Và khi văn hóa chính trị ngày càng trở nên quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của công cuộc đổi mới thì hơn lúc nào hết văn hóa chính trị của đội ngũ cán b
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Thu Nghĩa Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN 9
1.1 Văn hóa chính trị và văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 9 1.2 Tiêu chí văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 21
Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN Ở THANH OAI, HÀ NỘI HIỆN NAY 29
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thanh Oai, Hà Nội 29 2.2 Thực trạng văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thanh Oai, Hà Nội 38 2.3 Đánh giá chung về văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thanh Oai 49
Chương 3 NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN Ở THANH OAI, HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 56
3.1 Những phương hướng cơ bản nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thanh Oai, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 56 3.2 Những giải pháp chủ yếu nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thanh Oai, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay 63
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng,
gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [9, tr.66]
Để đội ngũ cán bộ thực hiện được sứ mệnh của mình thì vai trò của văn hóa chính trị (VHCT) là hết sức quan trọng V.I.Lênin đã từng khẳng định
“mục đích của văn hóa chính trị, của nền giáo dục chính trị là đào tạo nên những người cán bộ chân chính, có khả năng thắng được sự dối trá và thiên kiến, và có khả năng giúp đỡ quần chúng lao động thắng được chế độ cũ, xây được một nhà nước không có bọn tư sản, bọn bóc lột và bọn địa chủ” [27, tr.212 – 213] Và suy cho cùng, trình độ VHCT của cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, đội ngũ cán bộ chủ chốt (ĐNCBCC) quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động chính trị của đất nước Họ là tầng lớp tạo nên sắc diện văn hóa chính trị cho bản thân và hoàn thành những trọng trách chính trị của mình góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng bộ máy nhà nước ta
Việc nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt là một yêu cầu khách quan đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang chuyển sang thời kì phát triển mới – đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng giao lưu và hợp tác với nhiều nước trên thế giới Và khi văn hóa chính trị ngày càng trở nên quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của công cuộc đổi mới thì hơn lúc nào hết văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cấp địa phương, cụ thể là cấp huyện phải ngày càng được quan tâm nhiều hơn và không ngừng được bồi
Trang 62
dưỡng, hoàn thiện Bởi lẽ đây là những cán bộ gần dân và hiểu dân nhất Họ vừa là những tấm gương văn hoá chính trị vừa phải tuyên truyền giáo dục để văn hoá chính trị đi sâu vào đông đảo quần chúng Đây là một vấn đề có tính chất chiến lược, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Thực tiễn hiện nay cho thấy văn hoá chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cấp quận huyện của nước ta còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của nhân dân cũng như yêu cầu của thời kỳ đổi mới Cá biệt
ở một số nơi, một bộ phận cán bộ còn hạn chế về trình độ văn hóa chính trị,
có những nhận thức, hành động sai trái, không phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội, đi ngược lại với chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút nghiêm trọng lòng tin của nhân dân, làm nghèo đất nước Thanh Oai là một huyện ven đô, được Hà Nội quy hoạch là vành đai xanh của Thủ đô đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ nhờ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Đây cũng là vùng đất chứa đựng nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Hà Nội nói riêng
và cả nước nói chung Vì vậy, việc nâng cao văn hóa chính trị cho đội ngũ cán
bộ chủ chốt huyện Thanh Oai là một yêu cầu tất yếu, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn huyện, đồng thời giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của địa phương
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, với mục đích phát huy tối
đa những điểm tích cực cũng như khắc phục triệt để những điểm còn yếu kém trong vấn đề văn hoá chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện mà cụ
thể là ở huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội, tôi chọn đề tài: “Nâng cao văn hoá chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Thanh Oai, Thành phố
Hà Nội hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
Trang 73
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Văn hóa chính trị là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu cả trên thế giới
và Việt Nam Đặc biệt, trong những năm gần đây ở nước ta đã có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu về văn hóa chính trị trên nhiều góc độ khác nhau,
cụ thể có thể kể đến những nhóm công trình sau:
Cuốn“Văn hoá chính trị và việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở
nước ta hiện nay” do Phạm Ngọc Quang chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1995 Trong tác phẩm này, tác giả bàn về vai trò của văn hoá chính trị trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đồng thời đưa ra một số phương hướng bồi dưỡng VHCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta
Tác giả Nguyễn Hồng Phong trong bài “Văn hóa chính trị Việt Nam –
truyền thống và hiện đại”, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998 đã tập trung
đi sâu vào nghiên cứu những giá trị tiêu biểu của VHCT Việt Nam truyền thống và rút ra những vấn đề có tính phương pháp luận của việc kế thừa các
di sản VHCT quá khứ trong quá trình đổi mới hiện nay
Trong “Nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta hiện
nay” do Lâm Quốc Tuấn chủ biên, Nxb Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa
Hà Nội, 2006 đã hệ thống hóa và phân tích những quan điểm, luận điểm cơ bản về văn hóa chính trị, về tính tất yếu phải nâng cao văn hóa chính trị, cũng như phương hướng, nôi dung và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo quản lý Việt Nam hiện nay
Cuốn “Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị”
của tác giả Phạm Hồng Tung, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008 tập hợp
có hệ thống 14 chuyên luận, đề cập tới những vấn đề căn bản của VHCT Trên cơ sở của cách tiếp cận VHCT, tác giả đã đi sâu nghiên cứu một loạt vấn
đề của lịch sử Việt Nam cận đại nhằm chỉ ra những khía cạnh mới, bổ sung hoặc điều chỉnh nhận thức trước đây về những vấn đề đó
Trang 84
Các tác giả Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Hoài Văn, Nguyễn Văn Vĩnh
trong cuốn “Bước đầu tìm hiểu những giá trị văn hóa chính trị truyền thống
Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 tập trung nghiên cứu bản
chất, nội dung của VHCT, tìm hiểu những nhân tố hình thành tư tưởng VHCT Việt Nam trong lịch sử và những nét đặc sắc của nó; phân tích một số giá trị VHCT truyền thống của Việt Nam như: Tư tưởng độc lập, tự chủ, tự cường, tinh thần dân tộc, tính cố kết cộng đồng
Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên còn có một số bài nghiên cứu liên quan đến văn hóa chính trị và nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán
bộ chủ chốt hiện nay như:
“Văn hoá chính trị, một bình diện hợp thành của đối tượng và nội
dung nghiên cứu của chính trị học, một số vấn đề khoa học chính trị”; “Văn hoá chính trị với công tác vận động quần chúng nhân dân trong tình hình hiện nay” của tác giả Hoàng Chí Bảo,Tạp chí Dân vận số 1, 2005, nghiên cứu
văn hoá chính trị trong mối quan hệ với chính trị học và vai trò của văn hoá chính trị trong hoạt động vận động quần chúng ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh
GS.TS Hoàng Chí Bảo khi bàn về “xây dựng văn hóa trong chính trị,
quan niệm và giải pháp thực hiện” Báo điện tử Chính Phủ.Vn ngày
08/02/2015 cho rằng xây dựng văn hóa trong chính trị làm cho văn hóa thấm sâu vào chính trị, nhờ đó chính trị được văn hóa hóa, định hình thành văn hóa chính trị, và nền chính trị dân chủ - pháp quyền thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân sẽ là một nền chính trị thấm nhuần sâu sắc bản chất khoa học-cách mạng và nhân văn
Một số giải pháp chủ yếu nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo nước ta hiện nay của tác giả Lâm Quốc Tuấn, Tạp chí Triết học số 8,
2016 đã luận giải một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
Trang 95
VHCT của ván bộ lãnh đạo chính trị ở nước ta hiện nay Theo tác giả Lâm Quốc Tuấn có 6 vấn đề cần chú ý trong nâng cao VHCT của cán bộ lãnh đạo chính trị nước ta Đó là: 1 Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh; 2 Nâng cao văn hoá chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc nắm vững cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng;3 Nâng cao văn hoá chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc trang bị những kiến thức cơ bản về khoa học chính trị và khoa học lãnh đạo; 4 Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc rèn luyện đạo đức, lối sống và phát huy tính tích cực chính trị của chủ thể chính trị này; 5 Nâng cao văn hoá chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với việc không ngừng nâng cao trình độ văn hóa chính trị của quần chúng nhân dân lao động; 6 Nâng cao văn hoá chính trị của cán bộ lãnh đạo gắn liền với đổi mới công tác cán bộ của Đảng
“Văn hóa chính trị với đạo đức người cán bộ, công chức trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên Website Tạp chí tổ chức Nhà nước ngày 15/4/2016 đã trình bày mối quan hệ giữa đạo đức và văn hóa chính trị; tác động tích cực và tiêu cực của cơ chế thị trường đến văn hóa chính trị và đưa
ra các giải pháp góp phần hạn chế những tiêu cực cửa cơ chế thị trường đến đạo đức và văn hóa chính trị của cán bộ, công chức
Ngoài ra khi bàn về văn hóa chính trị và việc nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu là
đề tài luận văn, luận án cụ thể như:
“Văn hóa chính trị Việt Nam và vai trò của nó đối với công cuộc đổi
mới ở nước ta hiện nay của Lê Tấn Lập, luận văn thạc sĩ, 1998.Luận văn đã
tìm ra những đặc điểm rất nổi bật của văn hóa chính trị Việt Nam cũng như đưa ra những định hướng nhằm khắc phục những mặt hạn chế vốn có của căn
Trang 106
tính nông dân ở một nền văn hóa nông nghiệp đồng thời nâng cao hơn nữa tính văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng
Nguyễn Thị Lệ Thủy trong “Văn hóa chính trị với việc nâng cao chất
lượng cán bộ của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn đổi mới hiện nay” luận
văn thạc sỹ khoa học chính trị, Hà Nội, 2000 Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ của thành phố Đà Nẵng, từ đó đưa
ra một số giải pháp nhằm nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ này
Lâm Quốc Tuấn “Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay” luận án tiến sĩ Khoa học chính trị học, Hà
Nội, 2005 Luận án đã hệ thống hóa một cách cơ bản những quan niệm về bản chất, vai trò của văn hóa chính trị cũng như cấu trúc, đặc điểm và chức năng của nó Xác định những cơ sở lý luận và thực tiễn đặt ra yêu cầu về nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo Xác định những nội dung thiết yếu trong cấu trúc nhân cách văn hóa chính trị của cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay Từ đó đưa ra những phương hướng và các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa chính trị của người cán bộ lãnh đạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Các công trình khoa học nêu trên là những tài liệu quý giá cho việc nghiên cứu đề tài luận văn Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu có hệ thống về vấn đề thực trạng và giải pháp mang tính thực tiễn nâng cao VHCT của đội ngũ CBCC ở địa phương cụ thể là ở huyện Thanh Oai
Đề tài “Nâng cao văn hoá chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Thanh Oai, TP Hà Nội hiện nay” là sự tiếp nối những công trình đã
có trên với tính cách như là hệ quy chiếu mới, góp phần giải đáp về phương diện thực tiễn trong quá trình xây dựng đội ngũ CBCC nói chung cũng như đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện Thanh Oai nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 117
- Mục đích: Trên cơ sở làm rõ lý luận chung về văn hóa chính trị, văn
hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện; phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thanh Oai, thành phố Hà Nội, luận văn đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội trong thời kỳ đổi mới hiện nay
- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ vấn đề
nâng cao văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Thanh Oai, TP
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Trang 128
logic và lịch sử, diễn dịch và quy nạp, phân tích và tổng hợp, so sánh và đối chiếu
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
Đề tài tập trung khảo sát trong phạm vi địa bàn huyện Thanh Oai, Hà Nội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
* Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ thêm một số nhận thức về văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện: khái niệm, tiêu chí, nhân tố tác động
* Về mặt thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thanh Oai, luận văn góp tiếng nói vào việc nâng cao và phát huy văn hóa chính trị của cán bộ, mà trực tiếp là trình độ văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thanh Oai trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
7.Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề tài bao gồm 3 chương 8 tiết
Trang 139
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN 1.1 Văn hóa chính trị và văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
1.1.1 Văn hóa chính trị
* Văn hóa
Để làm rõ khái niệm văn hóa chính trị, trước hết cần tìm hiểu khái niệm văn hóa Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ văn hóa trong khoa học (1774) là Pufedorf (một nhà nghiên cứu luật pháp người Đức) với nghĩa là toàn bộ những gì do hoạt động xã hội của con người tạo ra và là đối lập với trạng thái
tự nhiên Nhưng khoa học về văn hóa thực sự được khai sinh ở Đức thế kỷ
XIX Mốc đánh dấu sự kiện này là năm 1885 khi cuốn Khoa học chung về
văn hóa của Klemm được xuất bản Trong đó, tác giả trình bày sự phát triển
