VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ THOA VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG AN NHÂN DÂ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THOA
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG AN NHÂN DÂN PHÍA NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THOA
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG AN NHÂN DÂN PHÍA NAM HIỆN NAY
Mã số: 82 29 001
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN ĐÌNH HÒA
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do chính tôi thực hiện, các số liệu được trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực, đáng tin cậy và là kết quả của quá trình tham khảo chủ yếu từ các báo cáo tổng kết Những nội dung và kết luận trong luận văn mà tôi nghiên cứu chưa được công bố ở bất kể đâu Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Người làm luận văn
Nguyễn Thị Thoa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN 8
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện 8 1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 8 1.1.2 Những tiền đề tư tưởng - lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện 11 1.1.3 Nhân tố chủ quan của bản thân Hồ Chí Minh 20 1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện: Khái niệm và nội dung cơ bản 24 1.2.1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện 24 1.2.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện 29 1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường hình thành và phát triển con người toàn diện 34
Chương 2: PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG AN NHÂN DÂN PHÍA NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 42
2.1 Thực trạng phát triển con người toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam hiện nay 42 2.1.1 Khái quát đặc điểm, tình hình của các trường cao đẳng Công an nhân dânhiện nay 42 2.1.2 Những thành tựu và nguyên nhân 44 2.1.3 Một số hạn chế và nguyên nhân 57 2.2 Một số giải pháp tiếp tục phát triển con người toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam hiện nay 60
Trang 52.2.1 Nâng cao nhận thức của hệ thống chính trị trong các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam về tầm quan trọng của việc phát triển con người toàn diện 60 2.2.2 Phải coi giáo dục - đào tạo và tự giáo dục - đào tạo là yêu cầu hàng đầu, thường xuyên của người Công an cách mạng trong các trường cao đẳng Công
an nhân dân 61 2.2.3 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo trong các trường cao đẳng Công an nhân dân 65 2.2.4 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo tình hình trong nước và thế giới
để chủ động phát triển con người toàn diện đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới 67
KẾT LUẬN 70 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, một chiến sỹ lỗi lạc của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và là một danh nhân văn hóa thế giới Người là sự kết tinh những phẩm chất và giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc Việt Nam và thời đại Tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng sự nghiệp cách mạng
và những tư tưởng mà Người để lại cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta là tài sản
vô cùng quý báu, có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng trước đây, hôm nay cũng như mai sau Vấn đề này đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam,
là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta” [16, tr.7 – 8]
Trong di sản tư tưởng của Người, tư tưởng về xây dựng con người phát triển toàn diện là một bộ phận quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng nước ta Lấy con người làm trung tâm, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đấu tranh chống áp bức, bất công, phấn đấu đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho nhân dân Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người phát triển toàn diện, trong giai đoạn cách mạng hiện nay khi đất nước đang tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hơn lúc nào hết, Đảng ta luôn quan tâm và chú trọng đến việc xây dựng con người phát triển toàn diện Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII cũng khẳng định: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người
về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc” [16, tr 53] Phát huy nhân tố con người nhằm tạo ra những con người phát triển về mọi mặt, đủ sức, đủ tài để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong giai đoạn hiện nay, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và
Trang 72
Công an nhân dân là nòng cốt Trong điều kiện hội nhập quốc tế, nhiệm vụ này lại càng trở nên hết sức to lớn, nặng nề và phức tạp Do đó, việc xây dựng con người phát triển toàn diện trong Công an nhân dân được xác định là nhiệm vụ then chốt,
có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, bảo đảm hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ trong thời kỳ mới Để đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, Đảng ta xác định việc đẩy mạnh nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện nói riêng
là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách
Thực hiện sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng ủy Công an Trung ương, đồng thời trên cơ sở nhận thức sâu sắc những giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, trong những năm qua, các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam đã và đang tích cực vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng, đào tạo, phát triển con người toàn diện Nhờ đó, bước đầu đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: Đội ngũ cán bộ, chiến sỹ và học viên ngày càng có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống tốt; có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao; thể lực được đảm bảo, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm
vụ được giao Tuy nhiên, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện tại các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế Để góp phần đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng con người phát triển toàn diện
trong các trường cao đẳng Công an nhân dân, tôi chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện trong các trường cao đẳng Công
an nhân dân phía Nam hiện nay” để nghiên cứu trong luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm sâu sắc, toàn diện; là nền tảng
tư tưởng và kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng nước ta Chính vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học với những nội dung, mục tiêu, cấp độ khác nhau khai thác tư tưởng Hồ Chí Minh Đối với vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về
