1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế trò chơi dùng trong giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học qua các hoạt động ngoại khóa

84 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Ở cuốn “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương, tác giả nghiên cứu lí luận về môi trường và đề ra một số biện

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo, cán bộ khoa Khoa học xã hội và khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm non, trường Đại học Quảng Bình đã tạo điều kiện thuận lơi cho tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các giảng viên đã nhiệt tình giảng dạy và gợi mở trong tôi nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên ThS Lê Thị Thu Hiền, người đã tận tâm hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành bài khóa luận Sau cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các bạn sinh viên lớp Đại học GD Tiểu học A K56 đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn Đồng thời xin gửi lời cám ơn đến các thầy (cô) và các học sinh tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nam Hóa đã nhiệt tình tham gia trả lời câu hỏi khảo sát và các hoạt động ngoại khóa giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,các số liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào

Tác giả

Cao Thị Tuyết

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử ngiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu của đề tài 4

4.1 Khách thể nghiên cứu 4

4.2 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Phạm vi nghiên cứu 5

8 Các phương pháp nghiên cứu 5

9 Những đóng góp của đề tài 6

10 Cấu trúc của đề tài 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRÒ CHƠI VÀ GDMT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA 7

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÒ CHƠI VÀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA 7

1.1.1 Một số vấn đề về trò chơi 7

1.1.2.Một số vấn đề về giáo dục môi trường 9

1.1.3 Hình thức hoạt động ngoại khóa 12

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học 14

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 18

1.2.1.Thực trạng và nhận thức hành vi của học sinh Tiểu học về môi trường và bảo vệ môi trường 18

1.2.2 Thực trạng việc ứng dụng trò chơi trong các hoạt động ngoại khóa giáo dục BVMT ở trường tiểu học hiện nay 19

Tiểu kết chương 1 20

CHƯƠNG 2: SƯU TẦM VÀ THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI NGOẠI KHÓA TRONG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 21

2.1 NGUYÊN TẮC THIẾT KẾ TRÒ CHƠI 21

2.2.YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI 22

2.2.1 Mục đích sử dụng trò chơi 22

Trang 4

2.2.2 Yêu cầu về trò chơi 23

2.2.3 Một số lưu ý khi sử dụng trò chơi học tập 23

2.2.4 Cách thức tổ chức trò chơi học tập 23

2.3 SƯU TẦM VÀ THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP 26

2.3.1 Nhóm trò chơi sưu tầm 26

2.3.2 Nhóm trò chơi tự thiết kế 38

Tiểu kết chương 2 42

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG 43

TIỂU HỌC VÀ THCS NAM HÓA 43

3.1 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 43

3.1.2 Ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm 43

3.2 NỘI DUNG THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 43

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 43

3.2.2 Thời gian thực nghiệm 44

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 44

3.3 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 51

3.3.1 Kết quả kiểm tra nhận thức 51

3.3.2 Kết quả kiểm tra thái độ 55

3.3.3 Kết quả điều tra hành vi 56

3.3.4 Đánh giá chung kết quả thực nghiệm 58

Tiểu kết chương 3 59

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

1 KẾT LUẬN 60

2 KIẾN NGHỊ 60

2.1 Đối với công tác quản lí chỉ đạo chuyên môn 60

2.2 Đối với giáo viên 60

2.3 Đối với học sinh 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 64

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Số thứ tự Chữ viết tắt Nội dung

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Nguồn thông tin học sinh tiếp nhận về vấn đề MT và BVMT 44

Bảng 3.2 Nhận thức của HS về hành vi BVMT 45

Bảng 3.4 Nhận thức về hành vi BVMT của HS sau thực nghiệm 52

Bảng 3.5 So sánh nhận thức về hành vi BVMT của HS trước và sau thực nghiệm 53

Bảng 3.6 Nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của HS trong việc BVMT 54

Bảng 3.7 So sánh nhận thức về vai trò, nhiệm vụ của HS trong việc BVMT trước và sau thực nghiệm 54

Bảng 3.8 Ý kiến của HS về các trò chơi ngoại khóa 55

Bảng 3.9 Nhu cầu tham gia các trò chơi ngoại khóa của học sinh 56

Bảng 3.10 Tần suất thực hiện hành vi bỏ rác đúng nơi quy định của học sinh sau thực nghiệm 57

Bảng 3.11 So sánh tần suất thực hiện hành vi bỏ rác đúng nơi quy định của HS trước và sau thực nghiệm 57

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhân loại từ khi ra đời, tất cả các hoạt động: ăn, mặc, ở, đi lại, sản xuất và sinh hoạt đều dựa vào Trái đất để tồn tại và phát triển Đã từ rất lâu tiến trình văn minh của nhân loại luôn ngừng lại ở sự tước đoạt và chinh phục thiên nhiên, hầu như xưa nay chưa ai nghĩ đến việc phải bảo vệ Trái đất: cái nôi đã nuôi dưỡng con người Loài người đồng thời với việc tạo ra những thành quả văn minh cũng đã tước đoạt thiên nhiên, gây cho Trái đất - nơi chúng ta sinh sống đầy “thương tích”

Những hiểm họa suy thoái môi trường đang ngày càng đe dọa cuộc sống của loài

người “Theo các báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia và toàn cầu cho thấy: môi

trường nước, không khí, đất đai, môi trường làng nghề, môi trường các khu công nghiệp… bị ô nhiễm nghiêm trọng, các hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai, bão lụt, hạn hán, … diễn ra bất thường và rất nặng nề: các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, thiếu quy hoạch,…” [14] Chính vì vậy bảo vệ môi trường

là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia và toàn cầu hiện nay

Một trong những biện pháp có hiệu quả lâu dài và rất quan trọng là phải giáo dục

ý thức bảo vệ môi trường Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng được trang bị kiến thức về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường Trong đó giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước, những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường là vấn đề quan trọng nhất Ở nước ta vấn đề giáo dục môi trường cũng là mối quan tâm sâu sắc của Đảng, nhà nước và hệ thống

nhà trường Với nhiệm vụ: “Đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ, môi

trường, dân số rèn luyện thể chất cho học sinh” [17]

Giáo dục môi trường là một quá trình nhằm phát triển ở học sinh sự hiểu biết và quan tâm trước những vấn đề môi trường bao gồm kiến thức, thái độ hành vi trách nhiệm và kỹ năng để tự mình và tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường trước mắt cũng như lâu dài Giáo dục môi trường nhằm mục đích cuối cùng là học sinh được trang bị ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất năng lực biết tự đánh giá vẻ đẹp thiên nhiên

Trong hệ thống nhà trường, việc giáo dục môi trường (GDMT) cần được coi trọng đặc biệt ở bậc tiểu học, bởi lẽ: Bậc tiểu học là bậc học nền móng, bậc phổ cập của hệ thống giáo dục quốc dân Hàng chục triệu trẻ em một khi đã được

Trang 8

giáo dục đầy đủ các hành trang về nhận thức, tri thức về bảo vệ môi trường sẽ là một lực lượng hùng hậu đóng vai trò nòng cốt, trong mọi hành động cải thiện môi trường, bảo vệ tài nguyên của xã hội Học sinh tiểu học ở độ tuổi đang phát triển và định hình dần về nhân cách Vì vậy những hiểu biết cơ bản của các em được bồi dưỡng qua giáo dục môi trường sẽ để lại dấu ấn sâu sắc không thể phai mờ trong toàn bộ cuộc đời sau này của các em Đồng thời trẻ em lứa tuổi này có tính tích cực cao, dễ hưng phấn, hiếu động, nghịch ngợm nếu không được giáo dục sẽ dẫn tới hành động phá hoại môi trường một cách vô ý thức hoặc có ý thức

Có thể nói giáo dục môi trường ở trường Tiểu học trong những năm gần đây và nhất là hiện nay đã thực sự được coi trọng và được xúc tiến bằng hai con đường: con đường trực tiếp thông qua giảng dạy môn văn hóa trong chương trình ở trường Tiểu học nội dung giáo dục môi trườngđã được đưa vào các môn học: Tự nhiên xã hội, Tiếng Việt, Đạo đức và được giảng dạy ngay từ lớp 1 Và con đường gián tiếp là thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp Đối với học sinh Tiểu học, tổ chức giáo dục

