1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ỨNG DỤNG NHỮNG ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VIỆT NAM VÀO THIẾT KẾ SÂN VƯỜN BIỆT THỰ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

93 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 7,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, cuộc sống vật chất của người dân Việt đã nâng cao, nhu cầu tinh thần càng được chú trọng, vì thế mà nhu cầu về không gian sống- cụ thể là vườn cảnh cũng từ đó phát triển hơn, đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

C NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



ĐẠI HỌ

HOÀNG THỊ NHUNG

ỨNG DỤNG NHỮNG ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VIỆT NAM

VÀO THIẾT KẾ SÂN VƯỜN BIỆT THỰ Ở

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH



HOÀNG THỊ NHUNG

ỨNG DỤNG NHỮNG ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VIỆT NAM

VÀO THIẾT KẾ SÂN VƯỜN BIỆT THỰ Ở

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Cảnh Quan & Kỹ thuật Hoa Viên

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giáo viên hướng dẫn: KTS LÊ ĐÀM NGỌC TÚ

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 7/2008

Trang 3

MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING NONG LAM UNIVERSITY – HO CHI MINH CITY



HOANG THI NHUNG

THE APPLICATION OF VIETNAM CULTURAL

CHARACTERISTICS IN DESIGNING VILLA

GARDENS IN HO CHI MINH CITY

DEPARTMENT OF LANDSCAPING AND ENVIRONMENTAL HORTICULTURE

GRADUATION THESIS

Advisor: LE DAM NGOC TU, Arch

Ho Chi Minh City July/2008

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện trong khuôn khổ chương trình đào tạo kỹ sư Cảnh Quan và Kỹ Thuật Hoa Viên thuộc trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn:

+ Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh

+ Thầy cô thuộc Bộ Môn Cảnh Quan và Kỹ Thuật Hoa Viên

Tôi xin trân trọng biết ơn KTS Lê Đàm Ngọc Tú đã trực tiếp hướng dẫn và đóng góp ý kiến quý báo để tôi thực hiện thành công và hoàn chỉnh luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả thầy cô thuộc Bộ môn Cảnh Quan và

Kỹ Thuật Hoa viên đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt kinh nghiệm và kiến thức

Xin chân thành cảm ơn các anh chị, bạn bè đã đóng góp ý kiến, tài liệu tham khảo giúp tôi hoàn thành luận văn này

Sinh viên

Hoàng Thị Nhung

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “ứng dụng những đặc trưng Văn Hóa Việt Nam vào thiết kế sân vườn biệt thự ở tp Hồ Chí Minh” được tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh Thời gian từ 25/2/2008 đến 30/7/2008

- Những đặc trưng Văn Hóa áp dụng trong nghệ thuật vườn cảnh

- Ứng dụng thiết kế cho hai mẩu sân vườn có diện tích lớn và nhỏ

Trang 6

The thesis “The application of Vietnamese Cultural Characteristics in designing villa gardens in Ho Chi Minh City ” has been carried out in Ho Chi Minh City from 25 February to 20 July 2008

The thesis includes:

- Exploring the Vietnamese Cultural characteristics that can be applied in the art of gardening

- Introducing several typical gardens of Vietnamese Cultural characteristics

The author has drawn results as follows:

- Managing to explore some Vietnamese Cultural characteristics applied in the art of gardening

- Applying them to design 02 drawings of gardens, one is large and the other is small

Trang 7

2 SƠ LƯỢC VỀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VIỆT NAM

2.2 Văn Hóa tận dụng môi trường tự nhiên 4

2.3 Văn Hóa đối phó với môi trường tự nhiên 10

2.3.1 Đối phó với thời tiết khí hậu: tính linh hoạt và tính biểu trưng của lối

2.3.2 Đối phó với khoảng cách: Giao thông 14

2.3.3.1 Tre 16

2.3.3.4 Sản phẩm gốm sứ 18

Trang 8

2.3.3.5 Mây tre lá 19

2.4 Một số vườn cảnh tiêu biểu mang bản sắc Văn Hóa Việt Nam 20 2.4.1 Vườn Lăng Tự Đức ( Khiêm Lăng) 20 2.4.2 Vườn phủ đệ 25

2.4.3 Vườn nhà Huế 28

2.4.5 Một số không gian ở tp HCM mang bản sắc Văn Hóa Việt Nam 31

3 MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Những đặc trưng Văn Hóa Việt Nam ảnh hưởng đến nghệ thuật cảnh quan sân

4.2 Mẫu thiết kế ứng dụng 38

4.2.1 Mẫu 1: thiết kế sân vườn có diện tích nhỏ (<200 m2) 38

4.2.1.4 Bảng thống kê cây xanh, vật liệu sử dụng trong thiết kế mẩu 1 51

4.2.2 Mẫu 2: thiết kế sân vườn có diện tích lớn (>1000 m2) 53

Trang 9

4.2.2.3 Mô tả thiết kế 57

4.2.2.4 Bảng thống kê cây, vật liệu sử dụng trong thiết kế mẫu lớn 67

5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1 Kết luận 71

5.2 Kiến nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC 74

Trang 10

Hình 2.5.Dây trầu, gốc cau 9

Hình 2.7 Mâm trầu cau ngày cưới 10

Hình 2.16 Công trình xây dựng bằng tre 17

Trang 11

Hình 2.25 Lăng thờ công chúa 26

Hình 2.26 Khuôn viên vườn công chúa Ngọc Sơn 26

Hình 2.27 Khuôn viên Lạc Tịnh Viên 27

Hình 2.28 Lối vào Lạc Tịnh Viên 27

Hình 2.29 Lối vào vườn nhà Huế 29 Hình 2.30 KDL Bình Quới 1 30 Hình 2.31 KDL Bình Quới 2 30 Hình 2.32.- 2.33 Góc tiểu cảnh ở quán cafe Dường Như 31

Hình 2.34 Đôi quang gánh 31

Hình 2.35 Đèn dầu, gốc chuối 32

Hình 2.36 Hàng cau 32 Hình 2.37 Sự kết hợp của sen và cỏ nến 32 Hình 4.1 Chăm sóc rau trên sân thượng 36 Hình 4.2 Mặt bằng kiến trúc (mẫu 1) 39

