MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH .... Các yếu tố tác động đến vai trò của chính quyền huyện Tam
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN LAN NGỌC
VAI TRÕ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ -
KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TAM NÔNG - PHÖ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI, 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN LAN NGỌC
VAI TRÕ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ -
KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TAM NÔNG - PHÖ THỌ
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực hiện Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong luận văn nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đề đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Nguyễn Lan Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản 10 1.2 Vai trò của chính quyền cấp huyện trong thực hiện chính sách dân số -
kế hoạch hóa gia đình 13
Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN TAM NÔNG – PHÚ THỌ TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN
SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 22
2.1 Các yếu tố tác động đến vai trò của chính quyền huyện Tam Nông trong thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 22 2.2 Khảo sát vai trò của chính quyền cấp huyện trong thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình ở huyện Tam Nông ,tỉnh Phú Thọ 34 2.3 Đánh giá vai trò của chính quyền huyện Tam Nông trong thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình 45
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN TAM NÔNG – TỈNH PHÚ THỌ 61
3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 61 3.2 Giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền cấp huyện Tam Nông – tỉnh Phú Thọ trong công tác thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình… 62
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
2 CTV DS: Cộng tác viên Dân số
3 DS-KHHGĐ: Dân số - kế hoạch hóa gia đình
4 HĐND: Hội đồng Nhân dân
5 MCBGT: Mất cân bằng giới tính
6 SKSS - KHHGĐ: Sức khỏe sinh sản – Kế hoạch hóa gia đình
7 UBND: Ủy ban Nhân dân
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượt cán bộ cấp huyện bình quân được tập huấn hằng năm chia theo nội dung 41
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân số là nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước Chính
vì vậy Đảng và Nhà nước luôn đề cao vai trò của Dân số, Nghị quyết số 04- NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII)
ngày 14 tháng 01 năm 1993 về chính sách KHHGĐ đã chỉ rõ: "Công tác KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế- xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội" Pháp lệnh Dân số cũng đã xác định: "Dân số là một trong những yếu tố quyết định
DS-sự phát triển bền vững của đất nước" [32]
Chính sách Dân số Việt Nam khởi đầu bằng Quyết định 216/CP ngày 26/12/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc “sinh đẻ có hướng dẫn”, trọng tâm là giảm sinh Ngày 29/1/2008, Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục DS- KHHGĐ thuộc Bộ Y tế Đại hội XI (2011): “Thực hiện tốt các chính sách DS-KHHGĐ, duy trì mức sinh thay thế, bảo đảm cân bằng giới tính hợp lý, nâng cao chất lượng dân số” Đại hội XII (2016): Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách DS-KHHGĐ… Thực hiện tốt chiến lược dân số, gia đình, chương trình hành động vì trẻ em đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chỉ
số phát triển con người, bảo đảm tổng tỉ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân bằng giới tính khi sinh và bảo đảm quyền trẻ em Nghị quyết số 21 ngày 25/10/2017 nêu rõ: “Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân Chính sách dân số phải bảo đảm cân bằng, hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân; giữa việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương
Trang 82
pháp luật; giữa việc mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật mới với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số” [70]
Hội nghị TƯ 6 khóa XII cũng xác định phải kiếm soát quy mô, nâng cao chất lượng dân số: “Trong 25 năm qua, cả nước ta đã kiên trì, kiên quyết thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, mỗi cặp vợ chồng chỉ có 2 con theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII”
Ngày 25/10/2017 Hội nghị làn thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác Dân số trong tình hình mới Trong Nghị quyết có nhận mạnh trong nhiệm vụ và giải pháp đó là: Tăng cường sự lãnh đạo chỉ đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về công tác Dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan tỏa rộng trong toàn xã hội
Cùng với công tác DS-KHHGĐ cả nước nói chung, chính quyền huyện Tam Nông nói riêng đã đạt được những thành tựu về lãnh đạo chỉ đạo hết sức tự hào, như: Đã thực hiện giáo dục nhận thức của người dân về vấn đề DS –KHHGĐ, ngày càng trưởng thành về số lượng để đáp ứng nhu cầu thực tiễn công tác
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu Chiến lược Dân số-SKSS giai đoạn 2011 -
2020, góp phần thực hiện thành công các chỉ tiêu, mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng nhiệm kỳ 2011-2015; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước và của huyện giai đoạn 2011-2020; đặc biệt là chủ động với những thách thức mới đang đặt ra cho công tác dân số; đòi hòi phải có các giải pháp đồng bộ và thực thi
có hiệu quả
Trang 93
Cùng với công tác dân số kế hoạch hóa gia đình trên cả nước, chính quyền huyện Tam Nông đã đạt được một số thành tựu cơ bản như: Đã đưa ra và thực hiện tốt chính sách giảm sinh, bồi dưỡng được những cán bộ có chuyên môn và nghiệp vụ tốt, nhận thức người dân về tầm quan trọng của DS-KHHGĐ tăng lên
rõ rệt,…tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất – kỹ thuật; nhận thức của nhân dân tăng lên nhưng còn chưa sâu; tình trạng dân cư dàn trải nên cán bộ ngành dân số gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức và lối sống mới Chính quyền huyện Tam Nông chưa thực sự quan tâm sâu sắc tới công tác dân số nên công tác bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, công tác dân
số còn chưa đạt hiệu quả cao vì thế chưa phát huy được vai trò của chính quyền cấp huyện trong việc thực hiện chính sách DSKHHGĐ
Những hạn chế, yếu kém trên ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác dân số và phát huy vai trò của chính quyền cấp huyện trong công tác dân số -