Trang 83
phát triển con người phát triển toàn diện đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu, tiếp cận trên những phương diện khác nhau:
Thứ nhất, những công trình, bài viết đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người và xây dựng con người Về mảng nghiên cứu này đã có nhiều công trình
(sách, đề tài khoa học, bài báo) nghiên cứu Một trong số đó là cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa và con người mới của Bùi Đình Phong, Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2008), tác phẩm này phân tích khá sâu sắc tư tưởng
Hồ Chí Minh về văn hóa và vận dụng để xây dựng những phẩm chất của con người
mới phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới Cuốn Hồ Chí Minh với xây dựng con người mới, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
(1995), tác phẩm này nêu lên những quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và
vận dụng để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Cuốn Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện của Phó giáo sư, Tiến sĩ
Thành Duy, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội (2010), đã đề cập đến những quan điểm cơ bản về mối quan hệ giữu văn hóa và xây dựng con người phát triển toàn diện, nguồn gốc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện; về đặc điểm, giải pháp và một số nội dung phát triển con
người Việt Nam toàn diện trong giai đoạn hiện nay Hay cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người của Đặng Xuân Kỳ, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội (2005), đề cập đến các khía cạnh về văn hóa và con người theo quan điểm của Hồ Chí Minh và vận dụng quan điểm đó vào xây dựng văn hóa mang
bản sắc dân tộc Việt Nam Tác giả Vũ Thiện Vương với cuốn Triết học Mác – Lênin về con người và xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2001), trong đó trình bày
khái quát những quan điểm cơ bản của triết học Mác – Lênin về con người; trên cơ
sở đó, vận dụng vào việc luận giải tính tất yếu, tầm quan trọng, phương hướng và giải pháp chủ yếu để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay
Ngoài các công trình nêu trên, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người còn được
Trang 94
nhiều tác giả khác nghiên cứu, viết thành những bài báo khoa học như: “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người và chiến lược con người, Tạp chí Công tác khoa giáo, 12/1997; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển xã hội” của Lê Thị Hương, Tạp chí Triết học, số 9/2006; “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về con người và chính sách đối với con người” của tác giả Thành Duy, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12/2005; “Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng con người mới, văn hóa mới” của Nguyễn Trung Thu, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội (2013); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển giáo dục đào tạo nhân tài” của Chu Thái Thành, Tạp chí Cộng sản, số 18, tháng
9/2005… Các bài viết này đã đề cập tới những nội dung liên quan đến vấn đề con người và phát triển con người theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ hai, những công trình, bài viết có liên quan tới xây dựng lực lượng Công
an nhân dân Có thể kể đến cuốn Một số vấn đề về xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới của Bộ Công an, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà
Nội (1998), tác phẩm đã nêu ra một số vấn đề về xây dựng lực lượng cảnh sát nhân dân và đưa ra một số giải pháp để xây dựng lực lượng cảnh sát nhân dân ngày càng
phát triển, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới Cuốn Một số vấn đề về xây dựng lực lượng Công an nhân dân của Trần Quốc Hoàn, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
Hà Nội (2004) Cuốn Công an nhân dân 65 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Bộ Công an, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội (2010), tác phẩm
khái quát những chặng đường hình thành và phát triển lớn mạnh của lực lượng
Công an nhân dân Cuốn Phát triển nguồn nhân lực Công an nhân dân trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam của Vũ Đức Khiển - Nguyễn Tốt, Nhà xuất bản
Công an nhân dân, Hà Nội (2014), đã góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập quốc tế; đồng thời,
đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong lực lượng
Công an nhân dân Tác phẩm Xây dựng đội ngũ trí thức trong Công an nhân dân trong tình hình mới của Bộ Công an, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội
(2009), đề cập đến sự cần thiết và một số quan điểm, giải pháp xây dựng, phát triển
Trang 10Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát triển con người toàn diện đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Mỗi tác giả nghiên cứu vấn
đề trên từ nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau nhằm khai thác những khía cạnh, nội dung và giải quyết những nhiệm vụ mà mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu
của mỗi công trình đặt ra Tuy nhiên, đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện trong các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam hiện nay” vẫn chưa được tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống và có
chiều sâu Vì vậy, ở luận văn này, tác giả sẽ kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đây, đồng thời có sự bổ sung, phát triển nhằm góp phần làm sáng tỏ cũng như mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện ở các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện, luận văn phân tích thực trạng vận dụng tư tưởng đó, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển con người toàn diện theo tư tưởng HCM trong các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam hiện nay
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Trang 116
- Phân tích, làm rõ thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện trong các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp tiếp tục phát triển con người toàn diện theo tư tưởng
Hồ Chí Minh trong các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề phát triển con người toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu trong giới hạn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ và học viên phát triển toàn diện ở các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam (Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II
và Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II) trong giai đoạn hiện nay