Hình 4.3 Mặt đứng trục D – A 39

Hình 4.4 Sơ đồ phân khu chức năng (mẫu 1) 40

Hình 4.5 Mặt bằng bố trí cây xanh 42

Hình 4.6 Phối cảnh tổng thể (mẩu 1) 43

Hình 4.7 Phối cảnh góc trái khu vực 2 (mẫu 1) 44

Hình 4.8 Phối cảnh góc phải (mẫu 1) 46

Hình 4.9 Phối cảnh góc sân sau PA2 47

Hình 4.10 Phối cảnh sân trước PA2 (mẫu 1) 49

Hình 4.11 Phối cảnh góc trồng rau sân sau (mẫu 1) 50

Hình 4.12 Mặt bằng kiến trúc (mẫu 2) 54

Hình 4.13 Mặt cắt (mẫu 2) 55

Hình 4.14 Sơ đồ phân khu chức năng (mẫu 2) 56

Hình 4.15 Mặt bằng bố trí cây xanh TL 1/300 58

Trang 12

Hình 4.16 Phối cảnh tổng thể (mẫu 2) 59

Hình 4.17 Phối cảnh khu vực 2 (mẫu 2) 61

Hình 4.18 Phối cảnh góc hồ sân chơi khu vực 3 (mẫu 2) 63

Hình 4.19 Phối cảnh hồ nước cuối vườn khu vực 3 (mẫu 2) 65

Hình 4.20 Phối cảnh sân sau khu vực 4 (mẫu 2) 66

Trang 13

DANH SÁCH CÁC BẢNG

TRANG

Bảng 4.1 Cây xanh sử dụng trong mẫu thiết kế nhỏ 51

Bảng 4.2 Thống kê cây xanh, vật liệu sử dụng trong mẩu thiết kế nhỏ 52

Bảng 4.3 Cây xanh sử dụng trong mẫu thiết kế lớn 67

Bảng 4.4 Thống kê cây xanh, vật liệu sử dụng trong mẫu thiết kế lớn 69

Trang 14

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Văn Hóa của một quốc gia sẽ tạo nên những khác biệt, nét đặc trưng cho dân tộc

đó trên trường thế giới Do vậy, sự phát triển của mỗi quốc gia luôn song hành với việc bảo tồn và gìn giữ bản sắc Văn Hóa dân tộc của quốc gia đó, đó mới là sự phát triển bền vững, lâu dài

Việt Nam là một đất nước giàu truyền thống và đậm đà bản sắc Văn Hóa, trong thời kỳ hội nhập với thế giới Việt Nam càng nâng cao ý thức tôn trọng và giữ gìn nền

văn hóa giàu bản sắc của mình với phương châm “hòa nhập chứ không hòa tan ”

Trong suốt quá trình giao lưu với thế giới kể từ xưa đến nay, Việt Nam đã tiếp thu, học hỏi các nước nhiều điều tiến bộ để phát triển, để nước ta trở thành một đất nước đẹp hơn trong mắt bạn bè thế giới

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nghệ thuật vườn cảnh Việt Nam cũng phát triển, nhưng chưa nhiều Mặt khác, lại chịu ảnh hưởng của nghệ thuật vườn cảnh của các nước phát triển đi trước, đặc biệt là vườn Trung Quốc, Nhật Bản và vườn Pháp, nên đặc trưng Văn Hóa Việt Nam trong nghệ thuật vườn cảnh chưa được thể hiện cụ thể Ngày nay, cuộc sống vật chất của người dân Việt đã nâng cao, nhu cầu tinh thần càng được chú trọng, vì thế mà nhu cầu về không gian sống- cụ thể là vườn cảnh cũng

từ đó phát triển hơn, đặc biệt là tại các thành phố lớn Là một đất nước có nền Văn Hóa

chịu sự giao thoa, cộng hợp với nhiều nền Văn Hóa khác nhau, do vậy, việc “gạn đục

Trang 15

khơi trong ” để tìm kiếm các đặc trưng mang bản sắc Văn Hóa Việt Nam và ứng dụng chúng vào thiết kế vườn cảnh là một việc làm rất cần thiết trong quá trình tìm tòi và thiết kế một khu vườn mang đậm nét Việt Nam

Với mong muốn tạo được một hình ảnh đặc trưng riêng biệt cho các khu vườn Việt, đề tài tập trung nghiên cứu ứng dụng những đặc trưng VH Việt Nam vào thiết kế sân vườn Tuy nhiên, vì giới hạn về thời gian và trong khuôn khổ một đề tài tốt nghiệp đại học chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu với đối tượng sân vườn nhà ở biệt thự ở

TP.HCM Đề tài “Ứng dụng những đặc trưng Văn Hóa Việt Nam vào thiết kế sân

vườn biệt thự ở TP.Hồ Chí Minh” giúp hệ thống và khẳng định lại các đặc trưng Văn

Hóa Việt Nam và ứng dụng chúng trong thiết kế sân vườn

Trang 16

Chương 2

SƠ LƯỢC VỀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA VN

2.1 KHÁI NIỆM CHUNG

Có nhiều cách hiểu với những nội dung khác nhau, song quan trọng hơn cả văn hóa phải là các giá trị, những giá trị đó phải do con người sáng tạo ra ( phân biệt với cái tự nhiên ), sự sáng tạo đó là cả quá trình lịch sử lâu dài, liên tục, và những giá trị đó

phải làm thành một hệ thống chặt chẽ (nguồn: “Tìm về bản sắc Văn Hóa VIệt Nam ” của GS Trần Ngọc Thêm)

Có nhiều loại hình Văn hóa: VH nhận thức, VH tổ chức cộng đồng, VH ứng xử với môi trường tự nhiên và VH ứng xử với môi trường xã hội Trong đó, VH ứng xử với môi trường tự nhiên thể hiện mối quan hệ tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên, cách con người tác động vào môi trường tự nhiên, điều này liên quan mật thiết đến ngành học - chủ yếu phục vụ việc tạo mảng xanh và cải thiện môi trường sống, thể hiện mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, nên đề tài chỉ đề cập đến khía cạnh

VH ứng xử của người Việt Nam với môi trường tự nhiên

Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên hình thành hai thái độ đối lập nhau:

+ Dân nông nghiệp: Sống hòa hợp với thiên nhiên

+ Dân du mộc: Chinh phục và chế ngự thiên nhiên

Việt Nam thuộc nền VH nông nghiệp sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, ở

cố định một chỗ với cái nhà, gốc cây của mình nên có ý thức tôn trọng, không dám ganh đua với thiên nhiên Sống hòa hợp với thiên nhiên - đó là mong muốn của cư dân các nền VH trọng tĩnh phương Đông

Trang 17

Từ tâm lý sống hòa hợp, thân thiện với môi trường tự nhiên, đã hình thành ở con người gốc VH nông nghiệp một bản năng sinh tồn là những gì có lợi cho mình thì con người hết sức tranh thủ tận dụng, nhưng những gì có hại thì phải ra sức đối phó Từ đó cũng hình thành nên hai thái độ, quan niệm, xu hướng trong VH ứng xử với môi trường

tự nhiên: Tận dụng và đối phó với môi trường tự nhiên Trong đó, ăn uống thuộc lĩnh vực tận dụng và việc ở, đi lại thuộc lĩnh vực đối phó

Ranh giới giữa tận dụng và đối phó không phải lúc nào cũng rạch ròi Để đối phó với thời tiết, khí hậu, con người đã tận dụng các chất liệu do tự nhiên cung cấp để dựng nhà, tận dụng vị trí tự nhiên để đặt vị trí ngôi nhà sao cho có lợi nhất Để đối phó với khoảng cách, con người đã tận dụng tối đa địa hình để chọn cho mình phương tiện giao thông thuận tiện nhất