kế hoạch hóa gia đình, tôi chọn đề tài “Vai trò của chính quyền cấp huyện trong việc thực hiện chính sách dân số-KHHGĐ từ thực tiễn huyện Tam Nông - Phú Thọ” để nghiên cứu Từ đó đề xuất những giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động lãnh đạo và chỉ đạo của chính quyền cấp huyện trong công tác Dân số - KHHGĐ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Dân số là một đề tài lớn, thu hút rất nhiều các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu Chính vì vậy, có rất nhiều công trình được công bố về vấn đề này, như:
Về giáo trình:
Nguyễn Văn Thanh (2005), “Dân số học và Địa lý dân cư” NXB
ĐHKHXHNV HCM Công trình đã đưa ra một số vấn đề lớn như: Một số vấn đề
về nhập môn Dân số học; Vấn đề phân bố dân cư; Cơ cấu dân số; Biến động dân số; đặc biệt là khái quát tình hình dân số Việt Nam
Trang 104
Trường Cao đẳng y tế Hà Đông (2013), “Dân số học cơ bản” Công trình
đã đưa ra một số nội dung cơ bản về Nhập môn dân số ; chất lượng dân số và các yếu tố ảnh hưởng; Tình hình dân số địa phương và xây dựng tháp dân số của địa phương làm tiền đề nghiên cứu
Về Tạp chí, luận văn, có các công trình:
Dương Đình Thiện (2003), “Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ,
dân số kế hoạch hóa gia đình tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”, Tạp chí nghiên cứu Y học, số 22 (2) – 2003 Tác giả đã đưa ra những số liệu cho thấy các
bà mẹ chưa quan tâm tới sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp nhằm thực hiện kế hoạch hóa gia đình
Bùi Thị Hồng Lâm (2005), “Một số biện pháp quản lý nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quan hệ quốc tế của Đại học quốc gia Hà Nội trong bối cảnh hội nhập” Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục - Đại học Quốc gia Hà
Nội Tác giả đã đưa ra 3 vấn đề cơ bản: Thứ nhất, Cơ sở lý luận về quản lý nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quan hệ quốc tế; thứ hai, thực trạng năng lực đội ngũ làm công tác quan hệ quốc tế tại Đại học Quốc gia Hà Nội; thứ
ba, các biện pháp quản lý nhằm hình thành và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán
bộ làm công tác quan hệ quốc tế
Hoàng Công Mỳ (2008), “Vấn để sinh con thứ 3 + trở lên, thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và đề xuất các giải pháp” Tác giả đã đưa ra tổng quan về
huyện Bắc Sơn – Lạng Sơn; chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả sau đó đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng sinh con thứ 3 trở lên, nhấn mạnh đến đội ngũ cán
bộ ngành dân số Khóa Luận TN
Nhóm cán bộ dân số huyện Điện Biên – Lai Châu (2010), “Kiện toàn hệ thống tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở huyện Điện Biên Đông – tỉnh Lai Châu” Nhóm tác giả đã
khái quát đặc điểm tự nhiên, xã hội, chính trị của huyện Điên Biên Đông; sau đó
Trang 115
đưa ra thực trạng hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ở huyện rồi đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp cũng cố kiện toàn năng lực hệ thống bộ máy quản lý dân số - kế hoạch hóa gia đình Đề tài Tốt nghiệp
Nguyễn Thành Dũng (2012), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay” Luận án đã chỉ
ra thực trạng về trình độ, phẩm chất và đặc điểm địa lý – xã hội của các huyện thuộc tỉnh Tây Nguyên Sau đó, một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt trong tỉnh Tây Nguyên
Nguyễn Thị Hồng Hoa (2012), “Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác Truyền thông – Giáo dục về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình” Công
trình này tác giả đã đưa ra một số vấn đề lí luận, thực tiễn về dân số; chỉ ra thực trạng cán bộ làm công tác tuyên truyền dân số - kế hoạch hóa gia đình và đưa ra một số giải pháp để phát triển cán bộ dân số cơ sở của tỉnh Nghệ An
Nguyễn Kim Tuyến (2014), “Nâng cao chất lượng công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tính đến năm 2025” Luận văn
Thạc sĩ Kinh tế - Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Cồn trình đã đưa ra một số vấn đề chung về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; Thực trạng công tác dân số trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2010 – 2013; Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2025
Phạm Văn Hùng (2014), “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ dân số kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn huyện Gia Bình – tỉnh Bắc Ninh” Tác giả đã đưa
ra một số lý luận cơ bản về công tác DS – KHHGĐ; đưa ra thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ dân số, qua đó chỉ ra những giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ
DS – KHHGĐ huyện Gia Bình
Trang 12Nguyễn Duy Vương (2014), “Công tác xã hội với việc thực hiện dân số -
kế hoạch hóa gia đình của xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
Luận văn Thạc sĩ quản lý – Học viện Nông nghiệp Viêt Nam Tác giả chia ra làm
3 phần: Thứ nhất, là tổng quan về địa bàn nghiên cứu; thứ hai, là đưa ra thực trạng
về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình; cuối cùng, đưa công tác xã hội là vai trò với việc thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
Nguyễn Thị Thu Huyền (2015), “Nâng cao chất lượng dân số trên địa bàn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội” Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam Tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận của đề tài, kết quả nghiên cứu thực trạng chất lượng dân số rồi đưa ra một vài kiến nghị quan trọng trong việc thực hiện nâng cao chất lượng dân số ở huyện Gia Lâm
Nguyễn Thị Thu (2015), “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác dân số -
kế hoạch hóa gia đình tại huyện Quế Võ – tỉnh Bắc Ninh” Luận văn Thạc sĩ quản
lý Kinh tế Công trình này đã khái quát về công tác dân số huyện Quế Võ; đưa ra thực trạng về bộ máy tổ chức ngành công tác dân số rồi đưa ra biện pháp để nâng cao công tác dân số của huyện
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu, mỗi công trình lại nghiên cứu cách tiếp cận khác nhau về đội ngũ cán bộ lãnh đạo ngành dân số, nhân lực, Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về vai trò của chính quyền cấp huyện trong thực hiện chính sách dân số- KHHGĐ huyện Tam Nông - Phú Thọ
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của chính quyền cấp huyện trong việc thực hiện chính sách dân số -
kế hoạch hóa gia đình ở huyện Tam Nông- Phú Thọ
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Khảo sát trên địa bàn huyện Tam Nông;
Phạm vi thời gian: từ năm 1999 (là năm huyện Tam Nông được tách ra) tới nay
