Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ CÁC PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ CHẤ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*****************
NGUYỄN THỊ MỸ NHÂN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ CÁC PHƯƠNG ÁN
XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*****************
NGUYỄN THỊ MỸ NHÂN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ CÁC PHƯƠNG ÁN
XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
TẠI TP HỒ CHÍ MINH
Ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS ĐẶNG MINH PHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2011
Trang 3Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ CÁC PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” do NGUYỄN THỊ MỸ NHÂN, sinh
viên khóa 2007-2011, ngành KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _
TS ĐẶNG MINH PHƯƠNG Người hướng dẫn
Ngày Tháng Năm
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư kí hội đồng chấm báo cáo
Ngày Tháng Năm Ngày Tháng Năm
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Khóa luận đã được hoàn thành với tất cả nổ lực và tâm huyết của bản thân tác giả, bên cạnh đó là công ơn và sự giúp đỡ của rất nhiều người thân, thầy cô, bạn bè và
các anh chị trong đơn vị thực tập
Lời đầu tiên con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ba, Mẹ - người đã sinh thành và nuôi nấng dạy dỗ con đến ngày hôm nay Xin cảm ơn các anh, chị và những người thân đã luôn động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng toàn thể quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý thầy cô khoa kinh tế đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tại trường
Xin chân thành cảm ơn sâu sắc Thầy Đặng Minh Phương, người đã tận tình hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các anh chị ở Sở Tài nguyên và Môi trường TP HCM, tận tình giúp đỡ giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cảm ơn tất cả các bạn lớp Kinh Tế Tài Nguyên và Môi Trường 33 đã giúp đỡ, chia sẽ trong những lúc khó khăn, cùng học tập, cùng vui chơi trong suốt 4 năm qua,
đã ủng hộ tinh thần để Tôi vượt qua tất cả khó khăn và thử thách
Xin chân thành cảm ơn!
TP.HCM, ngày tháng năm 2010
Sinh viên
NGUYỄN THỊ MỸ NHÂN
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
NGUYỄN THỊ MỸ NHÂN Tháng 06 năm 2011 “Phân tích thực trạng quản
lý và các phương án xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh”
NGUYEN THI MY NHAN June 2011 “Analysising Management And Options for Processing Living Solid Waste In Ho Chi Minh City”
Đề tài tiến hành nghiên cứu phân tích thực trạng quản lý và các phương án xử
lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thành Phố Phương pháp xử lý chủ yếu hiện nay là bãi chôn lấp cùng với ưu nhược điểm của các BCL, có bốn bãi chôn lấp lớn được sử dụng
là BCL Đông Thạnh, BCL Gò Cát, BCL Phước Hiệp, BCL Đa Phước Công tác quản
lý quy hoạch các bộ, trạm trung chuyển rác, quy mô và số lượng phù hợp Quản lý bằng phân loại tại nguồn Đề tài dùng phương pháp phân tích lợi ích chi phí để phân tích hiệu quả kinh tế của các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt tại Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay
Đề tài được thực hiện dựa trên số liệu thu thập được từ dự án thiết kế, sản xuất phân sinh học và điện từ rác thải sinh hoạt cùng với các dự án về bãi chôn lấp và phân loại tại nguồn, chọn ra được phương pháp tối ưu để áp dụng và phát triển trong công cuộc quản lý, xử lý và cải tạo môi trường của Thành Phố
Cuối cùng, dựa trên các phân tích, đánh giá đề tài sẽ đưa ra kết luận và đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các cá nhân, cơ quan, các ban ngành liên quan có những đánh giá đúng hơn về tình trạng hiện tại của những tiềm năng mới để có những chính sách quản lý và sử dụng phù hợp nhằm góp phần giải quyết các áp lực về môi trường
và nhiên liệu trong điều kiện phát triển của đất nước hiện nay cũng như giải quyết bài toán về tình trạng lãng phí nguồn tài nguyên
Trang 6MỤC LỤC
Trang Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
CHƯƠNG 1MỞ ĐẦU 1 1.1 Đặt vấn đề 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.3.2 Chất thải rắn sinh hoạt 9
2.3.3 Phân biệt chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp 9
2.3.4 Các nguồn phát sinh chất thải rắn 10
2.3.5 Thành phần CTR Sinh Hoạt 12
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Cơ sở lý luận 14
Trang 73.1.1 Một số khái niệm 14
3.1.2 Quản lí chất thải 14
3.1.3 Mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội 17
3.2 Phương pháp nghiên cứu 17
3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả 17
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 17
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 18
3.2.4 Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí 18
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.2 Tổng quan về quản lý và phương pháp xử lý CTRSH 25
4.3 Mô tả phương án và các tác động về mặt môi trường, xã hội 31
4.3.2 Phương án 2: Sản xuất điện 31
4.3.3 Phương án 3: Bãi chôn lấp 33
4.3.4 Phương án 4: Phân loại tại nguồn 35
4.4 Phân tích tài chính của hai phương án 3 và 4 37
4.5 Nhận dạng chi phí-lợi ích xã hội của phương án 1 và 2 42
4.5.1 Phương án nền: chôn lấp không hợp vệ sinh 42
4.5.3 Đánh giá lợi ích và chi phí của mỗi phương án 42
4.5.4 Phân Tích Lợi Ích Chi Phí Của Hai Phương Án 54
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60 5.2 Kiến nghị 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 8TN&MT Tài Nguyên và Môi Trường
KGT Khoảng giá trị
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 2.1 Các Loại Chất Thải Đặc Trưng Từ Nguồn Thải Sinh Hoạt 13
Bảng 3.1 Lợi Ích và Chi Phí theo Năm Phát Sinh 19
Bảng 4.1 Khối Lượng CTRSH Được Thu Gom và Xử Lý 22
Bảng 4.2 Thành Phần và Tính Chất Thường Thấy Của Rác Thải Sinh Hoạt 23
Bảng 4.3 Thành Phần CTRSH Từ Nguồn Phát Sinh Đến Nơi Thải Bỏ Cuối Cùng 24
Bảng 4.4 Diện tích đất cần cho lượng CTR trong ngày 25
Bảng 4.5 Khối lượng rác xà bần tại bãi Đông Thạnh 26
Bảng 4.7 Chi phí xử lý rác tại bãi Phước hiệp 29
Bảng 4.10 Mức Lương Lao Động Vận Chuyển Chất Thải Rắn 39