2.2 VĂN HÓA TẬN DỤNG MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

2.2.1 Văn hóa ẩm thực

Việc ăn uống rất quan trọng đối với nếp sinh hoạt của người Việt Nó thể hiện

tính tổng hợp và tính cộng đồng trong lối ăn của người việt

Ăn uống là văn hóa- đó là văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên Cơ cấu bữa ăn của người Việt bộc lộ rõ dấu ấn của truyền thống VH nông nghiệp lúa nước, thiên về thực vật Nằm trong khu vực của một trong những trung tâm trồng trọt, Việt Nam có một danh mục rau quả mùa nào thức ấy, rất phong phú Tính tổng hợp của người Việt được thể hiện trong cách chế biến đồ ăn Hầu hết các món ăn của người Việt Nam đều là sản phẩm của sự pha chế tổng hợp: rau này với rau khác, rau với các loại gia vị, rau với quả, rau với thủy sản…Phong cách ẩm thực của người Việt rất đa dạng ,thực đơn của người Việt có nhiều món canh, món xào với các loại rau xanh, các loại quả như: bầu, bí, mướp,…và cả các loại hoa: hoa bí, thiên lý, bắp chuối,bông hẹ… Đó là cơ cấu ăn rất

hợp lý, có thể nói là tối ưu đối với cư dân xứ nóng

Trang 18

Hình 2.1 Giàn bầu trong sân nhà Hình 2.2 Canh tác trồng rau

Theo nguyên lý âm dương, một khi khí hậu càng nóng (dương) bao nhiêu thì con người càng phải lấy âm bù lại Bởi thế trong vườn nhà luôn có những loại rau, quả được trồng quanh năm không chỉ phục vụ cho nhu cầu và thói quen trong ăn uống của

cư dân Việt mà còn có công năng rất lớn trong đời sống tinh thần của người Việt Dường như trong mỗi khu vườn người Việt đã quá quen thuộc với những màu xanh của cây cỏ, và có những loài cây đã trở thành biểu tượng, một nét đẹp Văn hóa rất riêng của Việt Nam, điển hình nhất là hoa sen Trên đất nước Việt Nam đâu đâu cũng thấp thoáng hoa sen - loài hoa vừa có sắc lại mang hương, là loài hoa mà hương sắc của nó được ví von với vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam, mộc mạc, giản dị và thanh khiết Đặc biệt hoa sen có rất nhiều công năng, là loại hoa làm cảnh rất đẹp, hầu hết các

bộ phận của sen đều được sử dụng trong chế biến các món ăn và làm thuốc, là món ngon của ẩm thực Việt Nam, lá sen non cuốn cá lóc nướng trui, chấm nước mắm me

Lá sen non được dùng như bánh tráng, sự kết hợp tạo một hương vị khác lạ cho vị giác, vừa nhân nhẫn, vừa bùi ngọt, vừa đậm đà Những lá sen non chưa kịp xòe mở, chưa thoát lên khỏi mặt nước được lấy sử dụng nên đây là một loại rau sạch Hạt sen nấu chè rất ngon và giàu dinh dưỡng, trà tim sen giải nhiệt mùa hè là một loại thuốc an thần

Trang 19

hiệu quả Chỉ qua một loại hoa đã cho thấy nét ẩm thực của người Việt rất phong phú

và đa dạng

Một loài hoa quen thuộc mà công dụng không kém hoa sen, đó là hoa thiên lý Thiên lý được trồng nhiều ở miền Bắc trong các vườn gia đình vùng đồng bằng, cây leo thành giàn tạo bóng mát vào mùa hè, hoa thơm mát về đêm nên do đó còn có tên

Dạ Lài Hương Người dân Việt thường dùng hoa và lá nấu canh với thịt ăn như một

loại rau cho bổ mát

Hình 2.3 Cánh đồng sen

Đồng bằng Nam bộ nổi tiếng với những đặc sản “ nổi” trong mùa nước lênh láng Một loại cây được xem như là loại rau đặc sản của Đồng Bằng Sông Cửu Long là bông súng Ở đây là bông súng đồng mà người ta trồng trong ao đầm và cắt bán bốn mùa ở chợ Khi vào bất cứ cái quán lẩu thủy, hải sản nào ở phố thị người ta cũng thấy trong đĩa rau sống luôn có mấy khúc bông súng quen thuộc của miền quê dân giã Chỉ khi mùa nước nổi dâng lên, chính những dòng nước đầy ắp phù sa chảy qua đồng mới

“kêu thức dậy” những mầm bông nhô lên mừng nước Nước càng cao, thân bông súng càng dài, càng mềm múp mụp

Trang 20

Bông Điên Điển là loài cây đặc trưng của mùa nước nổi ở miền Tây Bông Điên Điển đẹp như hoa lan vũ nữ, bơi xuồng từ xa đã thấy nổi bật cả một rừng “vũ nữ” óng ánh sao sáng rợp trời trên đồng nước

Bông điên điển có mùi thơm nhẹ, mùi thơm bình dị cộng với vị lạt dễ hòa đồng

dễ dàng chung món với nhiều thứ khác Mỗi năm, khi mùa nước nổi về, dù đi đâu mỗi người dân cũng nhớ về quê để ăn bông súng, bông điên điển, để hương vị đặc sắc nhớ đời ấy bốn mùa nở mãi trong trái tim của người xa xứ

ng phong phú về vị mà còn đa dạng bởi sắc,

ẩm màu rất đa dạng tạo nên vẻ hấp dẫn cho

ấy từ những loại lá cây thiên nhiên quen

ết xuất từ lá dứa, màu tím các loại xôi dị

ốt dừa, hay màu cam của trái gấc Những ườn trên khắp miền quê Việt Nam

Sự tổng hợp trong cách chế biến các món ăn kéo theo tính cộng đồng trong văn hóa ẩm thực Người Việt có những nguyên tắc trong ăn uống như “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “liệu cơm gắp mắm” Từ những cách ứng xử trong ăn uống chỉ là một phần trong nền văn hóa chung của một dân tộc mà nền tảng là những đạo lí làm người Bữa

ăn gia đình rất quan trọng, các thành viên trong bữa ăn liên quan mật thiết với nhau, phụ thuộc chặt chẽ vào nhau Tính cộng đồng trong ăn uống đòi hỏi nơi con người một thứ văn hóa giao tiếp cao, gọi là văn hóa ăn uống

Hình 2.4 Chèo xuồng hái bông điên điển

Món ăn của người Việt không nhữ

những màu sắc tự nhiên như những loại ph

món ăn Những phẩm màu tự nhiên được l

thuộc như màu xanh từ những loại bánh là chi

là của lá gấm, màu trắng đục là của nước c

loại cây quen thuộc ấy được trồng quanh khu v

Trang 21

2.2.2 Sức khỏe

Là nền Văn Hóa nông nghiệp, từ xưa người dân đã quen sử dụng các phương thuốc từ đông y, những loại thuốc Nam Sử dụng nguồn thảo dược từ cây cỏ, hoa lá tự nhiên để làm vị thuốc chữa bệnh Bằng những kinh nghiệm thực tế, quanh nhà thường

có những loại vị thuốc thông dụng để chữa trị những chứng bệnh thông thường như cảm phong hàn, bệnh về tiêu hóa, hay những bệnh do thời tiết của khí hậu miền nhiệt đới…Bởi thế quanh mỗi khu vườn nhà Việt luôn có những loại rau rất đỗi bình thường nhưng có tác dụng y học làm thuốc rất hay và ở đó mỗi người dân là một “thầy thuốc dân gian” Ví như trong vườn có vài bụi gừng, khóm nghệ phòng khi “trái gió, trở trời” hay trong những ngày hè nắng bức, một bát canh chua hoa thiên lý là phương thuốc giải nhiệt rất hay, không bị rôm sẩy hay mẩn da Ăn canh hoa thiên lý người ta có cảm giác khoan khoái, dễ ngủ và ngủ ngon giấc, đỡ mệt mỏi, đau lưng Có thể xem hoa thiên lý là một vị thuốc an thần, có vị ngọt, tính bình, thường được chỉ định trị viêm kết mạc cấp và mãn tính, viêm giác mạc, mờ đục màng mắt, viêm kết mạc do sởi Hoa thiên lý còn trị giun kim Lá thiên lý được dân quê giã đắp lên đinh nhọt, rễ thiên lý có thể dùng chữa tiểu buốt có máu hay cặn trắng, mỗi ngày dùng 10 - 20 gr dưới dạng

thuốc sắc (nguồn: bác sĩ Lê Văn Lân, www.khoahoc.net)

