1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án nhân dân từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

88 281 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án là việc các cơ quan, tổ chức nhà nước có thẩm quyền tiến hành những trình tự, thủ tục theo luật định nhằm giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp phát s

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Nguyễn Thị Thúy An

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Nguyễn Thị Thúy An

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM THỊ THÚY NGA

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được Luận văn thạc sỹ, đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân từ thực tiễn thành phố

Hồ Chí Minh”, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức và cá nhân

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS.Phạm Thị Thúy Nga, người thầy đã hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Quý Thầy giáo, Cô giáo của Học viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian qua Sau cùng, tôi cũng xin cảm ơn các anh chị là cán bộ công tác tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tôi các số liệu thống kê, báo cáo của Tòa án để luận văn được hoàn thành

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Thúy Nga Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn một cách hoàn chỉnh, nhưng không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong Quý Thầy, Cô đóng góp ý kiến để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy An

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 7

1.1 Một số vấn đề chung về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp lao động cá nhân 7

1.1.2 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân 15

1.2 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án 19

1.2.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án 19

1.2.2 Thẩm quyền về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án 21

1.2.3 Trình tự, thủ tục đối với vấn đề giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án 23

1.2.4 Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ án tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án 25

Chương 2 : THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 27

2.1 Thực trạng quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân 27

2.1.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân 27

2.1.2 Thẩm quyền về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Tòa án nhân dân 31

2.1.3 Trình tự, thủ tục đối với vấn đề giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân câp sơ thẩm 38

2.1.4 Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyêt các vụ án tranh chấp lao động cá nhân 52

Trang 5

2.2 Thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 54

2.2.1 Đặc điểm tình hình tranh chấp lao động cá nhân trên địa bàn thành phố

Hồ Chí Minh 54 2.2.2 Những kết quả đạt được trong giải quyết chấp lao động cá nhân tại Tòa

án nhân dân ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 56 2.2.3 Một số tồn tại vướng mắc trong giải quyết chấp lao động cá nhân tại Tòa

án nhân dân ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 65

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 70

3.1 Định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động

cá nhân tại Tòa án nhân dân 70 3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân 72 3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 76

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hoá, quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ là quan hệ trao đổi sử dụng giá trị sức lao động Trong mối quan hệ này, NLĐ đem sức lao động của mình làm việc cho NSDLĐ và phải tuân theo sự quản

lý, điều hành của NSDLĐ thông qua việc thuê mướn, sử dụng lao động nhằm thu được những giá trị mới lớn hơn – lợi nhuận Do vậy, mục tiêu đạt được lợi ích tối đa luôn là động lực trực tiếp của các bên nên giữa họ khó có thể thống nhất được các quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện quan hệ lao động Những lợi ích đối lập này giữa NLĐ và NSDLĐ sẽ trở thành mâu thuẫn, bất đồng nếu hai bên không dung hoà được quyền lợi của nhau Do vậy, TCLĐ xảy ra là điều dễ nhận thấy, để duy trì hài hòa quan hệ lao động, cân bằng lợi ích giữa các bên từ đó bảo đảm ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định nền kinh tế, trật tự xã hội thì yêu cầu được đặt ra là giải quyết TCLĐ phải có hiệu quả

Để giải quyết TCLĐ nói chung và TCLĐ cá nhân nói riêng, pháp luật Việt Nam quy định nhiều phương thức khác nhau như: thương lượng, hòa giải và xét xử tại Tòa án Giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án là việc các cơ quan, tổ chức nhà nước có thẩm quyền tiến hành những trình tự, thủ tục theo luật định nhằm giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh giữa cá nhân NLĐ hoặc một nhóm NLĐ với NSDLĐ về thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích giữa hai bên trong quan hệ lao động, xóa bỏ tình trạng mâu thuẫn, bất bình giữa NLĐ và NSDLĐ, khôi phục các quyền và lợi ích bị xâm phạm, duy trì và củng cố quan hệ lao động, bảo đảm sự ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh Để giải quyết TCLĐ phù hợp với tình hình thực tiễn, các quy định về giải quyết TCLĐ ở nước ta đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung, trong đó phải kể đến BLLĐ năm 2012 sửa đổi chương về TCLĐ; BLTTDS năm

2015 quy định đầy đủ hơn về trình tự, thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND góp phần hoàn thiện cơ chế giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì việc giải quyết TCLĐ cá nhân hiện nay vẫn còn một số tồn tại, yếu kém không chỉ hành lang pháp lý liên quan đến giải quyết TCLĐ cá

Trang 8

nhân còn nhiều bất cập, vướng mắc một số quy định chưa khả thi, mà còn xuất phát

từ việc các cơ quan có thẩm quyền giải quyết đôi khi còn lúng túng, sai sót trong việc giải quyết dẫn đến một số trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong TCLĐ chưa được đảm bảo, gây ra những tiêu cực ảnh hưởng đến sản xuất và phát triển của quan hệ lao động

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm về nhiều mặt của cả nước nói chung và của Nam bộ nói riêng Với vai trò, vị trí trung tâm, thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông lớn nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngỏ lớn nhất của cả nước, Thành phố có những điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư trong và ngoài nước, nhiều khu công nghiệp hình thành, nền kinh tế thành phố nhiều thành phần trong những năm qua không ngừng tăng trưởng ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động, góp phần thu hút nguồn lao động từ khắp nơi trên cả nước đến làm việc từ lao động phổ thông đến lao động có trình độ chuyên môn cao Theo Niên giám Cục Thống kê thành phố năm 2016 thì năm 2017 ước tính lực lượng lao động thành phố có 4.513.193 người (chiếm 52,71% tổng dân số) Trong bối cảnh hiện nay khi các tranh chấp phát triển

cả về số lượng, quy mô, hình thức và ngày càng trở thành vấn đề phức tạp của cả nước và đặc biệt tại thành phố Hồ Chí Minh với lực lượng lao động lớn với nhiều thành phần kinh tế Mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ trở nên phức tạp hơn rất nhiều một phần do sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài vốn quen với quan hệ lao động có nhiều khác biệt tại chính quốc gia họ, một phần từ ý thức ngày càng nâng cao của NLĐ về các quyền và lợi ích chính đáng của mình Mặc dù TCLĐ cá nhân là loại tranh chấp mang tính chất đơn giản, quy mô nhỏ, nhưng thực tế đây là loại tranh chấp phổ biến, dễ xảy ra và chiếm đa số trong các vụ TCLĐ gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh , đời sống kinh tế và trật tự an ninh xã hội

Xuất phát vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề “ Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân từ thực tiễn thành phố

Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ

2 Tình hình nghiên cứu

Trang 9

Giải quyết TCLĐ cá nhân là một trong những vấn đề cơ bản của pháp luật lao động nói chung Đã có nhiều công trình, bài viết khoa học về TCLĐ đã được các nhà khoa học, luật gia, tác giả quan tâm nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, cụ thể như:

Giáo trình, sách tham khảo: Giáo trình Luật lao động Việt Nam của Khoa

Luật, Đại học Xã hội và nhân văn quốc gia, năm 2000; Giáo trình Luật lao động Việt Nam, của trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015;

Luận án, luận văn: Luận án Tiến sĩ luật học năm 2011 của nghiên cứu sinh

Phạm Công Bảy về vấn đề: “Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại tòa án ở Việt Nam” Luận án Tiến sĩ luật học “Tài phán lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam” của tác giả Lưu Bình Nhưỡng, thực hiện năm 2002 Luận văn thạc sỹ Luật học: “Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hường được thực hiện năm 2012; “ Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân và tình hình thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” của tác giả Hà Thị Thanh Nga thực hiện năm 2014; “ Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” của tác giả Phạm Thị Hồng Hạnh thực hiện năm 2016; “ Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân và thực tiễn áp dụng tại Tỉnh Yên Bái” do Phạm Hồng Quân thực hiện năm 2017; “ Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa

án từ thực tiễn Tỉnh Quãng Ninh” của tác giả Phạm Thị Thu Huyền, năm 2017;

Các bài viết đăng trên các tạp chí , công trình nghiên cứu khoa học: “Áp

dụng các nguyên tắc của tố tụng dân sự trong giải quyết tranh chấp lao động và một

số vấn đề đặt ra” của tác giả Phạm Công Bảy, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7

(55) năm 2010; “Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động trong Luật tố tụng lao

động: một số vấn đề pháp lý và thực tiễn” của Tòa án nhân dân tối cao năm 2013; “ Bình luận các quy định về giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Nguyễn Hữu Chí, Tạp chí Luật học số 12 năm 2015; “ Hoàn thiện giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại

Trang 10

2012-Việt Nam” của tác giả Đoàn Xuân Trường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3(276)/2015

Có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về giải quyết TCLĐ tại TAND, có những đóng góp quan trọng về mặt thực tiễn và khoa học như:

- Khái quát được những nội dung cơ bản của pháp luật về vấn đề giải quyết TCLĐ tại TAND và thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết TCLĐ tại Tòa án

- Đánh giá trên một số khía cạnh về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về trình tự thủ tục giải quyết pháp luật về vấn đề giải quyết TCLĐ tại TAND

- Những hạn chế, bất cập và góp phần định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCLĐ tại TAND để pháp luật đi vào đời sống người dân