Bảng 4.12 Dung Tích và Diện Tích Bãi Chôn Lấp Tiết Kiệm Được 40
Bảng 4.13 Khối Lượng Compost Tạo Ra Từ Rác Thải Thực Phẩm 41
Bảng 4.14 Nồng độ chất ô nhiễm có trong nước rò rỉ 41
Bảng 4.15 Nhận Dạng Lợi Ích - Chi phí Của Phương Án 1 và 2 42
Bảng 4.16 Các Khoản Đầu Tư Trong Giai Đoạn I (USD) 43
Bảng 4.17 Phần trăm mức lương tăng theo tỉ lệ lạm phát 44
Bảng 4.18 Chi phí vận hành trung bình hằng (USD) 45
Bảng 4.19 Vốn Khấu Hao Thiết Bị Và Các Tỉ Lệ Khấu Hao (USD) 45
Bảng 4.21 Giá phân compost tăng hằng năm (USD) 47
Bảng 4.22 Tổng Doanh Thu Hằng Năm Từ Việc Bán Phân (USD) 48
Bảng 4.29 So Sánh Các Chỉ Tiêu Của Các Phương Án 55
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 4.1 Biểu Đồ Diển Biến Rác Thải Sinh Hoạt Từ Năm 2001-06/2008 22 Hình 4.2 Xử Lý Rác Ở Bãi Rác Đông Thạnh 26
Hình 4.4 Chôn Lấp Chất Thải Tại Bãi Rác Phước Hiệp 28 Hình 4.5 Xử Lý Rác Thải Tại Bãi Rác Đa phước 30
Trang 11CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Nước ta đang trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cùng với
sự tăng thêm các cơ sở sản xuất với quy mô ngày càng lớn, các khu tập trung dân cư ngày càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm vật chất cũng ngày càng lớn Tất cả những điều đó tạo điều kiện kích thích các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được
mở rộng và phát triển nhanh chóng, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, nâng cao mức sống chung của xã hội; mặt khác cũng tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng, v.v… Trong đó lượng chất thải phát sinh từ những hoạt động sinh hoạt của người dân ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất Rác thải làm ô nhiễm nguồn nước, không khí, giảm chất lượng đất chứa rác
Mối đe dọa rõ ràng nhất đối với môi trường ở các bãi rác hiện nay tại Việt Nam được tạo ra bởi việc rác được đem đi đổ một cách đơn giản vào các hố rác, do sự phân hủy vi sinh của rác hữu cơ, CO2 và Hydro suyn-phua thoát ra Sự thoát ra của CO2 làm giảm độ PH và khiến cho nước có chất acid nhiều hơn chất thải và các vật liệu độc hại như các bình acquy tiếp cận với nước acid này và có thể hòa tan và thoát vào nguồn nước ngầm Cách quản lý và xử lý CTRSH tại hầu hết các thành phố, thị xã ở nước ta hiện nay đều chưa đáp ứng được các yêu cầu vệ sinh và bảo vệ môi trường, trong khi thực trạng CTR ngày càng tăng nhanh Công tác quản lý còn yếu không kiểm soát được các chủ nguồn thải, nâng cao ý thức của người dân về ảnh hưởng của CTR Lượng rác thải phát sinh sẽ trở thành nguyên nhân gây ô nhiễm trực tiếp và tác động mạnh mẽ đến sức khỏe cho con người, mỹ quan đô thị tại khu vực tập trung rác Không có những bước đi thích hợp, những quyết sách đúng đắn và những giải pháp
Trang 12đồng bộ, khoa học để quản lý chất thải rắn trong quy hoạch, xây dựng và quản lý các
đô thị sẽ dẫn tới các hậu quả khôn lường, làm suy giảm chất lượng môi trường, kéo theo những mối nguy hại về sức khỏe cộng đồng, hạn chế sự phát triển của xã hội Ở nước ta những năm gần đây, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng và phổ biến, đặc biệt là tại các đô thị lớn TP Hồ Chí Minh, nơi tập trung các khu trung tâm kinh tế văn hóa giáo dục của nước ta, phát triển thu hút vốn đầu tư và các nguồn nhân lực và cũng là nơi tập trung đông dân cư không chỉ người dân TP mà còn có cả dân nhập cư Với tốc độ tăng dân số quá nhanh hơn tám triệu dân trong khi
cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng đầy đủ cho người dân và quan trọng nhất là ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn thấp Số liệu thống kê mới đây của cơ quan môi trường cho thấy: thành phố Hồ Chí Minh có nguồn chất thải rắn, chất thải nguy hại lớn nhất nước, trung bình mỗi ngày, TP HCM thải ra khoảng 6.400 tấn rác sinh hoạt Hiện tượng rác thải bị ứ đọng ở một số Thành Phố và các địa phương khác đã trở thành vấn
đề đáng báo động Trong khi đó Thành phố Hà Nội mỗi ngày thải ra khoảng 1500 tấn rác sinh hoạt
Hiện tại TPHCM đã thực hiện được một số phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt nhằm làm giảm lượng đáng kể rác thải tại thành phố và giảm thiểu sự tác động đến môi trường như: bãi chôn lấp, xử lý bằng phương pháp sinh học, xử lý tại nguồn, v.v…Nhưng liệu những phương pháp đó có thực sự hiệu quả và mang lại lợi ích kinh tế cũng như lợi ích xã hội hay không? Và đây cũng là lý do để tôi thực hiện đề
tài nghiên cứu về : “ Phân tích thực trạng quản lý và các phương án xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thành Phố Hồ Chí Minh “
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích các chính sách quản lý hiện tại
- Đánh giá hiệu quả của các phương pháp
Trang 13Tiến hành đánh giá hiệu quả của các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn Đề tài chỉ tập trung vào phân tích chất thải rắn sinh hoạt, không bao gồm chất thải rắn nguy hại
1.4 Cấu trúc của đề tài
Giới thiệu tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương gồm có cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu Phần cơ sở lý luận đề cập đến một số khái niệm cơ bản: Hiệu quả kinh tế, quản lý chất thải rắn, mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội Phần phương pháp nghiên cứu trình bày cách chúng ta thực hiện mục tiêu đã đặt ra, tức là cách tính lợi ích – chi phí cho từng phương pháp sản xuất phân compost và Điện từ rác thải
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Chương này sẽ trình bày các kết quả đạt được gồm có: thực trạng chất thải rắn
và các phương pháp quản lý, xử lý rác hiện tại ở thành phố Hồ Chí Minh và kết quả phân tích lợi ích chi phí của hai phương pháp xử lý làm phân sinh học và Điện từ rác sinh hoạt
Trang 14Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tóm lại kết quả mà đề tài đã thực hiện được và đưa ra những kiến nghị, giải pháp cho những vấn đề đã nêu ra ở phần trước
Trang 15CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Với mục tiêu và phạm vi đã trình bày ở chương 1 Tài liệu nghiên cứu không chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định, mà được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau
ở các lĩnh vực kinh tế, các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, đánh giá hiện trạng và các công cụ chính sách Trong quá trình nghiên cứu đề tài có tham khảo các tài liệu liên quan đến chuyên ngành như tài liệu được thu thập từ Sở tài môi trường thành phố Hồ Chí Minh
và Tiền Giang Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng
về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế
b Địa hình
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét, xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên đến 32 mét như đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng
Trang 16trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới
10 mét
c Khí hậu, thời tiết
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa - khô rõ rệt Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 đến 270 giờ nắng một tháng, nhiệt độ trung bình 27°C, cao nhất lên đến 40°C, thấp nhất xuống 13,8°C Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 đến 28°C Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958 Một năm, ở Thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt là tháng 6 và tháng 9 Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bổ không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam - Ðông Bắc Các quận nội thành và các huyện phía Bắc
có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc Gió Tây -Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa Gió Bắc - Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô Ngoài ra còn có gió tín phong theo hướng Nam - Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và xuống thấp vào mùa không, 74,5% Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình quân/năm 79,5%
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,3% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài Vào năm
2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài
độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc Năm 2008, thu nhập bình quân
Trang 17đầu người ở thành phố đạt 2.534 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước,
1024 USD/năm
Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch
vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%
Dân số Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là 7.389,2 ngàn người tăng 3,1% so với năm 2009; khu vực thành thị 6.143,5 ngàn người, tăng 3% Tỷ lệ tăng cơ học là 21,72‰, giảm 0,04‰ so với năm trước, tỷ lệ tăng tự nhiên dân số là 10.35‰ giảm 0,02‰ Quận Bình Tân có dân số lớn nhất với 572.796 người trong khi đó huyện Cần Giờ có dân số thấp nhất với 68.213 người Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều, ngay cả các quận nội thành Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10,
11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km² thì các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 tới 6.000 người/km² Ở các huyện ngoại thành, mật độ dân số rất thấp, như Cần Giờ chỉ có
96 người/km² Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 1,9% Theo ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu khách vãng lai tại Thành phố Hồ Chí Minh Đến năm 2010, có số này còn có thể tăng lên tới 2 triệu
2.2.3 Môi trường
Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức một số người dân lại quá kém trong nhận thức và bảo vệ môi trường chung v.v Vì vậy, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường quá lớn Hiện trạng nước thải không được xử lý đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi còn rất phổ biến, và chất thải rắn cũng chưa được quản lý và
xử lý tốt Nhiều cơ sở sản xuất, bệnh viện và cơ sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải là một thực trạng đáng báo động Tại cụm công nghiệp Tham Lương, nguồn nước
bị nhiễm bẩn bởi chất thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m³/ngày Sông Sài Gòn, mức độ ô nhiễm vi sinh chủ yếu do hoạt động nuôi trồng thuỷ
Trang 18sản gây ra vượt tiêu chuẩn cho phép đến 220 lần Cho tới 2008, vẫn chưa có giải pháp
cụ thể nào để chấm dứt tình trạng ô nhiễm này
Lượng rác thải ở Thành phố Hồ Chí Minh trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 6.400 tấn rác sinh hoạt, trong đó, rác có nguồn gốc từ thực phẩm có thể tái chế thành những loại phân bón hoặc được đốt để tạo ra khí gas làm nhiên liệu phát điện chiếm tỷ
lệ 80% - 90% Tuy nhiên, đến nay, 100% lượng rác thải sinh hoạt của thành phố (khoảng 6200 tấn/ngày) chỉ được xử lý bằng biện pháp chôn lấp ở hai bãi rác chính là bãi Đa Phước (huyện Bình Chánh) và bãi Phước Hiệp (huyện Củ Chi) vừa tốn kém kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý (khoảng trên 600 tỷ đồng/năm) mà còn tốn một diện tích đất khá lớn để chôn lấp 6.000 tấn/ngày, trong đó một phần lượng rác thải rắn không được thu gom hết Kết quả quan trắc năm 2007 cho thấy, so với năm 2006, sự ô nhiễm hữu cơ tăng 2 đến 4 lần Các phương tiện giao thông, hoạt động xây dựng, sản xuất còn góp phần gây ô nhiễm không khí Khu vực ngoại thành, đất cũng bị ô nhiễm do tồn đọng thuốc bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp gây nên
Tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo động cao, xảy ra
cả trong mùa khô Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140 km2 với 85% điểm ngập nước nằm ở khu vực trung tâm Thiệt hại do ngập nước gây ra ước tính 8 tỷ đồng mỗi năm Nguyên nhân là do hệ thống cống thoát nước được xây cách đây 50 năm đã xuống cấp Ngoài ra, việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía nam – khu vực thoát nước của thành phố này đã làm cho tình hình ngập càng nghiêm trọng hơn
Trước những bức xúc về thực trạng môi trường, Thành phố Hồ Chí Minh đang khẩn trương tìm mọi cách nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn Việc trích ra một nguồn vốn lớn nhiều tỷ đồng đầu tư xây dựng hồ sinh học cải tạo nước kênh Ba Bò là một ví dụ
2.3 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt
Theo kết quả điều tra về tình hình chất thải rắn đô thị năm 2004 sở Tài Nguyên
và Môi Trường thực hiện, hệ số phát thải trung bình của khu vực hộ dân là 0,6 kg/người.ngày.đêm Như vậy, khối lượng chất thải phát sinh từ khu vực hộ dân là: 0,6kg/người.ngày.đêm * 6.239.938 người = 3,744 tấn ngày đêm
Trang 192.3.1 Chất thải rắn là gì ?