Nếu bản thân cau trầu luôn là nguồn cảm hứng cho các tác phẩm thơ, văn Việt Nam, thì ngày nay khoa học lại phân tích tìm kiếm trong các loại thảo mộc này những tính chất dược lý có thể đem ra ứng dụng trong đời sống hằng ngày Mang tên khoa học

Pepper (hay Piper) betle (hay betel) L., trầu, hay trầu không, thuộc họ Hồ tiêu

Piperaceae Tên khoa học của cau - còn được gọi binh lang, tân lang, là Areca catechu

L., thuộc họ Cau Arecaceae Trái cau thường được miêu tả trong sách báo qua tên

arecanut Nhân dân dùng lá trầu giã nhỏ, cho thêm nước sôi vào dùng rửa những vết

loét, mẩn ngứa, viêm mạch bạch huyết Nước pha lá trầu còn được dùng làm thuốc nhỏ mắt chữa viêm kết mạc, chữa bệnh chàm mặt của trẻ em Có nơi còn giã lá trầu cho đắp lên ngực để chữa ho và hen

Trang 22

Trái cau thường được dùng làm thuốc chữa giun sán cho người và súc vật, giúp tiêu hóa tốt, chữa viêm ruột, lỵ, trẻ con chốc đầu, hợp với thường sơn, thảo quả trong đơn thuốc "trường sơn triệt ngược" chữa sốt rét

Song song với những công dụng như một loại thuốc nam, dây trầu gốc cau là biểu tượng, một nét đẹp truyền thống, nét đặc trưng của giá trị văn hóa Việt Nam, của triết lý và giao tiếp người Việt Với người Việt Nam, trầu cau là biểu hiện của một phong cách Việt, vừa là thể hiện tình cảm dân tộc độc đáo Phong tục ăn trầu vốn đã có cực kì lâu đời ở Việt Nam, tương truyền có từ thời Hùng Vương và gắn liền với một câu chuyện cổ tích nổi tiếng cảm động về tình anh em, nghĩa vợ chồng Đó là chuyện

Sự tích Trầu Cau Tình nghĩa anh em được gửi gắm qua câu chuyện sự tích trầu - cau - vôi, thể hiện một triết lý nhân sinh sâu sắc rằng: Sống chia rẽ anh em là chết Sự hối hận đền bù cho cái chết là bằng cái chết Chết rồi nhưng vì biết hối hận nên lại sống lại, hóa thân nơi trầu - cau - vôi, hòa hợp nơi miếng trầu Một triết lý nhân sinh huyền nhiệm, đó là triết lý Việt Nam đơn giản, gần gũi và đầy nghĩa tình

Hình 2.5 Dây trầu, gốc cau

Tục ăn trầu cũng là một trong những yếu tố cấu thành nền văn hoá Việt Nam, nó tiềm ẩn một triết lý về sự tổng hợp của nhiều chất khác nhau : Cây cau vươn cao

là biểu tượng của trời (dương), vôi, đá biểu tượng của đất (âm) , dây trầu mọc lên từ đất , quấn quýt lấy thân cau , biểu tượng cho vai trò trung gian hoà hợp Trầu cau nhai làm một , miếng trầu có cái tươi ngọt từ hạt cau, vị cay của lá trầu, cái nồng nàn của vôi tất cả tạo nên một chất kích thích, làm thơm miệng, đỏ môi

Đối với người Việt Nam, trầu cau là biểu tượng của tình cảm gắn liền với sinh hoạt của nông thôn Việt chặt chẽ và đã tồn tại rất lâu đời Trầu cau còn là một thứ đi đầu các sự

Trang 23

lễ nghĩa, miếng trầu là đầu câu chuyện Ngoài việc phục vụ tục ăn trầu của người Việt, trầu cau còn là lễ vật không thể thiếu trong các dịp giỗ, chạp,cưới hỏi Dân gian có câu

"Sửa cơi trầu, đĩa hoa dâng cụ" để tưởng nhớ tổ tiên, để ghi nhớ công ơn nuôi nấng sinh thành của bậc tiền nhân Bất kỳ giỗ, chạp lớn hay nhỏ cũng phải có đĩa trầu cau đặt trên bàn thờ cúng tổ tiên, ông bà Trong ngày tết luôn luôn có đĩa trầu cau trên các bàn thờ để cầu tài lộc cho năm mới.Trong phong tục cưới hỏi, trầu cau càng quan trọng

hơn Có hẳn một lễ riêng gọi là “Lễ hỏi/bỏ trầu cau” Lễ này từ nhà trai mang đến nhà

gái, gồm có tiền, vàng, bánh trái và không thể thiếu trầu cau Lễ này ghi nhận sự thoả thuận thống nhất giữa 2 nhà trai- gái kết tình sui gia

t

ó

2.3.1 Đối phó với thời tiết, khí hậu: Tính linh hoạt và tính biểu trưng của lối ở của người Việt Nam

Hình 2.6 Khay trầu, cau, vôi

Ở lễ cưới, quả (mâm) trầu cau phải được ph

ở vị trí đầu tiên trong các vật phẩm làm lễ

thể hiện trầu cau là lễ vật đặc biệt quan trọ

2.3 VĂN HÓA ĐỐI PHÓ VỚI MÔI TR

Hình 2.7 Mâm trầu cau ngày cưới

ủ khăn đỏ thể hiện sự may mắn và luôn đặ

(bánh trái, trà, rượu, tiền, vàng, ) Điều đ

ng gắn kết duyên phận của con người

ƯỜNG TỰ NHIÊN

Trang 24

2.3.1.1 Tính linh hoạt

Do những đặc điểm điều kiện khí hậu tự nhiên, và tính chất VH người Việt đã hình thành nên phong tục sống quần tụ để chống chọi với thiên nhiên gọi là làng xã (Bắc Bộ) hay thôn ấp (Nam Bộ) Trong đó tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng bao trùm nhất và quan trọng nhất của làng xã, chúng tồn tại song song với nhau

Biểu tượng truyền thống của tính cộng đồng là sân đình – bến nước, cây đa Đình làng

là biểu tượng truyền thống cho tính tổng hợp của VH Việt Nam ở phạm vi làng xã Trãi qua quá trình tiếp xúc với VH Trung Hoa gốc du mục cũng đã bước đầu làm tan rã chất tổng hợp của cái đình Bởi vì ban đầu Đình là nơi lui tới của tất cả mọi người, nhưng rồi dần dần người ta bỗng thấy đình chỉ là chốn lui tới riêng của đàn ông, quan viên làng xã cũng chỉ toàn đàn ông