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là di sản lý luận của Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện; đồng thời luận văn cũng kế thừa, chọn lọc và phát triển những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước có liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích và tổng hợp, lịch sử
và lôgic, so sánh, đối chiếu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Trang 127
Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về ý nghĩa to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, chiến sỹ phát triển toàn diện trong các trường cao đẳng Công an nhân dân hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện trong công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ trong các trường cao đẳng Công an nhân dân phía Nam hiện nay Đồng thời, luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ, chiến sỹ trực tiếp làm công tác tham mưu, tổ chức, xây dựng lực lượng trong lực lượng Công an nhân dân hoặc những người làm công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy trong và ngoài ngành Công an
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 02 chương, 04 tiết
Trang 138
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Điều kiện kinh tế - xã hội thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Bất kỳ tư tưởng, lý luận nào được hình thành cũng gắn với những điều kiện lịch sử - xã hội nhất định Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện nói riêng và tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung hình thành gắn liền với bối cảnh thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đầy biến động
Từ những năm 1860 – 1870, chủ nghĩa tư bản đã chuyển dần từ giai đoạn tự
do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền – chủ nghĩa đế quốc và trở thành một hệ thống thế giới Nhờ sự vận dụng những thành tựu của các cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra ở cuối thế kỷ XVIII, các nước tư bản chủ nghĩa đã nhanh chóng phát triển lực lượng sản xuất, từ đó tạo ra một khối lượng hàng hóa khổng lồ Trong
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Mác viết “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ
sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [10, tr 599] Để
xử lý nguồn hàng hóa dư thừa này các nước tư bản đã tiến hành tìm kiếm, mở rộng thị trường mới bằng cách đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa, gây chiến tranh để chia lại thị trường thế giới và thâu tóm thuộc địa Hậu quả là trong lòng xã hội tư bản, bên cạnh những mẫu thuẫn vốn đã tồn tại,xuất hiện nhiều mâu thuẫn mới như: Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc và mâu thuẫn giữa các nước tư bản, đế quốc với nhau Những mâu thuẫn đó trở thành những mâu thuẫn sâu sắc của thời đại Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc địa với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế chống giai cấp tư sản ở chính quốc trở thành cuộc đấu tranh chung
Trang 149
Trước sự tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân chính quốc và thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản diễn ra sôi nổi, tạo ra những cao trào cách mạng mới, đỉnh cao là cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 Cuộc cách mạng này thành công có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với nước Nga, mà còn nêu một tấm gương sáng về giải phóng cho các dân tộc bị áp bức, “mở ra trước mắt họ thời đại chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” [38, tr.562], mở ra con đường mới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộccủa các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam nói chung và Nguyễn
Ái Quốc nói riêng Với sự nhạy bén về chính trị và quyết tâm cứu nước, Người đã nhanh chóng tiếp cận ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga và đặt trọn niềm tin theo ánh sáng của Cách mạng tháng Mười
Từ sau sự tan rã của Quốc tế II và sự ra đời của Quốc tế III (tháng 3/1919), phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa phương Đông ngày càng có mối quan hệ khăng khít hơn với phong trào công nhân các nước tư bản phương Tây Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trở thành một bộ phận của của cách mạng vô sản thế giới Điều này được thể hiện rất rõ nét trong tác phẩm “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” doV.I.Lênin soạn thảo Nguyễn Ái Quốc coi đây là cái cẩm nang thần kỳ để giải phóng cho dân tộc Việt Nam, sau này Người viết: Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!" [42, tr.562] Từ đây, Người đã kiên quyết về con đường giải
phóng dân tộc: con đường cách mạng vô sản Người bỏ phiếu tán thành Quốc tế III
và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đây là một dấu mốc quan trọng đánh dấu
sự thay đổi lập trường tư tưởng chính trị của Nguyễn Ái Quốc: Từ người thanh niên yêu nước trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên Từ đây những tư tưởng của Người được hình thành trên một thế giới quan mới, khoa học, biện chứng hơn
- Điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Trang 1510
Bước sang cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam về cơ bản vẫn là một xã hội phong kiến, nông nghiệp lạc hậu Chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động của triều đình Nguyễn đã làm đất nước dần lâm vào khủng hoảng và suy yếu Đây là cơ hội cho các nước thực hiện âmmưu xâm chiếm Việt Nam Ngày 1/9/1858, thực dân Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.Triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng, làm tay sai cho thực dân trong việc đàn áp, bóc lột nhân dân, biến nước ta trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến bằng các Hiệp ước Nhâm Tuất - 1862, cắt đứt 3 tỉnh miền Đông dâng cho giặc; Hiệp ước Giáp Tuất, 1874 dâng 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp; Hiệp ước Quý Mùi - 1883, thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc kỳ và Trung kỳ; và Hiệp ước Patơnốt 1884, thừa nhận sự bảo hộ hoàn toàn của Pháp ở Việt Nam Như vậy, chỉ với 4 bản hiệp ước triều đình nhà Nguyễn cuối cùng đã dâng toàn bộ lãnh thổ cho thực dân Pháp
Trong gần một thế kỷ, thực dân Pháp đã câu kết với giai cấp địa chủ, phong kiến thống trị nước ta một cách vô cùng tàn bạo Nước ta vốn là quốc gia thống nhất, nay chúng chia cắt thành 3 kỳ với 3 chế độ thống trị khác nhau để dễ bề cai trị