toàn diện của loài người như là sự phát triển của một cá thể đơn nhất Ở đây, lịch sử văn hóa được đồng nhất với lịch sử xã hội, cự tuyệt việc trình bày lịch
sử như là lịch sử các vương triều
Cho đến nay, khi nhà văn hóa trở thành mối quan tâm hàng đầu của các loại hình nhận thức thì định nghĩa về văn hóa trở nên vô cùng phong phú Bởi vậy, J.Derrida đã có câu nói đầy ấn tượng: “Văn hóa là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng đối với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó” [26, tr.28]
Về mặt từ vựng, thuật ngữ “văn hóa” được dịch từ thuật ngữ “culture” của Anh – Pháp Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng La – tinh “culturs” – nghĩa gốc là “canh tác”, “trồng trọt” Ở Trung Hoa nghĩa gốc Hán học của từ “văn”
là cái đẹp, vẻ đẹp do màu sắc, đường nét tạo ra Văn hóa là làm cho trở nên đẹp, trở nên sáng, trở nên hiệu dụng đối với con người
Trang 1410
Theo cách tiếp cận hệ thống, văn hóa là một hoạt động sáng tạo, là hệ thống những giá trị do kết quả hoạt động sáng tạo của con người tạo nên Tập thể các tác giả cuốn Từ điển Chính trị rút gọn của Liên Xô cho rằng: “Văn hóa là trình độ phát triển lịch sử nhất định của xã hội, là sức sáng tạo và khả năng của con người, được biểu hiện trọng các phương thức tổ chức đời sống
và hoạt động sáng tạo của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo nên” [dẫn lại, 21, tr.226]
Khởi nguồn quan niệm mácxít về văn hóa là tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen xuất hiện rải rác trong tác phẩm kinh điển xem văn hóa như là hình thức biểu hiện và là kết quả lao động của con người, sau này được V.I.Lênin phát triển và cụ thể khi bàn về cách mạng văn hóa
Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa được định nghĩa:
“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loại người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, của loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu và đòi hỏi của sự sinh tồn” [18, tr.431]
Như vậy, có thể hiểu, văn hóa là phạm trù kết tinh những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo nên trong lịch sử, là sự thể hiện trình
độ phát triển nhất định của xã hội, trình độ phát triển năng lục và khả năng sáng tạo của con người biểu hiện trong các phương thức tổ chức đời sống xã hội, quan hệ xã hội….phản ánh toàn bộ đời sống của con người trong quan hệ với thế giới bên ngoài
*Chính trị
Trang 1511
Chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội kể từ khi xã hội phân chia thành giai cấp và tổ chức thành nhà nước; là lĩnh vực phức tạp nhất, nhạy cảm nhất và có vai trò ngày càng tăng, từ thời cổ đại, chính trị đã được nhiều nhà
tư tưởng quan tâm nghiên cứu Cho đến nay vẫn có những quan điểm khác nhau về phạm trù chính trị
Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất: “chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như giữa các dân tộc và các quốc gia với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước và xã hội; là hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp, của các đảng chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đề ra nhằm thõa mãn lợi ích” [21,tr.13]
*Văn hóa chính trị:
VHCT là một bộ phận, một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp (có chính trị), nhưng điều đó không có nghĩa VHCT là phép cộng giản đơn giữa văn hóa với chính trị, mà đó là sự thẩm thấu, xâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau giữa văn hóa với chính trị, chính trị với văn hóa
Vì vậy, VHCT là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà tư tưởng lớn
Xênôphôn (427 – 355TCN) với những quan điểm vể thủ lĩnh chính trị
đã phác họa nên những tiêu chí giá trị VHCT của những lãnh tụ chính trị: giỏi
kĩ thuật, giỏi thuyết phục, phục vụ những người mà anh ta chỉ huy, biết tập hợp lại và phát huy sức mạnh của mọi người….Những tiêu chí đó vẫn mang ý nghĩa thiết thực đối với việc hình thành nhân cách chính trị cho chủ thể lãnh đạo hiện nay
Platon (428 – 347 TCN) và Aristôt (384 – 322 TCN) khi đưa ra quan niệm coi chính trị là khoa học và nghệ thuật, mặc dù triết lí chính trị - xã hội
Trang 16Montexkiơ (1989 – 1755), trong các học thuyết về nguồn gốc nhà nước, về sự phân quyền, lý luận về chính phủ và Rutxô (1712 – 1778) với tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản, tư tưởng về chủ quyền tối thượng của nhân dân cũng đưa ra nhiều tư tưởng lớn về VHCT cùng với những giá trị trí tuệ, tài năng, quyền lực, nghĩa vụ….của các chủ thể chính trị
Người đầu tiên đưa ra khái niệm văn hóa chính trị là nhà chính trị học
người Mỹ G.Almond Trong bài “Các hệ thống chính trị so sánh” đăng trên Tạp chí Chính trị học, số 8, 1956, ông đã đề xuất thuật ngữ Văn hóa chính trị
(political culture) và dùng nó để phân tích so sánh các chế độ chính trị
Nhiều người cho rằng, văn hóa chính trị với tư cách là một thuật ngữ trong khoa học chính trị xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng giữa thế kỷ XX, gắn với tên tuổi hai học giả Hoa Kỳ là Gabriel Almond và Sidney Verba Bởi
Gabriel Almond và Verba trong cuốn Văn hóa công dân (The Civic Culture)
đã trình bày cách tiếp cận khoa học về VHCT bằng việc đưa ra một khuôn khổ lý thuyết chung, sau đó tiến hành khảo sát so sánh tại năm quốc gia khác
nhau Hai ông cho rằng, có ba loại VHCT là: VHCT địa phương (Parochial),
VHCT thần dân (Subject) và VHCT tham gia (Participant) Ba loại VHCT
này kết hợp với nhau tạo thành văn hóa công dân
Hai nhà chính trị học Mỹ H Almond và H.Paul đã đưa ra định nghĩa VHCT cho đến nay vẫn được nhiều người đồng tình: “Văn hóa chính trị là tập
Trang 17- Định hướng nhận thức: Là hiểu biết đúng sai về các khách thể và các
tư tưởng chính trị Những hiểu biết này có thể là hiểu biết trực quan về chính trị, cũng có thể là tư duy chính trị đã được khoa học hóa
- Định hướng tình cảm: đó là cảm giác về những mối liên hệ, sự lôi cuốn, về mâu thuẫn…với các khách thể chính trị nào đó
- Định hướng đánh giá: là ý kiến, nhận xét về khách thể trên cơ sở căn
cứ vào những hệ thống giá trị và tiêu chuẩn để đánh giá [27, tr.216]
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tuy chưa đưa ra khái niệm VHCT, nhưng trong hệ thống học thuyết của các ông đều toát lên những tư tưởng, quan điểm cơ bản vềVHCT trên mọi khía cạnh đời sống chính trị của giai cấp
vô sản và nhân dân lao động như: vấn đề đấu tranh giành quyền lực, vấn đề cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới; vấn đề xây dựng con người XHCN; vấn đề dân chủ XHCN…
Các nhà lý luận Việt Nam cũng đang trong quá trình cùng nhau xây dựng một quan điểm đầy đủ về VHCT trên nền tảng của chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự có ý nghĩa xuất phát điểm cho quá trình tìm tòi, nghiên cứu vừa mới
mẻ, vừa phức tạp này
Hồ Chí Minh quan tâm giáo dục các mục tiêu của VHCT theo cả mô thức dân tộc – khoa học – đại chúng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đồng thời Nguời xác lập quan hệ văn hóa – chính trị trên nền tảng dân tộc với nội dung XHCN trong giai đoạn cách mạng XHCN VHCT được tạo lập trong quan hệ chính trị mới, mà trong những quan hệ đó đánh dấu sự