Tại thành phố Hồ Chí Minh với đặc điểm địa bàn là một thành phố lớn nhất của cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, nền kinh tế nhiều thành phần, có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất với lực lượng lao động lớn thì các vụ TCLĐ

cá nhân xuất hiện là một điều không thể tránh khỏi và hiện chưa có công trình khoa học nghiên cứu nào về thực tiễn giải quyết TCLĐ cá nhân bằng TAND tại thành phố Hồ Chí Minh Tác giả hy vọng qua công trình nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần vào việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND, phù hợp với tình hình phát triển của thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận về TCLĐ cá nhân và giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án, đánh giá thực trạng quy định pháp luật

và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND nói chung và tòa án thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu và giải quyết các nhiệm vụ chính sau đây:

Trang 11

- Tổng hợp, phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND: khái niệm, đặc điểm tranh chấp lao động cá nhân; đặc điểm giải quyết TCLĐ cá nhân tại tòa án

-Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành về thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án, luận văn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và các nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó

-Làm rõ các đặc điểm cụ thể của thành phố Hồ Chí Minh có ảnh hưởng đến việc giải quyết TCLĐ cá nhân Trên cơ sở đó luận văn nghiên cứu, đánh giá thực tiễn, những bất cập trong giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm qua

-Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND ở thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành về giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án

Luận văn tập trung đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp biện chứng khoa học, phân tích, đánh giá , tổng hợp, thống kê, so sánh , và một số phương pháp bổ trợ khác,… Đồng thời kết hợp giữa các nhóm phương pháp để nghiên cứu, giải quyết nội dung của đề tài

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Với những mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn đưa ra những vấn đề mới

và có ý nghĩa thực tiễn sau đây:

Trang 12

- Luận văn tổng hợp và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về TCLĐ cá nhân

và giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND

- Phân tích, đánh giá một cách tương đối toàn diện và chỉ ra những tồn tại của hệ thống các quy định của pháp luật về giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND

- Luận văn đã phân tích được thực tiễn thực hiện giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND ở thành phố Hồ Chí Minh

- Đưa ra kiến nghị về một số biện pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả về giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

Với những vấn đề nêu trên, tác giả hy vọng luận văn đóng góp một phần nhỏ vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo các quy phạm pháp luật được áp dụng một cách thống nhất và đúng đắn Đồng thời luận văn là tài liệu tham khảo, học tập hữu ích cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có tham gia giải quyết TCLĐ cá nhân cũng như những người nghiên cứu, học tập pháp luật về giải quyết TCLĐ cá nhân bằng TAND Thực hiện có hiệu quả giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ làm việc nhiều hơn, kết quả lao động tốt hơn, trật tự xã hội được ổn định, động viên khuyến khích sản xuất phát triển

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận pháp luật giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại

Tòa án

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp

lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân và thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố

Hồ Chí Minh

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng

cao hiệu quả giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân ở thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO

ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 Một số vấn đề chung về tranh chấp lao động cá nhân và giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tranh chấp lao động cá nhân

1.1.1.1 Khái niệm tranh chấp lao động cá nhân

Tranh chấp lao động là sản phẩm mang tính tất yếu của quan hệ lao động Quan hệ lao động được hình thành trong quá trình sử dụng sức lao động giữa một bên là NLĐ và một bên là NSDLĐ Khi tham gia quan hệ lao động, các bên đều muốn đạt được tối đa lợi ích của mình, từ việc làm thuê và thuê lao động Đối với NLĐ, họ đem sức lao động của mình làm việc cho NSDLĐ, tuân theo sự điều hành

và quản lý của NSDLĐ, họ luôn mong muốn NSDLĐ chi trả cho họ những giá trị cho sức lao động mà họ đã làm càng cao càng tốt Ở khía cạnh NSDLĐ họ luôn có mục tiêu là làm thế nào để giảm chi phí cho lao động và khai thác càng nhiều giá trị

sử dụng của sức lao động, thu lại lợi nhuận càng nhiều càng tốt sau khi đã bỏ chi phí để mua sức lao động của NLĐ Trong quá trình lao động phát sinh nhiều yếu tố làm cho lợi ích hai bên không còn phù hợp nhau, thậm chí là đối nghịch nhau Mục tiêu đạt được lợi ích tối đa cho mỗi bên trở thành động lực chính Do vậy, giữa họ khó có thể thống nhất quyền, nghĩa vụ trong quan hệ lao động Những lợi ích đối lập này nếu không được dung hòa thì sẽ trở thành mâu thuẫn, xung đột giữa NLĐ

và NSDLĐ khi đạt đến đỉnh điểm sẽ trở thành tranh chấp lao động Quan hệ lao động là mối quan hệ chứa đựng nhiều vấn đề mang tính xã hội như thu nhập, đời sống, việc làm…của NLĐ Vì vậy, khi TCLĐ xảy ra giữa NLĐ và NSDLĐ thì quan

hệ lao động đó có nguy cơ bị phá vỡ, NLĐ có thể bị mất việc làm, mất nguồn thu nhập đảm bảo cuộc sống thường xuyên cho bản thân và gia đình do vậy đời sống của họ trực tiếp bị ảnh hưởng NSDLĐ và cả NLĐ sẽ phải tốn thời gian và công sức vào quá trình giải quyết tranh chấp nên có thể việc sản xuất kinh doanh bị gián đoạn Nghiêm trọng hơn, là khi tranh TCLĐ xảy ra mà không được giải quyết thỏa

Trang 14

đáng có thể sẽ dẫn đến việc TCLĐ tập thể đặc biệt ở những doanh nghiệp thiết yếu của nền kinh tế quốc dân hoặc an ninh quốc phòng, trong một ngành hoặc một địa phương, thì còn có thể ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội trong

cả một khu vực, thậm chí có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Nếu không giải quyết kịp thời, những tranh chấp đó có thể ảnh hưởng tới an ninh công cộng và đời sống chính trị xã hội của quốc gia

Trên thế giới, Hoa Kỳ là một trong những nước đưa ra định nghĩa về TCLĐ

từ rất sớm Tranh chấp lao động ở nước này được định nghĩa chính thức lần đầu tiên trong Luật Norris-La Guardia năm 1932 [19,tr5] Định nghĩa tranh chấp lao động được kế thừa trong Luật quan hệ lao động quốc gia năm 1935, qua nhiều lần sửa đổi định nghĩa này vẫn được giữ nguyên cho đến nay Theo Mục 2.9 Luật quan hệ lao động quốc gia của Hoa Kỳ [42,tr4], thuật ngữ “tranh chấp lao động” (labordispute)

bao gồm: “Bất kỳ tranh cãi nào về các điều khoản, thời hạn hay điều kiện về thuê mướn lao động, hay liên quan đến vấn đề tổ chức hoặc đại diện trong thương lượng, quyết định, duy trì, thay đổi hay số lượng dàn xếp các điều khoản hay điều kiện về thuê mướn lao động, bất kể là các bên tranh chấp có phải là các bên trong một quan hệ lao động hay không” Đây cũng là một định nghĩa có tính bao quát cao,

nó không chỉ giới hạn chủ thể tranh chấp là NLĐ hay NSDLĐ

Trong pháp luật Inđônêxia, định nghĩa về TCLĐ cũng có tính bao quát cao Tại Điều 1.1 Luật giải quyết tranh chấp lao động năm 2004 của Inđônêxia [19,tr5]

có quy định: Tranh chấp lao động là sự khác biệt về quan điểm dẫn đến tranh chấp giữa NSDLĐ hoặc tổ chức đại diện của NSDLĐ với NLĐ hoặc tổ chức công đoàn

do bất đồng về quyền [hoặc] mâu thuẫn về lợi ích, hay tranh chấp về việc chấm dứt quan hệ lao động, hay tranh chấp giữa các tổ chức công đoàn trong một công ty

Một quốc gia khác thuộc Đông Nam Á là Thái Lan cũng có định nghĩa về TCLĐ với nội dung có tính bao quát cao Theo Mục 5 Luật quan hệ lao động năm

1975 của Thái Lan [19,tr5], “tranh chấp lao động là tranh chấp giữa người sử dụng lao động và người lao động liên quan đến các điều kiện thuê mướn lao động”

Trang 15

Trong số các định nghĩa đã nêu, có lẽ đây là định nghĩa gần gũi nhất với định nghĩa

về TCLĐ trong pháp luật Việt Nam

Ở nước ta, khái niệm về “ tranh chấp lao động” được sử dụng đầu tiên và chính thức tại Thông tư liên ngành số 02/TT-LN ngày 02/10/1985 của TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động và Tổng cục dạy nghề về việc hướng dẫn thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án về một số việc tranh chấp trong lao động Tại Thông tư này chỉ nêu tranh chấp, xích mích về trách nhiệm hoặc quyền lợi giữa người làm công và chủ tư nhân và chỉ đề cập cụm từ “ tranh chấp lao động” mà chưa đưa ra quan điểm, định nghĩa về TCLĐ là như thế nào

Tuy nhiên, phải đến thời kỳ đổi mới, thuật ngữ “tranh chấp lao động” mới được sử dụng rộng rãi và được định nghĩa tại Điều 27 Pháp lệnh Hợp đồng lao động

năm 1990: “Bất đồng nảy sinh giữa hai bên về việc thực hiện hợp đồng lao động được coi là tranh chấp lao động và được giải quyết theo trình tự giải quyết tranh chấp lao động” Đây được xem là quy định đầu tiên giải thích TCLĐ, tuy nhiên

khái niệm TCLĐ được nêu tại Điều 27 Pháp lệnh Hợp đồng lao động năm 1990 cũng vẫn chưa nêu ra được khái niệm về TCLĐ một cách hoàn chỉnh, mà chỉ đề cập đến các tranh chấp liên quan đến thực hiện hợp đồng lao động, không nhắc đến các tranh chấp phát sinh trong quá trình thương lượng và thực hiện thỏa ước lao động tập thể