5 Cơ sở lý luận luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra đề tài, dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về dân số - kế hoạch hóa gia đình ở nước ta
Trang 148
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch cùng các phương pháp liên ngành, kết hợp phương pháp định tính và định lượng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về vai trò của chính quyền cấp huyện trong thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, từ đó nâng cao nhận thức về cần thiết phải nâng cao vai trò của chính quyền cấp huyện trên lĩnh vực này
Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả của quá trình nghiên cứu, luận văn cung cấp một số phương hướng, giải pháp phát huy vai trò của chính quyền cấp huyện trong thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay
Đồng thời, có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến vấn đề này
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo thì đề tài được chia thành 3 chương, 8 tiết:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của chính quyền cấp huyện trong thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
Chương 2: Thực trạng vai trò chính quyền huyện Tam Nông – Phú Thọ trong thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền cấp huyện trong việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
Trang 159
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ -
KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Dân số
Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý
hoặc một không gian nhất định, là nguồn lao động quý báu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thường được đo bằng một cuộc điều tra dân số và biểu hiện bằng một tháp dân số
Dân số được nghiên cứu ở trong các lĩnh vực riêng, trong một nhánh của sinh thái học có tên gọi sinh vật học, và trong di truyền học Trong động lực học về dân số, kích cỡ dân số, độ tuổi và cấu trúc giới tính, số người tử vong, tỉ lệ sinh và sự phát triển dân số được nghiên cứu
Dân số có rất nhiều cách hiểu khác nhau:
Dân số theo nghĩa thông thường là số lượng dân số trên một vùng lãnh
thổ, một khu vực địa lý nhất định
Dân số theo nghĩa hẹp là chỉ một cộng đồng người Bao gồm số lượng,
cơ cầu và chất lượng dân số
Theo Pháp lệnh dân số năm 2003 thì “Dân số là tập hợp người sinh
sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính”
Dân số bao gồm 4 yếu tố cơ bản sau: Quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và chất lượng dân số
Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa
lý kinh tế nhất định, hoặc đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định
Trang 1610
Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân thành các bộ phận theo tiêu
chí nhất định, như: Giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác
Phân bố dân cư là sự phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng địa lý
hoặc đơn vị hành chính
Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh
thần của toàn bộ dân số
Như vậy, dân số là khái niệm chỉ tập hợp người sinh sống trong một khu vực địa lí hoặc một không gian nhất định, có quy mô, cơ cấu, chất lượng xác định Sự biến động dân số thông qua tỷ lệ sinh – tử và di cư Chất lượng dân số phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của một cộng đồng dân cư Có rất nhiều chỉ báo đo lường chất lượng dân số và thường được phân thành các nhóm chỉ báo chính liên quan đến sự phát triển về sức khỏe, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của dân số (Tổng cục DS-KHHGĐ, 2013)
1.1.2 Kế hoạch hóa gia đình
Kế hoạch là đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ trong một thời gian nhất định để
hoàn thành một cách hiệu quả nhất
Kế hoạch hóa là hướng mọi hoạt động của cả hệ thống vào các mục tiêu,
để tạo khả năng đạt được mục tiêu một cách hiệu quả và kiểm soát được quá trình tiến hành nhiệm vụ
Kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực chung của Nhà nước, cả xã hội, để mỗi
cá nhân, mỗi cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng nuôi dạy, có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình (Quốc hội, 2003)
Như vậy, KHHGĐ là chủ động quyết định số con của mỗi cặp vợ chồng, khoảng cách giữa các lần sinh nở thông qua việc áp dụng các biện
Trang 1711
pháp tránh thai để có gia đình ít con, khỏe mạnh, giàu có, hạnh phúc, ổn định, phồn vinh KHHGĐ sẽ giúp con cái được hưởng nền giáo dục, y tế hiện đại, chất lượng nhằm xây dựng một xã hội phát triển, tiên tiến, hiện đại
Trung tâm dân số - kế hoạch hóa gia đình huyện là đơn vị sự nghiệp
trực thuộc UBND huyện, có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật, truyền thông giáo dục về DS-KHHGĐ trên địa bàn huyện
Trung tâm DS-KHHGĐ huyện chịu sự quản lý toàn diện của UBND huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật về dịch vụ KHHGĐ, truyền thông giáo dục của Chi cục DS-KHHGĐ, sở y tế và các Trung tâm liên quan ở cấp trên
Trung tâm DS-KHHGĐ huyện có tư cách pháp nhân, có trụ sở, có con dấu và có tài khoản riêng
1.1.3 Dân số - kế hoạch hóa gia đình
Dân số - kế hoạch hóa gia đình là sự điều chỉnh con số và khoảng cách sinh con bằng sự cố gắng và có ý thức của các cặp vợ chồng Việc điều chỉnh con số này bao gồm cả việc lựa chọn các phương pháp tránh thai khác nhau Công tác kế hoạch hóa gia đình chủ yếu là làm giảm sự gia tăng dân số đối với những nước đang phát triển Ngược lại, đối với những nước phát triển kinh tế ổn định, dân số già thì kế hoạch hóa gia đình là sự khuyến khích gia tăng dân số
1.1.4 Chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
Chính sách dân số là việc nghiên cứu, quản lý và tổ chức thực hiện các
hoạt động tác động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số
Chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình là biện pháp chủ yếu để
Trang 18Chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình là nghiên cứu, thực hiện để
cung cấp thông tin, kiến thức cho người dân, làm chuyển biến thái độ từ tiêu cực đến tích cực và cuối cùng là họ chuyển đổi hành vi, thực hiện KHHGĐ Đây là một quá trình phức tạp, lâu dài bởi vì quá trình này diễn ra ở từng gia đình, từng người sống trong cộng đồng làng, xã và chịu ảnh hưởng trực tiếp của nếp sống cộng đồng ấy về mọi mặt kinh tế, văn hóa, tâm lý truyền thống Mặt khác, thực hiện KHHGĐ là sự tự nguyện của mỗi người dân, do đó phải tiến hành đồng bộ các hoạt động tuyên truyền ở mọi thời gian, mọi địa điểm
và trong mọi hoạt động thích hợp một cách liên tục, thường xuyên (Tổng cục DS-KHHGĐ, 2013)