Trang 18GS.TS Hoàng Chí Bảo quan niệm: “Văn hóa chính trị là chất lượng tổng hòa của tri thức, tình cảm, niềm tin chính trị, tạo thành ý thức chính trị công dân, thúc đẩy họ tới những hành động chính trị tích cực phù hợp với lý tưởng chính trị của xã hội, là thói quen và nhu cầu tham gia một cách tự giác chủ động vào các quan hệ chính trị xã hội của công dân, góp phần hướng dẫn
họ trong cuộc đấu tranh vì lợi ích chung của xã hội vì tiến bộ và phát triển” [36, tr.115 – 116]
GS.TS Phạm Ngọc Quang đưa ra khái niệm: “Văn hóa chính trị là một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp, nói lên tri thức, năng lực sáng tạo trong hoạt động chính trị dựa trên nhận thức sâu sắc các quan hệ chính trị hiện thực cùng những thiết chế chính trị tiến bộ được lập ra để thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp hay của nhân dân phù hợp với sự phát triển lịch sử Văn hóa chính trị nói lên phẩm chất và hình thức hoạt động chính trị của con người cùng những thiết chế chính trị mà họ lập ra để thực hiện những lợi ích giai cấp cơ bản của chủ thể tương ứng” [25, tr19]
Khoa Chính trị học Học viện Báo chí Tuyên truyền định nghĩa: “Văn hóa chính trị là một lĩnh vực biểu hiện đặc biệt của văn hóa của loài người trong xã hội có giai cấp, được hiểu là trình độ phát triển của con người được thể hiện ở trình độ hiểu biết về chính trị, trình độ tổ chức hệ thống quyền lực theo một chuẩn giá trị xã hội nhất định nhằm điều hòa các quan hệ lợi ích của giai cấp cầm quyền, phù hợp với xu thế phát triển và tiến bộ xã hội” [21,tr.229]
Trang 1915
Căn cứ vào phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với việc kế thừa các giá trị trong quan niệm về VHCT của các nhà nghiên cứu lý luận gần đây, có thể hiểu theo một nghĩa khái quát nhất:
“VHCT là một bộ phận, một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai
cấp, nói lên chất lượng tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần với hạt nhân là các giá trị chính trị nhân văn được con người sáng tạo và sử dụng trong thực tiễn chính trị, để thực thi trong quan hệ quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nhằm thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp phù hợp với sự phát triển lịch sử; là sự phản ánh trình độ trưởng thành nhân cách chính trị của các chủ thể chính trị trong đời sống xã hội”
Từ khái niệm VHCT, có thể thấy, cấu trúc VHCT được xem xét dưới hai góc độ tiếp cận cơ bản: VHCT với tư cách là hệ giá trị và VHCT gắn liền với các chủ thể chính trị
Thứ nhất, với tư cách là hệ thống các chính trị: VHCT là kết quả tổng
hòa của những giá trị sau:
- Tri thức và sự hiểu biết chính trị: Đây là nền tảng của VHCT, được
định lượng một cách phổ biến bởi tri thức chính trị, là sự thống nhất giữa tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm
- Niềm tin và tình cảm chính trị: Niềm tin và tình cảm chính trị là sự
bộc lộ những phẩm chất, sắc thái cá nhân đối với lý tưởng, chế độ chính trị, nahf nước, chính đảng, đối với các cơ quan lãnh đạo, các nhà lãnh đạo…
- Các truyền thống chính trị: Văn hóa nói chung, VHCT nói riêng trong
mỗi giai đoạn lịch sử nhất định bao giờ cũng là sự kế thừa và phát triển những giá trị chính trị truyền thống phù hợp với yêu cầu, điều kiện cụ thể Các giá trị
VHCT truyền thống không chỉ là những “chất liệu” tạo nên VHCT mà còn
tạo nên bản sắc dân tộc cho VHCT
Trang 2016
- Những lý tưởng cao đẹp mà con người phấn đấu đạt tới trong chính
trị: Những lý tưởng đó vừa đóng vai trò là động lực kích thích hoạt động
chính trị, vừa đóng vai trò là xung lực nội tại để hoàn thiện tư chất của chủ thể chính trị vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ trong hoạt động chính trị
- Quá trình biến những giá trị chính trị đã được thiết lập thành lý
tưởng, niềm tin, động cơ, nhu cầu, thói quen chính trị…trong hoạt động chính
trị của chủ thể: Đây chính là quá trình thực hành VHCT trong hoạt động của chủ thể Chỉ trên cơ sở này mới tạo cho VHCT sự ổn định vững chắc trong đời sống chính trị
- Những phương tiện chính trị, những chuẩn mực, những phương thức
tổ chức và hoạt động của quyền lực chính trị được sử dụng để đạt đến mục tiêu chính trị
- Hệ tư tưởng chính trị: Với tư cách là nhân tố phản ánh khái quát lợi
ích của giai cấp cũng như phương thức, con đường để thực hiện lợi ích cơ bản của giai cấp, liên minh giai cấp hoặc của nhân dân lao động nói chung (trong điều kiện của CNXH), hệ tư tưởng là yếu tố cốt lõi nhất, là định hướng cơ bản cho đời sống tinh thần xã hội đóng vai trò hạt nhân của VHCT, giữ vị trí trung tâm, có tác dụng chi phối các nhân tố khác trong VHCT cũng như toàn bộ nền VHCT nói chung của một thể chế chính trị
Thứ 2, VHCT với tư cách là sản phẩm hoạt động chính trị của các chủ thể chính trị: cá nhân và tổ chức
Với tư cách là chủ thể, phản ánh trình độ và kết quả của con người trong nhận thức và hoạt động chính trị, VHCT là sự thông nhất và tác động qua lại của VHCT cá nhân và VHCT tổ chức
- VHCT cá nhân
Trang 2117
Cá nhân là con người tồn tại với tư cách là một cá thể trong xã hội Cá nhân liên hệ với xã hội và chính trong đời sống cộng đồng mà nó đạt được sự hình thành nhân cách
VHCT cá nhân được thể hiện qua sự ứng xử, giao tiếp tranh luận Qua
đó bộc lộ thái độ, lòng trung thành, trình độ giác ngộ chính trị, năng lực trí tuệ, đạo đức tác phong cũng như một động cơ chính trị hướng về một lợi ích chính trị, một mục tiêu lý tưởng nhất quán, cơ bản và lâu dài
VHCT cá nhân còn bộc lộ đầy đủ ở năng lực khả năng hoạt động sáng tạo trong việc tham gia các quá trình chính trị hiện thực, tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức quyền lực chính trị, vào việc tác động tới chính sách ở nhiều mức độ và phạm vi khác nhau, ở khả năng hoạt động cộng đồng…
- VHCT tổ chức
Tổ chức là một kiểu xã hội liên kết được con người lập ra để đi tới một mục đích chung nào đó mà từng cá nhân riêng lẻ trong tính biệt lập của nó sẽ không thể đạt được Nó là phương thức cơ bản để phối hợp ý chí và hành động tạo ta sức mạnh lũy thừa so với sức mạnh cá nhân
Do đó, VHCT của tổ chức phụ thuộc vào văn hóa của từng cá nhân, vào văn hóa của người thủ lĩnh, vào trình độ dân trí nói chung, vào trình độ tổ chức của tổ chức và suy đến cùng còn tùy thuộc vào bản chất chính trị, trình
độ chín muồi của chế độ dân chủ
Trong VHCT của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nổi bật lên vai trò của một tổ chức hạt nhân gắn liền với vai trò lãnh đạo chính trị đó là các đảng chính trị Trình độ văn hóa của các đảng chính trị đóng vai trò quyết định về sự phát triển của VHCT của cả hệ thống tổ chức nằm trong hệ thống chính trị, kể cả sự phát triển về văn hóa của toàn thể xã hội
Trang 2218
Xem xét chiều sâu khái niệm VHCT, tức là cấu trúc VHCT để giúp chúng ta xác định rõ vị trí VHCT của một chủ thể xác định (VHCT của ĐNCBCCCH) trong tổng thể VHCT nói chung, từ đó định hướng những chuẩn mực giá trị tương ứng quy định phẩm chất, trình độ và năng lực VHCT của chủ thể đó
1.1.2 Văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
Trong nghiên cứu cũng như trong hoạt động thực tiễn, quan niệm và việc xác định đội ngũ CBCC của một cấp, một ngành, một địa phương vẫn chưa thống nhất hoàn toàn Do đó, để có quan niệm đội ngũ CBCCCH cần
làm rõ các khái niệm, thuật ngữ liên quan như “cán bộ”, “chủ chốt”, “cán bộ
chủ chốt”, “đội ngũ cán bộ chủ chốt”
*Cán bộ