Phải đến khi Bộ luật Lao động ra đời ngày 23/6/1994 định nghĩa về TCLĐ

mới được đưa ra một cách hoàn chỉnh, tại khoản 1 Điều 157 quy định: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá trình học nghề” và đã có sự phân biệt TCLĐ bao

gồm TCLĐ cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ và tranh chấp tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ Tuy nhiên khái niệm trên được nêu theo nghĩa bó hẹp, chỉ liệt kê những TCLĐ chỉ là các tranh chấp xảy ra xung quanh các trường hợp có tranh chấp

về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao

Trang 16

động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước tập thể và trong quá trình học nghề Chính vì vậy, việc liệt kê chưa đầy đủ sẽ dẫn đến việc không bao hàm được hết các tranh chấp được xem là TCLĐ

Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2006 được ban hành ngày

29/22/2006, TCLĐ được định nghĩa: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động” đây được xem là một định nghĩa mang tính hoàn

chỉnh hơn, bao hàm hơn các tranh chấp được xem là TCLĐ

Để đáp ứng yêu cầu phát triển về thị trường lao động và các quan hệ lao động trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2013 thay thế cho Luật Lao động năm 1994 đã nhiều lần sửa đổi, bổ sung Luật lao động mới ra đời đảm bảo tốt hơn quyền lợi của NLĐ, cũng như sự bình đẳng hơn trong mối quan hệ giữa các bên trong lao động Bộ luật Lao động năm 2012 góp phần hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các vấn đề về quan hệ lao động Tại khoản 7 Điều 3 Bộ luật Lao

động năm 2012 quy định cụ thể: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền,

nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động” Trong định

nghĩa về tranh chấp lao động tại bộ luật này đã sử dụng cụm từ “các bên trong quan

hệ lao động” ,thay thế co cụm từ “giữa người lao động với người sử dụng lao động” cho thấy các quyền và lợi ích của các chủ thể khác trong quan hệ lao động được đảm bảo

Bên cạnh đó việc phân loại TCLĐ là nhằm để đánh giá đúng thực chất của các TCLĐ trên cơ sở đó giải quyết chúng có hiệu qủa Tại khoản 7 Điều 3 Bộ luật

Lao động năm 2012 quy định cụ thể: “Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động” Quy định này

phân biệt TCLĐ cá nhân với tranh chấp tập thể dựa trên tiêu chí về chủ thể TCLĐ

cá nhân là tranh chấp giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ, còn tranh chấp tập thể là tranh chấp giữa tập thể lao động với NSDLĐ

Trang 17

Từ những phân tích nêu trên có thể rút ra định nghĩa TCLĐ như sau: Tranh chấp lao động cá nhân là những tranh chấp, mẫu thuẫn, xung đột giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động về các quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh từ quan hệ lao động

1.1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp lao động cá nhân

Tranh chấp lao động phát sinh và tồn tại gắn liền với quan hệ lao động Do tính chất đặc biệt của quan hệ lao động mà các TCLĐ cá nhân có những đặc điểm riêng như sau:

Một là, về nội dung tranh chấp

Một vụ tranh chấp có nhiều NLĐ tham gia nhưng mỗi người chỉ quan tâm đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình thì đó vẫn coi là TCLĐ cá nhân và mục đích

mà các bên hướng tới luôn mang tính cá nhân và chỉ liên quan đến quyền lợi và lợi ích của cá nhân NLĐ, trong một số trường hợp liên quan quyền và nghĩa vụ của một nhóm NLĐ với NSDLĐ TCLĐ cá nhân thường phát sinh trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật lao động vào từng quan hệ quan hệ lao động cụ thể Hay nói cách khác là nảy sinh trên cơ sở của việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc vi phạm các quy định pháp luật ảnh hưởng đến quyền lợi của cá nhân Trong khi đó, nội dung TCLĐ tập thể liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ mà các bên mong muốn của tập thể NLĐ trong doanh nghiệp Khi những điều khoản đã thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động các vấn đề như điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động, không được đảm bảo như thỏa thuận thì TCLĐ tập thể có thể sẽ xảy ra Việc xác định số lượng chủ thể tham gia trong TCLĐ chỉ có ý nghĩa khi phù hợp với nội dung tranh chấp của người tham gia tranh chấp Trong vụ tranh chấp chỉ có một cá nhân là đại diện tập thể NLĐ và lợi ích của tập thể NLĐ thì có thể cũng chưa chắc đã là TCLĐ cá nhân

Hai là, TCLĐ cá nhân thường phát sinh từ mâu thuẫn vốn có giữa các bên

trong quan hệ lao động

Quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động, quan hệ giữa người NLĐ với NSDLĐ không phải lúc nào cũng diễn biến một cách ổn định bình thường theo

Trang 18

đúng những thỏa thuận Giữa họ có thể sẽ xuất hiện những bất đồng về quyền và lợi ích trong lao động Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động là quan hệ hợp tác cùng có lợi, trên cơ sở hiểu biết và quan tâm lẫn nhau để cùng đạt được lợi ích

mà mỗi bên đã đặt ra và được thiết lập qua hình thức hợp đồng lao động theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng giữa NLĐ và NSDLĐ Do mục tiêu đạt được lợi ích tối đa là động lực trực tiếp của cả hai bên, mà giữa họ khó có thể dung hoà được quyền lợi của mình trong quá trình thực hiện quan hệ lao động NLĐ thường có nhu cầu muốn tăng lương, giảm thời gian lao động, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, thực hiện đầy đủ mọi chế độ bảo hiểm xã hội, phúc lợi tập thể, đào tạo và bồi dưỡng, nâng cao tay nghề và được làm việc trong điều kiện ngày càng tốt hơn ngược lại NSDLĐ lại luôn có xu hướng tăng cường độ làm việc, thời gian làm việc, giảm chi phí nhân công, cắt giảm tối đa các chính sách hỗ trợ NLĐ… nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn Những mâu thuẫn lợi ích này sẽ trở thành những bất đồng, xung đột do đó sự phát sinh TCLĐ giữa NLĐ và NSDLĐ là điều khó tránh khỏi Những điều trên vốn dĩ đã tồn tại tiềm tàng sẵn trong mối quan hệ lao động Theo đó, nếu các bên không thực hiện đầy nghĩa vụ theo cam kết của mình và theo các quy định của pháp luật thì các mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột giữa NLĐ

và NSDLĐ là điều dễ dàng có thể xảy ra

Ba là, tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa các bên không ngang

nhau và không tương xứng nhau về lợi thế cũng như về địa vị kinh tế- pháp lý

Về địa vị kinh tế, có nhận định rằng trong nền kinh tế thị trường cho phép NLĐ bán sức lao động gần nhất với giá thị trường Nhưng thực tế cho thấy rằng, từ xưa đến nay ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, vị thế của NLĐ luôn thấp hơn NSDLĐ do vậy NLĐ luôn ở thế yếu Trong quan hệ lao động thì NSDLĐ nắm các quyền về quản lý, điều hành trong quá trình sử dụng lao động Chính vì vậy NSDLĐ có xu hướng lạm quyền như: không nâng lương hàng năm cho NLĐ, thời gian làm thêm giờ của NLĐ quá nhiều, chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định, sa thải NLĐ tuỳ tiện không có căn cứ pháp luật, doanh nghiệp áp dụng các biện pháp quản lý “hà khắc” Về phía NLĐ do không có vị thế trong quan

Trang 19

hệ lao động, phần lớn xuất thân từ nông thôn chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống, công tác tuyên truyền, giáo dục chưa được quan tâm nên sự hiểu biết về chính sách, pháp luật, ý thức tổ chức kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp còn hạn chế dẫn đến việc không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ hoặc những hành động tự vệ bản thân xuất phát theo bản năng khi quan hệ lao động, sản xuất mất cân đối Quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong quan hệ lao động, sự mất bình đẳng này dẫn đến mâu thuẫn, xích mích xảy ra, NLĐ cho rằng mình ở thế yếu và hành vi của NSDLĐ là không đúng với quy định của pháp luật

Khi xác lập mối quan hệ lao động bằng ký kết hợp đồng lao động, các bên thỏa thuận với nhau về các quyền và nghĩa vụ và được ghi nhận trong hợp đồng lao động Tuy nhiên khi thực hiện quyền và nghĩa vụ, về thời gian, không gian và quá trình quản lý lao động, NSDLĐ lại có vị thế hơn NLĐ, chủ động hơn trong việc điều hành và quản lý lao động Quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên do các công cụ quản lý, điều hành của NSDLĐ thực hiện Do đó, khi TCLĐ xảy ra thì NSDLĐ nắm thế chủ động, thậm chí hoàn toàn có thể tạo ra những chứng

cứ pháp lý nhằm có lợi cho họ Đối với NLĐ cho rằng họ ở vị thế yếu hơn NSDLĐ

về pháp lý do vậy có ít cơ hội để làm rõ sự thật khi có những hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm những thỏa thuận giữa hai bên