và đàn áp Sau khi chính thức đặt nền bảo hộ trên toàn cõi Việt Nam, với chính sách chuyên chế về chính trị, độc quyền về kinh tế, nô dịch về văn hóa… cuộc khai thác của Pháp khiến cho xã hội nước ta có sự biến chuyển và phân hóa sâu sắc Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Kết cấu xã hội Việt Nam xuất hiện thêm những giai cấp mới: Giai cấp tư sản, giai cấp công nhân và tầng lớp tiểu tư sản Trong xã hội Việt Nam lúc này cũng nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, trong đó mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp được coi là mâu thuẫn chủ yếu
Cùng lúc đó, các “Tân thư”, “tân văn”, “tân báo” và những ảnh hưởng của trào lưu cải cách ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào Việt Nam, tác động làm phong trào yêu nước của nhân dân ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản Các phong
Trang 1611
trào này chỉ rộ lên một thời gian ngắn rồi lần lượt bị dập tắt, một phần vì chưa lôi cuốn được tầng lớp nhân dân, phần khác các phong trào ấy vẫn do các sĩ phu phong kiến dẫn dắt nên không tránh khỏi hạn chế và thất bại Điều này chứng tỏ rằng con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đã rơi vào bế tắc Bế tắc là
do không có đường lối chính trị rõ ràng, đúng đắn; do không có phương pháp cách mạng; do không thấy được sức mạnh trong dân
Như vậy, con đường cứu nước của dân tộc lúc này rơi vào khủng hoảng như đêm tối không có đường ra Yêu cầu của lịch sử là phải tìm ra một con đường cứu nước mới cho dân tộc Nhưng đó là con đường nào? Câu hỏi đó đặt lên vai thế hệ thanh niên như Nguyễn Tất Thành Những biến cố to lớn của thế giới đã mang lại một nguồn ánh sáng mới về con đường giải phóng dân tộc, đồng thời tạo ra những điều kiện thuận lợi, cơ hội mới để tiếp thêm động lực góp phần thôi thúc Người ra
đi tìm đường cứu nước, từ đó hình thành một hệ thống quan điểm sâu sắc, toàn diện
về con đường cứu nước và về con đường cách mạng Việt Nam sau này
1.1.2 Những tiền đề tư tưởng - lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về phát triển con người toàn diện
- Giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp và cao quýnhư: Tinh thần yêu nước, tương thân tương ái, đoàn kết, lạc quan, cần cù, sáng tạo Nổi bật là chủ nghĩa yêu nước – khởi nguồn đầu tiên góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là một nhân tố được xếp ở vị trí đầu tiên trong bảng giá trị tinh thần của Việt Nam Từ truyền thống yêu nước của dân tộc, Người tổng kết:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vôcùng mạnh mẽ, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” [37, tr 38] Người không chỉ tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn luôn phát
Trang 1712
huy lòng yêu quê hương đất nước nồng nàn bằng những hành động cụ thể trong cuộc sống thực tiễn: “Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê, rõ ràng dễ thấy Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến” [37, tr 38] Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã làm phong phú thêm nội dung của chủ nghĩa yêu nước Theo Người, yêu nước là yêu Tổ quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, bởi có chủ nghĩa xã hội thì Tổ quốc mới giàu mạnh, nhân dân mới được ấm no, hạnh phúc Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh đã cống hiến cho dân, cho nước, cho nhân loại cần lao Người đã phát triển thêm những nội dung mới của chủ nghĩa yêu nước trên cơ sở quan điểm giai cấp, yêu nước mở rộng ra thành tình yêu vô cùng rộng lớn đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, những người cùng khổ trên khắp thế giới Điều này thể hiện chủ nghĩa nhân văn sâu
sắc ở Hồ Chí Minh Trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí
Minh đã nói rõ: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [42, tr 563].Yêu nước gắn liền với ý thức sâu sắc về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, đây là biểu hiện cao nhất của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Người đã thấu cảm sâu sắc với vạn điều cay đắng từ hàng ngàn năm bị mất tự do của dân tộc Với hành trang là tinh thần yêu nước quật cường, ý chí đấu tranh bất khuất, ngày 5/6/1911 người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã rời Tổ quốc, sang phương Tây bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân Tóm lại, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam là cơ sở, là động lực và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Đây là một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện nói riêng
Ngoài truyền thống yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống nhân ái, thì đoàn kết cũng là một trong những nét hết sức đặc sắc trong các giá trị truyền thống
Trang 1813
Việt Nam Hồ Chí Minh đã thấm nhuần, kế thừa truyền thống ấy của dân tộc và nâng lên cao đẹp hơn thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà; lòng yêu thương, quý trọng con người hình thành nên tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, trước hết đó là tình thương yêu dành cho nhân dân lao động, cho những người cùng khổ bị đọa đày áp bức, từ tình yêu thương đồng bào mình, Người
mở rộng lòng yêu thương đó ra phạm vi thế giới Theo Người, “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản” [31,
tr 287] Nếu như tư tưởng đại nhân ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng, vì tự do, hạnh phúc của con người, tin vào lý trí, phẩm giá con người, tạo điều kiện cho con người phát triển tự do và toàn diện, thì tư tưởng đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là cứu nước, là độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội
Bên cạnh giá trị truyền thống về lòng yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết hay tương thân tương ái, Hồ Chí Minh còn kế thừa tư tưởng giáo dục đạo lý làm người của ông cha ta – đó là giáo dục con người sống có lý tưởng bản lĩnh, có ý chí vươn lên để tự hoàn thiện mình về mọi mặt đức, trí, thể, mỹ đem hết tài đức của mình
để xây dựng một xã hội “thái bình, thịnh trị” Triết lý và nội dung giáo dục đào tạo, phát triển con người của cha ông ta đã góp phần quan trọng tạo ra những thế hệ người Việt Nam có đủ sức khỏe, đức và tài, góp phần to lớn vào sự trường tồn và phát triển không ngừng của dân tộc Việt Nam, làm rạng danh dân tộc, vẻ vang giống nòi, như những trang sử thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có nền nếp giáo dục cơ bản, với những hiểu biết sâu sắc về những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc cũng như những tư tưởng giáo dục, đào tạo và phát triển con người của cha ông, Người cho rằng, cần phải kế thừa một cách sáng tạo những giá trị ấy vào sự nghiệp xây dựng và phát triển con người Trong tư tưởng phát triển con người của mình, vấn đề giáo dục đạo
lý làm người được Hồ Chí Minh rất quan tâm Theo Hồ Chí Minh, con người dù bất
