Thủy điện Sơn La là công trình trọng điểm quốc gia, đồng thời cũng là nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á được đầu tư xây dựng trên sông Đà, tại tuyến Pá Vinh II, xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Đây là công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, mở ra một vận hội có tính lịch sử với các tỉnh Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng. Tạo ra thế và lực trong thời kỳ mới đưa Sơn La thoát khỏi tình trạng khó khăn, phát triển nhanh, bền vững. Thủy điện Sơn La không chỉ lớn về quy mô nhà máy mà còn lớn nhất về quy mô di chuyển dân từ trước đến nay. Việc xây dựng công trình thủy điện Sơn La đã đặt ra cho ba tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu nhiệm vụ lịch sử to lớn, đầy khó khăn, thách thức, là tổ chức vận động, tuyên truyền và di chuyển 18.897 hộ dân với 91.100 nhân khẩu (riêng Sơn La có 12.479 hộ dân với 62.394 nhân khẩu) đến nơi ở mới an toàn trước khi công trình thủy điện Sơn La đóng cống dẫn dòng vào năm 2010, Song song với cuộc chuyển dân, công tác ổn định đời sống và sản xuất cho các hộ TĐC cũng phải được đảm bảo. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, là thách thức lớn đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh vì liên quan đến nhiều lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm của đời sống đồng bào các dân tộc [23, tr. 12]. Trong dự án này, Sơn La là tỉnh bị ảnh hưởng, thiệt hại và di dân, tái định cư lớn nhất với vùng ngập lòng hồ thủy điện bao gồm ba huyện Mường La, Quỳnh Nhai, Thuận Châu với 17 xã, 145 bản, trung tâm huyện lỵ Quỳnh Nhai, diện tích tự nhiên bị ngập khoảng 16.000 ha. Hơn nữa, dự án được triển khai trong điều kiện địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh; hệ thống kết cấu hạ tầng (nhất là giao thông đến các khu, điểm tái định cư) chưa được chủ động đầu tư trước; công tác quy hoạch các khu, điểm tái định cư được tiến hành đồng thời với công tác di chuyển dân, do đó, không chủ động xây dựng được hoàn chỉnh các khu, điểm tái định cư để đồng bào lựa chọn. Đối tượng di chuyển chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí chưa cao nên công tác tuyên truyền, vận động, giải thích phải kiên trì và mất nhiều thời gian… Di dân tái định cư là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, như: đất đai, phong tục tập quán, tư tưởng, nhận thức, tâm lý dân tộc, môi trường, chế độ chính sách, đời sống, sản xuất, kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…Việc tổ chức di dân trong khoảng thời gian ngắn, đồng bào cư trú chủ yếu ở những thôn bản đặc biệt khó khăn, nhưng hầu hết họ không muốn rời bỏ quê hương bao đời nay gắn bó để đến nơi ở mới. Vì vậy, việc vận động di chuyển dân thực sự là một cuộc cách mạng về lòng người. Công cuộc di dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La được coi là cuộc vận động lịch sử lơn nhất từ sau khi đất nước ta thống nhất. Với trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đã đạt được những thành công quan trọng trong công tác tái định cư. Hoàn thành di chuyển dân đúng kế hoạch, đảm bảo tiến độ xây dựng công trình thủy điện Sơn La, bước đầu ổn định đời sống cho đồng bào trên quê mới. Như vậy, mục tiêu cơ bản của dự án đã được thực hiện. Sơn La đã có cơ hội sắp xếp lại dân cư theo quy hoạch; tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, điện lưới quốc gia, nước sinh hoạt… từng bước hình thành mô hình nông thôn mới, là cơ sở để khẳng định chủ trương di dân tái định cư trong tỉnh, phù hợp với phong tục tập quán, văn hoá truyền thống và nguyện vọng của nhân dân; đồng bào các dân tộc đã nhanh chóng làm quen với môi trường mới, chuyển dần từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá với nhiều cây trồng, vật nuôi và ngành nghề mới hiệu quả hơn, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào không ngừng được nâng cao. Cách thức tổ chức của Sơn La trong di dân tái định cư đồng thời là bài học kinh nghiệm quý để các địa phương tham khảo. Kết quả đạt được của Dự án di dân TĐC thủy điện Sơn La rất to lớn và đáng tự hào. Tuy nhiên, phải nói rằng việc hoàn thành nhiệm vụ di chuyển dân ra khỏi vùng hồ thủy điện Sơn La mới chỉ là thắng lợi bước đầu của cả dự án, việc ổn định đời sống của các hộ dân TĐC, giúp bà con sản xuất, định cư bền vững với là trọng trách nặng nề đặt lên vai các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, đây với là yếu tố quan trọng cuối cùng, quyết định thành công dự án di dân TĐC thủy điện Sơn La. Trong khi đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ TĐC dự án thủy điện Sơn La được Chính phủ ban hành, song quá trình thực hiện còn nhiều vấn đề phát sinh nên phải điều chỉnh, bổ sung dẫn đến vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện. Tiến độ triển khai đầu tư xây dựng một số dự án thành phần còn chậm, quy hoạch các khu tái định cư mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do yếu tố địa chất, địa hình nên một số nơi xảy ra tình trạng sạt lở, chưa phù hợp, cần phải điều chỉnh phù hợp hơn; công tác thu hồi đất, giao đất cho các hộ dân TĐC chưa đáp ứng yêu cầu và còn nhiều lúng túng; công tác hướng dẫn sản xuất, chuyển giao kỹ thuật cho nhân dân chưa được triển khai sâu rộng, phát triển sinh kế cho người dân ở các khu tái định cư vẫn còn nhiều bất cập. Một vân đề bất cập hiện nay là sau tái định cư đời sống của người dân còn hết sức khó khăn, ruộng đất ngày càng thu hẹp. Sự tham gia của chính quyền địa phương trong chuyển đổi nghề chưa đạt hiệu quả, người dân vẫn chủ yếu chuyển đổi nghề tự phát, sự thích nghi của người dân tại khu TĐC chưa cao, đặc biệt khó khăn với những hộ từ vùng sâu, vùng xa lên TĐC ở vùng đô thị... Những hạn chế trên chính là những khó khăn, thách thức đặt ra đối với các cấp, các ngành và địa phương công công tác ổn định đời sống cho đồng bào di dân TĐC dự án thủy điện Sơn La trong thời gian tới. Từ những nhận thức trên đây, tôi đã chọn đề tài “ Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnh đạo công tác di dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La từ năm 2003 đến năm 2010” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm làm rõ công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với cuộc di dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La. Từ đó đánh giá kết quả đã đạt được, thực trạng và bài học kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ ổn định đời sống cho đồng bào vùng tái định cư trong giai đoạn tiếp theo.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN BÍCH HẰNG
ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA
TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN BÍCH HẰNG
ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS TS Hoàng Hồng Các số liệu trong luận văn là
trung thực, chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ
rõ ràng.
Hà nội, ngày 25 thánh 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ, chỉ đạo tận tình nghiêm khắc củaPGS.TS Hoàng Hồng, cùng các thầy cô trong Khoa Lịch sử trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Em xin trân trọng cảm ơn Thầycùng các thầy cô trong Khoa Lịch sử đã dạy em trong những năm qua
Em cũng xin trân trọng cảm ơn các bác, các cô, các chú, các anh chị ở Tỉnh
ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La, Ban Chỉ đạo, Ban quản lý Dự
án di dân tái định cư tỉnh Sơn La, Huyện ủy, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phốtrực thuộc tỉnh Sơn La, Báo Sơn La đã tạo mọi điều kiện để em tìm hiểu về Dự án
di dân tái định cư thủy điện Sơn La, cung cấp tài liệu giúp em hoàn thành Luận văn
Trong quá trình thực hiện Luận văn, do trình độ còn hạn chế, khả năng thuthập, phân tích tài liệu chưa sâu sắc nên Luận văn chắc chắn không tránh khỏinhũng thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùngcác bạn học viên
Em xin chân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA VÀ CHỦ TRƯƠNG, KẾ HOẠCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN DỰ ÁN DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ 10
1.1 Dự án thủy điện Sơn La 10
1.1.1 Sự cần thiết phải xây dựng công trình thủy điện Sơn La 10
1.1.2 Những tác động tích cực của dự án 12
1.1.3 Những khó khăn khi thực hiện dự án 16
1.2 Chủ trương, kế hoạch của Đảng và Nhà nước về Dự án thủy điện Sơn La 18
1.2.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về di dân tái định cư 18
1.2.1.1 Di dân 18
1.2.1.2 Tái định cư 20
1.2.2 Vấn đề di dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La 22
1.2.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về di dân tái định cư Dự án thủy điện Sơn La 25
CHƯƠNG 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH SƠN LA VỀ DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2010 34
2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Sơn La về công tác di dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La 34
Trang 62.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 37
2.2.1 Thành lập bộ máy tổ chức và xây dựng phương án di dân TĐC 37
2.2.2 Tuyên truyền vận động nhân dân về di dân TĐC 42
2.2.3 Chỉ đạo quá trình di dân 47
2.2.4 Chỉ đạo công tác ổn định cuộc sống cho đồng bào vùng TĐC 52
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 67
3.1 Một số nhận xét 67
3.1.1 Về ưu điểm 67
3.1.2 Về hạn chế 73
3.2 Một số kinh nghiệm 77
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- TĐC : Tái định cư