Chất thải rắn (Solid waste) là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng v.v ) trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống
Rác là thuật ngữ được dùng để chỉ chất thải rắn có hình dạng tương đối cố định,
bị vứt bỏ từ hoạt động của con người Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một
bộ phận của chất thải rắn được hiểu là chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động thường ngày của con người
2.3.2 Chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ khu dân cư, các cơ quan trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại
2.3.3 Phân biệt chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp
a Chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt bao gồm các thành phần:
- Chất thải thực phẩm: thức ăn thừa, rau quả v.v… loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học
- Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân
- Chất thải lỏng: chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư
- Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon, bao gói v.v…
- Ngoài ra còn có các thành phần các chất thải khác như: kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, tro xỉ và các chất dễ cháy khác
b Chất thải rắn công nghiệp
Thành phần chất thải rất đa dạng Phần lớn là các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất, phế thải từ nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, các phế thải trong quá trình công nghệ, bao bì đóng gói sản phẩm
Trang 202.3.4 Các nguồn phát sinh chất thải rắn
- Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố, chợ, v.v…
- Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo v.v…
- Theo bản chất nguồn tạo thành, chất thải rắn được phân thành các loại:
Chất thải rắn sinh hoạt: có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau
Chất thải thực phẩm bao gồm các phần thừa thãi, không ăn được sinh ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn v.v…Đặc điểm quan trọng của loại chất thải này là phân hủy nhanh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm Quá trình phân hủy thường gây ra các mùi hôi thối khó chịu
Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm của người và phân của các động vật khác
Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư
Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: vật chất còn lại trong quá trình đốt củi, than, rơm rạ, lá v.v…Ở các gia đình, công sở, nhà hàng, nhà máy, xí nghiệp
Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon,
vỏ bao gói
- Khu dân cư: CTR từ khu dân cư phần lớn là các loại thực phẩm dư thừa hay hư hỏng như rau, quả v.v…; bao bì hàng hóa (giấy vụn, gỗ, vải da, cao su, PE, PP, thủy tinh, tro.), một số chất thải đặc biệt như đồ điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ
gỗ gia dụng, bóng đèn, đồ nhựa, thủy tinh.), chất thải độc hại như chất tẩy rửa (bột giặt, chất tẩy trắng, v.v…), thuốc diệt côn trùng, nước xịt phòng bám trên các rác thải
- Khu thương mại: chợ, siêu thị, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, trạm bảo hành, trạm dịch vụ, khu văn phòng (trường học viện nghên cứu, khu văn hóa, văn phòng chính quyền v.v…), khu công cộng (công viên, khu nghỉ mát) thải ra các loại thực phẩm (hàng hóa hư hỏng) và các loại rác rưởi, xà bần, tro và các chất thải độc hại, v.v…
Trang 21- Khu xây dựng: như các công trình đang thi công, các công trình cải tạo nâng cấp v.v… thải ra các loại xà bần, sắt thép vụn, vôi vữa, gạch vỡ, gỗ, ống dẫn Các dịch vụ đô thị (gồm dịch vụ thu gom, xử lý chất thải và vệ sinh công cộng như rửa đường, vệ sinh cống rãnh) bao gồm rác quét đường, bùn cống rãnh, xác súc vật
- Khu công nghiệp, nông nghiệp không nguy hại: CTRSH được thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của công nhân, cán bộ viên chức ở các xí nghiệp công nghiệp, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp Ở khu vực nông nghiệp chất thải ra chủ yếu là: lá cây, cành cây, xác gia súc, thức ăn gia súc thừa hay hư hỏng; chất thải đặc biệt như: thuốc sát trùng, phân bón, thuốc trừ sâu, được thải
ra cùng với bào bì đựng các hóa chất đó
Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm:
Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện; Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất; Các phế thải trong quá trình công nghệ Bao bì đóng gói sản phẩm
Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do các
hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình Chất thải xây dựng gồm: Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng;
Đất đá do việc đào móng trong xây dựng;
Các vật liệu như kim loại, chất dẻo v.v…
Chất thải từ các nhà máy xử lý: chất thải rắn từ hệ thống xử lý nước, nước
thải, nhà máy xử lý chất thải công nghiệp