kỳ ở đâu cũng phải sống có đạo lý Đối với dân tộc Việt Nam vấn đề này càng có ý nghĩa quan trọng Người cho rằng, nếu con người thiếu nhân cách, sống không đạo
Trang 1914
lý thì dù tài giỏi đến đâu cũng không giúp ích được cho cộng đồng, xã hội, thậm chí còn gây hại cho đất nước, cho nhân dân Vì vậy, việc chăm lo giáo dục là việc làm cần thiết, thường xuyên Hiếm có một vị lãnh tụ nào trên thế giới như Hồ Chí Minh, Người đã hy sinh hạnh phúc cá nhân, dành trọn vẹn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Người luôn chăm lo bồi dưỡng đức tài cho thế hệ trẻ Vì một điều dễ hiểu rằng, không có một cuộc cách mạng nào có thể chiến thắng nếu không chuẩn
bị, đào tạo được những con người có tính tiên phong, mang trong mình lý tưởng và đường lối của cuộc cách mạng ấy, có đạo đức và có khả năng dẫn dắt quần chúng tiến lên xây dựng xã hội mới, tiến bộ hơn Cho đến ngày nay, bài học bồi dưỡng thế
hệ cách mạng cho đời sau đã trở thành bài học quan trọng, bởi nó là nền móng của
sự phát triển hiện tại và mai sau
Như vậy, có thể thấy, chính những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và những tư tưởng về giáo dục của cha ông đã được Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển, tạo thành cơ sở, nền tảng trong quan điểm
về phát triển con người toàn diện, là động lực và sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời
hoạt động cách mạng của Người
- Tinh hoa văn hóa nhân loại với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Văn hóa phương Đông:
Với truyền thống chú trọng văn hóa, nhân văn nên nhìn chung tư tưởng phương Đông đều hướng đến mục tiêu xây dựng và phát triển những con người tốt đẹp Các học thuyết đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng tu dưỡng và phấn đấu của mỗi con người
Nho giáo chứa đựng những mặt tích cực mang tính nhân văn và nhân đạo sâu
sắc Trước hết là ở chủ trương xây dựng một “thế giới đại đồng”, một “xã hội bình trị” làm theo năng lực – hưởng theo nhu cầu, đây là một xã hội mà mọi người mơ ước: Con người được sống bình yên, hạnh phúc với những quan hệ tốt đẹp Nho giáo có ưu thế hơn hẳn các học thuyết, tôn giáo khác bởi nó có một hệ thống phạm trù, khái niệm khá hoàn chỉnh để giáo dục, đào tạo, phát triển con người, trong đó
Trang 2015
nhấn mạnh yêu tố tự giác, “tu thân” của mỗi con người Nho giáo xây dựng được mẫu người lý tưởng cho xã hội phong kiến, đó là những người “quân tử”, những “kẻ sĩ”, mà ở họ các năng lực, phẩm chất về mặt tinh thần như đạo đức… được coi trọng Người quân tử là người xả thân vì Nhân, vì Nghĩa Hồ Chí Minh cho rằng điều này phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cũng như tư tưởng, tâm lý của dân tộc Việt Nam vốn đề cao đạo làm người, tôn vinh tinh thần xả thân vì Tổ quốc và nhân dân của các thành viên trong cộng đồng Mục tiêu cuối cùng của việc tu dưỡng bản thân là bình thiên hạ, thể hiện mong muốn xây dựng, phát triển con người toàn diện Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín Theo Người: “Tuy trong học thuyết của Khổng Tử
có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học” [38,
tr 356] Hồ Chí Minh đã phát triển “trung, hiếu” của Nho giáo lên một tầm cao mới: Trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân Nếu Nho giáo hướng đạo đức của người quân tử vào việc bảo vệ chế độ phong kiến, đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối với nhà vua, coi nhân dân là đối tượng để chăn dắt và sai khiến, thì
Hồ Chí Minh lại hướng đạo đức của cán bộ và nhân dân vào việc lật đổ chế độ phong kiến, giải phóng người lao động khỏi áp bức, bóc lột Đối với Hồ Chí Minh,
tu thân là trước hết rèn luyện đạo đức cách mạng và ra sức học tập, tu thân không phải để làm quan, để đè đầu cưỡi cổ nhân dân, mà đòi hỏi người cán bộ phải coi mình như người đầy tớ trung thành của nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân vùng lên, tự giải phóng mình,
tự làm chủ bản thân và làm chủ đất nước
Phật giáo: Bên cạnh ảnh hưởng của Nho giáo thì tư tưởng Hồ Chí Minh về
phát triển con người toàn diện cũng chịu ảnh hưởng các quan điểm của Phật giáo Vốn là một tôn giáo nên Phật giáo không tránh khỏi những hạn chế nhất định, như thần bí, bi quan, yếm thế Hồ Chí Minh đã loại bỏ những điểm hạn chế, tiếp thu và
kế thừa những mặt tích cực của Phật giáo, đó là tư tưởng về xây dựng một cuộc sống bình đẳng, no ấm cho dân chúng; tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái; là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị; là tinh thần bình đẳng, dân chủ, không phân biệt đẳng cấp, đề cao sự tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân của mỗi người Có thể nói, Hồ Chí
Trang 2116
Minh đã tiếp thu và phát triển triết lý của Phật giáo về tinh thần chịu đựng gian khổ,
tự rèn luyện bản thân, loại trừ tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, đấu tranh không khoan nhượng vì hạnh phúc, ấm no, tự do của nhân dân; đặc biệt là tinh thần hy sinh cao
cả, lòng nhân ái bao la, sự khoan dung, độ lượng của Đức Phật Đối với Người sự cần thiết phải xây dựng một xã hội tươi đẹp, đem lại cuộc sống ấm no cho mọi công dân “ở nơi hạ giới”, chứ không phải trên cõi “Niết bàn” như lời khuyên của Đức Phật Điều đó thể hiện tính cách mạng hiện thực và triệt để trong tư tưởng Hồ Chí
Minh Tư tưởng “giải thoát” của Đức Phật được Người nâng lên thành tư tưởng
“giải phóng” con người, giải phóng xã hội
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn có dấu ấn khá sâu đậm trong tư tưởng
Hồ Chí Minh Sinh thời Hồ Chí Minh có từng khẳng định: “Chủ nghĩa Tôn Dật
Tiên có cái hay là phù hợp với nước chúng ta” Hồ Chí Minh đã nói rằng, “Người
cố gắng làm người học trò nhỏ của Tôn Trung Sơn cũng như của Khổng Tử, Giêsu, Các Mác” [59, tr 41] Chủ nghĩa Tam dân bao gồm: Dân tộc độc lập, dân quyền tự
do, dân sinh hạnh phúc Trong tư tưởng của mình, đặc biệt là những vấn đề dân sinh, dân chủ, vấn đề nhà nước của dân, do dân, vì dân, Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển nhiều nội dung tư tưởng của Tôn Trung Sơn Người đã chủ trương xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có độc lập, tự do, hạnh phúc Ham muốn tột bậc của Người là đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Người mong mỏi độc lập cho nhân dân, tự do cho đồng bào Có tự do cho dân tộc thì mới có tự do cho mỗi người Độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân trở thành lý tưởng sống, chiến đấu, là mục tiêu cao cả mà Hồ Chí Minh phấn đấu
Chủ nghĩa nhân văn phương Tây:
Là một người phương Đông, song gần một phần ba thế kỷ sống và hoạt động ở phương Tây, với vốn ngoại ngữ phong phú, Người đã nhanh chóng chiếm lĩnh được tri thức của nhân loại Hồ Chí Minh đi đến các nước phương Tây và tiếp thu những