- UBMTTQVN : Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- TNCSHCM : Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
- CNH-HĐH : Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
- NN & PTNT : Nông nghiệp & phát triển nông thôn
- KT – XH : Kinh tế - xã hội
Trang 8Thủy điện Sơn La không chỉ lớn về quy mô nhà máy mà còn lớn nhất về quy
mô di chuyển dân từ trước đến nay Việc xây dựng công trình thủy điện Sơn La đãđặt ra cho ba tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu nhiệm vụ lịch sử to lớn, đầy khókhăn, thách thức, là tổ chức vận động, tuyên truyền và di chuyển 18.897 hộ dân với91.100 nhân khẩu (riêng Sơn La có 12.479 hộ dân với 62.394 nhân khẩu) đến nơi ởmới an toàn trước khi công trình thủy điện Sơn La đóng cống dẫn dòng vào năm
2010, Song song với cuộc chuyển dân, công tác ổn định đời sống và sản xuất chocác hộ TĐC cũng phải được đảm bảo Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, làthách thức lớn đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh vìliên quan đến nhiều lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm của đời sống đồng bào các dân tộc[23, tr 12]
Trong dự án này, Sơn La là tỉnh bị ảnh hưởng, thiệt hại và di dân, tái định cưlớn nhất với vùng ngập lòng hồ thủy điện bao gồm ba huyện Mường La, Quỳnh Nhai,Thuận Châu với 17 xã, 145 bản, trung tâm huyện lỵ Quỳnh Nhai, diện tích tự nhiên bịngập khoảng 16.000 ha Hơn nữa, dự án được triển khai trong điều kiện địa hình phứctạp và bị chia cắt mạnh; hệ thống kết cấu hạ tầng (nhất là giao thông đến các khu,điểm tái định cư) chưa được chủ động đầu tư trước; công tác quy hoạch các khu,điểm tái định cư được tiến hành đồng thời với công tác di chuyển dân, do đó, khôngchủ động xây dựng được hoàn chỉnh các khu, điểm tái định cư để đồng bào lựa chọn
Trang 9Đối tượng di chuyển chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí chưa caonên công tác tuyên truyền, vận động, giải thích phải kiên trì và mất nhiều thời gian…
Di dân tái định cư là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, liên quan đến nhiềumặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội, như: đất đai, phong tụctập quán, tư tưởng, nhận thức, tâm lý dân tộc, môi trường, chế độ chính sách, đờisống, sản xuất, kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xãhội…Việc tổ chức di dân trong khoảng thời gian ngắn, đồng bào cư trú chủ yếu ởnhững thôn bản đặc biệt khó khăn, nhưng hầu hết họ không muốn rời bỏ quê hươngbao đời nay gắn bó để đến nơi ở mới Vì vậy, việc vận động di chuyển dân thực sự
là một cuộc cách mạng về lòng người
Công cuộc di dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La được coi là cuộc vậnđộng lịch sử lơn nhất từ sau khi đất nước ta thống nhất Với trách nhiệm của cả hệthống chính trị, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đã đạtđược những thành công quan trọng trong công tác tái định cư Hoàn thành di chuyểndân đúng kế hoạch, đảm bảo tiến độ xây dựng công trình thủy điện Sơn La, bước đầu
ổn định đời sống cho đồng bào trên quê mới Như vậy, mục tiêu cơ bản của dự án đãđược thực hiện Sơn La đã có cơ hội sắp xếp lại dân cư theo quy hoạch; tăng cườngđầu tư kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, điện lưới quốc gia, nước sinh hoạt… từngbước hình thành mô hình nông thôn mới, là cơ sở để khẳng định chủ trương di dân táiđịnh cư trong tỉnh, phù hợp với phong tục tập quán, văn hoá truyền thống và nguyệnvọng của nhân dân; đồng bào các dân tộc đã nhanh chóng làm quen với môi trườngmới, chuyển dần từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá với nhiều câytrồng, vật nuôi và ngành nghề mới hiệu quả hơn, đời sống vật chất, tinh thần củađồng bào không ngừng được nâng cao Cách thức tổ chức của Sơn La trong di dân táiđịnh cư đồng thời là bài học kinh nghiệm quý để các địa phương tham khảo
Kết quả đạt được của Dự án di dân TĐC thủy điện Sơn La rất to lớn và đáng
tự hào Tuy nhiên, phải nói rằng việc hoàn thành nhiệm vụ di chuyển dân ra khỏivùng hồ thủy điện Sơn La mới chỉ là thắng lợi bước đầu của cả dự án, việc ổn địnhđời sống của các hộ dân TĐC, giúp bà con sản xuất, định cư bền vững với là trọng
Trang 10trách nặng nề đặt lên vai các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, đây với
là yếu tố quan trọng cuối cùng, quyết định thành công dự án di dân TĐC thủy điệnSơn La Trong khi đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ TĐC dự án thủy điện Sơn Lađược Chính phủ ban hành, song quá trình thực hiện còn nhiều vấn đề phát sinh nênphải điều chỉnh, bổ sung dẫn đến vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện Tiến
độ triển khai đầu tư xây dựng một số dự án thành phần còn chậm, quy hoạch các khutái định cư mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do yếu tố địa chất, địa hình nên một số nơixảy ra tình trạng sạt lở, chưa phù hợp, cần phải điều chỉnh phù hợp hơn; công tác thuhồi đất, giao đất cho các hộ dân TĐC chưa đáp ứng yêu cầu và còn nhiều lúng túng;công tác hướng dẫn sản xuất, chuyển giao kỹ thuật cho nhân dân chưa được triển khaisâu rộng, phát triển sinh kế cho người dân ở các khu tái định cư vẫn còn nhiều bấtcập Một vân đề bất cập hiện nay là sau tái định cư đời sống của người dân còn hếtsức khó khăn, ruộng đất ngày càng thu hẹp Sự tham gia của chính quyền địa phươngtrong chuyển đổi nghề chưa đạt hiệu quả, người dân vẫn chủ yếu chuyển đổi nghề tựphát, sự thích nghi của người dân tại khu TĐC chưa cao, đặc biệt khó khăn với những
hộ từ vùng sâu, vùng xa lên TĐC ở vùng đô thị Những hạn chế trên chính là nhữngkhó khăn, thách thức đặt ra đối với các cấp, các ngành và địa phương công công tác ổnđịnh đời sống cho đồng bào di dân TĐC dự án thủy điện Sơn La trong thời gian tới
Từ những nhận thức trên đây, tôi đã chọn đề tài “ Đảng bộ tỉnh Sơn La lãnhđạo công tác di dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La từ năm 2003 đến năm2010” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằmlàm rõ công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với cuộc di dân tái định cư
Dự án Thủy điện Sơn La Từ đó đánh giá kết quả đã đạt được, thực trạng và bài họckinh nghiệm để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ ổn định đời sống cho đồng bào vùngtái định cư trong giai đoạn tiếp theo
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dự án Thủy điện Sơn La là dự án trọng điểm quốc gia, được các cấp, các ngành
từ trung ương đến địa phương đặc biệt quan tâm Thắng lợi của dự án này có ý nghĩađặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp CNH- HĐH đất nước trong thời kỳ mới Song
Trang 11song với việc đảm bảo tiến độ thi công của dự án, đưa công trình thủy điện Sơn La vềđích đúng tiến độ, thì việc thực hiện nhiệm vụ di dân tái định cư cũng quyết định đếnthành bại của dự án này Chính vì thế, ngay từ khi Quốc hội thông qua Dự án Thủyđiện Sơn La, các cấp, các ngành đã bắt tay vào công tác vận động, tuyên truyền, lựachọn, quy hoạch các điểm tái định cư để đón dân đến nơi ở mới an toàn Từ trước khi
Dự án được khởi công, Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành trung ương và địa phương đãban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, xây dựng cơ chế chính sách thích hợp từtrung ương để địa phương căn cứ tình hình thực tế triển khai Các tổ chức, cá nhân đãhoàn thành nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề di dân tái định cư Cùngvới đó, các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước cũng đã phản ánh công tác di dântái định cư trong tác phẩm của mình, góp phần tuyên truyền sâu rộng chính sách củaĐảng và Nhà nước đối với chính sách di dân tái định cư, thực hiện thắng lợi nhiệm vụcủa Dự án thủy điện Sơn La đã đặt ra
- “Cuộc sống mới ở các điểm tái định cư thủy điện Sơn La”, Nxb Chính trịQuốc gia, Hà Nội, 2010, do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Sơn La, BanChỉ đạo di dân tái định cư thủy điện Sơn La chỉ đạo biên soạn Cuốn sách đã điểm lạimột số chủ trương lớn của tỉnh Sơn La về công tác di dân, tái định cư Dự án Thủyđiện Sơn La Đây là cuốn sách ảnh ghi lại cuộc sống trên quê mới của đồng bào vùngtái định cư, trong đó sử dụng ảnh tư liệu chủ yếu của các nghệ sĩ nhiếp ảnh và phóngviên Báo Sơn La
- “Sơn La thế và lực mới trong thế kỷ XXI”, Nxb Chính trị Quốc qia, HàNội, 2008 Nhóm tác giả đã giới thiệu đến bạn đọc trong và ngoài nước nhữngthông tin cơ bản và đa dạng, nhất là tiềm năng của Sơn La Nội dung cuốn sáchkhông chỉ giới thiệu về đất và người Sơn La mà còn tập trung giới thiệu bức tranhtổng quan về tiềm năng, lợi thế và các định hướng lớn trong phát triển kinh tế- xãhội của tỉnh cũng như các ngành, lĩnh vực quan trọng của Sơn La
- “Nghiên cứu tình hình sản xuất và mức sống dân cư của các hộ gia đình ởmột số khu tái định cư thủy điện Sơn La trên địa bàn tỉnh Sơn La”, Báo cáo tổng kết
đề tài khoa học cấp bộ, 2010, của tác giả Đào Thị Bích Ngọc Qua hai năm nghiên
Trang 12cứu đề tài đã đạt được một số kết quả, như: nghiên cứu tổng quan về công trình thủyđiện Sơn La, về dự án di dân tái định cư thủy điện Sơn La Đặc biệt, tác giả đã tiếnhành điều tra thực tế tại 7 khu tái định cư thuộc 5 huyện, thành phố để xác định thựctrạng sản xuất và mức sống của các hộ gia đình Trên cơ sở đó đề xuất những giảipháp nhằm ổn định đời sống và phát triển sản xuất ở một số khu tái định cư theohướng phát triển bền vững.