Bến nước là nơi phụ nữ quần tụ lại ( ở những nơi không có sông chảy qua thì

có giếng nước) Nơi hàng ngày những người phụ nữ gặp gỡ nhau cùng rửa rau, vo gạo, giặt giũ, chuyện trò… Ngay ở các dân tộc ít người, nơi vai trò người phụ nữ vẫn được tôn trọng thì bến nước cũng vẫn là nơi hội tụ chủ yếu của phụ nữ

Hình 2.8 Phụ nữ bên bến nước

Trang 25

Cây đa cổ thụ mọc um tùm ở đầu làng, gốc cây đa có miếu thờ nho nhỏ lúc nào cũng khói hương nghi ngút Đó là chốn linh thiêng, nơi hội tụ của thánh thần.Cây đa, gốc cây có quán nước là nơi nghỉ chân gặp gỡ những người đi làm đồng, khách qua đường…nhờ khách qua đường gốc cây đa trở thành cánh cửa sổ nối làng với thế giới bên ngoài

Hình 2.9 Cổng làng

Tính cộng đồng chú trọng nhấn mạnh vào “sự đồng nhất”, đoàn kết tập thể, nếp sống dân chủ bình đẳng, ý thức con người về tính cá nhân bị thủ tiêu

Khác với phương Tây nơi con người được rèn luyện ý thức về cá nhân Sống trong môi trường cộng đồng, tập thể, luôn yêu thương và đùm bọc, sống vì người khác là đức tính rất đáng quý ở người Việt Tuy nhiên, với lối sống đó cũng có mặc trái của nó, chính là dần xuất hiện thói chủ quan, dựa dẫm ỷ lại vào người khác và thói cào bằng đố kỵ

2.3.1.2 Tính biểu trưng

Biểu tượng truyền thống của tính tự trị là lũy tre Rặng tre bao kín quanh làng, trở thành một thứ thành lũy bất khả xâm phạm, đốt không cháy, trèo không được, đào đường hầm cũng vướng rễ không qua Lũy tre là một đặc điểm quan trọng làm cho làng xóm Việt Nam khác hẳn với thôn ấp Trung Hoa có thành quách bằng đất bao bọc

Trang 26

Hình ảnh làng quê Việt Nam từ xưa gắn liền với luỹ tre làng Cây tre đã gắn bó với người Việt từ rất lâu và trở thành một nét văn hóa riêng Hình ảnh Cây Tre Việt Nam kiên cường, dũng cảm được khắc sâu trong tâm trí của mỗi người dân Việt qua hình ảnh Thánh Gióng cầm Tre đánh giặc

Những bụi tre gai ken dày chắn gió bão thiên tai và che chắn cho mỗi làng Việt trước trộm đạo, giặc cướp

và kẻ xâm lược - nhân tai Nhiều loại vũ khí thời xưa của cha ông ta đều có phần cán, phần tay cầm làm bằng một loại cây nào đó thuộc họ tre Cây gậy tầm vông thời đánh Pháp xâm lược là một chứng tích đã đi vào lịch sử Cây Nêu dựng lên trước cửa nhà vào dịp năm mới thời xưa để trừ ma quỷ Nhiều người quên rằng bao đời tổ tiên người Việt khai phá đồng bằng Bắc Bộ được như ngày hôm nay là do đắp đê chống lụt, trị thuỷ

ng trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của người

p, thì còn có phần công sức của những bụi tre có tác dụng giữ

ng nhấn mạnh vào sự khác biệt Tạo nên nếp sống tự cấp tự ứng nhu cầu cho cuộc sống của làng mình Chính bởi thế ồng gà, ao cá tự đảm bảo nhu cầu về ăn uống hàng ngày ( mô hình VAC- vườn ao chuồng đang phổ biến hiện nay chỉ là sự “khám phá” lại kinh nghiệm ngàn đời của tổ tiên), quanh vườn có bụi tre, rặng xoan, gốc mít, tự đảm bảo nhu cầu xây dựng nhà cửa sau này…Tuy vậy tính tự trị có những mặt còn hạn chế

đó là óc tư hữu , ích kỷ, thói bè phái địa phương, và thói gia trưởng tôn ti Tùy từng nơi

mà mặt tốt hay mặt xấu được phát huy Đối với người dân nông nghiệp, ngôi nhà – cái

Hình 2.10 Lũy Tre làng

Những triền đê được giữ vữ

Việt xưa bao đời bồi đắ

Trang 27

tổ ấm để đối phó với nóng lạnh, nắng mưa, gió bão…là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho họ có cuộc sống định cư ổn định Với địa lí tự nhiên của đất nước Việt Nam là bờ biển xuyên suốt chiều dài đất nước, lại có hệ thống sông ngòi chằn chịt

do đó ngôi nhà gắn liền với môi trường sông nước là điều tất yếu phù hợp với sự thích nghi, đặc biệt là ngôi nhà của cư dân miền Đồng bằng sông Cửu Long

Cuộc sống gắn bó với thiên nhiên sông nước có tác động mạnh mẽ đến mức các ngôi nhà được dựng theo kiểu nhà sàn cao cách mặt đất để phòng chống nước lụt dâng hàng năm và hình dáng mái của ngôi nhà đã được làm cong, mô phỏng theo hình mui của chiếc thuyền

Một biện pháp quan trọng để đối phó với môi trường tự nhiên là chọn hướng nhà Người Việt có câu “lấy vợ đàn bà, chọn nhà hướng nam”, vì vậy phương hướng rất quan trọng trong xây dựng nhà cửa của mỗi ngôi nhà Việt Nam

Hình 2.11 Nhà sàn 2.3.2 Đối phó với khoảng cách: Giao thông

Do bản chất là người dân gốc nông nghiệp, sống định cư, yên ổn, luôn lấy “ chữ an” làm trọng Bởi có “an cư” mới “lạc nghiệp” cho nên con người ít có nhu cầu đi lại,

di chuyển, có đi thì đi gần nhiều hơn đi xa Vì vậy, dễ hiểu tại sao giao thông Việt Nam

Trang 28

thuộc loại lĩnh vực kém phát triển nhất Khác hẳn với phương Tây là nơi của nền VH gốc du mục nên giao thông ở đó lại thuộc lĩnh vực phát triển hơn cả

Về phương tiện đi lại thì giao thông đường bộ ở Việt Nam xưa ít phát triển, trước khi Pháp vào xâm lược nước ta chỉ có những con đường nhỏ Phương tiện đi lại

và vận chuyển chủ yếu ngoài sức kéo của động vật như trâu, bò,voi, ngựa thì phổ biến hơn hết là đôi chân của con người Ở các đô thị lớn, phổ biến loại xe tay do ngườ kéo, sau này kết hợp chiếc xe đạp để thành chiếc xích lô vẫn được dùng đến tận bây giờ Và loại hình giao thông phổ biến và chủ yếu ở Việt Nam từ ngàn xưa là giao thông đường thủy Rất hợp lí bởi Việt nam với hệ thống sông ngòi chằn chịt, và đó là cuộc sống nhằm thích nghi với địa hình và điều kiện địa lí tự nhiên

cho thấy người Việt rất khéo léo và giỏi giang b n, phức tạp và nguy hiểm Sông ngòi nhiều khiến cho giao thông đường bộ trở nên khó khăn thêm, bởi vậy đã hình thành cả một nghệ thuật bắc cầu phong phú Trên đất Việt Nam, đi đến đâu ta cũng có thể bắt gặp những cây cầu cực kỳ đơn giản nhưng rất tiện ích bắt qua sông, ngòi, kênh rạch làm bằng đủ loại chất liệu khác nhau như cầu tre, cầu