ở trên lớp và ngoài lớp là hai bộ phận hữu cơ hợp thành một thể thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường Thế nhưng hoạt động chính khóa hình thành chủ yếu cho học sinh kiến thức về môi trường và bảo vệ môi trường thì hoạt động ngoại khóa GDMT không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp hình thành ở học sinh thái độ, hành vi và kỹ năng bảo vệ môi trường Nó huy động sự tham gia của nhiều học sinh, đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức một cách tổng hợp linh hoạt

để giải quyết vấn đề và kích thích hứng thú của người học Một bộ phận để hoạt động ngoại khóa đạt kết quả đó chính là việc sử dụng các trò chơi học tập liên quan đến chủ

đề, mục tiêu của hoạt động

Có thể xem hình thức các hoạt động ngoại khóa GDMT là một trong những biện pháp tốt nhất để hình thành ở học sinh ý thức, thái độ, tình cảm và hành vi để bảo vệ môi trường Bằng việc sử dụng các trò chơi trong hoạt động ngoại khóa đã đem đến hiệu quả trong việc GDMT Tuy nhiên, những tài liệu nghiên cứu về cách tổ chức các hoạt động ngoại khóa cũng như các trò chơi dùng trong hoạt động còn chưa nhiều, phần lớn mới chỉ dừng lại ở mô hình lý thuyết, chung chung, gây khó khăn cho giáo viên trong quá trình tổ chức các hoạt động cũng như không gây hứng thú cho học sinh Chính điều đó đã làm cho các hoạt động ngoại khóa không phát huy hết tác dụng trong

việc giá dục môi trường Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “ Thiết kế

Trang 9

trò chơi dùng trong giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học qua các hoạt động ngoại khóa “ làm khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử ngiên cứu

Môi trường ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng chính vì thế mà công tác giáo dục môi trường càng cần phải được quan tâm đặc biệt là trong nhà trường Tiểu học Để việc giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học trở nên hứng thú thì việc ứng dụng trò chơi trong giáo dục bảo vệ môi trường là vô cùng cần thiết Đã có nhiều tài liệu và công trình nghiên cứu về vấn đề này trong bậc Tiểu học như:

+ Trong tài liệu “Giáo dục môi trường trong trường tiểu thọc” và “Một số biện pháp tiếp cận GDMT” Tác giả Nguyễn Thị Thấn và Hoàng Đức Thuận đã đề cập đến các vấn đề môi trường, tầm quan trọng của môi trường và đề ra những biện pháp để giáo dục môi trường trong trường tiểu học Vấn đề được đặt ra trong 2 cuốn đều là giáo dục môi trường, đề ra 1 số biện pháp giáo dục môi trường Tuy nhiên không đi sâu vào một biện pháp cụ thể nào Để giáo dục đạt hiệu quả thì cần phải có những phương pháp giáo dục cụ thể, đặc biệt là với lứa tuổi tiểu học [11], [12]

+ Trong cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi ở tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí lực, thể lực cho học sinh” của Hà Nhật Thắng (chủ biên) và cuốn “150 trò chơi thiếu nhi” của Bùi Sỹ Tụng, Trần Quang Đức (đồng chủ biên), các tác giả đã đề cập đến lí luận về trò chơi như vai trò, cách thức tổ chức, ưu nhược điểm và các hoạt động vui chơi chung chung, mang tính khái quát cao [9], [13]

+ Tác giả Bùi Phương Nga và Vũ Xuân Đỉnh đã đề cập tới lí luận về trò chơi học tập, các hoạt động vui chơi của HS tiểu học và các nghiên cứu sáng tác trò chơi phục

vụ hoạt động dạy học của giáo viên trong tài liệu “Học mà vui – vui mà học’ và “Trò chơi học tập Tự nhiên – xã hội 1, 2, 3” Tuy nhiên các trò chơi, hoạt động chơi của học sinh gắn liền với các môn học chính khóa chủ yếu là môn Tự nhiên- Xã hội [2], [8] + Ở cuốn “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương, tác giả nghiên cứu lí luận về môi trường và đề ra một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học nhưng việc ứng dụng trò chơi trong hoạt động ngoại khóa giáo dục BVMT vẫn chưa được tìm hiểu sâu [6]

Ngoài ra còn có một số đề tài nghiên cứu như:

+ Đề tài “Giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa môn tự nhiên - xã

Trang 10

hội” của Nguyễn Thị Loan, tác giả đã nghiên cứu lí luận môi trường và GDMT cho HSTH qua các hoạt động ngoại khóa môn Tự nhiên – xã hội Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa tìm hiểu sâu việc ứng dụng trò chơi và giáo dục BVMT cho học sinh tiểu học, qua các buổi ngoại khoá khác ngoài môn Tự nhiên – xã hội

Nhìn chung có rất nhiều đề tài về GDMT cho HSTH trong đó một số đề tài đã khai thác các trò chơi sử dụng trong GDMT Tuy nhiên, các đề tài hầu hết đều sử dụng

các trò chơi truyền thống, chưa tạo tính mới cho học sinh Do đó, tôi lựa chọn đề tài:“

Thiết kế trò chơi dùng trong giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học qua các hoạt động ngoại khóa “ để giới thiệu một số trò chơi có thể dùng trong giáo dục môi

trường cho học sinh khối Tiểu học

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa GDMT cho học sinh tiểu học

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề giáo dục môi trường thông qua việc ứng dụng các trò chơi

- Sưu tầm và thiết kế một số trò chơi dùng trong GDMT

- Vận dụng các trò chơi đã sưu tầm và thiết kế vào thực nghiệm sư phạm

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu của đề tài

4.1 Khách thể nghiên cứu

Học sinh khối lớp 3 và lớp 5 trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nam Hóa, xã Nam Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Thiết kế trò chơi dùng trong hoạt động ngoại khóa giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học

5 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên biết vận dụng một cách linh hoạt và hợp lí một số trò chơi học tập trong các hoạt động ngoại khóa thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề giáo dục môi trường trong trường Tiểu học nói chung và giáo dục môi trường bằng trò chơi học tập nói riêng

Trang 11

- Vận dụng một số trò chơi học tập thông qua hoạt động ngoại khóa để giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học

- Thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài

7 Phạm vi nghiên cứu

Vận dụng trò chơi học tập để GDMT cho học sinh khối lớp 3 và lớp 5 Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nam Hóa

8 Các phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu:

Tôi đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu về môi trường, giáo dục môi trường, các tài liệu về tâm lí học, các tài liệu bàn về vấn đề tổ chức các hoạt động ngoại khóa và các trò chơi học tập dùng trong hoạt động ngoại khóa Việc nghiên cứu cơ sở lí luận này đã giúp tôi có căn cứ để xác định được các khả năng, tiêu chí lựa chọn các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa GDMT cũng như các trò chơi học tập liên quan đến chủ đề GDMT

* Phương pháp điều tra, khảo sát:

Tôi đã tiến hành điều tra về thực trạng nhận thức và hành vi và nhận thức của giáo viên cũng như học sinh về vấn đề môi trường và BVMT thông qua phiếu điều tra Tìm hiểu thực trạng vấn đề tổ chức các hoạt động ngoại khóa GDMT trong nhà trường Tiểu học nhằm tìm ra những khó khăn, hạn chế của giáo viên khi tiến hành các hoạt động ngoại khóa GDMT Đây chính là cơ sở thực tiễn cho việc thiết kế tổ chức các hoạt động ngoại khóa GDMT, các trò chơi học tập dùng trong hoạt động một cách phù hợp với trình độ của giáo viên, năng lực của học sinh, đặc biệt là khơi dậy sự hứng thú, ham học hỏi của học sinh Tiểu học

*Phương pháp thực nghiệm:

Đây là phương pháp được sử dụng để kiểm tra tính đúng đắn của mục đích đã đề

ra, kiểm định tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng các trò chơi học tập trong các hoạt động ngoại khóa GDMT Tôi sử dụng phương pháp này để thực nghiệm sư phạm tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nam Hóa

*Phương pháp thống kê toán học:

Được dùng để phân tích và xử lí các kết quả thu được qua điều tra và thực nghiệm

Trang 12

9 Những đóng góp của đề tài

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận về GDMT và hoạt động ngoại khóa

- Khái quát được một số vấn đề về thực trạng dạy và học các nội dung GDMT, đặc biệt là thông qua các hoạt động ngoại khóa