- Báo cáo chuyên đề: “Công tác vận động, tuyên truyền và những bài họckinh nghiệm trong công cuộc di dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La (2003-2010)” của Đ/c Thào Xuân Sùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Dânvận Trung ương ngày 26/6/2013 Báo cáo đã nêu rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọngcủa công trình Thủy điện Sơn La; công tác vận động, tuyên truyền trong cán bộ,đảng viên và nhân dân các dân tộc về việc thực hiện tốt cơ chế, chính sách và quytrình di dân tái định cư; cách thức thực hiện được cụ thể hóa ớ từng cấp, từngngành, từng đoàn thể chính trị- xã hội Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệmtrong công tác vận động, tuyên truyền di dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã phản ánh một cách chân thực công tác
di dân tái định cư của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La, từviệc đề ra cơ chế chính sách, khảo sát, bố trí quy hoạch các điểm, khu tái định cư,phương án di chuyển dân, tiến độ di chuyển và việc triển khai chính sách bồi thường,
hỗ trợ di dân tái định cư, nhanh chóng giúp đồng bào ổn định cuộc sống trên quê mới.Các tác phẩm này đã đề cập đến nhiều nội dung, dưới nhiều góc độ nghiên cứu khácnhau Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một công trình đề cập đến một cách toàn diện
và sâu sắc về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác didân tái định cư từ năm 2003 đến năm 2010 Là giai đoạn quan trọng nhất, quyết địnhthành bại của cả dự án
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Làm rõ quá trình lãnh đạo thực hiện di dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La
từ năm 2003 đến năm 2010 của Đảng bộ tỉnh Sơn La Chỉ ra ưu điểm, hạn chế và đúcrút kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo công tác di dân tái định cư của Đảng bộ
3.2 Nhiệm vụ
- Đánh giá tổng quan về công trình thủy điện Sơn La, chủ trương xây dựng,mục tiêu và tác động của công trình thủy điện Sơn La về tự nhiên, kinh tế, văn hóa,
xã hội; khái quát về tỉnh Sơn La và những vấn đề đặt ra đối với Đảng bộ tỉnh Sơn
La trong công tác lãnh đạo di dân, tái định cư
- Nghiên cứu về chủ trương của Đảng và nhà nước về công tác di dân, táiđịnh cư Dự án Thủy điện Sơn La; hệ thống văn bản chỉ đạo về công tác di dân táiđịnh cư từ trung ương đến địa phương
- Nghiên cứu nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đốivới nhiệm vụ di dân, tái định cư từ cơ chế quản lý điều hành
- Đánh giá kết quả thực hiện công tác di dân, tái định cư từ năm 2003 đếnnăm 2010
- Đánh giá thực trạng quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối vớicông tác di dân, tái định cư
- Những bài học kinh nghiệm trong công cuộc di dân, tái định cư Dự ánThủy điện Sơn La
- Đánh giá những khó khăn, vướng mắc của công tác di dân, tái định cưtrong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân, tái định cư, nhằm thực hiện thắng lợinhiệm vụ di dân, tái định cư theo mục đích đề ra
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn Lađối với công tác di dân, tái định cư từ năm 2003 đến năm 2010, bao gồm chủ trương
và các biện pháp trong quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Sơn La
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Phân tích, đánh giá quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn
La đối với nhiệm vụ di dân tái định cư Trong đó tập trung nghiên cứu cơ chế chínhsách điều hành, kết quả thực hiện Dự án
- Thời gian nghiên cứu từ khi triển khai dự án di dân tái định cư thủy điệnSơn La cho đến mốc hoàn thành di chuyển dân ra khỏi vùng ảnh hưởng của long hồthủy điện Sơn La (2003-2010)
- Không gian: Tập trung nghiên cứu các huyện nằm trong chương trình , kếhoạch di dân tái định cư Thủy điện Sơn La, bao gồm cả nơi đi và nơi đến
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở những nguyên lý của Chủ nghĩaMác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản ViệtNam về công tác vận động quần chúng Đường lối của Đảng, chính sách pháp luậtcủa nhà nước về công tác di dân tái định cư Dự án Thủy điện Sơn La Trên cơ sở đóvận dụng vào thực tiễn lãnh đạo công tác di dân tái định cư của Đảng bộ tỉnh Sơn La
5.2 Nguồn tài liệu
- Các văn bản của Đảng và Nhà nước về dự án thủy điện Sơn La và kế hoạch
di dân tái định cư phục vụ dự án
- Các văn bản của Đảng bộ tỉnh Sơn La, UBND và các ban ngành tỉnh Sơn
La về di dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La
- Các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến đề tài
- Tài liệu thu thập từ điền dã
Trang 155.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được ứng dụng để trình bày vấn
đề một cách sinh động và đúng tiến trình đồng thời khái quát được bản chất của vấnđề
- Phương pháp sử liệu học nhằm thu thập mọi tài liệu, hiện có liên quan đến
đề tài thông qua nhiều nguồn khác nhau đồng thời khai thác được những thông tinlịch sử cần thiết
- Phương pháp tổng hợp: Đề tài thực hiện tổng hợp, phân tích và đánh giátrên cơ sở tài liệu, thông tin thu được để đưa ra nhận xét, tìm tòi và kết luận về sựlãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân tái định cư
- Điều tra xã hội học: Phỏng vấn sâu các hộ tái định cư, nhằm thu thập thôngtin từ những cá nhân có vị trí chủ chốt trong cộng đồng như già làng, trưởng bản, vàlãnh đạo chính quyền địa phương
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Giá trị về mặt lý luận
Luận văn hoàn thành sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về công trình thủyđiện Sơn La, về Dự án di dân tái định cư thủy điện Sơn La Đặc biệt góp phần phảnánh lại quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La đối với công tác di dân tái định
cư giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2010
6.2 Giá trị về mặt thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu phục vụcông tác vận động, tuyên truyền di dân, tái định cư không chỉ đối với các cấp ủyđảng thuộc Đảng bộ tỉnh Sơn La mà còn tài liệu tham khảo đối với các địa phươngtrong cả nước khi thực hiện nhiệm vụ di dân, tái định cư
- Luận văn hoàn thành còn là cơ sở để các cơ quan, ban, ngành tỉnh Sơn Lakiểm nghiệm thực tiễn, đúc rút bài học kinh nghiệm đề tiếp tục hoàn thành thắng lợinhiệm vụ di dân tái định cư trong thời gian tới
Trang 167 Kết cấu của luận văn
Ngài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận và phụ lục, luậnvăn gồm có 3 chương:
Chương 1 Dự án thủy điện Sơn La và chủ trương, kế hoạch của Đảng và Nhànước về thực hiện dự án di dân tái định cư
Chương 2 Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Sơn La về didân tái định cư dự án thủy điện Sơn La từ năm 2003 đến năm 2010
Chương 3 Một số nhận xét và kinh nghiệm
Trang 17CHƯƠNG 1 DỰ ÁN THỦY ĐIỆN SƠN LA VÀ CHỦ TRƯƠNG,
KẾ HOẠCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN DỰ ÁN
DI DÂN TÁI ĐỊNH CƯ
1.1 Dự án thủy điện Sơn La
Công trình thủy điện Sơn La là một dự án thuộc các công trình trọng điểmQuốc gia và là công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, có dung tích hồ chưa9,26 tỷ m3 nước, công suất 2.400 MW, cho sản lượng điện trung bình hàng năm9,429 tỷ KW Tổng mức đầu tư 36.433 tỷ đồng, trong đó, gần 12.000 tỷ đồng phục
vụ giải phóng mặt bằng và di dân tái định cư Với vai trò và ý nghĩa của nó, côngtrình thủy điện Sơn La là công trình đạt được nhiều mục tiêu, có hiệu ích tổng hợp,
có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, củavùng Tây Bắc và đặc biệt 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu
Công trình thủy điện Sơn La là công trình phải tiến hành công cuộc di dân táiđịnh cư có tổ chức lớn nhất ở nước ta cho đến thời điểm hiện tại Xây dựng côngtrình thủy điện Sơn La có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng đặc biệt, đóng gópnguồn điện lớn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gópphần thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đề ra
“Sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Xây dựng công trình
là vận hội to lớn có tính lịch sử đối với các tỉnh Tây Bắc nói chung và tỉnh Sơn Lanói riêng
1.1.1 Sự cần thiết phải xây dựng công trình thủy điện Sơn La
Thứ nhất, năm 2004 bình quân mức sử dụng điện ở nước ta mới đạt 340kWh/người/năm; theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nước ta thiếu 9 tỷ kWhmỗi năm, đến năm 2015 phải mua tới 6 -7 tyr kWh Trong khi đó, với điều kiện tựnhiên Tây Bắc nước ta có lợi thế lớn về thủy năng Trên sông Đà ta đã và sẽ có cácnhà máy thủy điện: Hòa Bình với công suất 1.920 MW; Sơn La thấp (tuyến Pá VinhII) với công suất 2.400 MW; Lai Châu (tuyến Nậm Nhùn) với công suất 1.200 MW;
Trang 18Huổi Quảng với công suất 520 MW; Nậm Chiến với công suất 230 MW; Bản Chátvới công suất 180 MW Đây là nguồn năng lượng có khả năng tự tái tạo, do đó việc
sử dụng nguồn năng lượng này cho sản xuất điện là một phương án có lợi thế kinh
tế hơn hẳn các phương án sử dụng nguồn năng lượng khác [57, tr 9]
Thứ hai, Ngay khi giúp Việt Nam xây dựng thủy điện Hòa Bình, các chuyêngia Liên Xô lúc bấy giờ đã tính toán 10 năm sau Việt Nam phải xây dựng công trìnhthủy điện trên sông Đà để đảm bảo an toàn đập Hòa Bình Theo tính toán đập thủyđiện Hòa Bình chỉ chịu được mức xả lũ 37.800 m3/s, nhưng trong những năm gầnđây, có lúc lũ liên tục xảy ra với cường suất lớn, khi tính toán lũ cực hạn có khảnăng lên tới 60.000 m3/s Việc xây dựng thủy điện Sơn La góp phần điều hòa nước
và tăng cường công suất phát điện cho thủy điện Hòa Bình thêm 107 MW
