm Khuyến nông TP. Hồ Chí Minh, 2003. Tiêu chí hội thi vườn sinh thái đẹp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w