- Xây dựng được cách tổ chức các hoạt động ngoại khóa GDMT

- Thiết kế một số trò chơi trong hoạt động ngoại hoạt động ngoại khóa GDMT

10 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết lụân và kiến nghị, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính khóa luận gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về trò chơi và giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học qua các hoạt động ngoại khóa

Chương 2: Sưu tầm và thiết kế một số trò chơi ngoại khóa trong giáo dục bảo vệ môi trường

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nam Hóa

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRÒ CHƠI VÀ GDMT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA

1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÒ CHƠI VÀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC QUA CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA

1.1.1 Một số vấn đề về trò chơi

1.1.1.1 Nguồn gốc

Qua các tài liệu cổ người ta biết được rằng ở thời kì tiền sử con người muốn tồn tại phải biết săn bắn và hái lượm mới chống lại được thú dữ, có thực phẩm để ăn và vượt qua được điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên Gặp khi thuận lợi săn bắt được nhiều muông thú, người ta nuôi (nhốt) để dành cho những ngày thời tiết xấu không đi săn bắt được hoặc lễ hội Khi trao đổi kinh nghiệm sau mỗi buổi săn hay khi bắt lại các vật nuôi chính là lúc tập luyện và vui chơi, thi tài

Vì thế có thể nói trò chơi xuất hiện từ rất lâu, nó gắn liền với các hoạt động lao động, văn hóa và tín ngưỡng của cong người thời tiền sử Xuất phát từ những hành động, hành vi mô phỏng các hoạt động lao động như: đi, chạy, nhảy, leo trèo, nắm bắt, ném phóng… những thao tác bắt chước đó được hình tượng hóa mang tính chất tượng trưng tập luyện cho thuần thục và đôi khi mang tính thần bí

Với sự phát triển của xã hội, các nghi thức tôn giáo mất dần ý nghĩa chỉ còn giữ lại mục đích vui chơi,giải trí,rèn luyện giáo dục của cộng đồng.Nhờ khả năng tư duy, ngôn ngữ phát triển người ta nhận thấy sự quan trọng của sự chuẩn bị trước về các công cụ lao động, sức khỏe và sự tập luyện những thao tác cơ bản để hiệu quả lao động được cao hơn

Vì vậy, “đối tượng” bị rượt đuổi được thay thế bằng “vai diễn” cũng là con người, hoạt động tư duy và khái quát của người tham gia đã bổ sung thêm làm cho luật

và các quy ước trong trò chơi phong phú và mang tính chất tượng trưng cao hơn

Trò chơi hoàn toàn và luôn luôn biến đổi theo từng sự phát triển của thể chế xã hội, vì nó là phương tiện của giáo dục nên mỗi chế độ xã hội đều dùng trò chơi để phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của xã hội đó Do tính chất hấp dẫn, lôi cuốn nên trò chơi không chỉ là phương tiện mà nó còn là phương pháp được sử dụng trong giáo dục đối với mọi đối tượng đặc biệt là trẻ Tiểu học

Trang 14

1.1.1.2 Phân loại trò chơi

Ngày nay trò chơi rất phong phú, đa dạng và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau Căn cứ vào hình thức tổ chức và mục đích sử dụng có thể phân ra 4 loại trò chơi, bao gồm:

a Trò chơi thi đấu

Bao gồm các trò chơi diễn ra giữa hai người hay hai phe, giữa nhiều người hay nhiều phe mà kết quả bao giờ cũng có người thắng, kẻ thua.Loại trò chơi này thường thu hút được nhiều người tham gia Bỡi lẽ quyền lợi của nguời chơi và người cỗ vũ gắn chặt với nhau

Ví dụ: đấu bóng, đấu vật, đánh cờ, đua thuyền, kéo co…

b Trò chơi mô phỏng

Loại trò chơi này nhằm tái hiện những hoạt động lao động sản xuất, sinh hoạt hằng ngày của con người hay sự vận hành vũ trụ Trò chơi mô phỏng những hoạt động sống của con người giúp cho thiếu nhi chuẩn bị gia nhập thế giới người lớn

Ví dụ: kéo co, ném còn, đập lúa, nhảy dây…

c Trò chơi cầu may

Loại này bao gồm những trò chơi chỉ để nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nhưng thu hút nhiều người tham gia

Ví dụ: xổ số, cá ngựa…

d Trò chơi học tập

Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập của học sinh

mà trong đó học sinh lĩnh hội được các kiến thức cần thiết nhờ tham gia tích cực vào các hoạt động của trò chơi

Ví dụ: hái hoa dân chủ, ô chữ bí mật, bắt muỗi…

1.1.1.3 Ý nghĩa của trò chơi dùng trong học tập

Trong 4 loại trò chơi nêu trên, trò chơi học tập là trò chơi phù hợp nhất với hoạt động giáo dục Nếu biết tổ chức cho trẻ vui chơi một cách hợp lí, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục Học trong quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn sống, kinh nghiệm xã hội một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm sự căng thẳng thần kinh ở các em, giữ được sự hồn nhiên của trẻ thơ Chính

Trang 15

vì vậy việc vận dụng trò chơi để giáo dục môi trường thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng cao [2] Cụ thể là:

- Hình thành hành vi đúng đắn – mục tiêu của vấn đề giáo dục môi trường Nội dung các trò chơi sẽ minh họa một cách sinn động các mẫu hành vi này Nhờ đó mà các hành vi này sẽ tạo được những biểu hiện rõ rệt ở học sinh, giúp các em ghi nhớ rõ ràng lâu bền

- Trò chơi học tập sẽ làm thay đổi thái độ và hành vi về môi trường, cũng như luyện tập cho học sinh những kĩ năng đúng đắn về vấn đề môi trường, giúp các em thể hiện hành vi một cách đúng đắn và tự nhiên

- Qua trò chơi học sinh có cơ hội thể hiện những chuẩn mực hành vi bảo vệ môi trường Chính nhờ sự thể hiện này sẽ hình thành ở học sinh niềm tin về những chuẩn mực hành vi đã học, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi bảo vệ môi trường trong cuộc sống

- Qua trò chơi, học sinh sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình một cách ứng xử đúng đắn, phù hợp với môi trường

- Năng lực quan sát, kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác có phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực hành vi bảo vệ môi trường cũng được hình thành ở học sinh thông qua trò chơi

1.1.2 Một số vấn đề về giáo dục môi trường

1.1.2.1.Khái niệm môi trường

" Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Ðiều 1, Luật Bảo vệ Môi trường

của Việt Nam) [22]

Môi trường sống của con người dựa vào chức năng được chia thành các loại sau:

- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước

- Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan…Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập

Trang 16

thể, thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

- Môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như: ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực

đô thị, công viên nhân tạo…

Môi trường có chức năng, vai trò rất lớn, có thể kể đến các chức năng cơ bản sau:

- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật

- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người

- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình

- Môi trường là nơi giảm nhẹ tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên Trái Đất

- Môi trường là nơi lưu giữ và cung cấp thông tin cho con người

1.1.2.2 Khái niệm giáo dục môi trường

“Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính

quy và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kĩ năng và giá trị tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái” [4]

Mục đích của giáo dục môi trường nhằm vận dụng những hiểu biết về kiến thức

và kĩ năng vào giữ gìn, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường, xóa nghèo đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên Hơn nữa,nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động lực và cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh

Ở trong khóa luận này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về vấn đề giáo dục môi trường ở trong trường Tiểu học Bởi Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việc đào tạo các em trở thành công dân tốt cho đất nước, hơn nữa số lượng học sinh Tiểu học rất đông chiếm khoảng gần 10% dân số Con số này sẽ nhân lên nhiều lần nếu các em biết và thực hiện được tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong cộng đồng, tiến tới tương lai cố cả một thế hệ biết bảo vệ môi trường

Trang 17

1.1.2.3 Mục tiêu giáo dục môi trường trong trường Tiểu học

Xuất phát từ mục tiêu chung về GDMT các nước sẽ xây dựng mục tiêu riêng cho nước mình, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và khả năng hành động của từng cấp học, dựa trên tiêu chuẩn quan trọng nhất là hành động tích cực của cá nhân và tập thể trong việc cải thiện chất lượng môi trường Thông qua chỉ thị 36/CT-

TƯ đưa ra ngày 25/6/1998 của bộ chính trị về “tăng cường công tác BVMT trong thời

kì công nhiệp hóa hiện đại hóa đất nước” ở đó có công tác GDMT là giải pháp đầu tiên: ”Thường xuyên giáo dục,tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng BVMT” [12] Vì vậy, mục tiêu GDMT trong nhà trường nhằm “Mỗi trẻ được trang bị một ý thức trách nhiệm dối với sự phát triển bền vững của Trái Đất, một khả năng biết đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên và một giá trị nhân cách được khắc sâu bởi một nền tảng đạo lí về môi trường”