Thuật ngữ cán bộ xuất hiện và được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ chính trị ở các nước thuộc hệ thống XHCN, bắt đầu từ thời Lênin sau cách mạng tháng Mười, khi đảng cộng sản đã cầm quyền và nước Nga xô viết đã ra đời, thể chế quản lý nhà nước đã định hình và đi vào hoạt động
Ở nước ta, khái niệm cán bộ xuất hiện trong đời sống xã hội vào những năm 30 của thế kỉ XX, để chỉ một lớp người, những chiến sĩ cách mạng chịu
hy sinh, gian khổ, đấu tranh giành độc lập dân tộc và sau này trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, được dùng phổ biến để chỉ những người thoát ly, tham gia hoạt động kháng chiến, để phân biệt với nhân dân
Trong một thời gian dài khái niệm cán bộ gần như được dùng thay thế cho khái niệm công chức Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất
cả những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, quân đội
Theo Hồ Chí Minh: “Cán bộ là những người đem chính sách của
Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời
Trang 2319
đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng” [19, tr.269]
Trong Từ điển tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa: “1 Người làm công
tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước; 2 Người làm công tác
có chức vụ trong một cơ quan một tổ chức, Phân biệt với người thường, không có chức vụ” [37, tr109]
Như vậy, với nghĩa thứ nhất, cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, có trình độ được đào tạo từ cao đẳng, đại học trở lên Số có trình độ đào tạo thấp hơn gọi là nhân viên
Với nghĩa thứ hai, cán bộ là người làm công tác có chức vụ trong một
cơ quan, một tổ chức Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, là những người có chức vụ, phân biệt với người thường không có chức vụ
Từ những cách hiểu trên có thể đi đến một quan niệm chung nhất như
sau: Cán bộ là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định, làm việc
trong các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị và những người giữ chức vụ trong tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị
Cho đến bây giờ thì cán bộ vẫn là một danh xưng đẹp trong ý thức của
nhân dân ta, xã hội ta, mặc dù có những biến đổi nhất định theo sự vận động của thực tiễn Tuy nhiên, trước sự phát triển nền kinh tế - xã hội và tiến trình đổi mới hệ thống chính trị của đất nước, khái niệm cán bộ đang có sự phát triển và đang có nhu cầu bổ sung nội hàm, phạm vi của nó Theo đó, đội ngũ cán bộ không chỉ giới hạn trong hệ thống chính trị, trong phạm vi các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc, đoàn thể như hiện nay
* Chủ chốt, cán bộ chủ chốt
Từ đội ngũ được Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “1 Tổ chức gồm nhiều
người tập hợp lại thành một lực lượng; 2 Tập hợp số đông cùng chức năng, nghề nghiệp” [37, tr.134] Như vậy, thuộc tính căn bản của một đội ngũ là:
Trang 2420
nhiều người, có phạm vi, giới hạn nhất định Đội ngũ những con người xác định thì có những đặc điểm, tính chất, vị trí, vai trò xác định và có mối liên hệ với các yếu tố bên trong, bên ngoài….Từ đó, nó quy định thành phần, số
lượng cụ thể của đội ngũ đó, như: đội ngũ y, bác sỹ của ngành y tế; đội ngũ
kỹ sư nhà máy; ĐNCBCC của địa phương…
Từ những khái niệm “cán bộ”, “chủ chốt”, “đội ngũ” đã phân tích trên có thể đưa ra cách hiểu về ĐNCBCC như sau: ĐNCBCC của một tổ
chức, cơ quan, đơn vị là tập hợp những cán bộ quan trọng nhất, có vai trò nòng cốt trong tổ chức, cơ quan, đơn vị đó
ĐNCBCC bao gồm nhiều CBCC nhưng không phải là phép cộng đơn giản các cá nhân đó mà nó được hình thành, tổ chức theo một yêu cầu, chuẩn mực nhất định, có số lượng, thành phần, cơ cấu phù hợp với yêu cầu nhiệm
vụ của tổ chức, làm nhân lên sức mạnh của từng cá nhân tạo thành sức mạnh của tổ chức
*Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
Từ những khái niệm đã trình bày trên đây, có thể đưa ra cách hiểu về
ĐNCBCCCH như sau: ĐNCBCCCH là những người có chức vụ, có vai trò
nòng cốt trong hệ thống chính trị cấp huyện, có tác động, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của hệ thống chính trị cấp huyện, góp phần quyết định vào sự nghiệp xây dựng và phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,xây dựng Đảng….ở địa phương
*Văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện
Từ sự phân tích về VHCT và ĐNCBCCCH, có thể hiểu: VHCT của
ĐNCBCCCH là một bộ phận cấu thành của VHCT, nói lên chất lượng tổng hợp những giá trị chính trị được ĐNCBCCCH, nói lên chất lượng tổng hợp những giá trin chính trị được ĐNCBCCCH sáng tạo và sử dụng trong thực tiễn chính trị địa phương nhằm thực hiện một cách hiệu quả quá trình lãnh
Trang 2521
đạo, quản lý và chịu trách nhiệm về mọi nhiệm vụ chính trị trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa bàn tỉnh mà họp phụ trách, là sự phản ánh trình độ trưởng thành nhân cách chính trị của ĐNCBCCCH trong đời sống
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
- Trình độ lý luận chính trị
- Kiến thức quản lý nhà nước
- Kiến thức quản lý kinh tế, quản lý đô thị
- Kiến thức bổ trợ tin học, ngoại ngữ
Đây là phẩm chất bao trùm, là cơ sở quan trọng nhất trong cấu trúc VHCT của ĐNCBCCCH
1.2.2 Bản lĩnh chính trị
Có thể đánh giá bản lĩnh chính trị của ĐNCBCCCH thông qua những tiêu chí sau:
- Sự giác ngộ về lý tưởng, lòng trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh
- Ý chí đấu tranh chống ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản và các quan điểm, học thuyết phi khoa học; tinh thần, ý thức đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng
Trang 26- Có năng lực quản lý, điều hành; Năng lực này thể hiện ở khả năng ra quyết định lãnh đạo, quản lí
- Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao:
+ Hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của bản thân
+ Đơn vị phụ trách hoàn thành tốt nhiệm vụ
+ Có kết quả, sản phẩm cụ thể minh họa cho việc hoàn thành nhiệm vụ
đó
- Năng lực phát huy nguồn nhân lực và sử dụng người tài
Năng lực này thể hiện ở:
+ Khả năng tác động nhằm tập hợp quần chúng nhằm phát huy tính tích cực tự giác, tự nguyện tham gia vào các quá trình chính trị, xã hội
+ Biết phát huy năng lực của cấp dưới, nhận biết được tố chất của từng người, biết phân việc, ủy quyền;
+ Có khả năng phát hiện và sử dụng nhân tài
Trang 2723
1.2.4 Đạo đức cách mạng
Đạo đức cách mạng là một trong những biểu hiện của VHCT cá nhân Phẩm chất đạo đức vừa là một phương diện quan trọng quyết định giá trị bản thân người CBCC, vừa là nguồn gốc chủ yếu sinh ra những ảnh hưởng mang tính tự nhiên đối với người khác Phẩm chất đạo đức của CBCC được thể hiện qua tiêu chí cụ thể sau:
- Xác định và luôn thể hiện sự cố gắng, tận tụy, nhiệt huyết trước trách nhiệm, bổn phận mà Đảng, Nhà nước, tổ chức giao phó cho bản thân
- Có các đức tính: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; không tham lam, ích kỷ, hẹp hòi; có tinh thần và trách nhiệm chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa quan liêu, thể hiện trực tiếp hiện nay là thái độ đối với lãng phí, tham nhũng; đối với người thân trong chống tham nhũng, tư lợi
- Ý thức tổ chức, kỷ luật, phục tùng nguyên tắc, nội quy, quy chế của tổ chức, cơ quan, đơn vị
- Ý thức đấu tranh, rèn luyện vươn tới các giá trị Chân – Thiện – Mỹ; lối sống, nếp sống của người cán bộ (giản dị, trong sáng, lành mạnh, gương mẫu….)