1.1.5 Chính quyền cấp huyện
Chính quyền cấp huyện là Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận trực thuộc
thành phố, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã Ủy Ban nhân dân cấp huyện có từ 9-13 thành viên, gồm Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch và các Ủy viên Thường trực
ủy ban nhân dân cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch và Ủy viên thư
ký Người đứng đầu Ủy ban Nhân dân cấp huyện là Chủ tịch UBND, trên danh nghĩa là do HĐND huyện sở tại lựa chọn Thông thường, Chủ tịch
UBND sẽ đồng thời là Phó Bí thư huyện ủy
Trang 19an huyện,…
Chính quyền cấp huyện ở nước ta là một bộ phận hợp thành của chính
quyền Nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước ở huyện do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra (HĐND huyện) và các cơ quan, tổ chức Nhà nước khác được thành lập trên cơ sở các
cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước này theo qui định của Pháp luật (UBND huyện, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, Thường trực HĐND huyện, các ban của HĐND huyện …), nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước
1.2 Vai trò của chính quyền cấp huyện trong thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
Vai trò của chính quyền cấp huyện được quy định trong bản Hiến pháp
2013, kế thừa những thành tựu của các bản Hiến pháp trước đó, nhưng sự thay đổi những nội dung trong Hiến pháp 2013 thể hiện tư duy đổi mới về
Trang 2014
hoạt động của nhà nước Việt Nam, đặc biệt là chính quyền địa phương các cấp
Trước hết, không chỉ riêng cấp huyện, cơ quan quản lý nhà nước ở địa
phương được thống nhất bằng tên gọi chung là “Chính quyền địa phương”
Tên gọi này phản ánh đúng thông lệ quốc tế và đồng thời cũng thể hiện tính thống nhất trong quản lý Nhà nước đối với các vấn đề ở địa phương thuộc về một tổ chức là chính quyền địa phương
Hiến pháp 2013 cũng như Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định cụ thể hơn về thẩm quyền của chính quyền địa phương Cụ thể, chính quyền địa phương có vai trò:
Thứ nhất, tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật tại địa
phương
Thứ hai, quyết định các vấn đề của địa phương theo luật định
Trong một nhà nước đơn nhất như nước ta, nhiệm vụ cơ bản, hàng đầu của chính quyền địa phương là tổ chức và bảo đảm thực hiện Hiến pháp, pháp luật tại địa phương Đồng thời, chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm
vụ xuất phát từ đặc thù của địa phương Việc thực hiện hai nhiệm vụ quan trọng này đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà nước cấp trên
Thực tế, chính quyền địa phương các cấp trong nhà nước đơn nhất chỉ đóng vai trò thực thi quyền hành pháp hay là một phận cấu thành bộ máy hành pháp Nếu như ở Trung ương, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội thì ở địa phương, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là những cơ quan thực thi quyền hành pháp
Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chính quyền đô thị và chính quyền nông
Trang 2115
thôn Chi tiết về quy định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng như cơ cấu
tổ chức bộ máy xem Luật Tổ chức chính quyền địa phương
Thực hiện chính sách DS-KHHGĐ là sứ mệnh của chính quyền cấp huyện, đây là nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho Chính quyền huyện
ủy có trách nhiệm chăm nom cuộc sống và chăm sóc sức khỏe của người dân, xây dựng một xã hội lấy tiêu chí phát triển con người làm trung tâm, để con người sẵn sàng bước vào thời kỳ mới với tâm thế mới Để làm được điều đó, chính quyền cấp huyện cần quan tâm tới vấn đề DS-KHHGĐ hơn nữa, điểm khởi đầu là chăm sóc và giáo dục gia đình – tế bà của xã hội
Đối với việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, chính quyền địa phương cấp huyện thực hiện các vai trò sau:
1.2.1 Xây dựng, lập kế hoạch và lãnh đạo việc tổ chức thực hiện chính sách
Xây dựng Kế hoạch phối hợp với Ban Tuyên giáo Huyện ủy đưa nội dung công tác Dân số và Phát triển vào Bản tin sinh hoạt hàng tháng, gửi đến các chi, Đảng bộ trên địa bàn huyện
Xây dựng các chuyên mục về DS-KHHGĐ trên đài phát thanh, truyền
hình, trang thông tin điện tử huyện
Phối hợp với Trung tâm văn hóa - TT kẻ vẽ khẩu hiệu, các panô, áp phích, treo băng zôn trên các trục đường chính của huyện, hướng dẫn, giám
sát hoạt động truyền thông tại xã, thị trấn
Phối hợp với Trường THPT Hưng Hóa, Mỹ Văn, Tam Nông tổ chức truyền thông cho vị thành niên về sức khẻo sinh sản vị thành niên thanh niên trong nhà trường
Tổ chức mít tinh, diễu hành (nhân các sự kiện 11/7, 26/12), gặp gỡ, động viên và biểu dương các cộng tác viên dân số khu dân cư tiêu biểu
Tuyên truyền tiếp thị xã hội và xã hội hóa các phương tiện tránh thai
Trang 2216
1.2.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Công tác truyền thông giáo dục về vận động giảm sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại, mất cân bằng giới tính khi sinh, bình đẳng giới, chăm sóc SKSS/KHHGĐ, nâng cao chất lượng dân số… được duy trì và tăng cường trên các phương tiện thông tin đại chúng, trực tiếp tại cộng đồng, vùng khó khăn, có mức sinh cao, đã từng bước tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành vi của người dân trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác Dân số và phát triển
Tổ chức các hoạt động truyền thông như: Chiến dịch Dân số mùa xuân,
mùa thu; triển khai thể lệ cuộc thi vẽ tranh “Yêu an toàn- Vạn điều hay” và
cuộc thi ảnh với chủ đề “Cộng đồng chung tay chăm sóc sức khỏe người cao tuổi” trên mạng xã hội năm 2017; truyền thông nhân các sự kiện ngày Quốc
tế người cao tuổi 01/10, ngày Quốc tế trẻ em gái 11/10; Ngày Dân số thế giới 11/7; Ngày Dân số Việt Nam 26/12, tháng hành động Quốc gia về Dân số
Các hoạt động truyền thông tiếp tục được duy trì với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ Dân số, cộng tác viên ở cơ sở bằng nhiều hình thức như: Tuyên truyền trực quan với băng rôn, pa nô, mảng tường; tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh; truyền thông trực tiếp, tư vấn gặp gỡ tại nhà nhằm vận động các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ…tự nguyện chăm sóc SKSS/KHHGĐ, nâng cao chất lượng cuộc sống
Hoạt động truyền thông, giáo dục thay đổi hành vi về DS-KHHGĐ được mở rộng về phạm vi, đối tượng, đổi mới phương pháp và hình thức tuyên truyền, huy động các lực lượng xã hội tham gia; các cơ quan thông tin đại chúng, các đoàn thể, tổ chức xã hội đã tập trung tuyên truyền đến các đối tượng phụ nữ có chồng dưới 30 tuổi, vị thành niên, thanh niên, nam giới, người có uy tín trong cộng đồng Đưa nội dung thực hiện chính sách DS-KHHGĐ vào bản tin sinh hoạt hàng tháng, gửi đến các chi, Đảng bộ trực