Bốn là, tranh chấp lao động cá nhân có khả năng chuyển hóa thành tranh chấp lao động tập thể

TCLĐ là loại tranh chấp mà quy mô và mức độ tham gia của các chủ thể có thể làm thay đổi tính chất và mức độ tranh chấp TCLĐ cá nhân trong một số trường hợp có thể chuyển hóa thành TCLĐ tập thể khi nội dung của tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của cả tập thể NLĐ, NSDLĐ về vấn đề phát sinh trong quan hệ lao động Khi số lượng NLĐ tham gia tranh chấp đạt đến một mức độ nhất định và yêu cầu của cá nhân NLĐ liên quan đến quyền và lợi ích tập thể khi đó tập thể NLĐ thấy yêu cầu của cá nhân NLĐ là chính đáng, bảo đảm được lợi ích cho mọi NLĐ nên đồng tình tham gia ủng hộ và liên kết với nhau cùng nhau hưởng ứng với tư cách là một bên của tranh chấp và trở thành một tổ chức thống nhất để đấu tranh đòi

Trang 20

quyền lợi chung thì khi đó TCLĐ cá nhân đã chuyển hóa thành TCLĐ tập thể So với tranh chấp cá nhân, tranh chấp tập thể thường gay gắt hơn về mức độ, phức tạp hơn về tính chất và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp thậm chí là đến cả nền kinh tế, chính trị -xã hội, trật tự công cộng

Năm là, vai trò của tổ chức công đoàn trong tranh chấp lao động cá nhân

Tổ chức công đoàn tham gia vào TCLĐ cá nhân với tư cách là đại diện cho NLĐ trong doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ, trực tiếp đưa

ra yêu cầu đối với NSDLĐ, đứng ra đề nghị NSDLĐ xem xét và giải quyết những yêu cầu của NLĐ với tư cách là người đại diện, bảo vệ họ Công đoàn chỉ là chủ thể thứ 3 đứng ngoài tranh chấp chứ không tham gia với tư cách là một bên của tranh chấp Quyền tham gia giải quyết TCLĐ của tổ chức công đoàn được pháp luật công nhận là một trong những nguyên tắc giải quyết TCLĐ cá nhân

Sáu là, các bên có xu hướng hợp tác với nhau nhằm mục đích cố gắng duy trì

quan hệ lao động trong tranh chấp lao động cá nhân

Trong việc thiết lập mối quan hệ lao động và trong quá trình lao động giữa NLĐ và NSDLĐ, các chủ thể đều muốn đem lại lợi ích cho mình và cho cả hai bên Đối với NLĐ, họ có việc làm, được chi trả tiền công cho sức lao động của mình nhằm ổn định kinh tế, đời sống cho bản thân và gia đình Còn NSDLĐ thu được lợi nhuận của giá trị của sức lao động mà mình thuê Vì vậy, điều cả hai mong muốn là duy trì mối quan hệ này Khi quan hệ lao động đó phát sinh mâu thuẫn, xích mích dẫn đến TCLĐ xảy ra thì đó là điều mà cả hai đều không mong muốn, lý do là khi xảy ra tranh chấp đều ảnh hưởng đến lợi ích của các bên NLĐ mất việc làm, tiền bạc, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập chính cho cuộc sống của họ Về phía NSDLĐ khi có TCLĐ họ phải mất nhiều thời gian để giải quyết, tiền bạc, ảnh hưởng đến nguồn nhân lực, thậm chí hoạt động sản xuất, kinh doanh có thể bị ngưng trệ Chính vì những lý do trên, khi mà tranh chấp giữa NLĐ và NSDLĐ xảy

ra, các bên đều có nhu cầu hợp tác để vụ việc tranh chấp nhanh chóng được giải quyết góp phần hạn chế các tiêu cực xảy ra, giảm các thiệt hại về kinh tế, tinh thần

Trang 21

cho cả hai hoặc có thể dẫn đến việc xảy các vụ tranh chấp tập thể, đình công gây ảnh hưởng xấu đến đời sống NLĐ và hoạt động sản xuất của NSDLĐ

1.1.2 Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân

1.1.2.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân

Khi TCLĐ phát sinh, mục đích của việc giải quyết TCLĐ là phải làm sao giải quyết nhanh chóng, dứt điểm những mâu thuẫn, bất đồng đang xảy ra giữa NLĐ và NSDLĐ Khi đó, nhiệm vụ đặt ra là cần phải tìm được giải pháp giải quyết tranh chấp thuyết phục, đồng thời thỏa mãn yêu cầu của các bên một cách hợp lý, đúng pháp luật Do vậy, việc lựa chọn và sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp nào hợp lý luôn được các chủ thể tranh chấp quan tâm, cân nhắc

TAND là phương thức giải quyết được các chủ thể tranh chấp lựa chọn khi các phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài không đạt được kết quả như mong đợi Quá trình giải quyết TCLĐ có thể trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó giải quyết TCLĐ tại tòa án là giai đoạn có tầm quan trọng đặc biệt Tính đặc biệt đó thể hiện ở việc Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ra phán quyết mang tính quyền lực nhà nước được thi hành bởi cơ quan thi hành án để giải quyết TCLĐ giữa các bên Việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án được thực hiện bằng thủ tục tố tụng chặt chẽ, với những Thẩm phán có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực xét xử, bên cạnh đó những phán quyết, bản án hoặc quyết định của TAND được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Đây

là một ưu điểm vượt trội khi giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND Tuy nhiên, giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án cũng có một số hạn chế nhất định như: thủ tục rườm rà, tốn thời gian, tiền bạc trong khi đó mâu thuẫn, bất đồng trong TCLĐ cá nhân thường là những mâu thuẫn bức bách, cần giải quyết kịp thời Bên cạnh đó thì thời gian giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án thường kéo dài, sự gay gắt trong tranh tụng có thể dẫn đến tình trạng mâu thuẫn ngày càng nhiều và không đáng có giữa các chủ thể và liên quan đến nhiều quyền lợi của họ

Trang 22

Trên cơ sở những phân tích trên, có thể hiểu: Giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và khi bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ giữa các bên sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

1.1.2.2 Đặc điểm, vai trò của giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân

TCLĐ cá nhân với bản chất là một TCLĐ phản ánh những xung đột, mâu thuẫn bên trong QHLĐ về quyền, nghĩa vụ và lợi ích, đồng thời nó còn phản ảnh những xung đột về giá trị tinh thần của đời sống xã hội TCLĐ cá nhân có đặc điểm như sau:

Một là, việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án được thực hiện bởi TAND

với tư cách là cơ quan tài phán mang tính quyền lực nhà nước và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng nghiêm ngặt, chặt chẽ

Tòa án là cơ quan tư pháp nhân danh nhà nước, được tổ chức chặt chẽ theo ngành dọc, hệ thống TAND được tổ chức theo hệ thống với bốn cấp thẩm quyền: TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, TAND cấp cao và TAND tối cao, việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND phải tuân theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ, việc vi phạm thủ tục tố tụng sẽ dẫn đến bản án, quyết định của Tòa án có thể bị hủy, TAND nhân danh quyền lực nhà nước giải quyết TCLĐ nói chung và TCLĐ cá nhân nói riêng, đưa ra phán quyết cuối cùng, quyết định, bản án của Toà án mang tính cưỡng chế thi hành đối với các bên, buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế Việc giải quyết TCLĐ cá nhân có thể qua nhiều cấp xét

xử, và thủ tục xem xét lại cả bản án, quyết định đã có hiệu lực, vì thế nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm cho quyết định của toà án được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với pháp luật, do đó những sai sót trong quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân có khả năng được phát hiện và khắc phục kịp thời

Hai là, giải quyết TCLĐ cá nhân tại tòa án là hoạt động giải quyết cuối cùng

sau khi TCLĐ cá nhân đã được giải quyết ở giai đoạn khác theo quy định mà không

Trang 23

đạt kết quả (trừ một số trường hợp) Khi xảy ra TCLĐ cá nhân, các bên phải thông qua thủ tục thương lượng, hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa

án giải quyết, trừ các TCLĐ cá nhân mang tính chất phức tạp, nghiêm trọng và để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm thì không bắt buộc phải qua thủ tục thương lượng, hòa giải mà các bên có thể khởi kiện thẳng ra TAND có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết Việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND

là phương thức giải quyết cuối cùng giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, giải quyết dứt điểm TCLĐ cá nhân, góp phần ổn định kinh tế, xã hội, trật tự công cộng

Ba là, thông qua cơ quan thi hành án, các phán quyết của TAND về vụ án

TCLĐ cá nhân với trình tự tố tụng chặt chẽ theo quy định của pháp luật có giá trị thi hành cao vì được đảm bảo thi hành bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước

Trong quan hệ lao động, khi có tranh chấp xảy ra thì mục đích hàng đầu của các bên khi khởi kiện ra TAND là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình TAND là cơ quan nằm trong hệ thống tư pháp, nhân danh Nhà nước để giải quyết các tranh chấp nói chung và TCLĐ cá nhân nói riêng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể Sự bảo đảm thi hành phán quyết của TAND bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước thông qua cơ quan thi hành án được xem là một ưu điểm, tạo ra sự khác biệt trong cơ chế thi hành phán quyết của các loại cơ quan tài phán hiện hành Khi các bên tham gia TCLĐ cá nhân không tự giác thi hành bản án, quyết định của tòa án, thì cơ quan thi hành án có quyền thực hiện tổ chức cưỡng chế buộc các đương sự trong vụ việc TCLĐ cá nhân phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quyết định của TAND Với đặc điểm đó, hiệu lực thi hành phán quyết của tòa