giá trị tích cực, tiến bộ và phù hợp nhất, trước hết là tư tưởng về tự do dân chủ, về xây dựng một nhà nước pháp quyền Hồ Chí Minh sớm hòa mình trong cách mạng
dân chủ, tự do, vì vậy, am hiểu sâu sắc văn hóa phương Tây Hạt giống tự do, dân
Trang 22từ Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của đại cách mạng Pháp năm 1789 Năm 1945, mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh trích dẫn những
tuyên ngôn của cuộc cách mạng tư sản Pháp và Mỹ Đó là sự cô đúc chủ nghĩa nhân văn phương Tây và khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc cho tất cả mọi người, tất cả các dân tộc Có thể nói rằng, đến những năm 20 của thế kỷ XX chưa một người Việt Nam nào vượt Nguyễn Ái Quốc
về sự hiểu biết, về tình thương yêu giai cấp và viết nhiều nhất về các dân tộc bị áp bức theo đúng nghĩa
- Chủ nghĩa Mác – Lênin với việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lênin như một “cuộc hẹn hò lịch sử” Có thể coi đây là bước ngoặt vĩ đại trong cuộc đời hoạt động cách mạng của
Người Trước khi đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc vẫn còn đứng trên lập trường của một
người dân thuộc địa khao khát đi tìm con đường giải phóng dân tộc Trước khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã có đến 10 năm học tập kinh sách Nho giáo, tiếp thu những quan điểm của các học thuyết phương Đông về con người, bản chất con người và phát triển con người Việc tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin đã giúp Người có cơ sở khoa học để xây dựng nên tư tưởng nhân văn đặc sắc của mình, tránh được sự duy tâm chủ quan trong tư tưởng về con người Chính chủ nghĩa Mác
Trang 2318
– Lênin đã trang bị cho Người thế giới quan và phương pháp luận đúng đắn về bản chất con người, cho phép Nguyễn Ái Quốc thấy rõ hơn quy luật hình thành và phát triển nhân cách, từ đó định ra con đường và phương hướng đúng đắn nhằm xây dựng, phát triển con người toàn diện Cái đích của cách mạng vô sản là xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, từ đó mới giải quyết được triệt để vấn đề giải phóng con người Người viết: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Giống người bóc lột và giống người bị bóc lột Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: Tình hữu ái vô sản” [31, tr.287]; “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc” [31, tr 496]
Tiếp nối và phát triển những lý luận của học thuyết Mác, V.I.Lênin đã nêu lên
lý luận về quá trình giáo dục, đào tạo, phát triển con người trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô Ông nhấn mạnh cả hai mặt: Lý tưởng, đạo đức, nhiệt tình cách mạng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sáng tạo Con người toàn diện từ lý luận đã từng bước trở thành hiện thực trong xã hội mới Tuy nhiên, do điều kiện khách quan của lịch sử nên từ sau khi V.I.Lênin mất lý luận về phát triển con người toàn diện vẫn chỉ dừng lại ở những nét chung
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển một cách sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giáo dục, đào tạo, phát triển con người toàn diện vào điều kiện cụ thể nước ta Do đặc điểm là nước thuộc địa nửa phong kiến, trình độ dân trí, kinh tế còn thấp, Người đã chỉ ra những phẩm chất cần có của con người ở từng thời kỳ phát triển, từng đối tượng cụ thể Quá trình xây dựng con người phát triển toàn diện ở Việt Nam là quá trình Hồ Chí Minh vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa những phẩm chất, năng lực của con người toàn diện nói chung Nói cách khác, Người đã vận dụng thành công
lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về phát triển con người toàn diện vào điều kiện
cụ thể của nước ta Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh hiểu biết sâu sắc những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phát triển con người toàn diện và cũng chứng tỏ
Trang 24ra một chương trình giáo dục mang tính khoa học, hiệu quả Nội dung giáo dục
được Người nêu ra thông qua các tác phẩm như Đường cách mệnh (1927), Thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945), Bức thư cuối cùng Bác gửi cho ngành giáo dục (1968), hay trong bản Di chúc cuối đời của Người Căn cứ vào sự phát triển, những đặc điểm cụ thể của con
người Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xây dựng một chương trình giáo dục, đào tạo phù hợp với từng giai đoạn phát triển và các đối tượng người khác nhau Đồng thời, nội dung này luôn được điều chỉnh, bổ sung để phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới
Nếu như các học giả phương Tây đến với chủ nghĩa Mác - Lênin chủ yếu như đến với một học thuyết nhằm giải quyết những vấn đề tư duy hơn là hành động, thì Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là để tìm kim chỉ nam cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Người bắt gặp ở đó tư tưởng giải phóng con người, giải phóng xã hội khỏi những áp bức, bóc lột và bất công Từ đó tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo để hình thành nên tư tưởng nhân văn cao cả, đó là giải phóng con người, tất cả vì con người, vì sự phát triển toàn diện của con người Trong những năm qua, thực hiện những tư tưởng của Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn
Trang 2520
diện, chúng ta đã thu được những kết quả to lớn Con người phát triển toàn diện từng bước hình thành, đã và đang đóng góp hết sức mình vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.1.3 Nhân tố chủ quan của bản thân Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện là sản phẩm tinh thần của một con người cụ thể, vì vậy tất yếu mang dấu ấn con người Hồ Chí Minh
Ở đó là sự thống nhất toàn vẹn giữa con người, cuộc đời và sự nghiệp, sự thống nhất giữa khả năng tư duy trí tuệ và những phẩm chất đạo đức cũng như năng lực hoạt động thực tiễn Hồ Chí Minh Nói cách khác, đó chính là nhân tố chủ quan góp phần hình thành nên những tư tưởng của Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
- Xuất thân từ gia đình có truyền thống
Hồ Chí Minh sinh ra, lớn lên và được nuôi dưỡng trong một gia đình có truyền thống Nho học Cụ Nguyễn Sinh Sắc học rộng, đỗ đạt cao, biết dùng kiến thức của mình để cứu nhân độ thế Cụ là người thầy đầu tiên của Nguyễn Sinh Cung - dạy chữ, dạy làm người, giáo dục lòng yêu nước và là tấm gương ngời sáng cho con.Tấm gương của cụ Nguyễn Sinh Sắc đã góp phần hình thành ở Người tư tưởng yêu nước thương dân, tư tưởng thân dân, lấy dân làm hậu thuẫn cho các cuộc cải cách chính trị - xã hội Thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan là người am hiểu sâu sắc các giá trị văn hóa dân gian Bà là tấm gương ngời sáng về lòng nhân hậu, yêu thương con người Bà Hoàng Thị Loan đã có tác động tích cực đến các con bằng tính tình giản dị, khiêm tốn, đức hy sinh cao cả Bà đã giáo dục con ngay từ thủa trong nôi qua những lời ru bằng làn điệu dân ca xứ Nghệ, bằng tục ngữ, ca dao Bà