Trang 2317
thuộc Hằng năm, UBND huyện đã ban hành Kế hoạch tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm Ngày Dân số thế giới 11/7; Tháng hành động Quốc gia
về Dân số và Ngày Dân số Việt nam 26/12
Công tác truyền thông giáo dục thay đổi hành vi về DS-KHHGĐ được
triển khai sâu rộng với thông điệp chủ đạo “Kiên trì thực hiện mục tiêu mỗi
gia đình có một hoặc hai con” Công tác phối hợp giữa Trung tâm
DS-KHHGĐ và các ngành được tăng cường và duy trì; tổ chức nói chuyện chuyên đề về DS/SKSS, phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh sản, những chính sách DS-KHHGĐ cho các đối tượng là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở các khu dân cư trên địa bàn huyện
Chỉ đạo Đài truyền thanh huyện phối hợp với Trung tâm DS-KHHGĐ viết các tin, bài và phát trên hệ thống truyền thanh của huyện về các hoạt động trong chiến dịch, Pháp lệnh sửa đổi, nội dung Nghị quyết 26-NQ/TU, in sao đĩa nội dung tuyên truyền trong ngày cổ động Tháng hành động Quốc gia
về Dân số và Ngày dân số Việt Nam 26/12 Chỉ đạo Phòng Văn hóa và thông tin làm Panô tuyên truyền, cắt treo băng zôn tuyên truyền trong các đợt chiến dịch và tuyên truyền cao điểm Ngày Dân số thế giới 11/7 và Ngày Dân số Việt Nam 26/12 Tổ chức cổ động diễu hành trong Tháng hành động Quốc gia
về dân số Duy trì các hoạt động của các mô hình Câu lạc bộ; tổ chức chiến dịch tăng cường tuyên truyền vận động lồng ghép với dịch vụ SKSS/KHHGĐ Các hoạt động truyền thông đã được tăng cường tập trung ở những địa bàn trọng điểm vùng có mức sinh cao và tỷ lệ sinh con thứ 3 cao; các hoạt động truyền thông trực tiếp tư vấn gặp gỡ tại nhà được đẩy mạnh
Các hoạt động truyền thông ở tuyến xã được duy trì và đẩy mạnh với sự
nỗ lực của cán bộ dân số xã, thị trấn, tuyên truyền viên ở cơ sở như: Viết tin bài phát thanh trên hệ thống truyền thanh xã, thị trấn; kẻ áp phích, pa nô tuyên
Trang 2418
truyền, cắt treo băng zôn qua đường, tuyên truyền nhóm, tư vấn tại hộ, tranh ảnh, tờ rơi đã được cấp đến tay các đối tượng truyền thông
1.2.3 Phân công, phối hợp tổ chức thực hiện chính sách
Xây dựng Kế hoạch phối hợp với Ban Tuyên giáo Huyện ủy đưa nội dung công tác Dân số và Phát triển vào Bản tin sinh hoạt hàng tháng, gửi đến các chi, Đảng bộ trên địa bàn huyện
Xây dựng các chuyên mục về DS-KHHGĐ trên đài phát thanh, truyền
hình, trang thông tin điện tử huyện
Phối hợp với Đài Truyền thanh huyện tăng cường thời lượng phát sóng
các đợt tuyên truyền về công tác Dân số và phát triển; Tập trung các chủ đề liên quan đến ngành Dân số như: Ngày tan máu bẩm sinh 8/5, ngày tránh thai thế giới 26/9, ngày Dân số thế giới 11/7, ngày 01/10 ngày Quốc tế người cao tuổi, ngày 11/10 ngày trẻ em gái; tháng hành động Quốc gia về Dân số và ngày Dân số Việt Nam 26/12
Phối hợp với công đoàn Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Phú Thọ
và công ty khổ phần sản xuất thương mại Kim Sen tại cụm khu công nghiệp Trung Hà truyền thông cho các chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ chủ động chăm sóc sức khỏe phụ nữ thời kỳ hiện đại
Phối kết hợp với UBND các xã, thị trấn tổ chức Hội nghị phổ biến chính sách pháp luật DS-KHHGĐ trong giai đoạn hiện nay; thành phần lãnh đạo đảng ủy, HĐND, UBND các ban, ngành, đoàn thể xã, BT chi bộ trưởng khu dân cư, Ban công tác MT khu dân cư, Chi Hội phụ nữ, CTV dân số
Phối hợp với Trung tâm Y tế tổ chức cung cấp dịch vụ KHHGĐ thường xuyên và trong các đợt chiến dịch ở các xã, thị trấn; lựa chọn cán bộ tham gia đội dịch vụ lưu động
Phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ huyện truyền thông cho chị em phụ
nữ trong độ tuổi sinh đẻ chủ động chăm sóc sức khỏe phụ nữ thời kỳ hiện đại
Trang 2519
tại 20 xã, thị trấn nhân dịp ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, ngày Phụ nữ Việt nam 20/10 thu hút được 6500 chị em tham gia
1.2.4 Triển khai, thực hiện chính sách
Thứ nhất, cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy
đảng, chính quyền trong chính sách DS-KHHGĐ Đồng thời, cần huy động cả
hệ thống chính trị vào thực hiện chính sách DS-KHHGĐ; trong đó, phát huy mạnh mẽ sự tham gia, sự vào cuộc của những người có uy tín trong cộng đồng như trưởng khu, trưởng dòng họ, các chức sắc tôn giáo,… để tạo sức mạnh của toàn xã hội cho công tác DS-KHHGĐ
Thứ hai, trong quá trình thực hiện chính sách DS-KHHGĐ phải có sự
phối hợp hoạt động hiệu quả giữa Trung tâm DS-KHHGĐ với các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội; thực hiện xã hội hóa rộng rãi chính sách DS-KHHGĐ, huy động sự tham gia của mọi tầng lớp Nhân dân Duy trì bộ máy chuyên trách DS-KHHGĐ ở các cấp ổn định, cán bộ làm chính sách DS-KHHGĐ tại các xã, thị trấn phải là người địa phương, thường xuyên bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số cơ sở
Thứ ba, công tác tuyên truyền, giáo dục, truyền thông DS-KHHGĐ
phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ dưới nhiều hình thức, để làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân hiểu rõ lợi ích và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện chính sách này, tự giác chấp nhận
mô hình gia đình nhỏ (2 con) để nuôi và dạy cho tốt
Thứ tư, phải có chế tài đủ mạnh, đủ sức răn đe những trường hợp vi
phạm chính sách DS-KHHGĐ, sinh con thứ ba trở lên phải được xử lý nghiêm; coi trọng tính tiên phong, vai trò đầu tàu gương mẫu của cán bộ, đảng viên
Trang 2620
Thứ năm, cần bố trí kinh phí đảm bảo đáp ứng cho các hoạt động của
chính sách DS-KHHGĐ; kết hợp có hiệu quả các nguồn lực với tăng cường
xã hội hóa trong quá trình thực hiện để góp phần quan trọng vào thành công đối với chính sách DS-KHHGĐ
1.2.5 Kiểm tra, đánh giá và giám sát quá trình thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Công tác kiểm tra, đánh giá là một trong những biện pháp góp phần hoàn thiện chính sách DS-KHHGĐ Đây cũng là tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ trực tiếp thực hiện, cũng như là đánh giá tầm quan trọng của chính quyền trong mặt trận này
Hằng tháng, BTV huyện ủy Tam Nông phối hợp với Trung tâm Dân số huyện kiểm tra đột xuất kết quả thực hiện chính sách DS-KHHGĐ trên địa bàn huyện, đoàn thanh tra sẽ chi thành các nhóm khác nhau, nếu có phát hiện sai phạm trong thực hiện cũng như báo cáo kết quả thì huyện ủy có chế tài trừng phạt nghiêm khác