Trong loại chất thải này thì thành phần chủ yếu của chúng là bùn đất chiếm tới 90- 95% Nguồn gốc sinh ra chúng là các loại bụi bặm, đất các đường phố, xác động vật chết, lá cây, dầu mỡ rơi vãi, kim loại nặng, v.v… trên đường được thu vào ống cống Nhìn chung loại chất thải này cũng rất đa dạng và phức tạp và có tính độc hại khá cao Ngoài ra còn một loại chất thải rắn khác cũng được phân loại chung vào là bùn thải sinh ra từ các nhà máy xử lý nước thải, trạm xử lý nước thải, phân rút từ hầm cầu, bể tự hoại Các loại chất thải rắn này cũng chiếm một lượng nước khá lớn (từ 25 – 95%) và thành phần chủ yếu cũng là bùn đất, chất hữu cơ chưa hoại
Trang 22Chất thải nông nghiệp: vật chất loại bỏ từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp
như gốc rơm, rạ, cây trồng, chăn nuôi, bao bì đựng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật v.v…
- Theo mức độ nguy hại, chất thải rắn được phân thành các loại:
Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc hại, chất
thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan, v.v…có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe người, động vật và cây
cỏ
Nguồn phát sinh ra chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp
Chất thải y tế nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một
trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe của cộng đồng Theo quy chế quản lý chất thải y tế, các loại chất thải y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt chuyên môn trong các bệnh viện, trạm xá và trạm y tế
Các chất nguy hại do các cơ sở công nghiệp hóa chất thải ra có tính độc hại cao, tác động xấu đến sức khỏe, do đó việc xử lý chúng phải có những giải pháp kỹ thuật
để hạn chế tác động độc hại đó
Các chất thải nguy hại từ các hoạt động nông nghiệp chủ yếu là các loại phân hóa học, các loại thuốc bảo vệ thực vật
Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất và các
hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
Trang 23Bảng 2.1 Các Loại Chất Thải Đặc Trưng Từ Nguồn Thải Sinh Hoạt
Khu dân cư và thương mại Chất thải thực phẩm
Giấy,Carton Nhựa Vải Cao su Rác vườn
Gỗ Các loại khác: tã lót, khăn vệ sinh…
Nhôm Kim loại chứa sắt Chất thải đặc biệt Chất thải thể tích lớn
Đồ điện gia dụng Hàng hóa (white goods) Rác vườn thu gom riêng Pin
Dầu Lốp xe Chất thải nguy hại Chất thải từ viện nghiên cứu,
Nguồn: Sở Tài Nguyên & Môi Trường
Trang 24
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Một số khái niệm
Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Theo quan điểm hiện đại thì hiệu quả kinh tế bao gồm hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực; hiệu quả về yếu tố thời gian; hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường
- Hiệu quả phân bổ các nguồn lực: là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm
- Hiệu quả về yếu tố thời gian: các nhà kinh tế hiện nay đã coi thời gian là yếu
tố trong tính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng hai dự án có thể có hiệu quả khác nhau
- Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường: một dự án hiệu quả phải hiệu quả về mặt tài chính và nó thường được thể hiện bằng những chỉ tiêu như lợi nhuận, giá thành, tỷ lệ nội hoàn vốn, thời gian hoàn vốn v.v Bên cạnh đó thì hiệu quả xã hội được thể hiện qua tăng lợi ích ròng, công bằng xã hội, và hiệu quả môi trường được thể hiện bằng môi trường sinh thái hoàn thiện hơn, không ô nhiễm
3.1.2 Quản lí chất thải
Chất thải được định nghĩa chung là các dạng vật chất cụ thể ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (khoản 10 điều 3 luật bảo vệ môi trường năm 2005) Chất thải là nguồn chính gây ô nhiễm môi trường, do vậy quản lý chất thải là một trong những hình thức quan trọng nhất để kiểm soát ô nhiễm Chất thải có thể được nhận biết đưới các dạng sau đây:
- Căn cứ vào tính chất của chất thải, chất thải được chia thành: chất thải lỏng, chất thải khí, dạng rắn, dạng mùi, chất phóng xạ và các dạng hỗn hợp khác
Trang 25- Căn cứ vào nguồn phát sinh chất thải, chất thải được chia thành: chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế
- Căn cứ vào mức độ tác động của chất thải tới môi trường xung quanh, chất thải được chia thành: chất thải thông thường và chất thải nguy hại, trong đó chất thải nguy hại lá chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn,
dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác (khoản 11 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường)
- Chất thải nhưng đáp ứng được các yêu cầu làm nguyên liệu sản xuất được gọi là phế liệu
Pháp luật môi trường hiện hành nghiêm cấm các hành vi xả thải các loại chất thải sau đây (Điều 7 Luật bảo vệ môi trường năm 2005):
- Chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác không đúng nơi quy định và quy trình kĩ thuật về bảo vệ môi trường
- Thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào nguồn nước
- Thải khói, bụi, khí có chất hoặc mùi độc hại vào không khí; phát tán bức xạ, phóng xạ, các chất ion hóa vượt quá tiêu chuẩn môi trường cho phép