đã dành nhiều tâm sức để truyền thụ cho con những hiểu biết ban đầu về cuộc sống, dạy con biết yêu thương con người Tuổi thơ của Nguyễn Sinh Cung như tờ giấy trắng mà bà Loan là người đã viết những dòng đầu tiên, định hướng nhân cách, toả sáng tâm hồn, bồi đắp lòng bác ái, tình nghĩa đồng bào
Như vậy, có thể khẳng định rằng, ảnh hưởng bởi truyền thống giáo dục và những tư tưởng của người thân trong gia đình đã đặt nền móng quan trọng góp phần hình thành tư tưởng nhân văn cao quý ở Hồ Chí Minh, là cơ sở để từ đó xây dựng
Trang 2621
nên những quan điểm của Người về giải phóng con người và phát triển con người toàn diện
- Khả năng tư duy và trí tuệ Hồ Chí Minh
Có rất nhiều nguồn gốc, cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người, trong đó nhân tố chủ quan - bản thân Hồ Chí Minh giữ vai trò quan trọng Có thể nói, Hồ Chí Minh là một con người có những phẩm đặc biệt, thể hiện
ở khả năng nhạy bén tiếp nhận những tri thức, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại; ở khả năng chuyển hóa những giá trị tinh hoa một cách nhuần nhuyễn để biến hóa thành những phẩm chất, tư tưởng, trí tuệ của riêng mình; ở khả năng vận dụng tài tình những tri thức nhân loại vào điều kiện cụ thể Việt Nam
Trước hết, cần phải nói đến khả năng tư duy, trí tuệ mẫn tiệp của Hồ Chí Minh Thông qua thực tiễn hoạt động cách mạng mà khả năng của Người ngày càng được tôi luyện và trí tuệ được nâng lên tầm cao mới Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện là sự kế thừa, tiếp thu từ nhiều nền văn hóa, tư tưởng khác nhau nhưng đó không phải là tổng số giản đơn Để những giá trị tinh hoa ấy phát huy được hiệu quả và tính ưu việt thì nhất thiết phải thông qua sự vận dụng, phát triển sáng tạo vào điều kiện cụ thể nước ta và Hồ Chí Minh đã làm được điều đó Với tư chất đặc biệt thông minh, với phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, Người đã tự mình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích những sự kiện lớn trên thế giới, đưa ra những nhận xét, đánh giá quan trọng Sự tìm hiểu, tiếp thu một cách có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại từ cổ chí kim, từ phương Đông đến phương Tây, như Nho giáo, Phật giáo, Chủ nghĩa Tam dân, những tư tưởng nhân văn phương Tây,đặc biệt là học thuyết Mác về con người, đã mở ra một hướng mới cho
Hồ Chí Minh trong việc nghiên cứu vấn đề con người ở Việt Nam Đó là sự vận dụng có sáng tạo tư tưởng phát triển con người lên một tầm cao mới, phù hợp với
xu thế của thời đại Có thể nói, “phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng đã đạt đến một trình độ mới trong cách xem xét và giải quyết thực tiễn, vượt qua nhiều người đương thời để trở thành người kế tục những
Trang 2722
nhà sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng mới trước một phương Đông đầy mâu thuẫn, đầy biến cố phức tạp” [22, tr 32]
Ở Hồ Chí Minh nổi lên tấm lòng nhân văn cao cả hướng về con người, hướng
về quần chúng lao khổ Sinh ra và lớn lên khi cả dân tộc đang đắm chìm trong đêm trường nô lệ, ngay từ thời thơ ấu Người đã chứng kiến cuộc sống cơ cực, lầm than
và sự đè nén dã man của thực dân Pháp Giải phóng con người trở thành hoài bão,
lý tưởng sống, chiến đấu của Hồ Chí Minh Người đã nhanh chóng hòa mình vào phong trào đấu tranh của quần chúng lao khổ, từ đó tăng thêm kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và vốn chính trị phong phú Bằng năng lực tư duy, trí tuệ Người đã không ngừng quan sát và nhận xét thực tiễn đánh giá các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Hồ Chí Minh theo dõi thời cuộc, khâm phục
và kính trọng tất cả những sĩ phu yêu nước đi trước, chắt lọc và rút kinh nghiệm ở
họ, nhưng không hoàn toàn tán thành con đường cứu nước mà họ đã tiến hành Từ
đó, Người xác định phải đi ra nước ngoài, phải khám phá thế giới, tìm hiểu những
gì ẩn giấu đằng sau các khái niệm đẹp đẽ như Tự do – Bình đẳng – Bác ái tại chính các nước tư bản phương Tây, rồi tìm cách trở về giúp đồng bào
Trí tuệ Hồ Chí Minh còn thể hiện ở khả năng khám phá các quy luật vận động
xã hội, đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể
để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn Sang phương Tây, Nguyễn Ái Quốc đã có mặt ở hầu khắp các nước tư bản, có mặt ở nhiều nước thuộc địa châu Phi, tiếp xúc với nhiều hạng người từ công nhân, nông dân, nhà buôn đến các trí thức, học giả, chính khách, nhà báo, nhà cách mạng chuyên nghiệp… Bằng trí tuệ và sự nhạy bén về chính trị, Người đã phân tích, đánh giá ý nghĩa của các sự kiện lớn trên thế giới, đặc biệt là các cuộc cách mạng xã hội, như Cách mạng
Mỹ năm 1776, Cách mạng Pháp năm 1789, Người đánh giá: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa” [31, tr 296] Nghiên cứu cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và đánh giá: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành
Trang 2823
công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”
[31, tr.304] Tháng 7/1920, Người tiếp cận Bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin Qua đó, Hồ Chí Minh đã tìm
thấy cho dân tộc mình một chủ nghĩa “chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất” đóng vai trò nền tảng tư tưởng, công cụ để nhận thức và giải quyết những vấn
đề xã hội hiện thực Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[42, tr.30] và từng bước hình thành những tư tưởng của mình về các vấn đề thực tiễn Việt Nam, trong
đó có vấn đề phát triển con người toàn diện phù hợp với từng thời kỳ
- Phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là một tấm gương ngời sáng với những phẩm chất đạo đức cao đẹp, đó là một hình mẫu nhân cách lý tưởng, một con người đã trở thành huyền thoại con người ấy là sự thống nhất giữa giá trị dân tộc với giá trị nhân loại, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Phẩm chất đạo đức cao quý của Hồ Chí Minh trước hết thể hiện ở bản lĩnh kiên định, luôn tin vào nhân dân, khiêm tốn, giản dị, ham học hỏi; nhạy bén với cái mới, có phương pháp biện chứng, có đầu óc thực tiễn Là người có ý chí mãnh liệt, nghị lực phi thường với bản lĩnh kiên định của mình, Người đã không quản ngại vất vả, hiểm nguy để hoạt động đấu tranh giải phóng con người Điểm đặc biệt nhất về tầm nhìn của Hồ Chí Minh là luôn tin vào con người, tin vào sức mạnh của nhân dân Người cho rằng dân tốt lắm, mọi việc đều do dân làm ra, có dân là có tất cả Từ đó, Người tổng kết: “Dễ mười lần không dân cũng chịu/ Khó trăm lần dân liệu cũng xong” [45, tr.280] Vì vậy, “cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại” [35, tr 326] Vậy nên, chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người vĩ đại, Người để lại cho mỗi chúng ta bao điều cần học tập Một trong những đức tính ấy là sự giản dị, khiêm tốn Có thể khẳng định, phong cách khiêm tốn, giản dị của Hồ Chí Minh là kết tinh của văn hóa tốt đẹp của người Việt Nam bao thế hệ, thừa hưởng đạo đức, lối sống thanh bạch, giản dị của gia đình, được thể hiện sống động qua từng cử chỉ, hành động trong