- Quan hệ tốt với đồng chí, đồng nghiệp, với nhân dân; có tinh thần đoàn kết, thân ái; tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ…
1.2.5 Phong cách làm việc
Phong cách làm việc của người cán bộ là tổng thể những phương pháp, biện pháp, cách thức riêng có, tiêu biểu, ổn định mà người cán bộ sử dụng hàng ngày để thực hiện nhiệm vụ của mình Nó được thể hiện qua các tiêu chí
cụ thể sau:
- Có sự thống nhất giữa tính đảng, tính nguyên tắc cao với tính năng động, sáng tạo, nhạy bén với cái mới
Trang 281.3.1 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố có tính chất quyết định mạnh mẽ nhất đến trình độ cũng như vai trò của VHCT của một dân tộc, một nước, một khu vực Tính chất, trình độ phát triển của nền kinh tế ảnh hưởng lớn đến VHCT; một nền kinh tế tự cung, tự cấp, cát cứ địa phương lạc hậu, thấp kém tất yếu
sẽ dẫn đến thói quen, suy nghĩ lạc hậu, bảo thủ, chủ nghĩa kinh nghiệm, nhận thức chính trị thấp và không đồng đều; Đó là những biểu hiện thấp kém về VHCT Một nền kinh tế phát triển cao có thể cung cấp cho con người những điều kiện tiếp nhận các giá trị tiến bộ, văn minh, hiện đại; thúc đẩy tính năng động, chủ động nhạy bén, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của các chủ thể trong quan hệ xã hội Hình thành, nâng cao giá trị VHCT cho đội ngũ cán
bộ cần phải có môi trường kinh tế - xã hội phát triển lãnh mạnh Những yếu kém hạn chế trong xây dựng kinh tế ảnh hưởng đến nhân cách chính trị của những người cán bộ nói chung cũng như ĐNCBCCCH nói riêng
Đối với ĐNCBCCCH VHCT chịu sự tác động của môi trường kinh tế quốc tế, nền kinh tế trong nước và trực tiếp là sự phát triển kinh tế tại địa bàn huyện mà họ phụ trách Nó được thể hiện ở sự tác động của nền kinh tế trí thức, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế; thể chế kinh tế thị trường định hướng
Trang 29là tổ chức quyền lực nhà nước nhằm đạt được những mục tiêu chính trị và các giá trị chính trị xác định Do vậy, nó là sự biểu hiện cụ thể và rõ ràng trình độ VHCT của xã hội Nhận thức giá trị dân chủ và sử dụng nó để điều chỉnh hành vi của chủ thể khó có thể có được trong một thiết chế chính trị quân chủ
- chuyên chế, bởi đó là một thể chế cực quyền đối với hoàng đế - con trời nắm mọi quyền hành chính trị, quân sự, tôn giáo, bộ máy quan lại….Cũng khó
có thể thực hi triệt để trong nền dân chủ cổ đại khi mà những người nô lệ
- lực lượng lao động xã hội chủ yếu không được coi là công dân (con người chính trị) Chỉ trong điều kiện chính trị XHCN, quần chúng nhân dân là những chủ đích thực sự của quyền lực chính trị thì những giá trị dân chủ mới được thực thi triệt để Hiện đại hóa chính trị là nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lí cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ CBCC hiện nay, cũng tạo nên những điều kiện cần thiết cho thực thi dân chủ, xây dựng một xã hội công dân năng động
Mặt khác, trong thời đại ngày nay, trình độ thông tin, mức độ dân chủ hóa thông tin cũng chi phối lớn đến quá trình hình thành, phát triển và phát huy vai trò của VHCT Thông tin ngày càng trở thành một ngành mũi nhọn với những phương tiện ngày càng hiện đại, nó là phương thức để giao lưu, nâng cao trình độ văn hóa, tăng nhanh khả năng sử dụng những giá trị do con người sáng tạo ra Sự nghèo nàn thông tin sẽ không thể nâng cao trình độ hiểu biết và sự tiến bộ Phải thực hiện dân chủ hóa, công khai hóa thông tin, nhưng
Trang 30Ở nước ta VHCT của ĐNCBCCCH hiện nay chịu sự tác động của những biến động to lớn của tình hình chính trị thế giới: Sự sụp đổ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, cùng với đó là sự chống phá của các thế lực thù địch và những quan điểm phản động cũng đã thâm nhập, thẩm thấu vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau Nó dẫn đến hậu quả đã có một bộ phận cán
bộ, đảng viên trong đó có bộ phận nhỏ CBCCCH có biểu hiện suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, hoang mang, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thiếu bản lĩnh, kiên định về con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn; quá trình toàn cầu hóa, cùng sự bùng nổ thông tin cũng đã đưa đến những ảnh hưởng hai chiều tác động đến VHCT của cán bộ nói chung, trong đó có CBCCCH
Đặc biệt nhân tố chính trị tác động trực tiếp đến VHCT của ĐNCBCCCH là tình hình chính trị, thiết chế chính trị, cơ cấu tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị trong nước, nhất là ở địa bàn mà họ phụ trách
1.3.3 Môi trường văn hóa – xã hội
Truyền thống dân tộc Việt Nam trong mấy nghìn năm lịch sử đã tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội, tạo thành sức sống, sức sáng tạo và bản lĩnh, bản sắc chính trị của dân tộc Việt Nam Các giá trị chính trị truyền thống
ăn sâu vào tình cảm, tâm trí trở thành niềm tự hào của mỗi người dân Việt, tạo
Trang 31Bên cạnh đó, môi trường đạo đức cũng đóng vai trò hết sức quan trọng Môi trường đạo đức là tổng hòa các quan hệ nhân văn, nó trực tiếp góp phần hình thành phẩm chất cho con người, giúp cho các chủ thể giữ giàn những đức tính sâu rễ, bền gốc trong nhân cách chính trị Một hành vi chính trị kèm theo nó là sự vô tâm, dửng dưng trước nổi bất hạnh của đồng bào, đồng loại thì đó là một tội ác
Đặc biệt, trong môi trường văn hóa – không thể không nói đến môi trường thẩm mỹ, giá trị VHCT vẫn phải đứng vững trên “kiềng ba chân” – chân, thiện, mỹ Không có cảm xúc thẩm mỹ, hoặc cảm xúc thẩm mỹ không được nuôi dưỡng thì tâm hồn con người (kể cả những người lãnh đạo chính trị) sẽ bị chai sạn đi, thiếu sống động nhạy cảm, luôn bị nguội lạnh, loogic đó
ắt dẫn đến thái độ thờ ơ số phận người khác, dễ nảy sinh cái xấu, cái ác…
Ở nước ta hiện nay, đội ngũ cán bộ nói chung, cũng như ĐNCBCCCH nói riêng được thừa hưởng những giá trị văn hóa đáng tự hào của dân tộc Việt Nam với hàng nghìn năm lịch sử, đó là tinh thần yêu nước, ý thức đoàn kết dân tộc….cùng với đó là những giá trị văn hóa, những nét đẹp riêng của mỗi vùng quê Tuy nhiên, ngày nay với quá trình toàn cầu hóa, các luồng tư tưởng, các nền văn hóa có sự giao lưu cũng đã có những tác động theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực đến VHCT của những người cán bộ
Trang 3228
1.3.4 Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển xã hội,
nó là nguồn lực của xã hội Con người sống không thể thiếu môi trường tự nhiên, gắn bó với môi trường tự nhiên bằng những quan hệ máu thịt Môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến tích cách, tâm lý của con người theo từng khu vực, từng nước, từng địa phương Sự phát triển của nền kinh tế xã hội thông qua môi trường tự nhiên cũng đòi hỏi con người phải có những trình độ tương xứng để vừa khai thác tốt nhân tố tự nhiên, vừa không tàn phá, làm cạn kiệt môi trường tự nhiên Do đó, yếu tố môi trường tự nhiên, đặc điểm địa lí, môi trường….cũng có những ảnh hưởng đến VHCT cá nhân
Tiểu kết chương 1