Công tác kiểm tra cũng là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ cuối năm, lĩnh vực DS-KHHGĐ được lãnh đạo huyện ủy quan tâm nhất Việc giám sát quá trình thực hiện là một khâu then chốt để phản ánh kịp thời sự chỉ đạo của huyện ủy có quyết liệt và mạnh mẽ hay không
Mỗi một tổ chức, cơ quan trực thuộc huyện ủy đều có trách nhiệm báo cáo khi có vi phạm, đồng thời cũng đề xuất phương án xử lý Bởi vì, vấn đề DS-KHHGĐ là một lĩnh vực nhạy cảm, liên quan tới con người nên việc đánh giá, giám sát cần khách quan và công tâm
Kết luận chương 1
Công tác dân số là một mặt trận rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới Giải quyết được vấn đề dân số sẽ tạo
Trang 27Trong những năm qua, chính quyền huyện Tam Nông đã nỗ lực không ngừng nghỉ huy động mọi nguồn lực, chủ yếu là các đơn vị chăm sóc sức khỏe trên địa bàn huyện luôn không ngừng cố gắng thực hiện chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, qua đó khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm đặc biệt của chính quyền tới mặt trận này UBND huyện không ngừng tuyển chọn những cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao để thực hiện chính sách DS-KHHGĐ ngày càng có hiệu quả, tiến tới hoàn thành thắng lợi về mặt trận DS-KHHGĐ
Trang 2822
Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN TAM NÔNG – PHÚ THỌ TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ - KẾ
HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 2.1 Các yếu tố tác động đến vai trò của chính quyền huyện Tam Nông trong thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
Điều kiện tự nhiên
Ngay từ khi mới lập các tỉnh ở Bắc Kỳ (năm 1831), huyện Tam Nông
đã tách khỏi tỉnh Sơn Tây để nhập vào tỉnh Hưng Hóa, làm nơi đặt tỉnh lị tỉnh Hưng Hóa Thị xã Hưng Hóa (thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1895, vốn
là thành Hưng Hóa), đóng tại xã Trúc Khê, huyện Tam Nông (nay là thị trấn Hưng Hóa, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ)
Theo Quyết định số 178-CP ngày 5-7-1977 của Hội đồng Chính phủ, về việ hợp nhất và điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phú, trong đó hợp nhất hai huyện Tam Nông và huyện Thanh Thủy thành huyện Tam Thanh Năm
1999, lại tách ra thành hai huyện như cũ
Sau 22 năm sát nhập với huyện thanh thủy thành huyện Tam Thanh, Ngày 24/7/1999 Chính Phủ ban hành Nghị định số 59/1999/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính và chia các huyện Phong Châu và Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ Theo Nghị định này, huyện Tam Nông được tái lập và chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 01/9/1999
Diện tích: Tam Nông có diện tích tự nhiên là 15.596,92ha ha (155,97 km²), gồm 20 đơn vị hành chính là các xã: Hùng Đô, Quang Húc, Hiền Quan, Thanh Uyên, Tam Cường, Văn Lương, Cổ Tiết, Hương Nộn, Thọ Văn, Dị Nậu, Dậu Dương, Thượng Nông, Hồng Hà, Phương Thịnh, Tề Lễ, Tứ
Mỹ, Xuân Quang, Hương Nha, Vực Trường và thị trấn Hưng Hóa Địa giới
Trang 2923
hành chính: Phía đông giáp huyện Lâm Thao, phía đông nam giáp thành phố Hà Nội Phía tây giáp các huyện Cẩm Khê (tây bắc), Yên Lập (tây), Thanh Sơn (tây nam) Phía nam giáp huyện Thanh Thủy Phía bắc giáp huyện Thanh Ba (tây bắc) và thị xã Phú Thọ
Điều kiện tự nhiên của huyện Tam Nông phần lớn bao gồm nhiều trung
du và miền núi, diện tích tương đối lớn, có nhiều xã nằm ở vùng sâu vùng xa,
cơ sở hạ tầng còn chưa phát triển, đường đi vào xã còn nhiều khó khăn Chính
vì vậy việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ ở Tam Nông, đặc biệt là các xã vùng sâu vùng xa còn rất nhiều hạn chế, việc áp dụng chính sách dân số vào từng địa phương còn nhiều vấn đề bất cập
Tình hình kinh tế - xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết, hòa hợp giữa
“lòng dân, ý Đảng”, Đảng bộ huyện Tam Nông đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân phát huy nội lực, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi Kinh tế - xã hội tiếp tục tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng; sản xuất nông nghiệp, công nghiệp duy trì tăng trưởng khá, các lĩnh vực dịch vụ giữ ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển của nền kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 tăng cao, ước đạt 12,1% (kế hoạch năm là 9,2%), trong đó: Nông, lâm nghiệp tăng 4,2%, công nghiệp - xây dựng tăng 30,2%, dịch vụ tăng 5,2% Giá trị tăng thêm bình quân đầu người (theo giá thực tế) ước đạt 23,4 triệu đồng, tăng 6,4% so với kế hoạch (Kế hoạch 22 triệu đồng/người/năm), tăng 17% so với cùng kỳ Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông lâm nghiệp 35,9%, công nghiệp -
Trang 30UBND huyện Tam Nông chỉ đạo nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả trong nông nghiệp; mở rộng các vùng sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao đáp ứng yêu cầu thị trường: Mô hình phát triển rau, củ, quả an toàn, phát triển cây bưởi Diễn, cây chè, cây chuối để thay thế dần các cây trồng kém hiệu quả; khuyến khích phát triển, hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản; tăng cường đầu tư cho công tác tập huấn và chuyển giao giống mới, khoa học kỹ thuật; khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng gia trại, trang trại và đảm bảo vệ sinh môi trường; tập trung chỉ đạo chuyển mạnh phương thức chăn nuôi
Nhìn chung, tình hình kinh tế huyện Tam Nông so với những năm trước đây đã có sự khởi sắc lớn, tuy nhiên xét trên phạm vi trung bình tỉnh Phú Thọ nói chung thì Tam Nông vẫn là một xã nghèo Nhân dân ngoài trồng lúa thì không có nghề phụ để mưu sinh thêm, vì vậy trên địa bàn huyện có rất nhiều xã nghèo, nhất là những xã vùng sâu vùng xa Kinh tế nghèo nàn dẫn tới chất lượng cuộc sống con người còn thấp, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, khám chữa bệnh cho người dân còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Ở một vài xã còn quan niệm có bệnh phải gặp “Thầy
Trang 3125
Mo”, bỏ học kết hôn sớm hay tồn tại quan niệm cổ hủ “càng đông con càng nhiều phúc” Đây là những khó khăn lớn trong thực hiện chiến lược DS-KHHGĐ của huyện Trong thời gian tới, UNBD huyện cần thực hiện nhiều chương trình kinh tế nhằm tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thực hiện một xã hội giàu mạnh Chỉ có như vậy mới góp phần thực hiện tốt chính sách dân số của huyện nhà
- Văn hóa, phong tục, tập quán
Tam Nông là huyện miền núi, mặc dù còn nhiều khó khăn, tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của chính quyền huyện ủy, cùng với sự nỗ lực cố gắng của nhân dân, vấn đề văn hóa cũng như phong tục, tập quán có nhiều nét đặc sắc, như:
Trẻ em đến độ tuổi đi học đều được đến trường, giữ vững phổ cập giáo dục Tiểu học, đạt phổ cập Trung học cơ sở đúng độ tuổi, phấn đấu đạt phổ cập bậc Trung học (phổ thông), Nhiều làng, xã, thị trấn có tủ sách, thư viện, phục vụ cho nhu cầu học tập của người dân; thôn, xóm có nhà văn hóa, sân kho phục vụ cho các hoạt động cộng dồng của nhân dân
Tỷ lệ làng, khu dân, xã, thị trấn cư đạt tiêu chuẩn văn hóa cao, đời sống tinh thần phong phú đa dạng Hằng năm có nhiều lễ hội được tổ chức, có thể
kể đến như hát xoan, hát trầu văn, hội khỏe phù đổng Tục ma chay, cưới hỏi được tổ chức theo hướng đề cao tiết kiệm, lãng phí, phô trương
Khai thác mọi nguồn lực, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại, tập trung vào lĩnh vực giao thông, giáo dục, văn hóa và xử lý ô nhiễm môi trường
Phát triển văn hóa-xã hội tương xứng với phát triển kinh tế; gắn kết chặt chẽ phát triển văn hóa với kinh tế, chính trị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; nâng cao chất lượng con người tạo điều kiện tốt hơn
để thực hiện chính sách DS-KHHGĐ huyện Tam Nông
Trang 3226
2.1.2 Điều kiện về dân số huyện Tam Nông
Quy mô và cơ cấu dân số
Tam Nông là huyện có quy mô dân số lớn, năm 2017: 85.852 người, trong đó 18,3% là người theo công giáo Mật độ 550,4 người/km², cao hơn
bình quân cả nước (283 người/km²) 65% dân số sống tại miền trung du, 35% dân sống tại miền núi
Từ năm 1999 tới nay, trung bình một phụ nữ một phụ nữ sinh lài 2,6 con, nhưng từ năm 2000 cho đến nay tỉ lệ sinh đã giảm xuống còn 2,4 con, duy trì mỗi cặp vợ chồng nên sinh 2 con
Dưới đây là tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên từ Năm 2009 - 2017 trên địa bàn huyện Tam Nông
Trang 33số sinh con thứ 3 trở lên tăng ( Năm 2009: 2 đảng viên, năm 2017: 19 đảng viên Trong đó đảng viên ngành giáo dục chiếm 27,8% , đảng viên nông thôn chiếm 41,23%, đảng viên công chức chiếm: 30,9 % đã tác động không nhỏ đến công tác DS-KHHHGĐ trên địa bàn huyện đã tạo nên cản trở cho việc tuyên truyền, giáo dục người dân thực hiện chính sách DS-KHHGĐ
Vấn đề sinh con thứ 3 trở lên đang tăng trở lại trên địa bàn huyện Tam Nông nói riêng cũng như các huyện khác trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung, làm cho việc thực hiện các mục tiêu mức sinh, sinh con thứ 3 trở lên, mất cân
Trang 34Tuổi thọ trung bình là 70 năm (nam: 70 năm, nữ: 70 năm) Tuổi thọ ngày càng tăng, tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng nhanh, sẽ đạt 10% vào cuốn năm
2017 Tuy nhiên, chỉ có 5% người cao niên có sức khỏe tốt, số còn lại 95% sống không khỏe, mang nhiều thứ bệnh như: cao huyết áp, tiểu đường, viêm khớp, phế quản tắc nghẽn mạn tính, mất trí nhớ,…
Tam Nông đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, tỷ trọng dân số từ 15-64 tuổi chiếm 67,4%, cao gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc (dưới 15 và trên 65 tuổi) Theo dự báo, giai đoạn này sẽ kéo dài khoảng 30-35 năm Đây là một lợi thế cho phát triển kinh tế-xã hội, song gắn liền với nó là những thách thức về việc làm, giáo dục, an sinh xã hội
Tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh đang ở mức khá cao và có xu hướng tăng (năm 2012: 105 nam/100 nữ, 2013: 109 nam/100 nữ, 2014: 118 nam/100 nữ; năm 2015: 109 nam/ 100 nữ; năm 2016: 114 nam/ 100 nữ)
Quy mô và cơ cấu dân số của huyện lớn, đây cũng có thể coi là thách thức trong chiến dịch DS-KHHGĐ Dân số đông nhưng chất lượng thấp, trình
độ dân trí thấp, sinh đẻ nhiều lại không có kế hoạch thế nên cuộc sống con người còn nhiều khó khăn Việc chăm sóc sức khỏe cũng như dịch vụ khám chữa bệnh chưa được đảm bảo, tỷ lệ người dân tham gia cam kết không sinh con thứ 3 đã tăng lên nhưng nhìn chung còn thấp Số lượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cao nhưng kiến thức về sinh đẻ còn hạn chế, chưa được trang bị đầy đủ kiến thức sinh sản đã gây ra khó khăn trong chỉ đạo thực hiện chính sách DS-KHHGĐ của chính quyền huyện Tam Nông
Trang 3529
Chất lượng dân số
Chỉ số phát triển con người (HDI) của huyện đang từng bước được cải thiện Tuổi thọ trung bình 70 tuổi (năm 2016); tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng như nhẹ cân là 14,3%, thấp còi 18,3% (2016) Tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết 96,2% (2016) Thu nhập bình quân đầu người đạt 4,200,000 đồng (2016)
Chất lượng dân số có mặt hạn chế, đó là tỷ lệ người bị khuyết tật của huyện chiếm 4,3% dân số, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật mới đạt 12,6%, mức độ hưởng thụ các dịch vụ y tế-sức khỏe sinh sản-phúc lợi xã hội còn ở mức thấp Đây cũng là thách thức đặt ra cho chính quyền trong việc nâng cao chất lượng con người trong thời kỳ mới
2.1.3 Năng lực của chính quyền cấp huyện
Thứ nhất, là năng lực lãnh đạo, quản lý của chính quyền cấp huyện
Là khả năng phán đoán, dự báo, khả năng xử lý tình huống, khả năng hành động của cán bộ lãnh đạo trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước Khả năng dự báo, phán đoán thực chất là nhà lãnh đạo nhìn về tương lai, đó là ý tưởng về tương lai mà hệ thống tổ chức đưa ra Tầm nhìn là một dạng chiến lược mà hệ thống quản lý hành chính cần hướng tới Nó chỉ ra con đường cần đi, các giai đoạn cần vượt qua, đây là nơi để huy động sức lực của cán bộ, nó cho phép chính quyền nắm được các đặc điểm của hệ thống tổ chức theo hình dung của hệ thống Chính quyền cần nguồn lực như thế nào để giải quyết tốt mọi vấn đề trong địa bàn mình quản lý Khả năng xử lý tình huống giúp chính quyền giải quyết tốt mọi vấn đề phát sinh, đúng lúc, đúng người, đúng việc
Trong mọi vấn đề, chính quyền cần biết dung hòa giữa chiến lược của
tổ chức với hiệu quả giải quyết mọi vấn đề, có đội ngũ nhân lực lãnh đạo, quản lý tốt sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả thực hiện nhiệm vụ được giao
Trang 3630
Thứ hai, năng lực thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ
Con người là trung tâm của mọi yếu tố, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo làm nhân lực chính cho chính quyền tạo ra vốn quý để phát huy vai trò của chính quyền cấp huyện trong chính sách DS-KHHGĐ
Phát huy tối đa nhân tố con người mà chủ chốt là cán bộ cấp huyện với vai trò là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là nhân tố quyết định trong việc nâng cao vai trò của chính quyền cấp huyện trong công tác