Theo thiết kế thủy điện Sơn La tích nước lên cao trình 215m, diện tích lưuvực của lòng hồ phủ rộng 43.760 km2 Hồ thủy điện Sơn La có chiều rộng lớn nhấtkhoảng 1,5 km, chiều dài lòng hồ tính từ điểm đập ngăn tại địa phận thị trấn Ít Ong(Mường La) ngược lên phía thượng nguồn thuộc thị xã Mường Lay (Lai Châu) vàokhoảng 120 km, dung tích hồ chứa đạt 9,26 tỷ m3 nước Nhờ đó, khả năng điều tiếtnước chống hạn, chống lũ sông Đà được nâng lên, giảm bớt sự tàn phá của thiên tai.Tuyến giao thông đường thuỷ Sơn La - Lai Châu được cải thiện Thuỷ điện Sơn Latrở thành công trình kinh tế, văn hoá, xã hội và du lịch quan trọng của đất nước
Công trình thủy điện Sơn La là công trình trọng điểm quốc gia, có tầm quantrọng to lớn đối với đất nước nói chung và đối với vùng Tây Bắc nói riêng:
Đối với đất nước:
- Thủy điện Sơn La cung cấp điện năng với sản lượng điện bình quân hàngnăm là 9,429 tỷ kWh/năm, đây là nguồn điện lớn hết sức quan trọng trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Giátrị sản xuất điện khi nhà máy hoàn thành và đưa vào sử dụng , mỗi năm làm lợi chođát nước gần 5 nghìn tỷ đồng;
- Xây dựng Thủy điện Sơn La góp phần quan trọng để điều hòa nước, giảitỏa sức ép về lũ vào mùa mưa, tích nước và cung cấp nước về mùa kiệt, tăng thêm
Trang 19năng lực phát điện cho nhà máy thủy điện Hòa Bình Sự có mặt của thuỷ điện Sơn
La cùng với các hồ chứa thuỷ điện Hoà Bình, Thác Bà, Tuyên Quang đã góp phầnbảo vệ cho đồng bằng Bắc bộ trước những trận lũ, đảm bảo nguồn nước cho sảnxuất Hàng năm, căn cứ vào yêu cầu của Bộ NN-PTNT, Tập đoàn Điện lực ViệtNam (EVN) tổ chức xả nước tại các hồ chứa thủy điện để cung cấp nước cho vùng
hạ du, nhằm đảm bảo đủ nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và nhu cầu nướcsinh hoạt của người dân Với sự hiện diện của hồ chứa thuỷ điện Sơn La cùng vớicác hồ chứa thuỷ điện Hoà Bình, Thác Bà, Tuyên Quang các công trình thủy điệnkhông chỉ cung cấp dòng điện cho quá trình công nghiệp hóa đất nước mà còn ngăn
lũ, điều tiết nước cho sản xuất vùng đồng bằng và Trung du Bắc bộ [60; tr 27]
Đối với vùng Tây Bắc:
Khi triển khai xây dựng và vận hành, thủy điện Sơn La sẽ tạo ra những tácđộng tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc Là thời
cơ lớn để đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, sắp xếp lại lao động và dân cư, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội,sớm đưa Sơn La ra khỏi trạng thái tỉnh đặc biệt khó khăn, tạo lập các yếu tố cơ bản
để phát triển nhanh và bền vững trong những năm tiếp theo
1.1.2 Những tác động tích cực của dự án
Vùng Tây Bắc nước ta có vị trí địa chiến lược quan trọng về kinh tế, xã hội
và an ninh quốc phòng, có tiềm năng về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cácnguồn lực kinh tế- xã hội và nhân văn Do đó, đòi hỏi khai thác tổng hợp lãnh thổhợp lý đảm bảo sự phát triển bền vững Tuy thế, việc xây dựng công trình thủy điệnSơn La nhằm khai thác nguồn năng lượng điện tiềm năng trên dòng sông Đà khôngchỉ mang lại ý nghĩa to lớn về kinh tế mà tất yếu nó cũng sẽ ảnh hưởng theo haichiều hướng khác nhau đối với môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội của 3 tỉnh Sơn
La, Điện Biên, Lai Châu nói riêng và cả vùng Tây Bắc nói chung
a Tác động đối với tự nhiên
* Tài nguyên nước
Trang 20Trước hết là do sự thay đổi về chế độ dòng chảy từ thượng lưu về hạ lưu.Một dòng sông hung dữ chuyển thành một hồ chứa nước hiền hòa Cùng với chế độđiều tiết nước, khi có đập và hồ chứa (Sơn La + Hòa Bình) sẽ nâng cao hiệu quả cắt
lũ và điều tiết lượng nước hợp lý, hạn chế tối đa các quá trình gây ngập ở hạ duđặc biệt là đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và Hà Nội Mặt khác, khu vực Tây Bắcđặc biệt là 2 tỉnh Sơn La, Lai Châu thường xuyên xảy ra lũ quét gây ra hiện tượngbùn tích cho lòng hồ điều này ảnh hưởng đến tuổi thọ công trình và hồ chứa đòi hỏiphải có giải pháp thích hợp trong thời gian tới
Với diện tích đất vùng ngập lớn, quá trình xây dựng thủy điện Sơn La đã gây
ra sự biến động tài nguyên đất rõ ràng nhất ở cả khu vực lòng hồ và các khu TĐCcủa nhân dân từ lòng hồ Trong đó, việc lựa chọn phương án 2 mặt dù hạn chế diệntích đất ngập là 16.393 ha so với Sơn La cao song một diện tích lớn đất có khả năngcanh tác nông nghiệp đã bị mất, trong khi dự trữ đất thích hợp của sản xuất nôngnghiệp của cả vùng Tây Bắc còn hạn chế, khả năng khai hoang mở rộng diện tích hạnchế Điều này ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình phát triển kinh tế của người dân đặc biệt
là đối với các hộ TĐC và người dân sở tại trong trong quá trình phân chia đất, làmtăng cao tỷ lệ phá rừng, du canh du cư Tuy nhiên, quá trình này lại góp phần tạo điềukiện chuyển đổi đất nông nghiệp sang diện tích mặt nước với các phương án nuôitrồng thủy hải sản
Thủy điện Sơn La hoàn thành cũng biến đổi nhiều cảnh quan vùng lòng hồ
Từ một vùng miền núi với kinh tế chủ yếu là nương rẫy, vườn đồi, rừng… thành
Trang 21một vùng hồ, cảnh quan núi non, sông nước thay đổi Một hồ nước mênh mông,phẳng lẳng sẽ thay thế cho dòng sông Đà hung dữ trước đây.
* Tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái
Chịu sự tác động của công trình thủy điện Sơn La ở các giai đoạn, thời kìtrước và sau khi hình thành hồ chứa với mức độ khác nhau Làm biến đổi các hệsinh thái, xuất hiện hệ sinh thái mới với sự gia tăng đáng kể số lượng sinh vật nổi.Với mức độ dâng nước của lòng hồ một mặt góp phần cải thiện môi trường đất,nước và tiểu khí hậu của vùng nhưng mặt khác cũng sẽ tiêu diệt nhiều loại thực vật,đẩy các loài động vật sinh sống trên mặt đất và trên cây lên cao hơn, chia cắt cácquần thể động vật, hạn chế sự phát triển của các loài về số lượng
b Tác động về mặt kinh tế
Tác động rõ nét nhất về mặt kinh tế của thủy điện Sơn La là cung cấp nguồnđiện năng rất lớn cho phát triển KT- XH của cả nước (cung cấp 25% giá trị điệnnăng cả nước) Thủy điện Sơn La cũng góp phần quan trọng trong quá trình chuyểnđổi cơ cấu kinh tế: tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọngcủa ngành nông nghiệp Mở rộng thị trường, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư choTây Bắc nói chung và trực tiếp là Sơn La, trong tương lai nhờ có thủy điện, Sơn La
sẽ trở thành cực hút và trọng điểm phát triển kinh tế của khu vực
Thủy điện Sơn La hoàn thành sẽ tạo điều kiện khai thác tốt hơn tiềm năng về
vị trí địa lý (phát triển kinh tế cửa khẩu với Trung Quốc và Lào), về điều kiện tựnhiên (đất đai, khí hậu, nước), về tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản như đất hiếm,nước khoáng nóng…), nguồn lao dồi dào… phát triển các ngành kinh tế được xem
là tiềm năng và là thế mạnh của vùng trong tương lai
Phát triển hệ thống giao thông thủy liên vùng thuần lợi, mở rộng giao lưukinh tế với các vùng hạ du rút ngắn dần khoảng cách với các vùng và khu vựckhác
Việc hình thành hồ chứa Sơn La cũng tạo môi trường thuận lợi cho phát triểnngành đánh bắt và nuôi trồng thủy sản (cơ hội chuyển đổi cơ cấu sản xuất của TâyBắc) Mặt khác, một trong những mục tiêu của thủy điện Sơn La đối với sự phát
Trang 22triển kinh tế - xã hội của khu vực Tây Bắc là mở rộng một hướng mới cho sự pháttriển của hoạt động du lịch trên sông Đà như thủy điện Hòa Bình đã và đang thựchiện Điều này được quyết định phần nhiều do quá trình hình thành hồ chứa Sơn La
đã tạo nên cảnh quan hồ, núi đẹp với những điều kiện thuận lợi cho ngành kinh tế
du lịch Sơn La nói riền và khu vực Tây Bắc nói chung có bước chuyển đáng kể
c Tác động về mặt văn hóa, xã hội
Việc di dân vùng lòng hồ là một công việc phức tạp và đòi hỏi thực hiện tốtcông tác di dân gắn liền với quá trình tổ chức TĐC sẽ là điều kiện tiên quyết đối với
sự thành bại của công trình thủy điện Sơn La
- Thành phần dân tộc của dân cư vùng lòng hồ Sơn La khá đa dạng (12/30dân tộc sinh sống trên toàn Tây Bắc), chủ yếu là người Thái (chiếm 65,12%), côngđồng người Thái + Kinh chiếm gần 20%, ngoài ra còn có người Dao chiếm 4%; cònlại là đồng bào các dân tộc ít người Phần lớn đời sống đồng bào còn gặp nhiều khókhăn, trình độ dân trí còn thấp Mặt khác, các hộ di dân chủ yếu là đồng bào còngặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp Mặt khác, các hộ di dân chủ yếu làđồng bào các dân tộc ít người do vậy, cần có những chính sách dân tộc cho phù hợp
Thủy điện Sơn La được xây dựng sẽ có những tác động đáng kể vào đời sốngvăn hóa, xã hội của người dân Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đờisống vật chất của người dân ngày một nâng cao, cơ sở hạ tầng được đầu tư pháttriển là sự mở rộng mạng lưới giáo dục, y tế, các dịch vụ công cộng
Cái được cho dân khi xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La thì có nhiều xongcái mất cũng không phải là không có Việc chúng ta phải làm là bảo tồn nền văn hóacộng đồng các dân tộc Trong khi hiện nay, các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thểđang dần chìm xuống lòng sông, những nét bản sắc, văn hóa truyền thống của cộngđồng các dân tộc dường như bị lãng quên tạm thời nhường chỗ cho những nỗi locủa cuộc sống mới Với thủy điện Hòa Bình cách đây 28 năm, chúng ta đã một lầnluyến tiếc vì không bảo tồn được bản sắc văn hóa của cư dân vùng bị ảnh hưởng bới
dự án Vì thế, ở thủy điện Sơn La, vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa được chú trọng
Dự án về bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc
Trang 23Sơn La, Điện Biên, Lai Châu là giải pháp tối ưu hơn cả để chúng ta không phảiluyến tiếc về một vùng văn hóa lâu đời.