VHCT là một bộ phận, một phương diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp, nói lên chất lượng tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần với hạt nhân là các giá trị chính trị nhân văn được con người sáng tạo và sử dụng trong thực tiễn chính trị, để thực thi trong quan hệ về quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nhằm thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp phù hợp với sự phát triển lịch sử; là sự phản ánh trình độ trưởng thành nhân cách chính trị của các chủ thể chính trị trong đời sống xã hội VHCT của ĐNCBCCCH được đánh giá thông qua những tiêu chí phong phú, đa dạng, đó
là tri thức chính trị, bản lĩnh chính trị, năng lực hoạt động chính trị, đạo đức cách mạng, phong cách làm việc VHCT của ĐNCBCCCH chịu sự tác động của nhiều nhân tố như môi trường kinh tế, môi trường chính trị, môi trường văn hóa, xã hội, môi trường tự nhiên Làm rõ những vấn đề lí luận trên cơ sở phân tích thực trạng VHCT của ĐNCBCCCH của huyện Thanh Oai trong giai đoạn hiện nay
Trang 3329
Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP HUYỆN Ở THANH OAI, HÀ NỘI HIỆN NAY
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở Thanh Oai, Hà Nội
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
* Điều kiện tự nhiên
Thanh Oai là một huyện đồng bằng của thủ đô Hà Nội, gồm 21 xã, thị trấn Kinh tế của huyện Thanh Oai chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp và phát triển công nghiệp dịch vụ Tuy nhiên từ năm 2010 đến nay, Thanh Oai
đã có những bước nhảy vọt về kinh tế nhờ nội lực và thu hút đầu tư bên ngoài
Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi phía Bắc và phía Tây Bắc giáp quận Hà Đông (với Sông Nhuệ chảy ở rìa phía Đông Bắc huyện, là ranh giới tự nhiên), phía Tây giáp huyện Chương Mỹ (với Sông Đáy là ranh giới tự nhiên), phía Tây Nam giáp huyện Ứng Hòa, phía Đông Nam giáp huyện Phú Xuyên, phía Đông giáp huyện Thường Tín và phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Trì của thủ đô Hà Nội Diện tích tự nhiên của huyện là 129,6 km² Với tuyến đường trục phát triển kinh tế phía Nam thành phố, Thanh Oai đang vươn mình đi lên trên con đường Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa.Thanh Oai được thành phố quy hoạch là vành đai xanh của thủ đô Hà Nội, có diện tích đất tự nhiên 12.386,74 ha, gồm 20 xã, 01 thị trấn, với số dân tính đến ngày 31/12/2016 là 210.082 nhân khẩu
Huyện Thanh Oai nằm trong nền chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam và nằm trong vùng tiểu khí hậu đồng bằng Bắc Bộ với các đặc điểm như sau:
Trang 3430
Chế độ khí hậu của vùng đồng bằng Sông Hồng, chịu ảnh hưởng của gió biển, khí hậu nóng ẩm và có mùa lạnh do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, với nhiệt độ trung bình năm là 23,80C, lượng mưa trung bình 1700 mm -
1800 mm
Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình năm dao động 23,1 - 23,30C tại trạm
Hà Đông Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,60C Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình thường trên 230C, tháng nóng nhất là tháng 7
Chế độ ẩm: độ ẩm tương đối trung bình từ 83 - 85 Tháng có ẩm độ trung bình cao nhất là tháng 3, tháng 4 (87 - 89 ), các tháng có độ ẩm tương đối thấp là các tháng 11, tháng 12 (80 - 81%)
lượng mưa phân bổ không đều, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 85 - 90 tổng lượng mưa trong năm và mưa lớn thường tập trung vào các tháng 6, 7, 8 Mùa khô thường diễn ra từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm 10 - 15 lượng mưa cả năm và thường chỉ có mưa phùn, tháng mưa ít nhất là tháng 12, 1 và tháng 2
Đặc điểm khí hậu nhiệt đới, gió mùa nóng ẩm vào mùa hạ và lạnh khô vào mùa đông, là một trong những thuận lợi để cho quận phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với các loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, đặc biệt là các cây trồng cho giá trị sản phẩm, kinh tế cao như rau cao cấp - súp lơ, cà rốt, cây màu, cây vụ đông và hoa cây cảnh các loại
Thanh Oai là một vùng quê với rất nhiều làng nghề như nón lá làng Chuông, quạt nan, mây tre, giang đan làng Vác, xã Cao Viên, làng Bình Đà xã Bình Minh ngày xưa rất nổi tiếng với nghề làm pháo Gần chục năm trở lại, các khu công nghiệp mở ra thu hút nhiều lao động địa phương Do vị trí chỉ cách trung tâm Hà Nội không xa nên Thanh oai sẽ tiếp tục phát triển Hiên nay thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng nhiều dự án trên địa bàn
Trang 3531
huyện: trục đường phát triển phía nam với các khu độ thị như (Mỹ hưng , Thanh Hà A, Thanh Hà B ); dự án đường vành đai 4, cụm công nghiệp Cao viên Bình Đà
Quốc lộ 21B là huyêt mạch giao thông của huyện, từ Hà Đông đi chùa Hương và sang Hà Nam, qua thị trấn Kim Bài Quốc lộ 6 qua rìa phía Tây Bắc huyện, dự án đường trục phía nam Hà Nội đi xuyên qua huyện, ngoài ra còn có tỉnh lộ 71 Phía Đông Bắc có tuyến đường sắt vành đai phía Tây Hà Nội chạy qua, để tới ga Văn Điển Hiện nay thành phố hà nội đang xây dựng trục đường phát triển phía nam Hà Tây cũ, con đương nối đường trần phú hà đông với quốc lộ 1a đoạn qua cầu rẽ Tuyến đường này sẽ liên thông hà đông với đường vành đai 4 và quốc lộ 1a Con đường này sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển của thanh oai trong tương lai Con đường này sẽ đi qua các
Tình hình kinh tế
Thanh Oai là một vùng quê với rất nhiều làng nghề như nón lá làng Chuông, tương Cự Đà, giò chả Ước lễ, gạo Bồ nông Thanh Văn, quạt nan, mây tre, giang đan làng Vác, xã Cao Viên, làng Bình Đà xã Bình Minh ngày xưa nổi tiếng cả nước với nghề làm pháo, nghề cơ khí ở làng Rùa xã Thanh Thùy Gần chục năm trở lại, các khu công nghiệp mở ra thu hút nhiều lao động địa phương
Trang 3632
Do vị trí chỉ cách trung tâm Hà Nội không xa nên Thanh Oai sẽ tiếp tục phát triển Hiện nay thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng nhiều dự án trên địa bàn huyện: trục đường phát triển phía nam với các khu đô thị như Mỹ Hưng, Thanh Hà A, Thanh Hà B ; dự án đường vành đai 4, cụm công nghiệp Cao Viên - Bình Đà
Theo báo cáo của UBND huyện Thanh Oai, trong năm 2017, kinh tế của huyện đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá, các ngành kinh tế đều giữ được
ổn định và phát triển.Tổng giá trị sản xuất ước đạt 13.705 tỷ đồng, đạt 100,5%
so với kế hoạch, tăng 13,6 so với năm 2016 Trong đó giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản ước đạt 1.862 tỷ đồng; giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng ước đạt 7.793 tỷ đồng; giá trị sản xuất thương mại – dịch vụ ước đạt 4.050 tỷ đồng, tăng 18 so với năm 2016 Tốc độ tăng trưởng kinh tế ước đạt 13,6 , cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện ước thực hiện 864,9 tỷ đồng, đạt 349% so với dự toán TP giao và 247% so với dự toán của HĐND huyện
Về chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM), toàn huyện đã có 10
xã đạt chuẩn NTM Năm 2017 qua thẩm định đã có thêm 4 xã cơ bản đạt đang
đề nghị TP kiểm tra chấm điểm các tiêu chí để công nhận xã đạt chuẩn NTM Tiếp tục kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn 6 xã chưa đạt chuẩn NTM rà soát, đánh giá và xây dựng kế hoạch giải pháp cụ thể thực hiện các tiêu chí