▲ Hình 2.12 Chiếc Xe bò

◄ Hình 2.13 Thăm đồng

n, ghe, xuồng, bè… một cách thông thạ

ởi di chuyển trên sông rất khó khă

Trang 29

gỗ, cầu đá… Quá gần gũi với môi trường sông nước, không biết từ bao giờ người dân Nam bộ đã quen thuộc và gắn bó với chiếc cầu ao bên nhà, cũng bởi do thiếu thốn trong điều kiện sinh hoạt mà người dân đã sử dụng bờ ao như là nguồn nước phục vụ cho cuộc sống Người Việt Nam vốn thông minh, và sáng tạo lại mang trong mình đức tính cần cù, chân chất, chịu thương, chịu khó của “ anh Hai Nam bộ” nên dù ở bất cứ môi trường nào con người cũng nhanh chóng thích nghi, hòa nhập với môi trường xung quanh Và từ đó chiếc cầu ao đã trở thành một hình ảnh thân quen về một vẻ đẹp bình

dị của miền quê sông nước

Hình 2.14 Cầu gỗ bắc qua sông Hình 2.15 Cầu ao sau rặng tre

2.3.3 SỬ DỤNG, CHỌN LỰA VẬT LIỆU TỰ NHIÊN

Tận dụng tối đa thế mạnh của môi trường tự nhiên trong việc chọn và sử dụng vật liệu xây dựng

2.3.3.1 Tre

Cây tre đã trở thành vật liệu xây dựng tự nhiên đa tính năng, không thể kể hết tính đặc dụng của tre đối với người nông dân Việt Nam: làm nhà cửa (vì kèo, lanh tô, phên liếp, vách tường ), làm vô số vật dụng: cần câu, vó cất tôm cất tép, cái đó, bè mảng, cầu ao và cả những cái cầu bắc qua những con mương, con kênh nhỏ Tre từng được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng: bàn ghế, giường chõng, các loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh và đôi quang (thứ vật liệu đa dụng để gánh mọi thứ ra đồng

Trang 30

và gánh lúa từ đồng về nhà, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh” thông thoáng để bảo quản thức ăn và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) đến cái khung cửi, cái

xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước, cái bừa, cái cào, cái ách khoác lên cổ con trâu cày đến con dao cật nứa cắt rốn lúc chào đời, cái quạt nan, đôi đũa, cái tăm đến những cánh diều mà hôm nay con trẻ còn chơi tất

cả đều làm từ tre

Vật dụng ngày càng có vẻ thuận tiện hơn, đẹp đẽ hơn đã đẩy chúng ta xa rời thứ cây nhiều lợi ích như thế Và có thời, người ta đã chặt đi những bụi tre gai quanh làng với lý do là chúng làm đất bạc màu Những rặng tre rợp bóng ở đường làng, nghiêng xuống nơi bờ ao không còn nhiều, đã có những vật liệu bền chắc thay thế dần cho tre nứa ngày xưa Tuy nhiên Tre vẫn là một “siêu vật liệu thế kỷ 21” bởi Tre có tác dụng cải thiện môi sinh, làm cho không khí mát mẻ, che chắn gió bão,và những đặc tính của

nó khiến người ta phải kinh ngạc

Theo giới kiến trúc, tre là "thép thực vật" còn ưu việt hơn cả thép vì tre nhẹ hơn thép nhưng có sức bền cao gấp 5 lần bê-tông Tre lại nẩy nở rất nhanh, hấp thụ khí CO2 gấp

4 lần so với cây lấy gỗ Kiến trúc sư Darrel DeBoer sống ở San Francisco (Mỹ), người chuyên nghiên cứu các vật liệu có sức bền cao cho rằng các kết cấu khung tre phù hợp với nhiều loại hình khí hậu

Ngày nay, cây tre có mặt ở khắp

nơi, tre không chỉ có mặt ở túp lều

tranh đơn sơ, nghèo nàn nữa mà đã có

mặt trong các tòa nhà sang trọng lẫn

các khu nghỉ dưỡng sa xỉ

Hình 2.16 Công trình xây dựng bằng tre

Trang 31

2.3.3.2 Gỗ

Gỗ quý và lý tưởng được gọi là “tứ thiết” gồm có: đinh, lim, sến, táu, còn loại

gỗ phổ thông hơn (ngoài tre) có xoan, mít Người nông dân khi lập gia đình và làm nhà thì thường bao giờ cũng trồng một bụi tre ở góc vườn, một hàng xoan và vài gốc mít:

20 năm sau, khi con họ lớn lên, dựng vợ gả chồng thì vừa lúc tre, xoan, mít đó đến độ

có thể dùng làm vật liệu dựng nhà – đó là thói quen sống lo xa, sống cho tương lai, là lối sống cộng đồng của người Việt Nam mà các cụ gọi là “ cái nợ đồng lần”

Từ những đa dạng trong phương thức tận dụng những chất liệu thiên nhiên sẵn có, cùng với trí óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo người dân Việt đã tạo ra nhũng sản phẩm thủ công độc đáo mang một vẻ đẹp rất riêng trong văn hóa đời sống của Việt Nam Đó là việc hình thành những làng nghề truyền thống

2.3.3.4 Sản phẩm gốm sứ

Nghề gốm sứ đã xuất hiện từ lâu đời ở Việt Nam Miền Bắc nổi tiếng với gốm

sứ Bát Tràng, Hải Dương, Miền Nam có gốm sứ Bình Dương và Đồng Nai Gốm Minh Long nổi tiếng không chỉ về chất lượng mà còn nổi tiếng với nhiều mẫu mã đa dạng thiết kế riêng, màu sắc tươi đẹp sắc sảo Làng gốm Chăm Bình Đức của Miền Trung với các mặt hàng gốm dùng trong sinh hoạt gia đình như nồi, trảo, chum… đến nay vẫn làm bằng tay với bàn xoay Gốm Chăm còn có điểm khác biệt là không sử dụng lò nung, mà sản phẩm chất thành đống trên bãi đất trống, đốt lửa để nung

Trang 32

lá vẫn được duy trì gìn giữ và là công việc mưu sinh chính của biết bao gia đình

Hình 2.18 Làng nghề mây tre Những đôi quang gánh xưa đã không còn phổ biến

mà những sản phẩm rất cầu kỳ và tinh tế, những sản phẩmđược tạo ra từ nguồn nguyên liệu tự nhiên này không những đạt về giá trị thẩm mỹ cao mà còn có giá trị kinh tế rất lớn vì sản phẩm từ đây được suất khẩu ra thị trường thế giới, từ bàn ghế, đèn,

rổ, kệ để sách báo…Chỉ cần ra khỏi thành phố khoảng 20km về hướng Hóc Môn, Củ Chi có thể tham quan làng nghề truyền thống của người dân xã Xuân Thới Sơn Các sản phẩm từ tre rất đa dạng, phong phú như sọt tre, đũa tre, rổ tre, cao cấp hơn là các

bộ bàn ghế bằng tre, võng tre Ðặc biệt ở Bình Dương có những lò chuyên uốn tre cho