1.1.2.4 Nhiệm vụ giáo dục môi trường ở trường Tiểu học

GDMT là một quá trình nâng cao nhận thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái

độ và hành vi đúng đắn cho học sinh về vấn đề môi trường, do đó có các nhiệm vụ sau:

- Làm cho học sinh hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường nói chung và môi trường Việt Nam nói riêng Nhận thức rõ mối quan hệ khăng khít với sự tác động tương hỗ giữa các sinh vật với các yếu tố của môi trường Tầm quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

- Trên cơ sở những hiểu biết đó, giáo dục cho học sinh ý thức, thái độ, sự quan tâm, hành vi cư xử đúng mực với môi truờng và bảo vệ môi trường, dần dần hình thành ở học sinh lòng yêu thiên nhiên, mong muốn bảo vệ môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường xung quanh (nhà ở, lớp, trường học, thôn xóm, bản làng, phố phường…)

- Giúp học sinh bước đầu có khả năng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường phù hợp với lứa tuổi của mình, biết sống ngăn nắp, vệ sinh, gần gũi, thân thiện với thiên nhiên, môi trường

1.1.2.5 Các nguyên tắc GDMT ở trường Tiểu học

Việc GDMT ở trong trường Tiểu học cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Ưu tiên khai thác tình hình môi trường của địa phương và đất nước để có những biện pháp ngăn ngừa những tác động xấu tới môi trường

Trang 18

- Nội dung được lồng ghép vào các môn học nhưng không làm thay đổi chương trình và quỹ thời gian của môn học đó, nhằm trang bị kiến thức cho học sinh một cách vừa đủ về môi trường và các phương pháp bảo vệ môi trường

- Nội dung và phương pháp phải phù hợp với mục tiêu dạy học của nhà trường và đặc điểm của học sinh ở những lứa tuổi khác nhau

1.1.3 Hình thức hoạt động ngoại khóa

1.1.3.1 Mục đích, ý nghĩa

a, Khái niệm

Hoạt động ngoại khóa là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ các môn học Họat động ngoại khóa là sự tiếp nối hữu cơ giữa hoạt động vui chơi và hoạt động dạy học, tạo điều kiện gắn lí thuyết với thực hành, góp phần quan trọng vào sự hình thành

và phát triển nhân cách toàn diện của học sinh [19]

Hoạt động ngoại khóa là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong toàn bộ quá trình giáo dục của các trường phổ thông nói chung, của trường Tiểu học nói riêng Biết, hiểu, thiết kế và tổ chức hiệu quả hoạt động ngoại khóa trong trường Tiểu học

là một nhiệm vụ quan trọng đối với giáo viên

b, Mục đích

- Củng cố, khắc sâu những kiến thức đã được học qua các môn học ở trên lớp

- Phát triển sự hiểu biết của học sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ đó làm phong phú thêm vốn tri thức của các em

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng ban đầu, cơ bản cần thiết phù hợp với sự phát triển chung của trẻ (kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tham gia các hoạt động tập thể,

kĩ năng nhận thức,…)

- Góp phần hình thành và phát triển tính tích cực, tự giác cho học sinh trong việc tham gia vào các hoạt động chính trị- xã hội Trên cơ sở đó, bồi dưỡng cho trẻ thái độ đúng đắn với các hiện tượng tự nhiên và xã hội, thái độ có trách nhiệm đối với công việc chung

Trang 19

- Những thông tin cập nhật trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội phù hợp với nhận thức của học sinh tiểu học

- Tạo cơ hội để học sinh tiểu học phát triển các khả năng của mình trong hoạt động ngoại khóa

- Thành lập nhóm phát thanh măng non tuyên truyền các kiến thức về môi trường qua các buổi phát thanh của trường Phân công lịch cụ thể để các lớp viết bài, xây dựng chương trình tuyên truyền 1 tháng/lần/lớp, được tính vào thi đua của lớp

- Tổ chức thi biểu diễn văn nghệ sưu tầm và hát các bài hát về môi trường vào các lần sinh hoạt chủ điểm

- Tổ chức thi tìm hiểu môi trường dành cho học sinh khối lớp 4, 5

- Tổ chức đợt thi vẽ với chủ đề “ Hành tinh xanh của chúng ta ”, dành cho học sinh các khối lớp 2, 3, 4, 5

- Tổ chức các đợt ra quân lao động trồng cây, làm vệ sinh, chăm sóc cây cảnh, bồn hoa… theo định kỳ hằng tháng, có kế hoạch phân công khu vực cho các lớp Đồng thời chỉ đạo các lớp tiếp tục phân công công việc cho từng tổ, từng học sinh của lớp, từ đó xây dựng hành vi, thói quen, biết quý trọng sức lao động và ý thức tự giác, tự bảo vệ môi trường của từng học sinh

- Tổ chức các hoạt động dã ngoại: một hoạt động diễn ra bên ngoài khuôn viên nhà trường bao giờ cũng là nguồn hứng thú vô tận của học sinh [3]

- Thông qua hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh qua các đợt sinh hoạt chủ đề, chủ điểm trong năm để lồng ghép nội dung GDMT Các nội dung GDMT có thể xem là một phần của chương trình hoạt động trong năm Sau mỗi đợt hoạt động đều tổ chức tuyên dương, khen thưởng kịp thời

Trang 20

1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học

1.1.4.1 Đặc điểm về cơ thể

Cơ thể của trẻ em là nền tảng vật chất của trí tuệ và tâm hồn Nền tảng có vững thì trí tuệ và tình cảm mới có khả năng phát triển tốt [5]

Cơ thể của học sinh tiểu học có những đặc điểm sau:

- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em, cha mẹ và thầy cô cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn

- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi các trò chơi từ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ

- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em

1.1.4.2 Đặc điểm về hoạt động môi trường sống

- Hoạt động của học sinh tiểu học: Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập

- Những thay đổi kèm theo:

+ Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình Điều này thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình từ rất nhỏ

+ Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương pháp, hình thức, thái độ học tập Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập trung tốt

+ Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình

Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp

đỡ trẻ phát huy những khả năng tích cục của các em trong công việc gia đình, quan hệ

xã hội và đặc biệt là trong học tập

Trang 21

1.1.4.3 Sự phát triển của quá trình nhận thức

Quá trình nhận thức của học sinh bao gồm nhận thức lí tính và nhận thức cảm tính

- Ngôn ngữ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:

+ Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua kênh thông tin khác nhau

+ Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách

Trang 22

- Chú ý và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:

+ Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú

ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng [5]

+ Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc lòng một bài thơ, một công thức toán Trong

sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn củ yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định [5]

-Trí nhớ và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgic

Giai đoạn lớp 1, 2 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn

so với ghi nhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa xây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu

Giai đoạn lớp 4,5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ chủ định phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nộ dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hừng thú của các em

Nắm được điều này, các nhà giáo dục phải giúp các em biết cách khái quát hóa

và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ,

cá từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặt biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

- Ý chí và sự phát triển nhận thức của học sinh tiểu học:

+ Ở đầu tuổi tiểu học hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn Khi đó sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã đề ra nếu gặp khó khăn

Trang 23

+ Đến cuối tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

1 1.4.4 Sự phát triển tình cảm của học sinh tiểu hoc

Tình cảm của học sinh tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của trẻ còn non nớt, trẻ dễ xúc động và cũng có thể nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc

mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vui tư

Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã " người lớn" hơn rất nhiều

Trong quá trình hình thành và phát triển tình cảm của học sinh luôn luôn kèm theo sự phát triển năng khiếu Trẻ nhi đồng có thể xuất hiện các năng khiếu như thơ ca, hội họa, kĩ thuật, khoa học khi đó cần phát hiện và bồi dưỡng kịp thời cho trẻ sao cho vẫn đảm bảo kết quả học tập mà không làm thui chột năng khiếu của trẻ

1.1.4.5 Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Sau 5 năm học, "tính cách học đường" của trẻ mới dần ổn định và bền vững [1]

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh tiểu học mang những đặc điểm cơ bản sau:

Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát trẻ luôn bộc lộ nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng, nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm

ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển

Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo tuyệt đối không được

"chụp mũ" nhân cách tốt đẹp, trái lại phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi

mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà không đâu xa, chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách ấy

Trang 24

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1.Thực trạng và nhận thức hành vi của học sinh Tiểu học về môi trường

và bảo vệ môi trường

1.2.1.1 Về mức độ nhận thức

- Về mức độ tiếp nhận những thông tin về vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường: Hiện nay, các phương tiện thông tin đại chúng là nguồn tác động GDMT lớn nhất sau đó là nhà trường Điều này chứng tỏ GDMT đang được triển khai ngày càng mạnh mẽ hơn ở các trường Tiểu học Tuy nhiên, năng lực và thời gian của giáo viên mới chỉ tập trung chủ yếu vào các môn học như Toán, Tiếng Việt, TNXH… còn rất ít hoạt động ngoại khóa đề cập đến vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường, và trong các hoạt động được tổ chức việc kết hợp lồng ghép trò chơi còn hạn chế

- Khả năng nhận thức về trách nhiệm và các biện pháp bảo vệ môi trường của học sinh Tiểu học: Ở trường Tiểu họcphần lớn các em học sinh đã nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình trong việc BVMT Tuy nhiên, sự nhận thức chưa thực sự sâu sắc về vấn đề môi trường, tầm nhìn của các em chỉ hướng về các hành vi theo chiều hướng tốt Có thể các em làm một việc ảnh hưởng tới môi trường nhưng chính các em không biết hoặc không hiểu hết mức độ ảnh hưởng xấu của nó tới môi trường Như vậy, việc GDMT cho học sinh đang đòi hỏi cụ thể và sâu sắc hơn nữa Cần giáo dục cho các em trong chính môi trường, trong chính cuộc sống đang hằng ngày, hằng giờ diễn ra xung quanh các em

- Nhận thức của học sinh Tiểu học trong việc BVMT: Đa số các em đã có những hiểu biết ban đầu về những việc làm góp phần BVMT phù hợp với lứa tuổi các em Các em đã thực hiện các hành vi nhằm BVMT như: giúp các cô chú quét rác, làm vệ sinh nơi em ở, quyét dọn nhà ở, lớp học Với những hành vi được xem là phá hoại môi trường thì đa số các em nhận thức được như: bắn chim, khạc nhổ bừa bãi, nghịch ngợm các hiện vật ở các khu di tích lịch sử

1.2.1.2 Về mức độ hành vi

- Hành vi của học sinh Tiểu học trong BVMT: Đa số các em học sinh có hiểu biết

và hành vi đúng trước những việc làm tốt với môi trường và những việc làm ảnh hưởng xấu đến môi trường Tuy nhiên, có nhiều học sinh mặc dù đã có những kiến thức nhất định về môi trường nhưng vẫn chưa có hành vi tích cực với môi trường Nhiều nghiên cứu tâm lí đã chỉ ra rằng: học sinh lứa tuổi 6-11 về bản chất rất giàu lòng

Trang 25

yêu thiên nhiên, nhiều em mong muốn được tham gia vào những họat động xã hội công ích Điều đó cho thấy các em có một thái độ, một ý thức trách nhiệm cao hơn nữa với những hành vi của mình, có thể phát huy hết khả năng lao động phù hợp với lứa tuổi thì cần sự quan tâm hơn nữa, tạo điều kiện cho các em hoạt động qua các phong trào Đoàn, Đội, tổ chức các hoạt động ngoại khóa GDMT

1.2.2 Thực trạng việc ứng dụng trò chơi trong các hoạt động ngoại khóa giáo dục BVMT ở trường tiểu học hiện nay

Việc ứng dụng trò chơi trong các hoạt động ngoại khóa giáo dục BVMT đa phần được giáo viên đều nhận thức đúng về vai trò của trò chơi giáo dục trong các hoạt động ngoại khóa

Trò chơi trong hoạt động ngoại khóa được sử dụng ở các mức độ khác nhau Ở trong các trường Tiểu học thuộc địa bàn các thành phố, các trung tâm, mức độ và tần suất sử dụng nhiều Ở các trường thuộc địa phương, vùng núi, vùng có kinh tế khó khăn và đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số thì mức độ và tần suất sử dụng còn thấp, có nơi không sử dụng đến

Mặc dù giáo viên còn đánh giá cao vai trò và mức độ cần thiết của trò chơi trong các hoạt động ngoại khóa giáo dục BVMT nhưng vẫn chưa sử dụng triệt để, bởi các lí

do sau:

- Yêu cầu mục đích giáo dục môi trường cho học sinh quá rộng nhưng điều kiện thực tế để giáo dục lại còn quá hạn chế, nên việc thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở Trường tiểu học gặp nhiều khó khăn

- Kiến thức thực tế về môi trường của học sinh còn quá hạn hẹp

- Nhận thức về bảo vệ môi trường trong quần chúng ở địa phương chưa cao nên dẫn đến ý thức tự giác BVMT của học sinh còn hạn chế

- Do tâm sinh của lứa tuổi dễ nhớ nhưng chóng quên nên việc thực hiện bảo vệ môi trường chưa được thường xuyên

- Kế hoạch về bảo vệ môi trường giữa địa phương và nhà trường chưa được thống nhất nên kết quá giáo dục chưa cao

Trang 26

Tiểu kết chương 1

Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường đã và đang diễn ra ở quy mô rộng gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của con người Trong những giải pháp BVMT, giáo dục là giải pháp hàng đầu

Trò chơi là một hoạt động cần thiết đối với HS và việc ứng dụng trò chơi trong ngoại khóa bảo vệ môi trường là rất quan trọng trong dạy học ở tiểu học vì nó phù hợp với đặc điểm tâm lí, sinh lí của học sinh tiểu học Đồng thời nó cũng cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, thiết thực và nâng cao ý thức của học sinh trong việc bảo

vệ môi trường

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của trò chơi trong GDMT ở học sinh Tiểu học cho thấy việc ứng dụng đạt kết quả giáo dục tốt

Trang 27

CHƯƠNG 2: SƯU TẦM VÀ THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI

NGOẠI KHÓA TRONG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG

2.1 NGUYÊN TẮC THIẾT KẾ TRÒ CHƠI

Khi sử dụng các trò chơi cho giáo dục môi trường chúng ta cần tuân thủ các nguyên tắc thiết kế sau:

Thứ nhất là đặt tên hấp dẫn, gây sự chú ý của học sinh ngay từ đầu, phải thể hiện được nội dung trò chơi, tên không được khá dài

Thứ hai, khi thiết kế trò chơi cần xác định cụ thể hệ thống trò chơi nào phục vụ cho nội dung nào

Thứ ba thể hiện được tính thi đua giữa các cá nhân, các nhóm để tạo ra không khí thi đua hào hứng đem lại hiệu quả cao giúp phát triển những kĩ năng cần thiết cho học sinh: tính hợp tác, kiên trì, nỗ lực…

Thứ tư là chơi có tính kỉ luật, cách thức chơi cụ thể, riêng biệt của mỗi trò chơi Người ta gọi đó là luật chơi Luật chơi khiến cho trò chơi hấp dẫn, tạo ra sự bình đẳng giữa người chơi

Nguyên tắc cuối cùng: Khi chơi học sinh mong đợi nhất đó chính là kết quả trò chơi, vấn đề đưa ra thang đánh giá trò chơi là rất quan trọng Giáo viên cần có hình thức khen thưởng cho đội thắng, phạt nhẹ nhàng đội thua như thế nào để tạo không khí vui vẻ đối với các em [9]

Thiết kế trò chơi học tập cần dựa vào tất cả các nguyên tắc trên và khi sử dụng chúng cần đảm bảo các yêu cầu cụ thể Như chúng ta đã biết không nên áp dặt cho học sinh, giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập

Trong tất cả các nguyên tắc trên, nguyên tắc thứ hai: khi thiết kế trò chơi cần xác định cụ thể hệ thống trò chơi nào phục vụ cho nôi dung nào Là nguyên tắc quan trọng nhất, bởi khi xác đinh được mục đích, nội dung cụ thể cần hướng tới thì việc tổ chức trò chơi mới đạt được hiệu quả, tránh hiện tượng đi lệch nội dung, chủ đề