Việc làm cho người lao động, đặc biệt là các vùng TĐC nông thôn cũng làmột vấn đề cần được quan tâm đặc biệt trong điều kiện quỹ sản xuất chưa có hoặc
có nhưng chưa đủ, các phương thức sản xuất mới hoàn toàn khác lạ với những tậpquán sản xuất truyền thống Vấn đề “thừa lao động, thiếu việc làm” đã và đang trởthành vấn đề bức xúc ở nhiều điểm TĐC
Việc xây dựng công trình thủy điện Sơn La đã tạo cơ hội lớn cho đồng bàocác dân tộc Tây Bắc nói chung và cho nhân dân Sơn La nói riêng, bộ mặt Tây Bắc
sẽ thay đổi khi chúng ta nắm được thời cơ và những thuận lợi mới mà thủy điện Sơn
La mang lại Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế xã hội với tốc độnhanh, hiệu quả và bền vững, đồng thời chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH –HĐH là tiền đề phát triển lâu dài cuộc sống của đồng bào khu vực Tây Bắc
1.1.3 Những khó khăn khi thực hiện dự án
Xây dựng thủy điện Sơn La đặt ra cho tỉnh Sơn La nhiệm vụ to lớn có tínhlịch sử, vừa là thời cơ lớn những cũng rất nhiều khó khăn, thách thức đã, đang và sẽtác động mạnh đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh còn trong tình trạngmột tỉnh đặc biệt khó khăn, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói giảmnghèo cho 88.279 hộ nghèo, chiếm 46,03% (theo tiêu chí mới); tập trung ổn địnhsản xuất và đời sống cho 26.244 hộ ở 768 bản thuộc diện định cư, du canh và tiềm
ẩn du canh, du cư; tỉnh Sơn la phải tổ chức di dân, TĐC tính đến năm 2010 cho12.584 hộ dân, đảm bảo di dân đến nơi ở mới an toàn, đúng tiến độ thi công xâydựng công trình; từng bước ổn định sản xuất, đời sống tốt hơn nơi ở cũ và hoànthành toàn bộ công cuộc di dân to lớn này vào năm 2010
Di dân, TĐC là nhiệm vụ mới quan trọng, toàn diện và nhạy cảm, liên quanđến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội; công tác dichuyển dân trong thời gian ngắn, tập trung vào những xã, bản vùng dân tộc ít người,đời sống khó khăn, dân trí thấp, lao động hầu hết chưa qua đào tạo, phong tục tậpquán canh tác chủ yếu là thuần nông tự cấp, tực túc; tâm tư, nguyện vọng của không
Trang 24ít người dân là không muốn xa quê hương, bản quán nơi đã từng sinh sống ngànđời; do vậy, còn một số hộ còn do dự không muốn đi dến các điểm TĐC xa nơi ở
cũ Địa hình phức tạp, chia cắt, đa số các bản đều chưa có đường ô tô đến, phải làmđường công vụ để di chuyển dân, công tác di dân phải di chuyển qua nhiều sông,suối lớn; khí hậu thời tiết khắc nghiệt hình thành hai mùa rõ rệt, công tác di dân chỉthực hiện được trong các tháng mùa khô Kết cấu hạ tầng tại các khu, điểm TĐCchưa được đầu tư xây dựng đồng bộ, kịp thời, chưa phù hợp với thực tiễn phát sinhtại cơ sở và đang trong quá trình hoàn thiện; công tác quy hoạch các khu, điểm TĐCđược tiến hành đồng thời với công tác di chuyển dân, do đó không chủ động xâydựng được các khu, điểm TĐC để nhân dân lựa chọn, dẫn đến gây khó khăn trongquá trình tuyên truyền vận động và tổ chức di chuyển dân
Đội ngũ cán bộ chuyên môn trực tiếp làm công tác quản lý, chỉ đạo thực hiệnnhiệm vụ di dân TĐC từ tỉnh đến các huyện, thành phố và cơ sở vừa thiếu về conngười vừa yếu về chuyên môn, nghiệp vụ chưa trải qua kinh nghiệm thực tiễn; điềukiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác chưa được đầu tư đồng bộ để đápứng yêu cầu nhiệm vụ công tác, gây khó khăn, lúng túng trong quá trình lãnh đạo,chỉ đạo công tác di dân, TĐC dự án thủy điện Sơn La
Thêm vào đó, hệ thống các văn bản liên quan đến công tác TĐC tuy đã đượcThủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương ban hành, song quá trình vậndụng vào thực tiễn, trên một số lĩnh vực chưa thực sự phù hợp và thường xuyênphát sinh những vấn đề cần được bổ sung hoàn thiện, dẫn đến ảnh hưởng đến tiến
độ và quá trình triển khai thực hiện dự án
Những khó khăn trên đặt ra thách thức và trách nhiệm lớn lao đối với Đảng
bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quântrong tỉnh phải đồng tâm, nhất trí, cùng với Trung ương nỗ lực triển khai thực hiện
Dự án, đảm đúng tiến độ, phấn đấu hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng lòng
hồ và đóng đập phát điện tổ máy số 1 vào năm 2010, sớm hơn 2 năm so với kếhoạch đề ra
Trang 251.2 Chủ trương, kế hoạch của Đảng và Nhà nước về Dự án thủy điện Sơn La
1.2.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về di dân tái định cư
1.2.1.1 Di dân
a Khái niệm di dân
Có hai nhóm định nghĩa chủ yếu: di dân theo nghĩa rộng và di dân theo nghĩa hẹp
- Thứ nhất, theo nghĩa rộng: Di dân được hiểu đồng nhất với khái niệm “sựvận động của dân cư” nghĩa là bất cứ hay toàn bộ sự di chuyển nào của con ngườitrong không gian đều gọi là di dân Định nghĩa di dân theo nghĩa rộng có thể quy tụ
sự xáo trộn của con người có liên quan đến “sự chuyển động cơ học” của dân cư.Cách hiểu đó không tính hết được khoảng cách, thời gian, mục đích di chuyển vàphạm vi lãnh thổ và nơi định cư cụ thể
- Thứ hai, theo nghĩa hẹp: “Di dân là sự di chuyển của con người gắn liền với
sự thay đổi chỗ ở thường xuyên, cố định của họ, thay đổi vị trí môi trường từ nơi điđến nơi đến trong khoảng thời gian nhất định nào đó” Tùy vào mức độ thời gian vàtính liên tục mà di dân giữa các vùng có hình thức trở lại hoặc không trở lại nơi ở cũ
Năm 1958, Liên hiệp quốc định nghĩa di dân như sau: “Di dân là một hìnhthức di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lý hành chính
và một đơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyêntrong khoảng thời gian xác định” [58, tr.35]
Khái niệm di dân theo nghĩa hẹp sẽ là cơ sở cho việc xác định số dân di dân,tái định cư Dự án thủy điện Sơn La Theo các nhà nghiên cứu và thực tế ở nước ta cóthể di dân theo khái niệm chung nhất là “sự chuyển dịch dân cư theo không gian vàthời gian nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” Có 3 tiêu chí để xác định di dân:
- Về không gian: Tiêu chí này yêu cầu các đối tượng di dân phải có sự thayđổi nơi cư trú từ nơi ở cũ (nơi xuất cư) đến nơi ở mới (nơi nhập cư) Nơi xuất cư
và nơi nhập cư có thể trong cùng một cấp hành chính hoặc khác nhau về các cấphành chính trong một quốc gia và cũng có thể khác nhau cả về quốc gia, châu lục
Trang 26- Về thời gian: các đối tượng di dân phải đến định cư ở nơi ở mới trong mộtthời gian nhất định tùy theo mục đích di chuyển của người dân.