Trang 33

ngay thẳng Nếu muốn chọn một sản phẩm ở ngay trung tâm TP.HCM, có thể ghé xem

ở khu vực đường Ba Tháng Hai, Pasteur, Nam Kỳ Khởi Nghĩa Các sản phẩm mây rất bền, độ dai và độ thông thoáng cao

2.4 MỘT SỐ VƯỜN CẢNH TIÊU BIỂU MANG BẢN SẮC VĂN HÓA VN 2.4.1 Vườn Lăng Tự Đức

Vua Tự Đức - một vị vua, một nhà thơ hiền lành, thương dân, yêu nước nhưng thể chất yếu đuối, tính cách có phần bạc nhược và bi quan Làm vua trong bối cảnh xã hội khó khăn, bên ngoài giặc ngoại xâm tấn công, bên trong huynh đệ lục đục giành nhau ngôi báu, bản thân nhà vua lại đau ốm, bệnh tật nên không có con Để trốn tránh cuộc đời khắc nghiệt, Tự Đức cho xây dựng khu lăng tẩm này như một hành cung thứ hai để tiêu sầu và phòng lúc “ra đi bất chợt”, bởi như vua từng nói: “người khỏe còn lo

chuyện bất thường huống chi kẻ yếu!” (Trích: Khiêm Cung Ký)

Lăng Tự Đức là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc thời Nguyễn Lăng tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (nay

là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế) Lăng được xây dựng vào năm

1864 – 1867 Khi mới khởi công xây dựng, vua Tự Đức lấy tên “Vạn Niên Cơ” (cái nền của sự tồn tại dài lâu vạn năm) đặt cho công trình Nhưng sau khởi nghĩa Chày Vôi

do anh em Đoàn Hữu Trưng khởi xướng, vua cho đổi tên thành “Khiêm Cung” (cung của sự khiêm tốn), sau khi vua mất gọi là Khiêm Lăng Lăng bao gồm hai phần khu điện thờ (Tâm điện) và khu lăng mộ (Bửu thành) Bố cục khu lăng gồm 2 phần chính,

bố trí trên 2 trục dọc song song với nhau, cùng lấy núi Giáng Khiêm ở phía trước làm tiền án, núi Dương Xuân làm hậu chẩm, hồ Lưu Khiêm làm yếu tố minh đường

Khu lăng có bố cục kiến trúc đặc sắc và rất hài hoà với khung cảnh thiên nhiên Toàn cảnh lăng Tự Đức như một công viên rộng lớn Ở đó quanh năm có suối chảy, thông reo, muôn chim ca hát Yếu tố được tôn trọng triệt để trong lăng Tự Đức là sự hài hòa của đường nét Không có những con đường thẳng tắp, đầy góc cạnh như các

Trang 34

kiến trúc khác, thay vào đó là con đường lát gạch Bát Tràng bắt đầu từ cửa Vụ Khiêm

đi qua trước Khiêm Cung Môn rồi uốn lượn quanh co ở phía trước lăng mộ và đột ngột khuất vào những hàng cây sứ đại thụ ở gần lăng Hoàng hậu Lệ Thiên Anh

được cấu tạo hài

ồ nước chảy du

p, phảng phất nét u

Hình 2.19 Mặt bằng tổng thể Khiêm Lăng

Tổng thể kiến trúc này đầy trang trọng và tính mỹ thuật cao

hòa giữa đồi núi nhấp nhô, cây cỏ tốt tươi, rừng thông xanh biếc, khe h

dương thành một khung cảnh êm đềm thơ mộng và hết sức tươi đẹ

Trang 35

trầm thanh nhã như tâm hồn mẫn cảm, yêu thích thiên nhiên và nghệ thuật của vị vua hiền đức hiếu thảo, được người đời mệnh danh là “ông vua thi sĩ” Trong cái quyến rũ của mây nước, hương hoa đó, người ta như quên đi rằng đó là lăng tẩm của một người quá cố mà ngỡ là thiên đường của cỏ cây, của thi ca và mộng tưởng Sự sáng tạo của con người hài hòa với cảnh quan tự nhiên tạo nên một khung cảnh thơ mộng, diễm lệ

Hình 2.20 Quần thể Khiêm Lăng

Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi Qua cửa Vụ Khiêm (cửa chính), đường vào lăng chạy quanh co,

có vẻ tự nhiên bên hồ Lưu Khiêm, trong hồ có Khiêm đảo, ven hồ dựng 2 nhà thuỷ tạ:

Dũ Khiêm tạ (nơi hứng gió và bến thuyền rồng) và Xung Khiêm tạ (nơi đọc sách, câu cá) Qua khỏi cửa Vụ Khiêm và miếu thờ Sơn Thần, đi trên con đường chính dẫn vào khu vực điện thờ, nơi trước đây là chỗ nghỉ ngơi, giải trí của vua Đầu tiên là Chí Khiêm Đường ở phía trái, nơi thờ các bà vợ vua Tiếp đến là 3 dãy tam cấp bằng đá Thanh dẫn vào Khiêm Cung Môn - một công trình hai tầng dạng vọng lâu như một thế đối đầu tiên với hồ Lưu Khiêm ở đằng trước

Trang 36

Hình 2.21 Hồ Lưu Khiêm

Hồ Lưu Khiêm nguyên là một con suối nhỏ chảy trong khu vực lăng, được đào rộng thành hồ Đó là yếu tố “minh đường” để “tụ thủy”, “tích phúc”, đồng thời là nơi

để thả hoa sen tạo cảnh Giữa hồ có đảo Thuận Khiêm với những mảnh đất trồng hoa

và những hang nhỏ để nuôi thú hiếm Trên hồ Lưu Khiêm có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, nơi nhà vua đến ngắm hoa, làm thơ, đọc sách Ba cây cầu Tuần Khiêm, Tiễn Khiêm và Do Khiêm bắt qua hồ dẫn người ta đến đồi thông bạt ngàn và đảo xanh ngát hương cỏ hoa, như đưa họ sang thế giới thần tiên, mộng ảo ngay giữa chốn đời thường

Bên trong Khiêm Cung Môn là khu vực dành cho vua nghỉ ngơi mỗi khi đến đây Chính giữa là điện Hòa Khiêm để vua làm việc, nay là nơi thờ cúng bài vị của vua

và Hoàng hậu Hai bên tả, hữu là Pháp Khiêm Vu và Lễ Khiêm Vu dành cho các quan văn võ theo hầu Sau điện Hòa Khiêm là điện Lương Khiêm, xưa là chỗ nghỉ ngơi của vua, về sau được dùng để thờ vong linh bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức Bên phải điện Lương Khiêm là Ôn Khiêm Đường - nơi cất đồ ngự dụng Đặc biệt, phía trái điện Lương Khiêm có nhà hát Minh Khiêm để nhà vua xem hát, được coi là một trong