Bên cạnh đó, công tác giáo dục, y tế, an sinh xã hội được huyện đặc biệt chú trọng Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện kịp thời, chính xác, đúng đối tượng, tổ chức hỗ trợ trên 45 tỷ đồng xây dựng và sửa chữa nhà
ở cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng Tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 toàn huyện còn 1.672 hộ, giảm 386 hộ so với năm 2016 Triển khai các lớp đào tạo nghề theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ Tổ chức 29 lơp cho 1.015 học viên Tăng cường bảo vệ, chăm sóc và
Trang 37Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, huyện phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, trong đó chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng kinh tế là 12,5%, thu ngân sách Nhà
nước phấn đấu 450 tỷ đồng, có thêm 3 xã đạt chuẩn NTM…(Theo kế hoạch,
chương trình bế mạc ngày 15/12/2017)Đảng bộ và nhân dân Thanh Oai đã
phát triển lợi thế và khai thác tiềm năng sẵn có của địa phương, đồng thời tích cực thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn nên đã giành được những thành tựu quan trọng về mọi mặt.Tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện,
an ninh chính trị trật tư an toàn xã hội được giữ vững, các hoạt động văn hóa
xã hội có nhiều tiến bộ Bí thư huyện ủy Thanh oai Ông Nguyễn Trường Thọ nhấn mạnh “trong xây dựng nông thôn mới, huyện coi nhiệm vụ dồn điền đổi thửa, phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng là bước đi đột phá hàng đầu để thúc đẩy xây dựng, hoàn thiện các tiêu chí khác Sau quá trình dồn điền đổi thửa, đến nay huyện đã cấp được trên 30.865/32.072 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp (đạt trên 96 ) để các hộ nhanh chóng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế”
Tuy nhiên, do là huyện có mức phát triển kinh tế ở mức thấp nên ngay
từ đầu bắt tay vào xây dựng nông thôn mới huyện đã xác định sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức Bởi thế nên huyện đã chỉ đạo các xã không xây dựng
Trang 38Để đảm bảo tính ổn định, bền vững cho quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước đòi hỏi huyện Thanh Oai phải phát huy tốt các nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng Điều đó đặt ra yêu cầu đối với ĐNCBCCCH phải có kiến thức, hiểu biết về kinh tế, chú trọng bồi dưỡng quản lý kinh tế
Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, mặc dù trong địa bàn huyện còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự quan tâm của Thành ủy, HĐND, UBND TP Hà Nội; sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Huyện ủy, UBND huyện Thanh Oai cùng với quyết tâm phấn đấu nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân trong huyện đã đạt được kết quả toàn diện, phát triển đúng định hướng, đúng mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Thanh Oai, thúc đẩy kinh tế - xã hội của huyện phát triển nhanh, mạnh
và bền vững
Tình hình chính trị
Hiện nay công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân được chú trọng toàn diện Công tác đối ngoại luôn được chú trọng và mở rộng các quan hệ đối tác phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội; quốc phòng và an ninh được coi trọng; an ninh chính trị và trật tự an toàn
xã hội được giữ vững
Trang 3935
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tiến trình dân chủ xã hội dưới
sự lãnh đạo của Đảng đang phát triển ngày càng mạnh mẽ, sâu sắc hơn Đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển Nhân tố đó đặt ra cho ĐNCBCCCH của huyện những yêu cầu cao trong phong cách làm việc, nhất
là tác phong sâu sát, gần dân, nói đi đôi với làm
Tình hình văn hóa – xã hội
Thanh Oai có nét đặc trưng của nền văn hóa đồng bằng Bắc Bộ với rất nhiều đình chùa cổ kính và những làng nghề lâu đời, đặc sắc nhất là làng làm nón lá ở Phương Trung (Làng Chuông), điêu khắc ở Võ Lăng (Dân Hoà), Dư Dụ(Thanh Thuỳ) cùng với nghề làm pháo tại Cao Viên, Thanh Cao và Bình
Đà Ngoài ra rải rác khắp huyện là nghề mây tre đan Làng Chuông đã được công nhận là làng điển hình của văn hóa đồng bằng bắc bộ Những đình chùa nổi tiếng là chùa Bối Khê, đình Bình Đà v.v Tôn giáo chủ yếu là đạo Phật
và Thiên chúa giáo Hầu như mỗi làng đều có đình, chùa cổ kính Trung tâm của Thiên chúa giáo trong vùng là nhà thờ Thạch Bích tại xã Bích Hòa và nhà thờ Từ Châu tại xã Liên Châu
Những đình chùa nổi tiếng là chùa Bối Khê, đình Bình Đà… Vv Hầu như mỗi làng đều có đình, chùa cổ kính Toàn huyện hiện có 122 di tích lịch
sử, văn hóa di tích cách mạng
Đặc biệt là Chùa Bối Khê - một ngôi chùa cổ kính nhất, độc đáo vào bậc nhất Việt Nam xây dựng vào đời Trần, khoảng năm 1338, được công nhận là di tích Quốc gia hạng đặc biệt, là một trong sáu di tích quan trọng hàng đầu của Hà Tây
Huyện Thanh Oai cũng là một trong những địa phương chú trọng nhiều đến việc phát triển văn hoá - xã hội Hiện, toàn huyện đã tiến hành xây dựng nhà văn hoá tại các thôn làng, cụm dân cư, trong đó, đã có trên 60 số làng
có nhà văn hoá đạt chuẩn Năm 2014, đã có 93,7% số hộ, gia đình đạt tiêu
Trang 4036
chuẩn gia đình văn hóa, có 90% số làng, cụm dân cư, cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu làng, cơ quan văn hóa Hai năm một lần, huyện tổ chức hội nghị biểu dương các gia đình văn hóa, làng, cơ quan văn hóa tiêu biểu xuất sắc, các
cá nhân, tập thể xuất sắc đều được UBND huyện tặng giấy khen và phần thưởng
Công tác quản lý văn hóa được thực hiện có hiệu quả, đảm bảo môi trường văn hóa lành mạnh, trong 5 năm qua không có hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa Xây dựng và khai thác sử dụng có hiệu quả các thiết chế văn hóa từ huyện tới cơ sở đạt được nhiều kết quả Hiện nay, huyện có 01 nhà văn hóa, 01 trung tâm thể dục thể thao với các công trình sân vận động,
bể bơi, sân tennit, trên 100 nhà văn hóa thôn, trong đó có 48 nhà văn hóa cơ bản đạt chuẩn theo quy định Xây dựng 08 sân khấu ngoài trời tại các cụm dân cư công cộng, 100 đài truyền thanh xã, thị trấn đã được nâng cấp
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thường xuyên được quan tâm chỉ đạo Trên địa bàn huyện hiện có 144/246 di tích được xếp hạng, trong đó có 68 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 76 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Đến nay đã có trên 12 các di tích được tu bổ, tôn tạo với kinh phí hàng trăm tỷ đồng Đầu năm 2014, đã triển khai đề án nâng cấp lễ hội Bình
Đà từ cấp xã tổ chức lên quy mô cấp huyện, tổ chức thành công lễ đón nhận Bằng công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia đối với lễ hội Bình
Đà thờ Thánh tổ Lạc Long Quân
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy
mạnh thực hiện gắn với phong trào xây dựng Nông thôn mới, tổng số làng, tổ dân phố được công nhận danh hiệu văn hoá là 96/116, đạt 82,75 ; 09 cơ quan đạt danh hiệu đơn vị văn hoá, 02 làng văn hoá sức khoẻ, 02 xã đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới Số gia đình được công nhận gia đình văn hoá là 46.271 gia đình, đạt 86%