- Về mục đích: Các đối tượng di dân đều phải có mục đích rõ ràng, cụ thể.Mục đích đó có thể là kinh tế, chính trị hoặc tôn giáo…
b Phân loại di dân
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau di dân có thể phân thành nhiều loại khácnhau như sau:
* Theo tiêu chí về không gian
- Di dân nội tỉnh: Là hình thức di chuyển của dân cư trong phạm vi hànhchính của một tỉnh, bao gồm:
- Di dân ngoại huyện: Là hình thức di chuyển của dân cư từ huyện này sanghuyện khác trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Di dân nội huyện: Là hình thức di chuyển của dân cư từ xã này sang xãkhác trong phạm vi một huyện
- Dãn dân: Là hình thức di chuyển của dân cư trong phạm vi một vùng dự
án hoặc một xã nhất định Dãn dân cũng là một hình thức di dân nội huyện
- Di dân ngoại tỉnh: Là hình thức di chuyển của dân cư từ tỉnh này sang tỉnhkhác trong phạm vi của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, bao gồm:
- Di dân nội miền: Là hình thức di chuyển dân cư từ tỉnh này sang tỉnhkhác trong phạm vi của một miền nhất định thuộc một quốc gia hoặc vùng lãnhthổ Như ở nước ta di dân nội miền được hiểu là di dân giữa các tỉnh, thành phố từThừa Thiên- Huế trở ra phía bắc (thuộc Miền Bắc), hoặc giữa các tỉnh, thành phố từ
Đà Nẵng trở vào (thuộc Miền Nam)
- Di dân ngoại miền: Là hình thức di chuyển dân cư từ các tỉnh thuộc mộtmiền sang các tỉnh thuộc miền khác trong phạm vị một quốc gia hoặc vùng lãnhthổ Như ở nước ta di dân ngoại miền được hiểu là di dân giữa các tỉnh, thành phốthuộc Miền Bắc đến các tỉnh, thành phố thuộc Miền Nam và ngược lại
* Theo tiêu chí thời gian
Trang 27- Di dân ngắn hạn, là hình thức di chuyển dân cư đến nơi ở mới trong mộtthời gian nhất định theo hợp đồng, theo mùa vụ…
- Di dân dài hạn, là hình thức di chuyển dân cư đến nơi định cư lâu dài và
ổn định tại nơi ở mới
* Theo tiêu chí về nơi xuất cư và nơi nhập cư
-Di dân nông thôn – nông thôn;
- Di dân thành thị - thành thị;
- Di dân nông thôn - thành thị;
- Di dân thành thị - nông thôn
* Theo góc độ quản lý
- Di dân tự do (còn gọi là di dân tự phát): Là hiện tượng di dân do mộtngười, một hộ gia đình hoặc nhóm hộ thực hiện, không theo một phương án,chương trình và sự quản lý, điều hành của bất kỳ một cơ quan hoặc tổ chức nào
- Di dân có tổ chức (di dân theo kế hoạch): Là việc di dân được thực hiệntheo một chương trình, dự án và kế hoạch cụ thể của một chủ thể quản lý nhất đinh(Nhà nước, địa phương, ngành hoặc tổ chức)
Phân loại di dân sẽ giúp cho việc xây dựng các chính sách và xác định các hìnhthức quản lý phù hợp và hiệu quả Tuy nhiên, trong thực tế các hình thức di dân có mốiquan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau, đồng thời có những biểu hiện khác nhau trongnhững điều kiện cụ thể Do đó, sự phân chia trên cũng chỉ có ý nghĩa tương đối
1.2.1.2 Tái định cư
a Khái niệm tái định cư
Trang 28Tái định cư là việc phải di chuyển đến một nơi khác để sinh sống, đây làthuật ngữ chung liên quan tới bị thu hồi đất, mất đất, mất chỗ ở, mất tài sản, mấtnguồn thu nhập hay mất những phương tiện kiếm sống khác.
Tái định cư là một khái niệm mang nội hàm khá rộng, dùng để chỉ những ảnhhưởng tác động đến đời sống của người dân do bị mất tài sản và nguồn thu nhậptrong quá trình phát triển dự án gây ra, bất kể có phải di chuyển hay không và cácchương trình khôi phục cuộc sống của họ Tái định cư bao hàm cả việc thực hiệnchính sách bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất Tái định cư theo nghĩa hẹp là quátrình di chuyển người dân đến nơi ở mới theo kế hoạch Theo khái niệm của Ngân
hàng Phát triển Châu Á năm 1995, [60, tr 16], tái định cư được phân loại dựa trên
thiệt hại của người tái định cư:
- Thiệt hại về sản xuất, bao gồm đất đai, thu nhập và đời sống
- Thiệt hại về nhà ở, có thể là toàn bộ cộng đồng và các hệ thống, dịch vụkèm theo
- Thiệt hại về các tài sản khác
- Thiệt hại về các nguồn tài nguyên của cộng đồng như môi trường sinhsống, văn hóa và hàng hóa
Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 02/2007/QĐ-TTg ngày29/01/2007 về việc ban hành Quy định về bồi thường di dân, tái định cư Dự ánThủy điện Sơn La thì tái định cư được hiểu như sau:
+ Hộ tái định cư tập trung là hộ tái định cư được quy hoạch đến ở một nơimới tạo thành điểm dân cư mới;
+ Hộ tái định cư xen ghép là hộ tái định cư được quy hoạch đến nơi ở xenghép với hộ dân sở tại trong một điểm dân cư đã có trước;
+ Hộ tái định cư tự nguyện di chuyển là hộ di chuyển không theo quy hoạchtái định cư mà là tự thu xếp nơi ở mới;
+ Điểm tái định cư là điểm dân được xây dựng theo quy hoạch bao gồm: Đất
ở, đất sản xuất, đất chuyên dụng, đất xây dựng cơ sở hạ tậng, công trình công sộng
để bố trí dân tái định cư;
Trang 29+ Khu tái định cư là địa bàn được quy hoạch để bố trí các điểm tái định cư,
hệ thống cơ sở hạ tầng, công trình công cộng,vùng sản xuất Trong khu tái định cư
có ít nhất một điểm tái định cư;
+ Vùng tái định cư là địa bàn các huyện, thị xã được quy hoạch để tiếp nhậndân tái định cư Trong vùng tái định cư có ít nhất một khu tái định cư
1.2.2 Vấn đề di dân tái định cư dự án thủy điện Sơn La
Di dân tái định cư trong các công trình thủy điện thường là di dân bắt buộc
để giải phóng mặt bằng, thi công công trình thủy điện Các công trình thủy điện đềumang tính quan trọng quyết định đối với sự phát triển của địa phương, khu vực vàquốc gia Tuy nhiên, chúng cũng làm nảy sinh mâu thuẫn giữa mục đích phát triểnquốc gia lâu dài với quyền lợi của các cộng đồng và cá nhân – những người chịu bấtlợi trước tiên Các dự án này đều có thể tác động bất lợi tới những người đang sửdụng các nguồn tài nguyên như đất đai, nguồn nước, hay các loại tài nguyên thiênnhiên khác và các phương tiện kinh tế, xã hội, văn hóa và tôn giáo liên quan
Điều quan trọng là phải cân nhắc lợi ích đạt được với cái giá phải trả cho cácảnh hưởng này bằng cách xem xét các phương án triển khai hoặc không phải di dân,hoặc chỉ gây gián đoạn nhỏ về kinh tế, xã hội và tìm ra cách để hòa hợp nhữngquyền lợi và mâu thuẫn nói trên Trường hợp không tránh khỏi tái định cư, phải tiếnhành các biện pháp cụ thể nhằm đạt được các nội dung sau:
- Bảo vệ lợi ích và cuộc sống của những người bị di chuyển do dự án;
- Giảm vè đền bù những thiệt hại về tiềm năng kinh tế của người bị ảnhhưởng, của nền kinh tế khu vực và địa phương;
- Hỗ trợ phát triển tiềm năng kinh tế, xã hội và văn hóa cho các cộng đồng vàngười bị ảnh hưởng
Các dự án thủy điện chủ yếu được đầu tư xây dựng trên các con sông có địahình đồi núi cao, thuộc địa bàn các tỉnh miền núi nghèo và phần lớn ảnh hưởng đếnđồng bào các dân tộc thiểu số Các công trình thủy điện quy mô lớn đòi hỏi việcphải di chuyển hầu hết cộng đồng dân cư, nhiều vùng trong khu vực lòng hồ, thayđổi nơi cư trú và tái định cư trên nhiều địa bàn mới Việc di dời tái định cư trong
Trang 30khu vực miền núi khác biệt với các dự án giải phóng mặt bằng ở miền xuôi, đồngthời tạo nên nhiều biến động đến đời sống của người dân vùng chịu ảnh hưởng.Công trình thủy điện Sơn La có quy mô di chuyển để giải phóng mặt bằng rất lớn.Việc triển khai tái định cư cho người dân vùng lòng hồ thủy điện là rất khó khăn vìhầu hết người dân ở đây là những dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc đều có nét riêng
về phong tục, tập quán canh tác
Dự án di dân tái định cư thuỷ điện Sơn La là một trong những hợp phần quantrọng của dự án Thuỷ điện Sơn La Theo đó, tỉnh Sơn La phải di chuyển 12.584 hộ,gần 6 vạn khẩu, 168 bản, 16 xã thuộc 3 huyện: Mường La, Thuận Châu, QuỳnhNhai (trong đó huyện Quỳnh Nhai phải di chuyển cả Trung tâm huyện lỵ) đến nơi ởmới Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, là thách thức lớn đối với Đảng bộ, chínhquyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh vì liên quan đến nhiều lĩnh vực phức tạp,nhạy cảm của đời sống đồng bào các dân tộc Hơn nữa, dự án được triển khai trongđiều kiện địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh; hệ thống kết cấu hạ tầng (nhất làgiao thông đến các khu, điểm tái định cư) chưa được chủ động đầu tư trước; côngtác quy hoạch các khu, điểm tái định cư được tiến hành đồng thời với công tác dichuyển dân, do đó không chủ động xây dựng được hoàn chỉnh các khu, điểm táiđịnh cư để đồng bào lựa chọn Đối tượng di chuyển chủ yếu là đồng bào dân tộcthiểu số, trình độ dân trí chưa cao nên công tác tuyên truyền, vận động, giải thíchphải kiên trì và mất nhiều thời gian…
a Đặc điểm vùng di dân tái định cư (nơi đi)
Số người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án thủy điện Sơn La với mực nướcdâng bình thường 215m chủ yếu là dân tộc Thái, La Ha, Kháng, Xá, chiếm số ít làdân tộc Kinh Đồng bào các dân tộc sống quần tụ thành bản theo dòng tộc, nhiềunơi các dân tộc khác nhau sống xen ghép, nhưng mỗi dân tộc có tập quán và bản sắcriêng Đây là đặc điểm hết sức quan trọng cần chú ý trong quá trình sắp xếp TĐC
- Người Thái thường cư trú ở những dải đất ven sông, ven suối, trên nhữngquả đồi thấp hoặc ở chân núi, họ có tập quán làm nhà gần nhau So với các dân tộc
Trang 31thiểu số khác thì người Thái là dân tộc có truyền thống định canh định cư nhất, vìthế, kinh tế, cơ sở hạ tầng vùng đồng bào Thái khá tốt so với các dân tộc khác.