- Gây tiếng ồn, độ rung vượt quá tiêu chuẩn cho phép
- Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện không đạt tiêu chuẩn môi trường
- Nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức
Quản lý chất thải bao gồm các hoạt động thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng chất thải và các hình thức xử lý chất thải nhằm tận dụng hết khả năng có ích của chất thải và hạn chế đến mức thấp nhất tác hại đối với môi trường do chất thải gây ra
Hiện tại trên thế gới, có 2 cách tiếp cận phổ biến được áp dụng trong quản lý chất thải là quản lý chất thải ở cuối đường ống sản xuất (còn gọi là quản lý chất thải ở cuối công đoạn sản xuất) và quản lý chất thải theo đường ống sản xuất (quản lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất, dọc theo đường ống sản xuất) Ngoài ra một số nước phát triển đã có cách tiếp cận mới trong quản lý chất thải, đó là quản lý chất thải nhấn mạnh vào khâu tiêu dùng Cách này nâng cao nhận thức của người tiêu dùng (bao gồm
cả các nhà sản xuất để họ lựa chọn và đòi hỏi các sản phẩm được sản xuất ra phải đạt
Trang 26tiêu chuẩn môi trường, thân thiện với môi trường và bản thân người tiêu dùng cũng hành động thân thiện với môi trường trong tiêu dùng sản phẩm
Tại Việt Nam, vì nhiều lý do khác nhau nên cách tiếp cận chủ yếu vẫn là quản
lý chất thải cuối đường ống Hiên nay pháp luật môi trường có các quy định cụ thể về quản lý 2 loại chất thải: chất thải thông thường (trong đó bao gồm chất thải có thể dùng để tái chế, tái sử dụng và chất thải phải tiêu hủy hoặc chôn lấp); chất thải nguy hại Cụ thể:
- Đối với chất thải có khả năng tái chế, tái sử dụng: Pháp luật môi trường cũng như pháp luật có liên quan điều quy định khuyến khích việc tái chế, tái sử dụng chất thải ở mức cao nhất, hạn chế đến mức thấp nhất lượng chất thải phải xử lý bằng các biện pháp chôn lấp, đốt, tiêu hủy hoặc các biện pháp khác Các hình thức khuyến khích việc tái chế, tái sử dụng chất thải thường được áp dụng miễn là hoặc giảm thuế giá trị gia tăng cho các hoạt động tái chế chất thải, quảng cáo, xúc tiến thương mại về sản xuất, tái chế, tái sử dụng chất thải; bù giá hoặc hỗ trợ kỹ thuật cho việc sản xuất năng lượng từ chất thải v.v (Điều 117 Luật bảo vệ môi trường năm 2005)
Phế liệu nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 43 Luật bảo vệ môi trường năm 2005
- Đối với chất thải thông thường phải tiêu hủy hoặc chôn lấp: Ngoài các quy định chung về trách nhiệm quản lý chất thải trước hết thuộc về chủ phát sinh chất thải (là những tổ chức, cá nhân khác có đủ điều kiện và năng lực quản lý chất thải) theo hợp đồng chuyển giao trách nhiệm quản lý chất thải, pháp luật còn quy định riêng việc quản lý từng loại chất thải như sau:
+ Quản lý chất thải rắn: Yêu cầu đặt ra đối với chủ phát sinh chất thải rắn thông thường là phải thực hiện việc thu gom và phân loại chất thải tại nguồn để phục vụ cho các mục đích tái chế, tái sử dụng, xử lý hoặc thải bỏ phù hợp, và lưu giữ chất thải đúng quy định trước khi xử lý, trong đó yêu cầu đầu tiên đặt ra là phải tận dụng ở mức cao nhất các chất thải rắn thông thường có thể tái chế, tái sử dụng
Hiện tại Việt Nam đã xây dựng được Chiến lược quản lý chât thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp đến năm 2020 với mục tiêu lâu dài là thu gom, vận chuyển và
xử lý 80-95% tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp, ưu tiên đầu tư xây dựng hai trung tâm xử lý chất thải rắn công nghiệp nguy hại tại hai khu
Trang 27vực trọng điểm phía Bắc và phía Nam; hoàn thiện công tác quản lý chất thải rắn tại các
đô thị và khu công nghiệp trên nguyên tắc đồng bộ về mặt luật pháp, đầu tư phát triển trợ giúp kỹ thuật, thanh tra, kiểm soát v.v
3.1.3 Mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội
a) Mục tiêu kinh tế
Mục tiêu kinh tế là mục tiêu mà một quốc gia, doanh nghiệp, v.v… đưa ra dựa trên các chỉ tiêu như GPD, thu nhập bình quân đầu người, lợi nhuận Ngoài ra, hiện nay mục tiêu kinh tế dựa trên những mục tiêu của xã hội
b) Mục tiêu xã hội
Mục tiêu xã hội đó là: Cải thiện phúc lợi kinh tế hay nâng cao đời sống, cải thiện về sự công bằng xã hội, cải thiện chất lượng môi trường
Cải thiện phúc lợi kinh tế hay nâng cao đời sống: là sự gia tăng trong tổng
phúc lợi xã hội Chúng được đo lường bằng sự gia tăng lợi ích ròng tạo ra từ sản xuất
và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ
Cải thiện về sự công bằng xã hội: là sự cải thiện trong phân phối lợi ích ròng
giữa các cá nhân trong xã hội và được xem như sự tăng các cơ hội đối với những người bị thiệt hại
Cải thiện chất lượng môi trường: Bao gồm môi trường con người tạo ra và
môi trường tự nhiên Còn gọi là môi trường xung quanh