án mang tính cưỡng chế cao nhất Chính vì vậy, các TCLĐ cá nhân khi khởi kiện tại tòa án được giải quyết dứt điểm và có khả năng bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

Trang 24

Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, các vụ việc TCLĐ cá nhân đang diễn ra với chiều hướng gia tăng, nội dung tranh chấp phức tạp, mức độ tranh chấp gay gắt đòi hỏi các tranh chấp phải được giải quyết kịp thời, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các đương sự, đảm bảo an ninh, trật tự xã hội Những năm qua việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND cũng đã thu được những kết quả đáng khích lệ Với hàng trăm vụ TCLĐ cá nhân được giải quyết tại TAND, ngành tòa án thực sự

có những kinh nghiệm không nhỏ trong lĩnh vực này Vai trò giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND được thể hiện như sau:

Thứ nhất, việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án do những cán bộ có

chuyên môn, có kiến thức pháp luật, được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm thực tiễn, giải quyết với trình tự, thủ tục tố tụng nghiêm ngặt, đảm bảo tính khách quan, chính xác và đúng pháp luật trong xét xử Bên cạnh đó, với nguyên tắc xét xử hai cấp cùng thủ tục đặc biệt để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật những sai sót và vi phạm trong quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND có khả năng được phát hiện và khắc phục tốt nhất, góp phần đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên Khi vụ việc giải quyết TCLĐ cá nhân thông qua phương thức giải quyết tại TAND thì việc giải quyết này do Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành Phán quyết của họ mang tính khách quan do họ là những người hoàn toàn độc lập với nhau và độc lập với các bên trong vụ việc tranh chấp Theo quy định của luật tố tụng người tiến hành tố tụng trong các vụ án tranh chấp chỉ tuân theo pháp luật, từ đó đưa ra những phán quyết khách quan, chính xác và đúng pháp luật

Thứ hai, bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước thông qua cơ quan thi hành án,

các phán quyết của Tòa án được đảm bảo thi hành Để đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho các đương sự trong giải quyết TCLĐ cá nhân được xác định trong bản án, quyết định cũng như đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, quyết định về mặt thực tế, cơ quan thi hành án phải áp dụng các biện pháp thi hành án để tổ chức thi hành các phán quyết này bằng quyền lực nhà nước Việc áp dụng các biện pháp thi hành án của cơ quan thi hành án là để đảm bảo: “Bên được thi hành án sớm khôi phục lại quyền lợi của mình; bên phải thi hành án có thể giảm được một phần nghĩa vụ theo

Trang 25

bản án, quyết định, giảm được các thiệt hại so với trường hợp cơ quan thi hành án tổ chức thi hành án” Bên cạnh đó, nguyên tắc xét xử công khai của TAND có tính răn

đe đối với những chủ thể vi phạm pháp luật, góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, củng cố niềm tin vào pháp luật của các chủ thể tham gia tranh chấp đối với cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng

Thứ ba, các vụ việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND được giải quyết dứt

điểm Cơ quan thi hành án là một cơ quan chuyên trách và có đầy đủ bộ máy, phương tiện để thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật Đặc điểm này có thể coi là yếu tố hấp dẫn nhất khiến các bên tranh chấp thường tìm đến phương thức giải quyết TCLĐ tại toà án khi giải quyết TCLĐ cá nhân bằng phương thức thương lượng, hòa giải trước đó không thu được kết quả như các bên mong muốn hoặc hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện nghĩa vụ như ghi nhận của biên bản hòa giải Đồng thời khi giải quyết TCLĐ cá nhân tại toà án, việc giải quyết có thể qua nhiều cấp xét xử, vì thế nguyên tắc nhiều cấp xét xử bảo đảm cho quyết định của toà án được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với pháp luật Chính vì vậy, các vụ việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND được giải quyết dứt điểm

1.2 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án

1.2.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án

Nguyên tắc giải quyết TCLĐ được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo việc giải quyết TCLĐ trong suốt quá trình giải quyết các TCLĐ mà tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết TCLĐ đó đều phải tuân thủ

Dựa trên tính chất của quan hệ lao động là quan hệ được thiết lập trên cơ sở

tự do thỏa thuận của NLĐ và NSDLĐ về các nội dung của hợp đồng lao động từ tiền lương, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, chế độ thưởng Lễ, Tết,… Do đó, khi xảy

ra TCLĐ cá nhân mà chưa cần tới sự hòa giải của Tòa án thì pháp luật luôn hướng hai bên đến nguyên tắc tự thương lượng với nhau nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích của hai bên tham gia tranh chấp, xóa bỏ tranh chấp, giúp quan hệ lao động ổn định trở lại

Trang 26

Mặc dù giữa hai bên NLĐ và NSDLĐ có nhiều tranh chấp với nhau nhưng cuối cùng vẫn phải cộng tác với nhau Vì lẽ đó, nguyên tắc giải quyết TCLĐ nhằm vào các mục đích như: một là, giải quyết hài hòa lợi ích của hai bên; hai là, ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội, duy trì mối quan hệ tốt đẹp, bền vững trong tương lai giữa NLĐ và NSDLĐ, bởi lẽ có rất nhiều quan hệ lao động được tiếp tục duy trì sau TCLĐ xảy ra

Xuất phát từ nhận thức về bản chất của TCLĐ và quan điểm lập pháp của mình, các nước trên thế giới thường xây dựng các nguyên tắc giải quyết TCLĐ, trình tự, thủ tục giải quyết, hệ thống các cơ quan có thẩm quyền giải quyết TCLĐ Thông thường, các quốc gia khi tiến hành giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án đều dựa trên hai nguyên tắc sau:

Thứ nhất, tôn trọng quyền tự định đoạt, sự thỏa thuận giữa các bên thông qua

việc thương lượng và hòa giải

Đây là nguyên tắc cơ bản trong giải quyết TCLĐ cá nhân, nó thể hiện quyền

tự định đoạt của các bên tranh chấp thông qua phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật Nguyên tắc này giúp cho việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, tạo điều kiện để NLĐ và NSDLĐ hiểu nhau hơn Nếu hai bên chủ thể không đạt được kết quả thương lượng như mong muốn thì sẽ tiến hành hòa giải Bản chất của việc hòa giải là hòa giải viên đưa ra phương án và giải pháp

để các chủ thể xem xét và lựa chọn, nếu kết quả hòa giải thành thì xem như giải quyết xong TCLĐ cá nhân Phương thức giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án thông qua việc hòa giải luôn được cơ quan Tòa án khuyến khích thực hiện, đây được xem như một giải pháp tối ưu khi đưa TCLĐ cá nhân giải quyết tại Tòa án Ưu điểm của giải pháp này nhằm giải quyết nhanh chóng tranh chấp đồng thời tạo điều kiện hai bên hiểu nhau hơn Nếu hòa giải không thành thì phải áp dụng các trình tự tố tụng tại Tòa án Khi thực hiện giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án thì quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sẽ được đảm bảo, lập lại công bằng trong quan hệ lao động Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì một đặc điểm của TCLĐ cá nhân

Trang 27

nữa là có thể ảnh hưởng tiêu cực lớn tới NLĐ như: việc làm, thu nhập của NLĐ có thể bị gián đoạn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bản thân và gia đình đồng thời cũng ảnh hưởng đến NSDLĐ như: hoạt động sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ,

uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp có thể bị giảm sút … Trong nhiều trường hợp, sau quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân thì quan hệ lao động của các bên vẫn phải tiếp tục duy trì nên TCLĐ cá nhân cần phải được giải quyết kịp thời, nhanh chóng để phòng ngừa và khắc phục những tác động tiêu cực nói trên đồng thời hạn chế tối đa các ảnh hưởng xấu

Thứ hai, đảm bảo có sự tham gia của tổ chức đại diện các bên theo chức

năng và nhiệm vụ tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp

Sự tham gia của tổ chức đại diện các bên vào quá trình giải quyết TCLĐ có mục đích và ý nghĩa quan trọng giúp cho quá trình giải quyết vụ việc được kịp thời, nhanh chóng, khách quan, đặc biệt là đối với NLĐ được xem là bên yếu thế hơn NSDLĐ trong quan hệ lao động thì nguyên tắc này giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của họ Bên cạnh đó đại diện của hai bên thường là những người am hiểu pháp luật, nắm bắt được quyền và nghĩa vụ của hai bên, quá trình lao động của

cả hai bên không những có khả năng giúp hai bên có điều kiện thương lượng với nhau, đạt được thỏa thuận về giải quyết TCLĐ, đảm bảo công bằng cho cả hai bên

mà còn có thể giúp các cơ quan có thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nhân có thêm thông tin, tài liệu về vụ việc Nguyên tắc này có ý nghĩa thực tiễn rất sâu sắc vì sự tham gia của đại diện các bên có thể giúp NLĐ và NSDLĐ bảo vệ tốt hơn các quyền lợi hợp pháp và chính đáng của mình

1.2.2 Thẩm quyền về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án

Thẩm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của cá nhân hoặc cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực nhà nước và được pháp luật quy định Thẩm quyền của cơ quan nhà nước bao gồm các lĩnh vực mà nhà nước giao cho cơ quan đó thực hiện Với thẩm quyền của mình cơ quan nhà nước đó không thể làm thay chức năng của nhau, không thể thay thế cơ quan nhà nước này bằng cơ quan nhà nước khác để thực hiện chức năng đã được

Trang 28

xác định Tòa án nhân dân là cơ quan đặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nước, thực hiện chức năng tư pháp Thẩm quyền của Tòa án được xác định trong phạm vi xét xử các vụ án như: hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình… Thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nhân của TAND là các quy định về chức năng, phạm vi, quyền hạn của Tòa án để giải quyết các TCLĐ cá nhân Tùy vào tính chất của vụ việc tranh chấp sẽ có quy định về thẩm quyền theo cấp tòa án đối với TAND cấp huyện và tỉnh.