Khi sử dụng trò chơi học tập trong giáo dục môi trường giáo viên Với những đặc điểm hiếu động và ghi nhớ của học sinh Tiểu học, đầu tiên trò chơi phải thật dễ chơi,

có luật chơi rõ ràng, dễ hiểu Thứ hai trò chơi phải gắn liền với mục tiêu, nội dung của hoạt động ngoại khóa Thứ ba, trò chơi phải phù hợp với năng lực của học sinh, thu hút

được nhiều học sinh tham gia Theo Usinsk:” trò chơi đối với trẻ em là một hoạt động

Trang 28

tự lực.” Trẻ em hứng thú với trò chơi vì trong trò chơi có sự sáng tạo, mới mẻ, trẻ

đang muốn thử sức lực của mình và muốn tự tổ chức công việc của mình Giáo viên là người tổ chức học tập cho học sinh Chúng ta cần tôn trọng ý kiến các em, cần tìm hiểu hứng thú của các em với trò chơi gì, ở mức độ nào, nó tác động ra sao? Thứ tư, trò chơi phải đảm bảo tính giáo dục thẩm mĩ Chúng ta dạy học sinh không chỉ về môi trường mà còn dạy học sinh làm người Do đó, trò chơi còn phải góp phần giúp các em trở thành người tốt, biết bảo vệ tự nhiên, bảo vệ môi trường

Do đó, khi áp dụng bất kì trò chơi nào có sử dụng phương tiện trực quan cần chuẩn bị chu đáo, cẩn thận, rõ ràng, đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh

Cuối cùng, trò chơi phải đảm bảo an toàn, tiết kiệm, phù hợp với cơ sở vật chất của trường, lớp Đối với trẻ em, đồ chơi là phương tiện để chơi, đã chơi là phải có đồ chơi và thời gian phù hợp với mục tiêu đề ra Giáo viên phải xác định rõ mục tiêu, cách tổ chức, các phương tiện trực quan cần cần chuẩn bị một cách chu đáo để không mất thời gian khi tiến hành và hạn chế tốn kém về vật chất

2.2.YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC SỬ DỤNG VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI

- Nhận thức được hiện thực môi trường xung quanh

- Học sinh biết cách vận dụng kiến thức đã học vào các tình huống cụ thể làm cho kiến thức được khắc sâu hơn

- Học sinh hình thành được năng lực quan sát và đánh giá, phê phán những hành

vi cử chỉ của người khác, cũng như đặt nền móng cho những hành vi, thói quen có lợi cho môi trường

- Khi chơi học sinh luôn sử dụng các giác quan (5 giác quan: xúc giác, thính giác, thị giác, vị giác và khứu giác) để phân tích, so sánh, tổng hợp, qua đó ngôn ngữ và tư duy được phát triển

- Trong quá trình chơi HS mạnh dạn có thể giúp HS rụt rè, ngại giao tiếp tổ chức TCHT, như vậy khả năng hợp tác trong lớp được nâng cao

Trang 29

- Giúp GV đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh (vì thông qua TCHT trẻ đã bộc lộ những điều đã biết và cả những điều chưa biết), giúp cho GV uốn nắn kịp thời

2.2.2 Yêu cầu về trò chơi

Trò chơi học tập phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Trò chơi phải thể hiện được tính thi đua giữa cá nhân và các nhóm

- Có quy định thưởng phạt rõ ràng, công bằng

- Có cách chơi cụ thể (bao gồm cả thời gian)

- Có cách tính điểm đối với mỗi trò chơi

2.2.3 Một số lưu ý khi sử dụng trò chơi học tập

Khi sử dụng trò chơi học tập, giáo viên cần phải lưu ý ở từng giai đoạn: trước khi thực hành, trong quá trình tổ chức và sau khi kết thúc trò chơi [18]

Cụ thể như sau:

Trước khi thực hành tổ chức trò chơi học tập, giáo viên cần chú ý:

- Chọn trò chơi nào có nội dung cho phù hợp

- Chuẩn bị kĩ nội dung trò chơi học tập và đồ dùng cần thiết cho trò chơi đó

- Ghi lại những khó khăn và bất hợp lí trong các trò chơi học taạp được chọn

- Tự điều chỉnh trò chơi học tập cho phù hợp với trình độ của học sinh

Trong quá trình tổ chức chơi, giáo viên cần:

- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện luật chơi và các nội dung của trò chơi học tập

để kịp thời uốn nắn vào những lần chơi sau

- Nếu trong quá trình chơi, nhiều học sinh chơi sai thì phải dừng trò chơi để hướng dẫn lại, đặc biệt đối với học sinh dân tộc thiểu số cần phải nói chậm và luôn làm mẫu để các em dễ thực hiện

Kết thúc trò chơi:

- Sau mỗi lần chơi giáo viên cần phải nhận xét việc thực hiện trò chơi học tập của học sinh, chú ý đến những học sinh nhút nhát, khó khăn về Tiếng Việt Giáo viên cần kích thích học sinh nói và tích cực tham gia vào hoạt động chơi

- Khuyến khích động viên học sinh kịp thời, không nên chê trách khi trẻ mắc lỗi,

mà cần khéo léo hướng dẫn cho các em thực hiện lại yêu cầu của trò chơi

2.2.4 Cách thức tổ chức trò chơi học tập

Khi tổ chức trò chơi học tập, giáo viên cần tiến hành theo các bước sau:

Trang 30

- Xác định mục đích:

Mục đích sử dụng trò chơi được xác định dựa vào nhiệm vụ nhận thức đặt ra trong trò chơi Nhiệm vụ trò chơi thường đặt học sinh vào tình huống phải giải quyết dựa trên những điều kiện đã có, nó khêu gợi hứng thú, tính tích cực và mong muốn được chơi ở học sinh Do vậy, dựa vào mục đích sử dụng, giáo viên có thể lựa chọn hoặc thiết kế trò chơi học tập cho phù hợp

- Chuẩn bị:

Dựa trên mục đích đặt ra để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho học sinh chơi như: lựa chọn địa điểm, không gian cho học sinh chơi, chuẩn bị các dụng cụ cần thiết, suy nghĩ cách bố trí chơi, số lần lặp lại cần thiết để đảm bảo thời gian và giải quyết nhiệm vụ nhận thức đặt ra

- Cách tiến hành:

Việc tổ chức cho học sinh chơi được tiến hành theo trình tự sau:

+ Nêu tên trò chơi: Thường tên trò chơi đã chứa đựng nhiệm vụ nhận thức nên có tác dụng định hướng hoạt động nhận thức ở học sinh

+ Hướng dẫn cách chơi: Cần nêu rõ luật chơi một cách ngắn gọn, rõ ràng và sinh động để học sinh dễ lĩnh hội Có thể cho một số học sinh nhắc lại luật chơi để xác định mức độ hiểu luật chơi của học sinh Những trò chơi có hành động phức tạp có thể vừa giải thích vừa làm động tác minh họa

+ Trong quá trình tổ chức trò chơi, cần sử dụng các hiệu lệnh dứt khoát, ngắn gọn và có các yếu tố thi đua nhằm làm tăng hứng thú cho học sinh Căn cứ vào trò chơi, mức độ lặp lại và lứa tuổi, giáo viên có thể tham gia trực tiếp vào trò chơi

+ Cần tổ chức trò chơi cho học sinh các lứa tuổi theo cách khác nhau: Lớp bé, giáo viên chơi cùng học sinh, chỉ cho học sinh cách chơi với một yêu cầu nào đó Đến buổi sau, nêu thêm yêu cầu khác Khi đã quen, cho học sinh tự chơi Ở các lớp lớn hơn, giáo viên nêu cách chơi đưa ra một vài nguyên tắc chơi quan trọng Trong quá trình chơi, cần nhắc lại quy tắc lần nữa, chỉ cho học sinh biện pháp chơi và bổ sung quy tắc chơi Sau đó học sinh tự chơi, giáo viên quan sát trẻ chơi, nhắc nhở chơi đúng luật, giải quyết xung đột Khi học sinh không còn hứng thú nữa, giáo viên đề ngị cách chơi khác

+ Khi kết thúc trò chơi, cần đánh giá kết qủa nhận thức đã đạt được Việc đánh giá cần căn cứ vào luật chơi, hành động chơi của học sinh, thái độ thực hiện…Khi

Trang 31

nhận xét học sinh chơi cần hướng đến việc thự hiện các nhiệm vụ nhận thức đặt ra trong trò chơi, đồng thời phải tạo ra không khí vui vẻ, giúp học sinh tự tin và có mong muốn tiếp tục được chơi với kết quả tốt hơn