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp sử dụng các yếu tố có sẵn trong quá khứ và hiện tại thể hiện thực trạng và tình hình vùng nghiên cứu Sau khi thu thập các số liệu cần thiết tiến hành phân tích tổng hợp, đánh giá nghiên cứu và phân phối kết quả nghiên cứu theo các mục tiêu nghiên cứu: mô tả về tình hình dầu mỏ của Việt Nam thông qua các số liệu thống kê trong quá khứ và hiện tại, mô tả tình hình, điều kiện kinh tế xã hội của nước ta
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu là khâu rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt các
dữ liệu thu thập được sẽ làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá, và dự báo phương hướng phát triển của vấn đề nghiên cứu một cách chính xác và toàn diện hơn
Trang 28Số liệu thứ cấp
Thu thập các số liệu thông qua các báo cáo, số liệu thống kê của cơ quan quản
lý hay trên các phương tiện thông tin đại chúng Cụ thể là thu thập: tình hình kinh tế chung về: tình hình ô nhiễm không khí do các hoạt động từ việc xử lý rác sinh hoạt mang lại, các tổn hại con người phải gánh chịu, tình hình ô nhiễm do việc đổ rác không phân loại một cách bừa bãi, tổn hại sức khỏe con người sống quanh khu vực có bãi rác không được xỷ lý tốt Các thông tin về tình hình xử lý rác của thế giới Quy trình công nghệ sản xuất compost và điện từ rác sinh hoạt.Các thông tin về chi phí đầu
tư xây dựng nhà máy sản xuất compost và điện, doanh thu
Thông tin từ: sở Khoa học Công nghệ TP.HCM, Sở Tài Nguyên và Môi trường TP.HCM, công ty Môi Trường Đô Thị Tp.HCM
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được từ những nguồn khác nhau sẽ được tổng hợp lại và phân
ra thành từng loại, từng mảng để tiện quản lý và sử dụng Những số liệu cần tính toán
sẽ được nhập vào bảng tính excel và tiến hành các phép tính phù hợp để đạt kết quả mong muốn
3.2.4 Phương pháp phân tích lợi ích - chi phí
a) Khái niệm
Phân tích lợi ích - chi phí là một phương pháp đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội
b) Các bước tiến hành phân tích lợi ích - chi phí
Trang 29- Nhận dạng chi phí và lợi ích xã hội ròng của mỗi phương án
Bước này nhận dạng bản chất của lợi ích và chi phí xã hội thực của phương án Trên phạm vi toàn xã hội, nguyên tắc chung là tính tất cả lợi ích và chi phí bất
kể ai là người nhận và trả chúng Do đó, ta phải nhận dạng những ảnh hưởng về môi trường và những ảnh hưởng khác cũng như doanh thu và chi phí bằng tiền đối với khu vực tư nhân
- Đánh giá lợi ích – chi phí của mỗi phương án
Ở bước này ta cố gắng tìm ra giá tri kinh tế cho lợi ích và chi phí xã hội của mỗi phương án
Một số lợi ích và chi phí xã hội có thể đã có các giá trị kinh tế thực, một số có thể có giá trị kinh tế tài chính
- Lập bảng lợi ích và chi phí hàng năm
Giá trị của lợi ích và chi phí hàng năm của mỗi phương án được lập thành bảng theo các năm phát sinh và lợi ích ròng của mỗi năm được tính
Bảng 3.1 Lợi Ích và Chi Phí theo Năm Phát Sinh
Năm Tổng lợi ích Tổng chi phí Lợi ích ròng hàng năm
Nguồn: Tài liệu “Nhập môn phân tích lợi ích – chi phí”
- Tính toán lợi ích xã hội ròng
Để tính tổng lợi ích xã hội ròng, ta không thể chỉ đơn giản cộng các lợi ích ròng hàng năm vì người ta thường đặt tầm quan trọng khác nhau vào lợi ích nhận được
ở mỗi thời điểm khác nhau
- So sánh các phương án theo lợi ích ròng
Phương án có lợi ích ròng cao nhất được xếp hạng thứ nhất và được xem là đáng lựa chọn nhất, và phương án có lợi ích ròng thấp nhất được xếp hạng cuối cùng
và là phương án ít mong muốn nhất
Trang 30- Kiểm định ảnh hưởng của sự thay đổi trong giả định và dữ liệu
Khi phân tích chúng ta thường đưa ra những giả định về dữ liệu và vì vậy người phân tích phải kiểm định những ảnh hưởng của những thay đổi trong giả định đối với thứ tự xếp hạng và sự so sánh giữa các phương án
- Kiến nghị
Người phân tích chỉ ra một phương án cụ thể nào đó có đáng mong muốn hay không, phương án nào là đáng mong muốn nhất
c) Các chỉ tiêu lựa chọn phương án
- Hiện giá ròng – ( Net present value – NPV)
Khái niệm về hiện giá ròng:
Hiện giá ròng (NPV) là khoản chênh lệch giữa hiện giá của lợi ích và hiện giá của chi phí Hiện giá ròng được tính như công thức sau:
Các dự án có hiện gía ròng dương tức là có lợi ích ròng là dáng mong muốn nếu có nhiều dự án có hiện giá ròng dương thì dự án có hiện giá ròng cao nhất là đáng mong muốn nhất
Trang 31- Tỷ số lợi ích - chi phí (Benefit – Cost Ratio – BCR)
Khá niệm về tỷ số lợi ích - chi phí (BCR)
Tỷ số lợi ích chi phí (BCR) là tỷ số hiện giá của các lợi ích so với hiện giá của các chi phí Tỷ số lợi ích – chi phí được tính theo công thức:
T t
t r Ct
t r Bt
0
0
)^
1 (
)^
1 (
(6)
Tỷ số này lớn hơn 1 khi lợi ích đã chiết khấu lớn hơn chi phí đã chiết khấu, do
đó, tất cả các phương án nào có tỷ số lớn hơn 1 là có lợi và đáng mong muốn Theo tiêu chí này, dự án nào có tỷ số BCR cao nhất là đáng mong muốn nhất
- Tỷ suất sinh lợi nội tại ( Internal Return Rate – IRR)
Khái niệm về tỷ suất sinh lợi nội tại – IRR