Việc xác định được thẩm quyền giải quyết tranh chấp quy định trong hệ thống pháp luật không chỉ thể hiện sự phân cấp thẩm quyền giải quyết trong bộ máy nhà nước rõ ràng, hợp lý mà còn giúp các bên tranh chấp giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, đúng thời gian và đúng pháp luật Thẩm quyền theo cấp tòa án là cơ sở pháp lý xác định nhiệm vụ, quyền hạn của tòa án mỗi cấp trong việc thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ việc TCLĐ cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ Đồng thời tạo ra sự chủ động và nâng cao vai trò của các cấp Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc TCLĐ cá nhân

Trong quan hệ lao động, khi xảy ra mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa

vụ giữa NLĐ và NSDLĐ mà hòa giải viên lao động hòa giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Tuy nhiên một số TCLĐ cá nhân về hình thức kỉ luật sa thải cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân dù không qua hòa giải tại cấp cơ sở Đối với các vụ án TCLĐ cá nhân, tùy theo mức độ của sự vi phạm và căn cứ theo quy định của pháp luật mà Tòa án đưa ra các quyết định về quyền và nghĩa vụ cá nhân, các quyết định này được đảm bảo thực hiện thông qua cơ quan thi hành án

Do đặc trưng của quan hệ lao động, trong đó NLĐ thường là bên yếu thế nên được tạo điều kiện trong quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ nên trong một số trường hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho nguyên đơn, người yêu cầu có thể lựa chọn một trong các tòa án có điều kiện để giải quyết vụ việc tại nơi

Trang 29

cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn; tòa án nơi tổ chức có chi nhánh; nơi xảy ra việc gây thiệt hại khi tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc tranh chấp

về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với NLĐ thì nguyên đơn là NLĐ có thể yêu cầu tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết

Ngoài ra, khi có TCLĐ phát sinh và yêu cầu cần giải quyết thì trước tiên phải xác định được Tòa án nơi nào có thẩm quyền giải quyết Việc xác định này có

ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình giải quyết một vụ án, vụ việc tranh chấp, đảm bảo quá trình tiến hành giải quyết tranh chấp đạt kết quả nhanh chóng, tối ưu các quyền lợi của các chủ thể tranh chấp Thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ giải quyết vụ án TCLĐ cá nhân xảy ra tại Tòa án nơi cư trú, làm việc của bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết TCLĐ theo thủ tục sơ thẩm Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi nguyên đơn có trụ sở nếu nguyên đơn là

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo thủ tục sơ thẩm trong trường hợp các đương sự đã thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn tòa án này giải quyết

1.2.3 Trình tự, thủ tục đối với vấn đề giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án

Khi TCLĐ phát sinh và các bên không thể tự thương lượng, dàn xếp được thì mỗi bên hoặc cả hai bên trong TCLĐ có quyền gửi đơn đến Hòa giải viên lao động Giải quyết TCLĐ cá nhân bởi Hòa giải viên lao động là bước đầu tiên trong trình tự giải quyết TCLĐ cá nhân và thường được gọi là hòa giải cơ sở Tại phiên họp hòa giải phải có mặt hai bên tranh chấp hoặc đại diện được ủy quyền của họ Hòa giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng Trường hợp hai bên thỏa thuận được, thì Hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành Hai bên có nghĩa vụ chấp hành các thỏa thuận đã ghi trong biên bản Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, Hòa giải viên lao động đưa ra các

Trang 30

phương án hòa giải để các bên tranh chấp xem xét và thống nhất Nếu hai bên chấp nhận phương án hòa giải thì lập biên bản hòa giải thành Nếu hai bên không chấp nhận phương án hòa giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì Hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải không thành Mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu TAND giải quyết Các bên tranh chấp có quyền khởi kiện trực tiếp vụ án lao động

ra TAND mà không nhất thiết phải qua Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc

Hòa giải viên lao động cấp huyện đối với một số loại việc mà pháp luật quy định

Giải quyết vụ việc TCLĐ cá nhân tại Tòa án cấp sơ thẩm là một hoạt động quan trọng trong toàn bộ các hoạt động giải quyết TCLĐ Đây là giai đoạn mà các chứng cứ, tài liệu, tình tiết vụ án được đưa ra đánh giá, xem xét và quyết định bởi những người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực lao động và

cơ quan có thẩm quyền Đây cũng là bước đầu tiên trong các thủ tục pháp lý về giải quyết các vụ án TCLĐ cá nhân Qua các hoạt động thuộc giai đoạn này, Tòa

án thể hiện được quyền tài phán của mình trước các bên tranh chấp

Các bên tranh chấp có quyền khởi kiện trực tiếp vụ án TCLĐ cá nhân ra TAND khi có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án TCLĐ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tòa án bắt đầu xem xét, thụ lý, giải quyết vụ án TCLĐ khi có việc khởi kiện vụ án lao động tại Tòa án

Thụ lý vụ án là việc toà án chấp nhận đơn khởi kiện của chủ thể khởi kiện

và vào sổ thụ lý để tiến hành việc giải quyết vụ án Đây là một trong những công việc đầu tiên của toà án trong suốt quá trình tố tụng nhưng mang một ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ nếu không có việc khởi kiện và thụ lý vụ án thì cũng có nghĩa là sẽ không có quá trình tố tụng Mặt khác, ngày thụ lý vụ án cũng chính là mốc thời gian để xác định thời hạn tố tụng toà án phải giải quyết vụ án theo luật định Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, Tòa án phải phải ra thông báo thụ lý

vụ án và gửi cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết nội dung vụ kiện

và nhận lại các văn bản trả lời và tài liệu liên quan

Trang 31

Để giải quyết TCLĐ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tòa án không chỉ xét xử mà còn hòa giải TCLĐ Sau khi thụ lý vụ án, để giải quyết vụ án TCLĐ, Tòa án có trách nhiệm tiến hành giải thích pháp luật, giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án TCLĐ theo quy định Hoạt động này của tòa án được gọi là hòa giải TCLĐ đồng thời là hoạt động

tố tụng do tòa án tiến hành thực hiện Cơ sở của hòa giải TCLĐ là quyền tự định đoạt của các đương sự Hòa giải là thủ tục bắt buộc trước khi mở phiên tòa xét xử

sơ thẩm Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết TCLĐ thì toà án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Như vậy, việc hòa giải trước khi xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc, trừ những việc không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải Quy định này xuất phát từ tầm quan trọng của hòa giải, đặc biệt là hòa giải trong các vụ

án tranh chấp về lao động, bởi lẽ mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ là mối quan hệ dựa trên sự thỏa thuận, thống nhất giữa hai bên thông qua hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc Nếu hòa giải thành cũng có nghĩa là tòa án đã hoàn thành việc giải quyết vụ án mà không cần mở phiên tòa trừ các trường hợp vụ án TCLĐ cá nhân không được hòa giải hoặc hai bên chủ thể xảy ra tranh chấp mà không thể hòa giải được Nếu hòa giải không thành, Tòa án tiến hành thủ tục đưa vụ

án ra xét xử tại tòa sơ thẩm Bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo theo thủ tục quy định Giải quyết TCLĐ cá nhân sẽ không chỉ là những công việc mà Tòa án phải thực hiện theo thủ tục sơ thẩm mà còn phải bao gồm những công việc

mà Tòa án phải thực hiện theo thủ tục phúc thẩm và những thủ tục đặc biệt khác theo quy định

1.2.4 Thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ án tranh chấp lao động

cá nhân tại Tòa án

Thời hiệu yêu cầu TAND giải quyết các vụ án TCLĐ tại Tòa án là khoảng thời gian hiệu lực do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó các bên tranh chấp được quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết TCLĐ Việc xác định chính xác thời điểm bắt đầu để tính thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp

Trang 32

có ý nghĩa rất quan trọng Bởi lẽ, từ đó mới có thể xác định hết thời hạn yêu cầu giải quyết tranh chấp, xác định được người yêu cầu còn quyền hay không, xác định Tòa

án có thụ lý, giải quyết TCLĐ hay không

Tại các nước như Anh, Newdilen, Úc thì thời hiệu yêu cầu TAND giải quyết các vụ TCLĐ cũng như các loại tranh chấp dân sự khác được định tại một đạo luật riêng biệt [ ] Theo pháp luật của các nước này thì thời hiệu yêu cầu TAND giải quyết các vụ án tranh chấp là một thời hạn cụ thể mà nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án thực thi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong thời hạn

đó mà nguyên đơn không khởi kiện yêu cầu TAND giải quyết các vụ án tranh chấp thì khi thời hiệu kết thúc, nguyên đơn sẽ mất quyền khởi kiện Còn tại các nước như Pháp, Đức, Canada, thì thời hiệu yêu cầu TAND giải quyết các vụ án tranh chấp được quy định trong Bộ luật Dân sự