Chính sách DS-KHHGĐ luôn được xác định là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta Thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ đòi hỏi nhân lực phải đảm bảo cả tâm và tầm, nhất là với những cán bộ trực tiếp đảm nhiệm công tác dân số
Con người chính là lực lượng sản xuất của mỗi thời kỳ lịch sử, là nhân
tố quyết định của nền kinh tế mỗi quốc gia Chính vì vậy những vấn đề liên quan tới dân số, như: Quy mô, mật độ, chất lượng dân số, tỉ lệ sinh - tử,… cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Nguồn nhân lực chính là hạt vàng của mỗi đất nước, Chủ tịch Hồ Chí
Minh từng nói: “Nước nhà cần phải kiến thiết Kiến thiết cần phải có nhân tài” [27, tr.504] Nhân tài là nguồn nhân lực tốt nhất để phát triển xã hội, nhân
lực ở trình độ cao sẽ tạo động lực cho xã hội đi lên Mục đích cuối cùng của chính quyền cấp huyện là hoạch định và đáp ứng ngày càng cao cuộc sống của con người
Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao thì chính quyền cấp huyện cần phải có những cán bộ bản lĩnh, có kỷ cương và đường lối cùng trái tim nhiệt huyết luon hướng tới nhân dân trong mọi vấn đề Mỗi cán bộ luôn phải không ngừng trau dồi bản lĩnh chính trị cũng như kiến thức chuyên môn để năng cao
Trang 37Thứ ba, năng lực tổ chức bộ máy rõ ràng, thực hiện chức năng lãnh
- Kiểm tra việc chấp hành chính sách DS-KHHGĐ trên địa bàn các xã trực thuộc, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân
Thứ tư, năng lực về cơ sở vật chất kỹ thuật
Hiện nay, cơ sở vật chất của chính quyền cấp huyện được xây dựng ngày càng hoàn thiện, có đầy đủ phòng họp và phòng làm việc, phòng khách,…đặc biệt là trung tâm Dân số huyện để phục vụ cho những công việc chung, thực hiện vai trò của chính quyền cấp huyện trong chính sách DS-KHHGĐ
UBND và HĐND đều được trang bị những thiết bị hiện đại như: máy chiếu, máy tính, máy in,… và xây dựng được trung tâm y tế huyện, trạm y tế
Trang 38Một chính sách về DS-KHHGĐ được ban hành ra đều dựa trên quan điểm thống nhất của tất cả các ban ngành có liên quan, cũng chính vì vậy mà việc thực hiện chính sách này phải đồng bộ, tuân thủ trên thực tế, điều này cũng thể hiện uy tín, năng lực tổ chức thực hiện chính sách trên thực tế của chính quyền địa phương
2.1.5 Đội ngũ cán bộ cán bộ trực tiếp vận động và thực hiện chính sách
Công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình là một mặt trận chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế của huyện, chính vì vậy, lực lượng cán bộ hoạt động trên lĩnh vực này cũng luôn được đảm bảo cả về số lượng và chất lượng Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của chính quyền huyện, Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách DS-KHHGĐ đã được thành lập, bao gồm sự kết hợp của Trung tâm Dân số, Trung tâm Y tế và Bệnh viện Đa khoa huyện
Ban Chỉ đạo công tác Dân số và Phát triển từ huyện đến cơ sở được kiện toàn khi có sự thay đổi, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên ban chỉ đạo đi vào hoạt động ổn định Trưởng Ban chỉ đạo đã ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cụ thể cho thành viên phụ trách địa bàn
Trang 3933
Để thực hiện có hiệu quả chính sách DS-KHHGĐ thì cần có đội ngũ cán bộ có trình độ hiểu biết về luật pháp, chính sách, sức khỏe sinh sản, Luôn đặt hiệu quả công việc lên hàng đầu để hoàn thành thắng lợi chung Đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách DS-KHHGĐ mặc dù còn nhiều khó khăn về trình độ chuyên môn, điều kiện công tác,…tuy nhiên, cán bộ ngành Dân số luôn làm việc trên tinh thần tận tụy, cống hiến để hướng tới mục tiêu chung nhằm thể hiện vị thế và nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền cấp huyện nói chung, Ban lãnh đạo ngành Dân số nói riêng
Ở huyện Tam Nông Phú Thọ, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy
và sự chỉ đạo của chính quyền huyện, Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách KHHGĐ đã được thành lập, trưởng BCĐ Phó chủ tịch huyện, phó BCĐ phó giám đốc Trung tâm DS- KHHGĐ, thành viên là trưởng các ban, ngành tham gia BCĐ gồm các thành viên là trưởng các phòng, ban, ngành như: MTTQ, Tuyên giáo, Dân vận, Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh, liên đoàn lao động, Thanh niên, Y tế, Nội vụ, Giáo dục, Tư pháp
DS-Ban Chỉ đạo công tác Dân số và Phát triển từ huyện đến cơ sở được kiện toàn khi có sự thay đổi, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên ban chỉ đạo đi vào hoạt động ổn định Trưởng Ban chỉ đạo đã ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cụ thể cho thành viên phụ trách địa bàn
Tuyến huyện gồm 3 đơn vị:
Trung tâm Dân số: có 07 viên chức (01 giám đốc, 01 phó giám đốc, 04 viên chức có trình độ đại học và 03 viên chức có trình độ trung cấp
Tuyến xã:
Có 20 cán bộ được phân làm công tác Dân số và phát triển tại UBND
20 xã, thị trấn được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Toàn huyện có 181 cộng tác viên quản lý công tác Dân số tại các khu dân cư (trong đó kiêm nhiệm Y tế thôn là 172 người, số còn lại kiêm tổ trưởng tổ phụ nữ)
Trang 402.2 Khảo sát vai trò của chính quyền huyện Tam Nông – tỉnh Phú Thọ trong thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
2.2.1 Vai trò của chính quyền huyện Tam Nông- Phú Thọ trong xây dựng
kế hoạch, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
Tiếp thu toàn bộ các chủ trương, nghị quyết, kế hoạch từ TW, tỉnh, huyện về chính sách DS-KHHGĐ, tập thể chính quyền huyện đã bàn bạc, thảo luận, và xác định DS-KHHGĐ là một vấn đề lớn, một khối lượng công việc khổng lồ cần rất nhiều về nhân lực, vật lực và thời gian, đòi hỏi cần có sự vào cuộc một cách đồng bộ của cả hệ thống chính trị Bởi vậy, để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tập thể Huyện ủy Tam Nông ban hành Chỉ thị số 02- CT/HU ngày 15/01/2016 về tăng cường lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với chính sách Dân số - KHHGĐ; Nghị quyết số 09- NQ/HU ngày 8/6/2016 của Ban thường
vụ Huyện ủy về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác Dân số và phát triển giai đoạn 2016 – 2020 HĐND huyện ban hành Nghị quyết số 14-NQ/HĐND ngày 22/7/2016 Về phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện công tác Dân số và phát triển giai đoạn 2016 – 2020; ;Kế hoạch Mất cân bằng giới tính khi sinh; Kế hoạch hành động truyền thông chuyển đổi hành vi về Dân số và phát triển giai đoạn 2017 - 2020; Kế hoạch thực hiện Đề án Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi giai đoạn 2017 - 2025; Kế hoạch thực hiện Đề án tăng cường tư vấn và cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ cho vị thành niên thanh niên giai đoạn 2017 -