Tỷ suất sinh lợi nội tai (IRR) là suất chiết khấu mà tại đó hiện giá của lợi ich bằng với hiện giá chi phí Đó chính là suất chiết khấu làm cho NPV bằng không
Tỷ suất sinh lợi nội tại là một tiêu chí khác về lợi ích ròng tương đối, và là tỷ lợi sinh lợi của lợi ích so với chi phí
Tính IRR chính là tìm ra tỷ suất chiết khấu mà tại đó:
Có thể tính IRR bằng phần mềm máy tính thích hợp (ví dụ Excel) hoặc tính
bằng phương pháp “thử và sai”
Các phương án có IRR lớn hơn suất chiết khấu xã hội thì có lợi và đáng lựa
chọn Trong số các phương án mong muốn này, phương án nào có IRR cao nhất thì
được là đáng mong muốn nhất
Trang 32CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng rác thải sinh hoạt tại tpHCM
Bảng 4.1 Khối Lượng CTRSH Được Thu Gom và Xử Lý
Trong Giai Đoạn Từ 2001-Tháng 06/2008
STT Năm Khối lượng CTRSH
Nguồn: Sở Tài Nguyên & Môi Trường
Hình 4.1 Biểu Đồ Diển Biến Rác Thải Sinh Hoạt Từ Năm 2001-06/2008
Biểu đồ diễn biến rác thải sinh hoạt 2001-06/2008
0 500.000 1.000.000
Trang 33Hình 4.1 cho thấy khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom xử lý trong
giai đoạn 2001 tháng 06/2008 ngày càng tăng Điều này chứng tỏ rằng công tác thu
gom, xử lý CTRĐT ngày càng có hiệu quả, chứng tỏ năng suất thu gom, xử lý cao hơn
so với trước đây, tức là vấn đề môi trường ngày càng được quan tâm ở các cấp Tuy
nhiên, cũng cần phải thừa nhận 1 vấn đề là khối lượng CTRĐT cũng ngày một gia
tăng, đòi hỏi các cơ quan chuyên trách và cộng đồng cần nỗ lực hết mình để làm nên
một môi trường xanh sạch
Đặc điểm rác thải sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh
Rác thải sinh hoạt ở thành phố Hồ Chí Minh rất đa dạng về chủng loại
Bảng 4.2 Thành Phần và Tính Chất Thường Thấy Của Rác Thải Sinh Hoạt
Nguồn: Sở Tài Nguyên & Môi Trường
Trang 34Bảng 4.3 Thành Phần CTRSH Từ Nguồn Phát Sinh Đến Nơi Thải Bỏ Cuối Cùng
Hộ gia đình
Trang 354.2 Tổng quan về quản lý và phương pháp xử lý CTRSH
4.2.1 Phương pháp xử lý
Bảng 4.4 Diện tích đất cần cho lượng CTR trong ngày
Khối lượng chất thải (tấn/ngày) Diện tích chôn lấp (ha)
Nguồn: tổng hợp
Hiện tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ có một công nghệ xử lý chung là chôn lấp,
mà các bãi chôn lấp vệ sinh chiếm một diện tích rất lớn, mỗi năm với khối lượng chất thải rắn đô thị khoảng 5.900-6.200 tấn/ngày thì thành phố Hồ Chí Minh cần từ 09 - 12ha đất để chôn lấp và diện tích này sẽ khó có thể sử dụng vào mục đích khác trong thời gian dài (30-50 năm), không những thế, chúng còn cần được bảo trì và giám sát với kinh phí hàng năm (20-25 năm sau khi đóng bãi) là khá lớn Đây là nhược điểm trong công tác phân loại rác tại nguồn, nếu công tác này hoàn thiện thì khối lượng rác cần chôn lấp giảm đi, từ đó hạn chế phần diện tích dùng cho chôn lấp, đồng thời tận dụng lại các thành phần có thể tái chế, tránh lãng phí tài nguyên
Chôn lấp (landfilling) là hành động đổ chất thải vào khu đất đã được chuẩn bị
từ trước Quá trình chôn lấp bao gồm cả công tác giám sát chất thải chuyển đến thải
bỏ , nén bỏ, nén ép chất thải và lắp đặt các thiết bị giám sát chất lượng môi trường xung quanh Chôn lấp là phương pháp thải bỏ kinh tế và chấp nhận được về mặt môi trường Hiện tại CTR ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu được xử lý bằng hình thức chôn lấp
Ngay cả khi áp dụng các biện pháp giảm lượng chất thải, tái sinh, tái sử dụng và
cả các kỹ thuật chuyển hóa chất thải, việc thải bỏ phần chất thải còn lại ra bãi chôn lấp vẫn là một khâu quan trọng trong chiến lược quản lý thống nhất chất thải rắn Một bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt được gọi là bãi chôn lấp hợp vệ sinh khi được thiết kế
và vận hành sao cho giảm đến mức thấp nhất các tác động đến sức khỏe cộng đồng và môi trường Bãi chôn lấp hợp vệ sinh được thiết kế và vận hành có lớp lót đáy, các lớp che phủ hàng ngày và che phủ trung, có hệ thống thu gom và xử lý nước rò rỉ, hệ thống thu gom và xử lý khí thải, được che phủ cuối cùng và duy tu, bảo trì sau khi đóng bãi chôn lấp
Trang 36Hiện tại BCL Đông Thạnh không còn tiếp nhận rác, chỉ còn nhận CTR xây
dựng (xà bần) mà Công ty MTĐT thu gom, vận chuyển Năm 2007, khối lượng xà bần
được tiếp nhận tại BCL Đông Thạnh là khoảng 261.344 tấn, cho tới tháng 06/2008 thì
tăng đến hơn 300.000 tấn
Dù BCL Đông Thạnh đã ngưng tiếp nhận rác từ 2002 tuy nhiên Sở TNMT vẫn
phải xử lý nước rỉ rác từ bãi rác và tiếp tục kiểm soát ô nhiễm môi trường tại đây
Hình 4.2 Xử Lý Rác Ở Bãi Rác Đông Thạnh
Nguồn: tổng hợp
Về xử lý nước rỉ rác: được thực hiện bởi công ty TNHH Môi trường Quốc Việt
theo hình thức hợp đồng mua nước sạch Công nghệ được áp dụng là công nghệ
sinh học kết hợp hóa lý Nước rỉ rác sau khi xử lý được nghiệm thu đạt tiêu
chuẩn môi trường trước khi thải ra sông Rạch Tra Năm 2007, tổng lượng nước
rỉ rác được Công ty Quốc Việt xử lý và xả thải ra sông là 123.000 m3