Có thể thấy rằng, quan niệm về thời hiệu yêu cầu TAND giải quyết các vụ án TCLĐ của pháp luật Việt Nam so với nhiều nước trên thế giới có điểm tương đồng

và khác biệt nhất định, cụ thể như: thời hiệu yêu cầu TAND giải quyết các vụ án TCLĐ do pháp luật quy định, có điểm bắt đầu và kết thúc Bên cạnh đó, hậu quả pháp lý khi hết thời hiệu yêu cầu TAND giải quyết các vụ án TCLĐ cá nhân cũng đồng thời chủ thể đó sẽ mất quyền khởi kiện

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN TẠI TÒA ÁN VÀ THỰC TIỄN THI

HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Thực trạng quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân

2.1.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân

Theo pháp luật Việt Nam thì nguyên tắc giải quyết TCLĐ cá nhân tại Tòa án phải tuân theo nguyên tắc chung tại Điều 194 của Bộ luật lao động năm 2012 bao gồm những nguyên tắc sau: tôn trọng, bảo đảm để các bên tự thương lượng, quyết định trong giải quyết TCLĐ; bảo đảm thực hiện hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật; công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật; bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết TCLĐ; việc giải quyết TCLĐ trước hết phải được hai bên trực tiếp thương lượng nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của hai bên tranh chấp, ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội; việc giải quyết TCLĐ do cơ quan, tổ chức,

cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi một trong hai bên có đơn yêu cầu do một trong hai bên từ chối thương lượng, thương lượng nhưng không thành hoặc thương lượng thành nhưng một trong hai bên không thực hiện

Nguyên tắc việc giải quyết TCLĐ trước hết phải được hai bên trực tiếp thương lượng nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của hai bên, ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội là nguyên tắc đầu tiên và thể hiện rõ một trong những tư tưởng chỉ đạo hàng đầu và quan trọng của pháp luật Việt Nam trong việc giải quyết TCLĐ cá nhân Có thể thấy rõ tại Điều 194 Bộ luật lao động năm

2012 quy định: “Tôn trọng, bảo đảm để các bên tự thương lượng, quyết định trong giải quyết tranh chấp lao động” ( Khoản 1) và “Việc giải quyết tranh chấp lao động

Trang 34

trước hết phải được hai bên trực tiếp thương lượng nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của hai bên tranh chấp, ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội” ( Khoản 5) Việc các bên tranh chấp tự thương lượng với nhau để giải quyết

mọi bất đồng, mâu thuẫn phát sinh xảy ra trong mối quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ có ý nghĩa rất quan trọng, không những tạo sự chủ động cho các bên, không có sự can thiệp của bên thứ ba vào quá trình giải quyết, không những góp phần sớm ổn định sản xuất, kinh doanh, bảo đảm trật tự và an toàn xã hội mà còn là tiền đề để duy trì mối quan hệ tốt đẹp, bền vững trong tương lai giữa NLĐ và người SDLĐ, bởi lẽ có rất nhiều quan hệ lao động được tiếp tục duy trì sau TCLĐ xảy ra

Bên cạnh tiêu chí đầu tiên giải quyết TCLĐ cá nhân bằng phương thức thương lượng, Nhà nước còn đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp bằng cách thực hiện hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật Khi giải quyết TCLĐ cá nhân bằng phương thức hòa giải, trọng tài thì các bên phải cùng nhau đồng ý với phương án hòa giải của hòa giải viên hay của Hội đồng trọng tài lao động thì việc giải quyết TCLĐ của hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao động mới đạt kết quả thông qua việc lập biên bản hòa giải thành, ngược lại nếu các bên không đồng ý thì kết quả của việc giải quyết TCLĐ cá nhân sẽ không đạt kết quả Điều này cho thấy rằng kết quả giải quyết TCLĐ bằng hòa giải hoặc bằng trọng tài là kết quả tự quyết định của hai bên tham gia TCLĐ cá nhân

Trong trường hợp hòa giải không thành hoặc hòa giải thành nhưng một trong hai bên không thực hiện cam kết trong biên bản thì các bên mới được khởi kiện ra Tòa án giải quyết TCLĐ cá nhân Khi Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp thì Tòa án vẫn đứng ra tiến hành thủ tục hòa giải tranh chấp được thực hiện bởi Thẩm phán, đây là những người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong giải quyết các TCLĐ cá nhân, vì vậy khi tiến hành hòa giải ở giai đoạn này sẽ tạo được sự tin tưởng cho các bên tham gia tranh chấp Việc ghi nhận hòa giải thành tại Tòa án bằng một quyết định sẽ được đảm bảo thi hành bằng biện pháp cưỡng chế nhà nước thông qua cơ quan thi hành án Đây là một quy định rất có ý nghĩa thể hiện tư tưởng

Trang 35

chỉ đạo hàng đầu khi giải quyết TCLĐ cá nhân là đề cao quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp

Khi thực hiện giải quyết TCLĐ thì quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sẽ được đảm bảo, lập lại công bằng trong quan hệ lao động Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì một đặc điểm của TCLĐ cá nhân nữa là có thể ảnh hưởng tiêu cực lớn tới NLĐ như: việc làm, thu nhập của NLĐ có thể bị gián đoạn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của bản thân và gia đình Đồng thời cũng ảnh hưởng đến NSDLĐ như: hoạt động sản xuất kinh doanh bị ngừng trệ, uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường có thể bị giảm sút … Trong nhiều trường hợp, sau quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân thì quan hệ lao động của các bên vẫn phải tiếp tục duy trì nên TCLĐ cá nhân cần phải được giải quyết kịp thời, nhanh chóng để phòng ngừa và khắc phục những tác động tiêu cực nói trên đồng thời hạn chế tối đa các ảnh hưởng xấu Song muốn giải quyết được nhanh chóng tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thì cơ quan có thẩm quyền xử lý phải khách quan, công khai, và tuân thủ đúng pháp luật

Để đảm bảo tính khách quan trong việc giải quyết TCLĐ đòi hỏi tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ và đánh giá chứng cứ một cách khách quan, đứng ở vị trí trung lập, giữ thái độ khách quan, không thiên

vị, không định kiến trong quá trình giải quyết TCLĐ và căn cứ vào các tình tiết khách quan của vụ việc để xây dựng phương án hòa giải hoặc ra các quyết định giải quyết TCLĐ đúng quy định pháp luật

Giải quyết TCLĐ cá nhân theo đúng pháp luật là yêu cầu về trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành giải quyết vụ TCLĐ, đồng thời là mong muốn chính đáng của các bên tranh chấp, đây cũng là yêu cầu tất nhiên của công tác giải quyết TCLĐ Việc thực hiện giải quyết TCLĐ cá nhân tuân thủ theo đúng pháp luật được thể hiện khi hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động xây dựng phương

án hòa giải hoặc chấp nhận phương án hòa giải do hai bên tranh chấp đưa ra, khi TAND ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp hoặc

ra quyết định, bản án để giải quyết vụ tranh chấp Việc giải quyết TCLĐ cá nhân tại

Trang 36

Tòa án bắt buộc phải tuân thủ các quy định của pháp luật bao gồm quy định pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng quy định về trình tự, thủ tục

Trong quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân đòi hỏi phải có sự tham gia của tổ chức đại diện các bên theo chức năng và nhiệm vụ tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp (tổ chức công đoàn đại diện của NLĐ tập thể lao động; tổ chức đại diện của NSDLĐ; hòa giải viên lao động; thành viên của Hội đồng trọng tài lao động hay hội thẩm nhân dân trong hội đồng xét xử) Nguyên tắc này có mục đích quan trọng

là góp phần nâng cao vai trò, vị trí của Công đoàn với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ Bên cạnh đó sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết TCLĐ cá nhân có thể giúp NLĐ và NSDLĐ đạt được thỏa thuận về giải quyết TCLĐ mà còn có thể giúp các cơ quan có thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nhân có thêm thông tin, tài liệu về vụ việc Nguyên tắc này có ý nghĩa thực tiễn rất sâu sắc vì sự tham gia của đại diện các bên có thể giúp NLĐ và NSDLĐ bảo vệ tốt hơn các quyền lợi hợp pháp và chính đáng của mình

Để giải quyết dứt điểm TCLĐ cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ cần đến một cơ quan có thẩm quyền mang sức mạnh cưỡng chế nhà nước thực hiện giải quyết sau khi một trong hai bên có đơn yêu cầu do một trong hai bên từ chối thương lượng, thương lượng nhưng không thành hoặc thương lượng thành nhưng một trong hai bên không thực hiện Đây là nguyên tắc cuối cùng khi giải quyết tranh chấp bằng phương thức thương lượng, hòa giải, trọng tài không đạt được kết quả nhưng mong muốn

Bên cạnh những nguyên tắc trên, khi giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND còn phải tuân thủ các nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm

2015, bao gồm các nguyên tắc cơ bản: Tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự; Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự; Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự; Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự; Bảo đảm quyền bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; Hòa giải trong tố tụng dân sự; Hội thẩm

Trang 37

nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử vụ

án dân sự, Thẩm phán giải quyết việc dân sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Tòa án xét xử tập thể; Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai; Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự; Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; Giám đốc việc xét xử; Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án; Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự; Trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án; Việc tham gia tố tụng dân

sự của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Bảo đảm tranh tụng trong xét xử; Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự [14, Điều 3 – Điều 25]