Trang 37

dẫn ra Trì Khiêm Viện và Y Khiêm Viện là chỗ ở của các cung phi theo hầu nhà vua, ngay cả khi vua còn sống cũng như khi vua đã chết Cạnh đó là Tùng Khiêm Viện, Dung Khiêm Viện và vườn nuôi nai của vua

Tự Đức không có con nối dõi nên đã viết bài văn bia này thay cho bia “Thánh đức thần công” trong các lăng khác Toàn bài văn dài 4.935 chữ, là một bản tự thuật của nhà vua về cuộc đời, vương nghiệp cũng như những rủi ro, bệnh tật của mình, kể công

và nhận tội của Tự Đức trước lịch sử Đằng sau tấm bia là hai trụ biểu sừng sững như hai ngọn đuốc tỏa sáng cùng với hồ Tiểu Khiêm hình trăng non đựng nước mưa để linh hồn vua rửa tội

Hình 2.23 Đường dạo ven hồ trong Khiêm Lăng

Trang 38

Như vậy Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng) được tạo hình và tạo cảnh trong khung cảnh rừng với kiến trúc nhỏ xinh và duyên dáng, trở thành một mẫu mực của nghệ thuật kiến trúc phong cảnh dân tộc Giữa kiến trúc lăng và thiên nhiên luôn có sự gần gũi, bổ trợ Ðường nét kiến trúc thật phóng khoáng, hài hòa cùng thiên nhiên có sẵn, hoặc cải tạo lại cho phù hợp với nghệ thuật kiến trúc phong cảnh Chính vì thế, Lăng

Tự Đức thật sự là một bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn thủy hữu tình

2.4.2 Vườn Phủ Đệ

2.4.2.1 Phủ thờ công chúa Ngọc Sơn

Ngọc sơn công chúa là con gái của vua Đồng Khánh Khi công chúa hạ giá, vua Đồng Khánh cấp cho một khu đất rộng 2.370 m2 để lập phủ Nhà vườn tọa lạc ở số

29 đường Nguyền Chí Thanh, TP.Huế

Nhà vườn Ngọc Sơn công chúa được xây dựng tương đối sớm và được các thế hệ con cháu bảo quản hầu như còn nguyên vẹn Toàn bộ mặt bằng khuôn viên được quy hoạch một cách bài bản, theo nguyên tắc phong thủy của người phương Đông, có các yếu tố: tiền án (bình phong), minh đường (hồ nước)…

Hình 2.24 Lối vào phủ công chúa Ngọc Sơn

Trang 39

Toàn bộ ngôi nhà thể hiện cuộc sống tao nhã, tâm hồn trong sáng và yêu nghệ thuật của chủ nhân Ngôi nhà chính quay lưng ra đường nhằm tránh xa không khí sôi động, ồn ào của cuộc sống đô thị, và được bao bọc bởi hàng cau thẳng tắp và hàng rào chè tàu cắt xén gọn gàng Cũng như nhiều loại hình nhà vườn Huế - không gian văn hóa của gia đình lớn, hướng nội và ít nhiều mang tính tự cung tự cấp, phủ đệ, ngoài khuôn viên vườn, công trình kiến trúc chính là ngôi nhà rường và những kiến trúc phụ xung quanh phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của các thành viên trong gia đình, đã hình thành nên không gian khép kín bởi những tường thành vững chắc với cổng, bình phong,

bể cạn - tất cả chúng là một thế giới thu nhỏ trong không gian tĩnh lặng và an bình của

Huế Ở đây, cách thiết trí cũng như hệ cây xanh trong khuôn viên vườn phủ cũng không khác gì so với những ngôi nhà vườn Huế, đó là tính đa chủng, đa tầng, đa dạng

cây trồng, phục vụ cuộc sống chủ nhân trong đa dạng lĩnh vực: thực phẩm, đồ uống, tín

ngưỡng - phong tục, gia vị, hương liệu, dược liệu, lá gói, chất đốt, nghệ thuật, vật liệu xây dựng, sinh hoạt…

▲ Hình 2.25 Lăng thờ Công chúa

◄ Hình 2.26 Khuôn viên vườn

Công chúa Ngọc sơn

Trang 40

Ngôi nhà chính được xây dựng theo lối kiến trúc nhà rường truyền thống trước nhà là hồ nước hình chữ nhật Đối diện trước mặt nhà chính, bên kia hồ nước là lũy tre xanh Nơi thờ công chúa được dành một vị trí trang trọng trong khoảng sân vườn và bao quanh là cây cối xanh tươi

2.4.2.2 Lạc Tịnh Viên

Lạc Tịnh Viên tọa lạc ở 65 Phan Đình Phùng, TP.Huế Hệ thống nhà và vườn nằm khuất sau chiếc cổng chính hình mái vòm với cánh cửa gỗ lim dày, đó là một khu vườn yên tĩnh và gần gũi với thiên nhiên Bước qua cổng chính là một vườn cây xanh sai trĩu quả, dọc hai bên lối đi là những hàng cây cảnh được xén tỉa gọn gàng Khu vườn luôn thơm ngát hương hoa tỏa ra từ hải đường, nguyệt quế đến mai tứ quý, mẩu đơn… Cuối lối đi là một bức bình phong xây bằng gạch, mô phỏng một cuốn thư Theo chủ nhà thì tấm bình phong là chi tiết không thể thiếu trong bất kỳ một quần thể kiến trúc nào tại Huế Nó là tấm chắn ngăn ngừa các khí độc và những ánh mắt tò mò cho khu nhà Qua khoảng sân vuông vắn là khu nhà gồm bốn căn, mỗi căn có một tên riêng

và nét truyền thống khác nhau

Hình 2.27 Khuôn viên Lạc Tịnh Viên Hình 2.28 Lối vào Lạc Tịnh Viên

Ngày đăng: 15/06/2018, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Grant W. Reid, 2005. Từ ý đến hình trong thiết kế cảnh quan. KTS. Hà Nhật Tân (biên dịch theo bản tiếng anh). Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ý đến hình trong thiết kế cảnh quan
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin
3. Trần Hợp, 2000. Cây cảnh hoa Việt Nam. Nhà xuất bản Nông Nghiệp chi nhánh TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cảnh hoa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông Nghiệp chi nhánh TP Hồ Chí Minh
4. Lê Quang Long (chủ biên), Hà Thị Lệ Ánh – Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2000. Từ điển tranh về các loài hoa. Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tranh về các loài hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
5. Sơn Nam, 2000. Nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn. Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
6. Trần Ngọc Thêm, 2004. Tìm về bản sắc Văn Hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc Văn Hóa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh
7. Lê Đàm Ngọc Tú, 2007. Sự giao thoa Văn Hóa trong nghệ thuật vườn Khiêm Lăng. Tiểu luận môn học, Trường ĐH Kiến Trúc TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự giao thoa Văn Hóa trong nghệ thuật vườn Khiêm Lăng
1. Boo Chih Min, Kartini Omar – Hor, Yang Chou Lin. 1001 Garden Plants in Singarpore (2 nd Edition) National Park’s Publication, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1001 Garden Plants in Singarpore (2 nd Edition) National Park’s Publication
2. Hội kiến trúc sư Việt Nam. Kiến trúc nhà đẹp Khác
8. Http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn Khác
10. Http://kientruc-vn.org/nhavuonhue.htm. TIẾNG NƯỚC NGOÀI Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w