Hoạt động sản xuất chính của người Thái là canh tác ruộng lúa nước, kỹthuật canh tác khá phát triển Ngoài trồng lúa, chăn nuôi gia đình, nghề thủ côngcũng tương đối phát triển Những hoạt động này không những bổ trợ cho nền kinh
tế tự cung tự cáp mà còn dần trở thành sản phẩm hàng hóa trong những năm gần đây
Người Thái từ lâu đời cũng đã biết sử dụng thuyền làm phương tiện vậnchuyển trên sông Như vậy, khi xây dựng công trình thủy điện cần tạo điều kiện đểngười Thái có thể thích nghi và khai thác thế mạnh của một vùng hồ lớn Phát huycác thế mạnh về thủy sản, giao thông thủy kết hợp với lâm nghiệp sẽ cho phép táiđịnh cư một khối lượng không nhỏ các hộ gia đình theo hình thức di vén
- Người La Ha là dân tộc thiểu số rất ít chỉ còn khoảng vài nghìn người tậptrung chủ yếu ở Sơn La Do ảnh hưởng của các công trình thủy điện, tổng số 23 bảncủa người La Ha phải di chuyển thuộc các xã Ít Ong, Mường Trai, Nậm Dôn (huyệnMường La) và Mường Sại (huyện Thuận Châu) Dân tộc La Ha sống xen kẽ với cácdân tộc khác, do vậy trong chương trình tái định cư có thể bố trí dân tộc La Ha sốngxen ghép với các dân tộc khác
- Người Khơ Mú là dân tộc nói ngôn ngư Môn – Khơ Me, ở Sơn La họchiếm khoảng 1,4% dân số, cư trú ở vùng rẻo giữa, chuyên sống bằng trồng trọt trênnương rẫy Canh tác sản xuất chủ yếu bằng dao, rìu sắt gậy chọc lỗ và cuốc nênnăng suất cây trồng rất thấp Trước dây, do du canh du cư nên bản của người Khơ
Mú không ổn định, tuy nhiên, gần dây bản đã định cư và đông đúc hơn, nhà của họthường quay ra phía sông suối hoặc khe núi
- Người Kháng cũng là dân tộc nói ngôn ngữ Môn- Khơ Me có số lượngkhoảng 4 nghìn người Trong dự án thủy điện Sơn La có 3 bản của người Khángcủa xã Nậm Dôn, huyện Mường La (Sơn La) bị ảnh hưởng phải tái định cư
b Đặc điểm vùng tái định cư (nơi đến)
Vùng được lựa chọn tái định cư được nhà nước chủ động đầu tư cao và đồng
bộ vào vùng có tiềm năng về đất, nước và khí hậu , xây dựng các vùng kinh tế tập
Trang 32trung quy mô lớn với cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa Đồngthời với quá trình bố trí lại sản xuất là sắp xếp lại dân cư để tạo thêm việc làm, tiếpnhận dân TĐC dự án thủy điện Sơn La Các vùng được lựa chọn để xây dựng khuTĐC là các vùng đất rộng, người thưa, có tiềm năng phát triển kinh tế gắn với anninh, quốc phòng Là vùng có lợi thế về tự nhiên và kinh tế để phát triển, đặc biệt làvùng được quy hoạch phát triển nhanh gắn với quá trình đô thị hóa.
Nhìn chung, các điểm tái định cư được bố trí ở hầu hết các vùng lân cận vớivùng bị ảnh hưởng phải di chuyển dân Do đó, có những nét tương đồng nhất định
về dân tộc, văn hóa, lối sống giữa người dân tái định cư và người dân vùng tiếpnhận dân tái định cư Tuy nhiên, do bị bắt buộc phải di chuyển nên không tránhkhỏi việc phá vỡ kết cấu của cộng đồng, không những của công đồng người dân táiđịnh cư mà còn của cộng đồng vùng nhận dân tái định cư
Mặc dù tỉnh Sơn La có mật độ dân số thấp nhưng do địa hình đồi núi gãykhúc nên diện tích để bố trí canh tác không nhiều Vì vậy, điều kiện canh tác, sảnxuất của các hộ dân sau khi tái định cư bị giảm xuống tương đối rõ rệt Người dân
từ chỗ tạo sinh kế trên các con sông và diện tích canh tác tương đối bằng phẳng phải
di chuyển đến chỗ ở mới có địa hình cao hơn, diện tích canh tác dốc hơn và xa cáccon sông
Mặc dù nảy sinh muôn vàn khó khăn trong quá trình tái đình cư ở nơi ở mới,song vùng tái định cư do được quy hoạch để tiếp nhận người dân đến sinh sốngđược đầu tư cơ sở hạ tầng khá đồng bộ và đầy đủ giúp cho đồng bào tái định cư cócuộc sống mới tốt hơn nơi ở cũ
1.2.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về di dân tái định cư Dự án thủy điện Sơn La
Dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La được nhà nước ta đặt ra từ những năm 60
và được đẩy mạnh nghiên cứu vào những năm 80 của thế kỷ XX, ngay khi xây dựngNhà máy Thủy điện Hòa Bình, năm 1978, báo cáo tổng quan khai thác thủy điệnSông Đà đã được Nhà nước phê duyệt với nội dung sẽ xây dựng 2 đập thủy điện làHòa Bình (thuộc tỉnh Hòa Bình) và Tạ bú (thuộc tỉnh Sơn La) Sau nhiều năm
Trang 33nghiên cứu, chủ trương xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La đã đạt được sự thốngnhất cao trong Bộ chính trị, Quốc hội và Chính phủ về việc xây dựng Nhà máyThủy điện Sơn La theo phương án “ba bậc” trên sông Đà Tháng 6 năm 2001, Chínhphủ đã trình Quốc hội quyết định chủ trương xây dựng công trình thủy điện Sơn La.
Công trình thủy điện Sơn La được Chính phủ quyết định xây dựng tại tuyến
Pá Vinh II, xã Ít Ong, huyện Mường la, tỉnh Sơn La, trên sông Đà là phụ lưu lớnnhất trong hệ thống sông Hồng, bắt nguồn từ vùng núi Ngụy Sơn – vân Nam, trungQuốc, tổng chiều dài sông Đà 980km, trong đó phần trên lãnh thổ Việt Nam là540km
a Chủ trương của Trung ương Đảng về Dự án Thủy điện Sơn La
Ngay sau khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư xây dựng nhà máy thủy
điện Sơn la, ngày 22 -10 -2002, Bộ Chính trị đã ra “Thông báo số 84-TB/TW về Kết luận của Bộ Chính trị về Dự án thủy điện Sơn La” Theo đó, Bộ Chính trị đã đồng ý
với ý kiến của Ban Cán sự đảng Chính phủ xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn Latheo phương án quy hoạch thủy điện trên sông Đà gồm ba bậc: Hòa Bình - Sơn
La và Lai Châu (tại điểm Nậm Nhùn); quy mô công trình ở mức nước dâng bìnhthường trong khoảng 210 m - 215 m và phải bảo đảm an toàn tuyệt đối cho côngtrình, cho hạ du và cho thủ đô Hà Nội; Bộ Chính trị yêu cầu Chính phủ tiếp tụchoàn chỉnh phương án tái định cư, nhằm mục tiêu tạo điều kiện để đồng bào tái định
cư sớm ổn định được chỗ ở, cuộc sống, sản xuất, tiến lên thay đổi cơ cấu kinh tế,phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, có cuộc sống vật chất và văn hóa tốt hơn và
ổn định lâu dài Xây dựng công trình Thủy điện Sơn La phải tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế - xã hội cả vùng Tây Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốcphòng an ninh, môi trường sinh thái
Bộ Chính trị đồng ý với phương án di dân, TĐC chủ yếu theo phương thứctập trung và ở trong địa bàn hai tỉnh Sơn La, Lai Châu Đồng thời, cần có phương
án chủ động bố trí di dân tái định cư cho một số đồng bào sang tỉnh khác, vào cáctỉnh miền Trung, Tây Nguyên khi có yêu cầu Dưới sự chỉ đạo của chính phủ, cùng
Trang 34với chủ dự án, các bộ, ngành có liên quan, cấp ủy các cấp ở hai tỉnh Sơn La, LaiChâu phải chủ động, tích cực tham gia vào công trình quan trọng này Cần nghiêncứu xây dựng nhiều mô hình tái định cư khác nhau phù hợp với phong tục tập quánđồng bào các dân tộc và điều kiện từng nơi để nhân dân lựa chọn, không áp đặt; coitrọng việc lấy ý kiến góp ý của cán bộ và nhân dân ở các vùng phải di dời đối vớicác phương án tái định cư, khuyến khích đồng bào chủ động xây dựng nhà ở trongcác khu tái định cư theo qui hoạch Đặc biệt, công tác tái định cư cần coi trọng việcbảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, tạo điều kiện cho sản xuất ổnđịnh lâu dài.