2.1.2 Thẩm quyền về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của Tòa án nhân dân

Thẩm quyền của tòa án trong việc thụ lý giải quyết các vụ việc TCLĐ cá nhân theo thủ tục tố tụng dân sự Điều 102 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung

năm 2013 ghi nhận: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (khoản 1) và Tòa án có nhiệm

vụ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (khoản 3) Theo Khoản 2 Điều 200 Bộ luật Lao động năm 2012 thì cơ quan,

cá nhân có thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nhân là Hòa giải viên lao động và TAND Thẩm quyền giải quyết TCLĐ cá nhân theo BLTTDS năm 2015 thì TAND được chia thành: Thẩm quyền theo vụ việc (thẩm quyền chung); thẩm quyền theo cấp Tòa án; thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của một bên

tranh chấp là nguyên đơn

2.1.2.1 Thẩm quyền theo vụ việc

Khi xem xét thẩm quyền chung của Tòa án, Thẩm phán không nên chỉ căn

cứ vào Điều 31 BLTTDS năm 2015 quy định những TCLĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Điều 33 BLTTDS năm 2015 quy định những yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà còn phải căn cứ vào Điều 157, Điều

Trang 38

166 và Điều 168 của đã được sửa đổi, bổ sung – đây là điểm mới so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các TCLĐ Có như vậy mới xác định được đầy đủ và chính xác thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCLĐ, đặc biệt là đối với TCLĐ cá nhân

Theo quy định tại Điều 32 BLTTDS năm 2015, để những vụ TCLĐ cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án phải đầy đủ các điều kiện bao gồm: là TCLĐ cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ mà hoà giải viên lao động của cơ quan quản

lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoà giải không thành hoặc không tiến hành hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định hoặc hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện; một hoặc hai bên tranh chấp yêu cầu TAND giải quyết, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại

cơ sở: về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động; giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động; về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 còn quy định thêm tranh chấp liên quan đến lao động bao gồm: Tranh chấp về học nghề, tập nghề; Tranh chấp về cho thuê lại lao động; Tranh chấp về quyền công đoàn, kinh phí công đoàn; Tranh chấp về an toàn lao động, vệ sinh lao động; Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp

Để có những tiêu chí cơ bản làm cơ sở xác định thẩm quyền của Tòa án đối với việc giải quyết các TCLĐ theo vụ việc, phải xác định bản chất giữa các bên là quan hệ làm công ăn lương hay là quan hệ xã hội “gần” với quan hệ lao động và

Trang 39

giữa các bên tranh chấp có hợp đồng lao động hay không để phân biệt với hợp đồng dân sự

Các TCLĐ cá nhân thuộc thẩm quyền chung của Tòa án nhìn chung được giải quyết theo thủ tục tiền tố tụng là hòa giải trước nếu không đạt được kết quả thì mới được TAND thụ lý và giải quyết theo quy định của BLTTDS năm 2015 (trừ một số tranh chấp lao động cá nhân nêu trên) Điều này phù hợp với những bản chất của quan hệ lao động và mục đích của của việc giải quyết TCLĐ, đồng thời làm giảm gánh nặng cho Tòa án Tuy nhiên, thực tiễn xét xử tại Tòa án đặt ra một

số vấn đề như:

Thứ nhất, đối với những vụ việc tranh chấp bắt buộc phải qua thủ tục hòa

giải, nhưng các bên chưa đưa ra hòa giải thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết không? Ghi nhận từ thực tiễn cho thấy do nhận thức về pháp luật lao động còn hạn chế, nên nhiều trường hợp NLĐ nghĩ ngay đến việc khởi kiện vụ việc tranh chấp ra Tòa án, mặt khác do hoạt động hòa giải chưa đạt được lòng tin, chưa đáp ứng được lợi ích của các bên tranh chấp Đối với những sự việc này mặc dù thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhưng chưa đủ điều kiện khởi kiện ra Tòa

Thứ hai, những vụ tranh chấp đã đưa ra hòa giải nhưng và đã có biên bản

hòa giải thành nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án không?

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 201 Bộ Luật lao động năm 2012 thì “Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.” Đây là điểm mới của Bộ Luật lao

động năm 2012 so với Điều 166 Bộ Luật lao động năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm

2002 có quy định “Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân

mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động hoà giải không thành hoặc Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động không giải quyết trong thời hạn quy định.” Nếu hòa giải viên lao động giải quyết không thành hay

Trang 40

không giải quyết trong đúng thời hạn quy định của pháp luật hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành thì Tòa án sẽ là chủ thể giải quyết Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của hội đồng hòa giải lao động cơ sở có vẻ không cần thiết nên Bộ luật lao động đã sửa đổi đề phù hợp hơn với thực tế ngày nay, tránh lãng phí nguồn nhân lực

Đối với loại TCLĐ cá nhân thì cần lưu ý phân biệt giữa tranh chấp giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với tranh chấp về thực hiện hợp đồng lao động, bởi lẽ nếu như xác định là tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì TAND có quyền thụ lý ngay mà không qua thủ tục hòa giải theo điểm a Khoản 1 Điều 32 BLTTDS năm 2015 Ngược lại nếu xác định TCLĐ về thực hiện hợp đồng lao động thì phải qua thủ tục hòa giải

2.1.2.2 Thẩm quyền theo cấp xét xử

Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Việc thẩm định thẩm quyền của Tòa án chủ yếu dựa vào tính chất của các loại vụ việc tranh chấp Luật tổ chức TAND năm 2014 đã thể chế hóa nội dung các văn kiện của Đảng, theo đó tổ chức TAND theo 04 cấp: TAND tối cao; TAND cấp cao; TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; TAND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân

sự

Trong giải quyết TCLĐ cá nhân tại TAND, theo quy định tại Điều 35, 36,

37, 38 BLTTDS năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết theo cấp Tòa án được xác định như sau:

- Tòa án nhân dân cấp huyện: TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết

theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về lao động cá nhân giữa NLĐ và NSDLĐ quy định tại Điều 32 của BLTTDS năm 2015 mà Hòa giải viên lao động hòa giải không thành hoặc hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp theo quy định không nhất thiết phải qua hòa giải cơ sở Theo khoản 1 Điều 36 BLTTDS năm 2015,

Ngày đăng: 15/06/2018, 10:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kim Anh (2014), Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo pháp luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2014
2. Phạm Công Bảy (2009), Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân – Từ pháp luật đến thực tiễn và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, Số 9, tr 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân – Từ pháp luật đến thực tiễn và một số kiến nghị
Tác giả: Phạm Công Bảy
Năm: 2009
3. Phạm Công Bảy (2011), Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Công Bảy
Năm: 2011
4. Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật lao động Việt Nam
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2015
5. Phạm Thị Hồng Hạnh (2016), Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân và thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Tác giả: Phạm Thị Hồng Hạnh
Năm: 2016
6. Nguyễn Thị Thanh Huệ (2014), Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huệ
Năm: 2014
7. Phạm Thị Thu Huyền (2017), Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án từ thực tiễn áp Tỉnh Quãng Ninh, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Viện Đại học mở Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án từ thực tiễn áp Tỉnh Quãng Ninh
Tác giả: Phạm Thị Thu Huyền
Năm: 2017
8. Nguyễn Thị Thanh Loan (2016), Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án Tòa án nhân dân và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án Tòa án nhân dân và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Loan
Năm: 2016
9. Lưu Bình Nhưỡng (2002), Tài phán lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài phán lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam
Tác giả: Lưu Bình Nhưỡng
Năm: 2002
10. Lưu Bình Nhưỡng (2005), Tố tụng lao động ở Việt Nam trong bối cảnh của Bộ luật tố tụng dân sự, Tạp chí Luật học, (Đặc san về Bộ luật tố tụng dân sự, tr5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố tụng lao động ở Việt Nam trong bối cảnh của Bộ luật tố tụng dân sự
Tác giả: Lưu Bình Nhưỡng
Năm: 2005
11. Phạm Hồng Quân (2017), Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân và thực tiễn áp dụng tại Tỉnh Yên Bái, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân và thực tiễn áp dụng tại Tỉnh Yên Bái
Tác giả: Phạm Hồng Quân
Năm: 2017
12. Luật Dương Gia, Đặc điểm của giải quyết tranh chấp lao động bằng Tòa án, https://luatduonggia.vn/dac-diem-cua-giai-quyet-tranh-chap-lao-dong-bang-toa-an, ngày cập nhật 16/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của giải quyết tranh chấp lao động bằng Tòa án
13. Luật Dương Gia, Thủ tục phúc thẩm các vụ án tranh chấp lao động cá nhân, https://luatduonggia.vn/thu-tuc-phuc-tham-cac-vu-an-tranh-chap-lao-dong-ca-nhan, ngày cập nhật 16/02/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục phúc thẩm các vụ án tranh chấp lao động cá nhân
14. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (2017), Báo cáo tổng kết công tác năm và phương hướng nhiệm vụ công tác của Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hồ Chí Minh, các năm từ năm 2013 đến năm 2017 Khác
15. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (2017), Báo cáo Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ việc lao động sơ thẩm tại Tòa án nhân dân các quận, huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, các năm từ năm 2013 đến năm 2017 Khác
16. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (2017), Báo cáo Thống kê thụ lý và giải quyết các vụ việc lao động phúc thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, các năm từ năm 2013 đến năm 2017 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w