Để đạt được kết quả tốt, GV có thể vận dụng các hình thức tổ chức trò chơi như sau:

- Thông qua trò chơi học tập, lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các tiết hoạt động tập thể với nhiều hình thức như: múa hát tập thể, chơi các trò chơi dân gian

- Sau mỗi trò chơi, giáo viên hướng dẫn, gợi ý giúp học sinh rút ra được nội dung giáo dục của trò chơi

- Trò chơi được tổ chức lặp lại nhiều lần kiến thức sẽ được củng cố, khắc sâu Qua đó ý thức về BVMT sẽ được hoàn thiện dần trong mỗi học sinh

2.2.5 Vai trò của trò chơi học tập trong giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học

Cùng với học, chơi là nhu cầu không thể thiếu được cuả HSTH Lí luận và thực tiễn đã chứng tỏ rằng: Nếu biết tổ chức cho trẻ vui chơi một cách hợp lí, đúng đắn thì đều mang lại hiệu quả giáo dục Học trong quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức, vốn sống, kinh nghiệm xã hội một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, không gò bó, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HSTH Học bằng chơi sẽ khơi dậy hứng thú, tự nguyện,làm giảm sự căng thẳng thần kinh ở các em, giữ được sự hồn nhiên của trẻ thơ Chính vì vậy, việc vận dụng trò chơi để GDMT thì hiệu quả giáo dục sẽ nâng cao Cụ thể là:

- Mục tiêu cuối cùng của vấn đề GDMT là hình thành hành vi đúng đắn Trong khi đó, nội dung trò chơi sẽ minh họa một cách sinh động các mẫu hành vi này Nhờ

đó các hành vi sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt ở HS, giúp các em ghi nhớ rõ ràng

và lâu bền

- Nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng xuống cấp môi trường là do những hành động và suy nghĩ trước đây của loài người Nhiều người trong chúng ta vẫn chưa thấy được lợi ích về sự thay đổi hành vi và thói quen ứng xử với môi trường Ngay cả những người hiểu cũng không thường xuyên thực hiện ý muốn này Việc thay đổi thái

độ và hành vi của con người đòi hỏi phải có một chiến dịch tuyên truyền đồng bộ Trong khi đó, qua trò chơi rất dễ làm thay đổi thái độ và hành vi về MT Cũng như qua trò chơi HS được luyện tập những thao tác hành vi đúng đắn về môi trường

Trang 32

- Qua trò chơi HS có cơ hội kiểm nghiệm những chuẩn mực hành vi BVMT Chính nhờ sự thể hiện này sẽ hình thành được ở HS niềm tin về những chuẩn mực hành vi đã học, tạo ra một động cơ bên trong do những hành vi BVMT trong cuộc sống

- Qua trò chơi, HS sẽ rèn luyện được khả năng quyết định lựa chọn cho mình một cách ứng xử đúng đắn, phù hợp với môi trường

- Qua trò chơi, HS được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người khác là phù hợp hay không phù hợp

2.3 SƯU TẦM VÀ THIẾT KẾ MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP

Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung và luật chơi có sẵn do người lớn nghĩ ra, trong đó mọi hành động của trẻ được điều khiển bởi nhiệm vụ và luật chơi Cấu trúc của trò chơi học tập quy định rõ nhiệm vụ nhận thức, luật chơi, hành động chơi nên nó

là trò chơi được sử dụng nhiều và dễ trong các hoạt động ngoại khóa

Trò chơi học tập có tác dụng củng cố, làm chính xác, mở rộng biểu tượng cuả trẻ

về sự vật, hiện tượng, xã hội xung quanh, giúp trẻ khái quát hóa, phân loại chúng, phát triển trí nhớ, sự chú ý, học cách vận dụng trí thức vào hoàn cảnh mới

Dưới đây là một số trò chơi chúng tôi sưu tầm và thiết kế với nội dung GDMT

2.3.1 Nhóm trò chơi sưu tầm

Chúng ta có thể sử dụng các loại trò chơi học tập sau đây vào hoạt động ngoại khóa để GDMT: Trò chơi với các vật liệu tự nhiên, trò chơi với tranh ảnh, trò chơi dùng lời…

2.3.1.1.Trò chơi với các vật liệu tự nhiên

Trò chơi này được tổ chức với cả lớp, phù hợp với hoạt động ngoại khóa, trò chơi này giúp học sinh có biểu tượng chính xác, cụ thể và khái quát về tính chất và đặc điểm của vật thể, phát triển kĩ năng quan sát cho học sinh [10] Đối với các loại trò chơi này để áp dụng vào hoạt động ngoại khóa GDMT có thể sử dụng các trò chơi sau:

a Trò chơi 1: Hóa trang thành môi trường [20]

Trang 33

- Giấy, bút, băng dính, báo, tăm, lá cây, mầu vẽ, dây,…

- Ban giám khảo chấm kết quả

* Luật chơi:

Đội nào hoá trang đẹp, ấn tượng, hấp dẫn,…có lời bình hay, đưa ra nhiều thông điệp về môi trường sẽ thắng cuộc

* Chú ý:

Thời gian hóa trang ngắn, dài tùy thuộc vào đối tượng chơi

- Quy định thời gian cho lời bình khoảng 4 đến 5 phút

- Chọn một ban giám khảo đủ năng lực để chấm kết quả

- Cho các mẫu trình diễn lên sân khấu hoặc đi quanh khán giả để tăng thêm không khí hấp dẫn, sôi nổi

- Nếu có điều kiện chuẩn bị hệ thống âm thanh để đọc các lời bình

- Giáo viên tổng kết và sau đó rút ra kêt luận:

- Học sinh không chặt cây, bẻ cành, làm ô nhiễm nguồn nước, không khí và cùng nhau bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp

Trang 34

- Mỗi ngày làm một việc tốt để giữ gìn, bảo vệ môi trường ( tưới cây, trồng cây, nhặt rác, quét nhà, )

b Trò chơi 2 : Đội nào giỏi nhất [13]

- Hai bảng từ có gắn băng dính hai mặt

- Hai khuôn mặt cười, hai khuôn mặt mếu

- Tranh ảnh có các hình đúng sai sử dụng tiết kiện năng lượng

- Nhiệm vụ của hai đội là phải bật nhảy liên tục qua 5 chiếc vòng và lên tìm hình ảnh dể dán lên bảng: hình ảnh có việc làm đúng thì dán vào khuôn mặt cười, hình ảnh có khuôn mặt mếu thì dán ô có khuôn mặt mếu

- Mỗi lần chơi học sinh chỉ được chọn và dán một hình ảnh

- Khi bản nhạc kết thúc đội nào dán được nhiều hình đúng nơi, đúng chỗ hơn sẽ dành phần thắng cuộc

c Trò chơi 3: Môi trường sống [20]

Trang 35

- 3 tấm bìa cứng ghi môi trường không khí, đất, nước

- Giầy màu nhiều loại, ghi rõ tên các loài sinh vật

* Cách chơi:

- Hướng dẫn:

+ Chọn 3 khu vực, để các tấm bìa có ghi tên môi trường

+ Chia tập thể chơi thành 2 đội có số lượng bằng nhau, phát cho mỗi bạn một mẩu giấy màu có ghi tên các loài sinh vật

+ Khi có lệnh chơi, bạn phải tìm đến môi trường của mình ( theo tấm giấy đã ghi)

- Nêu tầm quan trọng của môi trường sống đối với các loài sinh vật

- Các em tự thảo luận về điều gì sẽ xảy ra khi sinh vật sống khác môi trường đang sống của mình?