Ban Cán sự đảng Chính phủ sớm nghiên cứu phương án di chuyển, điềuchỉnh địa giới các đơn vị hành chính có liên quan khi xây dựng công trình thủy điệnSơn La; đồng thời nghiên cứu chuẩn bị đề án tổng thể về phương hướng phát triểnkinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có vùng Tây Bắc trong thời kỳđất nước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa để Bộ Chính trị xem xét
b Quyết định của Quốc hội về chủ trương đầu tư xây dựng Dự án nhà máy Thủy điện Sơn La
Tháng 6 năm 2001, Chính phủ đã trình Quốc hội quyết định chủ trương xâydựng công trình thủy điện Sơn La Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa X diễn ra từ ngày
22 - 5 đến ngày 29 - 6 - 2001, Quốc hội đã bàn, thảo luận về tiêu chuẩn các công trìnhquan trọng quốc gia Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 520/BC-CP ngày 13 - 6 - 2001của Chính phủ; Báo cáo thẩm tra số 651 ngày 16 - 6 – 2001 của Ủy ban Khoa học,công nghệ và môi trường của Quốc hội và ý kiến của các đại biểu, Quốc hội khóa X đã
ra “Nghị quyết số 44/2001/NQ-QH10 về chủ trương đầu tư Dự án nhà máy thủy điện Sơn La” Nghị quyết nêu rõ mục đích của việc xây dựng thủy điện Sơn La Quốc hội
Trang 35- Góp phần chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước thiệt về mùa kiệt chođòng bằng Bắc Bộ;
- Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc
2 Ngay sau kỳ họp này, Chính phủ khẩn trương chuẩn bị các phương án quy
mô khác nhau, sớm trình Quốc hội xem xét, quyết định phương án xây dựng nhàmáy thủy điện Sơn La với các yêu cầu sau đây:
a) Đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình, cho hạ du và thủ đô Hà Nội;b) Đạt hiệu quả kinh tế tổng hợp;
c) Đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Bắc;
d) Giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường – sinh thái, đa dạng sinh học;đ) Có biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc
3 Giao chính phủ triển khai thực hiện các công việc chuẩn bị sau đây:
a) Khẩn trương tiến hành các công việc cần thiết để khởi công xây dựngcông trình vào năm 2005;
b) Mở rộng và nâng cấp quốc lộ số 6;
c) Xây dựng dự án tổng thể về tái định cư theo các phương án, giải quyết tốtcác chính sách đối với đồng bào các dân tộc, coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhưviệc xây dựng công trình; thí điểm các khu tái định cư, định canh mẫu để rút kinhnghiệm
4 Giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan hữu quan của Quốc hộitrong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện các công việc sau:
- Giám sát việc triển khai thực hiện Nghị quyết này
- Tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực tế; lấy ý kiến các nhà khoa học về Dự
án, lấy ý kiến của nhân dân, nhất là nhân dân vùng di dời và vùng tái định cư
- Thẩm tra tờ trình, các báo cáo có liên quan về Dự án của Chính phủ đểtrình Quốc hội xem xét, quyết định
Thực hiện Nghị quyết số 44/2001/NQ-QH10 và sự chủ đạo của Bộ chính trị,
ngày 16-12-2002, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XI đã ra “Nghị quyết số 13/2002/
Trang 36NQ-QH-QH11 về phương án xây dựng công trình thủy điện Sơn la” Nghị quyết đã
nêu rõ:
1 Xây dựng công trình thủy điện Sơn La phù hợp với quy hoạch bậc thangthủy điện Sông Đà, gồm 3 bậc: Hòa Bình – Sơn La thấp (tuyến Pá Vinh II) – LaiChâu (tuyến Nậm Nhùn) với những thông số cơ bản như sau:
a) – Địa điểm xây dựng: xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La;
b) – Quy mô công trình: ứng với mực nước dâng bình thường của hồ chứa từ205m đến 215m, không vượt quá 215m; Công suất lắp máy từ 1.970 MW đến 2.400MW; Sản lượng điện trung bình hàng năm: từ 7.555 triệu kWh đến 9.209 triệukWh;
c) – Vốn đầu tư (chưa tính lãi vay): từ 31.000 tỷ đồng đến 37.000 tỷ đồng,trong đó vốn trong nước khoảng 70%, vốn ngoài nước khoảng 30%;
d) – Số dân tái định cư đến năm 2010: từ 79.000 người đến 91.000 người (từ16.000 hộ đến 18.000 hộ)
2 Giao Chính phủ triển khai thực hiện công trình với những yêu cầu sau:a) Trên cơ sở 3 nhiệm vụ, 5 yêu cầu mà Nghị quyết số 44/2001/QH10 củaQuốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 đã đề ra và quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này,Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tiếp tục khảo sát, hoàn chỉnh hồ sơ dự án, thiết kế kỹthuật, quyết định phê duyệt mức nước dâng bình thường cụ thể của hồ chứa và quy
mô công trình đảm bảo an toàn tuyệt đối và hiệu quả kinh tế tổng hợp; quản lý chặtchẽ các khâu của quá trình thực hiện dự án; khởi công công trình vào năm 2005,phát điện tổ máy số 1 vào năm 2012, hoàn thành công trình vào năm 2015;
b) Hoàn thiện và thực hiện phương án tổng thể thúc đẩy phát triển kinh tế
-xã hội vùng Tây Bắc, đảm bảo cho nhân dân phải di dời sớm ổn định và có điềukiện sống tốt hơn nơi ở cũ
3 Hàng năm Chính phủ báo cáo với Quốc hội tình hình thực hiện công trình
Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội trong phạm vi chức năng,nhiệm vụ và quyền hạn của mình thẩm tra các báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội
Trang 37liên quan đến tình hình thực hiện công trình và giám sát việc thực hiện Nghị quyếtnày.
c Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
Dự án thủy điện Sơn La
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, ngày 15-1-2004, Thủ tướng Chính phủ
đã ra Quyết định số 92/QĐ-TTg “về việc phê duyệt đầu tư Dự án thủy điện Sơn La” Quyết định nếu rõ:
1 Dự án thủy điện Sơn La gồm các dự án thành phần sau:
a Dự án xây dựng công trình thủy điện Sơn La do Tổng công ty Điện lựcViệt Nam làm chủ đầu tư, gồm:
- Công trình đầu mối: đập chính, đập tràn tại tuyến Pá Vinh II, kết cấu bêtông trọng lực;
- Tuyến năng lượng: cửa lấy nước, đường dẫn nước áp lực; nhà máy thủyđiện sau đập với 6 đến 8 tổ máy, trạm biến áp, trạm phân phối ngoài trời;
- Đường dây tải điện 220 – 500kV đấu nối nhà máy với hệ thống điện quốc gia;
- Nhà quản lý vận hành; nhà ở của cán bộ, công nhân viên vận hành nhàmáy;
b Dự án tái định canh định cư (theo địa bàn quản lý) do Ủy ban nhân dân tỉnhSơn La, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu là chủ đầutư
c Dự án các công trình giao thông tránh ngập do Bộ Giao thông vận tải làchủ đầu tư
2 Địa điểm xây dựng
Công trình chính thuộc địa phận xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La Hồchứa nước thuộc một số xã, huyện trên địa bàn các tỉnh Sơn La, Lai Châu và Điện Biên
3 Mục tiêu đầu tư Dự án thủy điện Sơn La
- Cung cấp nguồn điện năng để phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 38- Góp phần chống lũ về mùa mưa và cung cấp nước về mùa kiệt cho đồngbằng Bắc Bộ
- Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc
4 Các thông số chính
+ Diện tích lưu vực: 43.760 km2
+ Dung tích toàn bộ hồ chứa: 9,26 tỷ m3
+ Dung tích chống lũ cho hạ du: 7,0 tỷ m3 (kể cả hồ Hòa Bình)
+ Dung tích hữu ích: 5,97 tỷ m3
+ Mực nước dâng bình thường (MNDBT): 215m
+ Mực nước gia cường: 218,45 m (ứng với lũ tần suất 0,01%)
+ Mực nước kiểm tra: 231,43 m (ứng với lũ PMF)
+ Công suất lắp máy NLM: 2.400 MW
+ Công suất đảm bảoNBĐ: 614 MW (trong đó tăng cho Hòa Bình 107 MW).+ Điện lượng bình quân hàng năm E0: 9,429 tỷ kWh
+ Cấp công trình: cấp đặc biệt
5 Các hạng mục công trình chủ yếu và giái pháp kết cấu chính
+ Công trình đầu mối gồm: đập chính, đập tràn tại tuyến Pá Vinh II, kết cấu
Trang 39- Chi phí giảm thiểu tác động môi trường
- Chi phí xây dựng đường tránh ngập
5 Chi phí hệ thống lưới điện
6 Chi phí giao thông ngoài công trường
+ Dự phòng (10% cho các hạng mục 1+2+3+5)
+ Chi phí bảo hiểm
9.546,860799,0257.990,254757,5808.030,3522.587,77111.657,329
10.294,915346,1731.013,2402.020,000893,2332.016,498183,745 _36.933.000
Vốn đền bù di dân tái định cư được xác định chính thức sau khi phê duyệtQuy hoạch tổng thể di dân tái định cư nhưng không quá mức phê duyệt tai Quyếtđịnh đầu tư Dự án thủy điện Sơn La
Trang 407 Phương án vốn đầu tư Dự án thủy điện Sơn La huy động và trả nợ: theoCông văn số 5170/TTr/BCN – BTC ngày 14 tháng 11 năm 2003 của liên Bộ côngThương- Tài chính.
8 Tiến độ
+ Năm 2004 – 2005 chuẩn bị xây dựng, khởi công công trình chính vào cuốinăm 2005
+ Phát điện tổ máy thứ nhất vào năm 2012
+ Hoàn thành công trình vào năm 2015
Xây dựng công trình thủy điện Sơn La trên sông Đà là rất cần thiết và đemlại lợi ích to lớn cho đất nước ta Xác định được tầm quan trọng đó, Đảng và Nhànước ta đã sớm đề ra chủ trương xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La Sau nhiềunăm nghiên cứu, chủ trương này đã được Bộ Chính trị và Quốc hội thông qua tại kỳhọp thứ 9 Khóa X Dự án thủy điện Sơn La bao gồm các dự án thành phần: Dự ánxây dựng công trình thủy điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư; Dự
án các công trình giao thông tránh ngập do Bộ Giao thông vận tải làm chủ đầu tư và
Dự án di dân TĐC do UBND các tỉnh Sơn La, Điện Biên và Lai Châu làm chủ đầu
tư Khi nhà máy thủy điện Sơn La hoàn thành sẽ cung cấp điện năng với sản lượngđiện lớn, mỗi năm làm lợi cho đất nước hàng nghìn tỷ đồng, góp phần quan trọng đểgiải tỏa sức ép về lũ vào mùa mưa, tích nước và cung cấp nước về mùa cạn chonhân dân vùng đồng bằng Bắc Bộ Đồng thời, tăng thêm năng lực cho nhà máy thủyđiện Hòa Bình, điều hòa khí hậu vùng Tây Bắc, tạo ra những tác động tích cực vàthúc đẩy kinh tế- xã hội vùng Tây Bắc phát triển
Các mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu trong quá trình triển khai dự án đã được cụthể hóa trong từng nghị quyết, quyết định của Đảng và Nhà nước để đảm bảo tínhkhả thi của dự án Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng giao cho UBND tỉnh Sơn
La, Điện Biên, Lai Châu bị ảnh hưởng lấy ý kiến nhân dân về nơi mới tái định cư vàgiao tỉnh Sơn La triển khai thí điểm mô hình TĐC mẫu xã Tân Lập, huyện MộcChâu để quyết định quy hoạch tổng thể và mô hình di dân TĐC dự án thủy điện Sơn
La Từ đó triển khai thực hiện tốt công tác vận động, tuyên truyền một cách cụ thể