- Quản trò tổng kết, rút ra kết luận:

+ Trả các loài vật về đúng môi trường sống khi chúng gặp nhau

+ Hãy cùng nhau tham gia bảo vệ môi trường sống của chúng ta

e Trò chơi 4 : "Đổ nước vào chai" [20]

Trang 36

* Mục đích

- Nâng cao hiểu biết cho học sinh về tầm quan trọng của nước sạch đối với đời sống con người và các loài động vật, thực vật

- Biết giữ gìn, tiết kiệm sử dụng nước sạch

- Tuyên truyền cho cộng đồng về giữu gìn bảo vệ tài nguyên

* Nội dung

- Dùng thìa múc nước đổ vào chai

* Địa điểm: ngoài sân hoặc trong lớp học

- Khi có lệnh chơi, bạn đứng đầu dùng thì múc nước nhanh chóng đi về phía đích

để vổ chai, đổ nước vào chai rồi quay về đưa cho bạn thứ 2 Bạn thứ 2 làm như bạn thứ nhất cho đến người cuối cùng

* Luật chơi:

- Hết thời gian quy định đội nào đỏ nước vào chai nhiều hơn sẽ thắng cuộc

- Khi đổ nước không dùng tay giữ chai thực hiện theo thứ tự từ bạn số 1 đến bạn cuối cùng rồi quay lại

e Trò chơi 5: Ai khoẻ nhặt được rác [20]

* Mục đích :

- Giáo dục ý thức cho học sinh để rác đúng nơi quy định

- Rèn thói quen khi thấy rác rơi vãi, nhặt bỏ đúng nơi quy định

- Có thái độ kiên quyết với các hành vi vứt rác bừa bãi

Trang 37

* Cách chơi:

- Cô giáo chia tập thể thành 2 đội có số lượng bằng nhau, xếp thành vòng tròn, đứng xen kẽ nhau (Cứ 1 người đội 1 rồi đến 1 người đội 2… ) đứng phía trong vòng dây, dây để ngang bụng rác để ngoài vòng dây

- Khi có lệnh chơi các bạn dùng sức cố lấy được rác ở ngoài vòng dây

* Luật chơi :

- Đội nào lấy được nhiều rác đội đó thắng cuộc

- Mỗi bạn chỉ được lấy một mẩu rác

Trong thời gian dạo một bản nhạc, đội nào lấy được và gọi đúng tên được nhiều

đồ vật sử dụng điện hơn sẽ thắng cuộc

* Cách chơi :

- Cô cho học sinh quan sát các loại đồ dùng, đồ chơi trong vòng 1-2 phút

- Chọn hai đội chơi, mỗi đội từ 7-8 trẻ cô cho trẻ chơi lần lượt

- Cô để đồ dùng trong hộp kín cho học sinh thò tay vào sờ và đoán tên đồ vật sử dụng điện Học sinh sờ và đoán đúng tên đồ vật sử dụng điện được mang về đội của mình

Trang 38

2.3.1.2 Trò chơi dùng lời

Trò chơi có ưu điểm là không cần dụng cụ gì cả, nhưng vẫn tạo ra không khí sôi động, vui tươi,đồng thời có thể củng cố tri thức về hoạt động của con người và hành động của động vật, khái quát hóa, hệ thống hóa tri thức, phát triển sự chú ý, ham hiểu biết, giúp học sinh phát ứng nhanh và phát triển lời nói mạch lạc [10] Chúng ta có thể

- Ví dụ: Giáo viên nêu chữ “S” học sinh các nhóm phải kể tên các động vật, thực vật bắt đầu bằng chữ “S”: sên, sấu, su hào, su su…nhưng không dược kể tên trùng với nhóm bạn, khi chỉ đến nhóm nào mà không trả lời được,giáo viên cho đếm từ 1 đến 5

mà nhóm đó vẫn chưa tìm ra câu trả lời tức là nhóm đó thua Hoặc cũng có thể cho các nhóm ghi tên lên bảng nhóm và đếm xem nhóm nào kể được nhiều tên động vật, thực vật hơn là nhóm đó thắng Trò chơi có thể diễn ra trong vòng 5-7 phút

- Các chữ cái giáo viên đưa ra từ dễ đến khó: S, C, Ch, K, Ô…

b Trò chơi 2 “Em là tuyên truyền viên”

* Mục đích:

Giúp học sinh nắm vững được những việc nên làm, những việc không nên làm đối với môi trường

* Nội dung:

Với những động từ “Hãy” và “Đừng” học sinh nêu lên được những việc nên làm

và không nên làm đối với môi trường

Trang 39

Ví dụ: Nhóm đặt câu với động từ ‘Hãy”

- Hãy bảo vệ, chăm sóc cây xanh

- Hãy giữ gìn vệ sinh trường, lớp sạch sẽ

- Hãy bảo vệ nguồn nước

Ví dụ: Nhóm đố: Cùng họ với hổ, khắc tinh với loài chuột…

Nhóm trả lời: Con mèo

- Nếu nhóm nào không đoán ra được tên con vật sau 30 giây thì nhóm đó thua Thời gian trò chơi khoảng 10 phút

d Trò chơi 4: Ai biết nhiều hơn

Trang 40

* Cách chơi:

- Có thể chơi với từng cá nhân hoặc chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm thảo luận và cử một em tham gia Học sinh ghi tên loài vật theo các đặc điểm mà giáo viên đưa ra

+ Những con vật nào bắt muỗi, bắt sâu hại cây trồng, bắt chuột?

+ Những con vật nào đẻ trứng? Những con vật nào đẻ con?

+ Những loài cá nào thuộc cá nước ngọt? Loại cá nào thuộc cá nước mặn?

+ Những con vật nào có ích? Những con vật nào có hại?

- Học sinh ghi đúng tên mỗi con vật ghi 1 điểm, sai lỗi chính tả trừ 0,5 điểm, viết chữ sạch, đẹp cộng thêm 1 điểm trong một lượt chơi Trò chơi diễn ra trong vòng 5-7 phút

- Cũng có thể chơi trò chơi này để thi tìm hiểu về các loại cây, củ, quả…

e Trò chơi 5: Thi hùng biện về bảo vệ môi trường [21]

Ví dụ:

+ Cần làm gì để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp?

+ Để có một môi trường sống trong lành chúng ta cần phải làm gì?

Ngày đăng: 15/06/2018, 10:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Đình Chỉnh (2003), Sư phạm học Tiểu học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư phạm học Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Đình Chỉnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[2]. Vũ Xuân Đỉnh ( 2002), Học mà vui – Vui mà học, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học mà vui – Vui mà học
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
[3]. Đỗ Nguyễn Hạnh (1998), Một vài hình thức giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp có hiệu quả, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài hình thức giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp có hiệu quả
Tác giả: Đỗ Nguyễn Hạnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[4]. Lê Xuân Hồng (2000), Giáo dục môi trường ở tiểu học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo dục môi trường ở tiểu học
Tác giả: Lê Xuân Hồng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2000
[5]. Bùi Văn Huệ (2007), Giáo trình tâm lí học Tiểu học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lí học Tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
[6]. Nguyễn Thị Vân Hương (2005), Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường ở bậc Tiểu học ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường ở bậc Tiểu học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Hương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[7]. Lê Văn Khoa (1995), Môi trường và ô nhiễm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và ô nhiễm
Tác giả: Lê Văn Khoa
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 1995
[8]. Bùi Phương Nga (1999), Trò chơi học tập Tự nhiên – Xã hội 1,2,3, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập Tự nhiên – Xã hội 1,2,3
Tác giả: Bùi Phương Nga
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 1999
[9]. Hà Nhật Thắng (2000), Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí lực, thể lực cho học sinh, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí lực, thể lực cho học sinh
Tác giả: Hà Nhật Thắng
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2000
[10]. Hà Nhật Thắng (2003), Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông
Tác giả: Hà Nhật Thắng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[11]. Nguyễn Thị Thấn( 2003),Giáo dục môi trường trong trường Tiểu học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường trong trường Tiểu học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
[12]. Hoàng Đức Thuận (1999), Một số biện pháp tiếp cận giáo dục môi trường,Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp tiếp cận giáo dục môi trường
Tác giả: Hoàng Đức Thuận
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[13]. Bùi Sĩ Tụng (2000), 150 trò chơi thiếu nhi, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 trò chơi thiếu nhi
Tác giả: Bùi Sĩ Tụng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
[14]. Phạm Thị Ngọc Trầm (2003), Môi trường sinh thái vấn đề và giải pháp,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường sinh thái vấn đề và giải pháp
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Trầm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
[15]. Trung tâm Tâm lí học – Sinh lí học lứa tuổi – Viện Khoa học giáo dục (2001), Một số đặc điểm sinh lí và tâm lí của học sinh Tiểu học ngày nay, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh lí và tâm lí của học sinh Tiểu học ngày nay
Tác giả: Trung tâm Tâm lí học – Sinh lí học lứa tuổi – Viện Khoa học giáo dục
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
[16]. Chỉ thị 36/CT – TW ngày 25/06/1998 của Bộ chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì CNH – HĐH đất nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì CNH – HĐH đất nước
[17]. Nghị quyết IV của BCH TW Đảng khóa VII năm 1993 Khác
[18]. Tạp chí khoa học ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh số 54 năm 2014, bài viết của tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w