Trang 2924
cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người từ khi còn nhỏ đến lúc giữ cương vị cao nhất của dân tộc Việt Nam Sự giản dị của Người thể hiện ở trong từng lời nói, qua cuộc sống đời thường dân dã Sinh thời, Người nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào…Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [34, tr.187] Ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh chính là độc lập cho đất nước, là tự do, hạnh phúc cho nhân dân, là hướng đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc và phát triển toàn diện con người Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về ý chí học tập, vươn lên không mệt mỏi Chính điều này đã giúp Người trở thành một trong những lãnh tụ vĩ đại trong lịch sử Việt Nam và thế giới Trong hành trình đi tìm đường cứu nước, trải qua bao khó khăn, gian khổ, ý chí đó càng được tôi luyện và sáng ngời Cũng nhờ đó mà Người đã đạt được trình độ uyên thâm trên nhiều lĩnh vực, trở thành nhà chính trị, nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo dục, nhạc sỹ…Và thực sự là một nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh không phải là một nhà thuyết giáo, một vị thánh, mà đơn giản, Người là một người yêu Tổ quốc, yêu con người bằng cả
sự sống của mình
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện nói riêng là sản phẩm tổng hòa của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, của truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại Từ thực tiễn dân tộc và thời đại, với một phương pháp tư duy khoa học biện chứng Hồ Chí Minh đã tổng kết, chuyển hóa thành một hệ thống những quan điểm, tư tưởng sâu sắc, toàn vẹn về cách mạng Việt Nam nói chung và vấn đề phát triển con người toàn diện nói riêng
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện: Khái niệm
và nội dung cơ bản
1.2.1 Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Khái niệm phát triển con người toàn diện:
Trang 3025
Do trình độ phát triển của xã hội, của lực lượng sản xuất, do điều kiện kinh tế, chính trị ở mỗi thời kỳ khác nhau, nên khái niệm phát triển con người toàn diện cũng khác nhau Với tư cách là học thuyết về giải phóng và phát triển con người, chủ nghĩa Mác – Lênin đã đưa ra những quan điểm hết sức đúng đắn, là cơ sở quan trọng, mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho khoa học lý luận Triết học Mác – Lênin đã luận giải một cách hết sức sâu sắc về con người, về mối quan hệ giữa mặt sinh học và xã hội trong bản chất con người Từ đó đưa ra những quan điểm của mình về phát triển con người toàn diện Theo những người sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có trên tất cả các mặt: Đạo đức, trí tuệ, thể lực, tình cảm, năng lực nhận thức
và hành động, khả năng thẩm mỹ, đồng thời có thể sáng tạo ra những cái mới tùy vào năng lực mỗi người có lợi cho sự phát triển của cá nhân và cộng đồng Lênin cho rằng, đó là “những con người phát triển về mọi mặt, được chuẩn bị về mọi mặt
và biết làm mọi việc” [50, tr 209] Vì vậy, phát triển con người toàn diện trước hết
là làm cho các mặt hợp thành nhân cách, các yếu tố của chỉnh thể đó có sự phát triển về chất trong cả nhận thức và thực tiễn
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang chứng kiến những bước tiến vượt bậc của khoa học và công nghệ, vai trò quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội và hình thành kinh tế tri thức Điều đó cho thấy, mọi nguồn lực dù phong phú đến mấy thì cũng là những cái có hạn, chỉ có tri thức của nhân loại ngày càng trở nên vô tận Hơn nữa, trong quá trình phát triển bản thân nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác tự nó không thể tham gia các quá trình phát triển kinh tế – xã hội Chỉ thông qua hoạt động thực tiễn của con người bằng sức mạnh của trí tuệ kết hợp với các nguồn lực mới có thể tạo nên tăng trưởng và tăng trưởng bền vững Điều này khẳng định ý nghĩa quyết định của nhân tố con người trong quá trình phát triển Quan điểm con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đã được
khẳng định trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991- 2000 được
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII thông qua năm 1991 và tiếp tục được khẳng định lại trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc qua các thời kỳ Đặc trưng
Trang 3126
của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng được thể hiện ở nhiều phương diện, trong đó, phát triển con người toàn diện là một trong những đặc trưng cơ bản không thể thiếu, vừa thể hiện, vừa bảo đảm tính nhân văn và tính ưu việt của xã hội mới Đại hội Đảng lần thứ X chỉ rõ: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam” [14, tr 106] Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục chỉ rõ: “Chú trọng xây dựng con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp
hành pháp luật…” [15, tr 126] Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã xác định xã
hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội có nhiều đặc trưng khác nhau, trong đó một đặc trưng quan trọng là “con người có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [16, tr 70].Cùng với nhiều nội dung khác, quan điểm giải phóng con người, hướng người dân tới cuộc sống ấm no,
tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện tiếp tục được duy trì, khẳng định như những nét cơ bản không thể thiếu trong chủ nghĩa xã hội Việt Nam Tại Đại hội Đảng lần thứ XII, vấn đề phát triển con người toàn diện được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016 – 2020, đó là
“xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [16, tr 78] Tiêu chí phát triển con người toàn diện của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay gồm chỉ số chất lượng cuộc sống, năng lực sinh thể khỏe mạnh và năng lực tinh thần cao đẹp Theo đó, con người mới xã hội chủ nghĩa phải là con người có sức khỏe; yêu nước, có lý tưởng và phẩm chất đạo đức cách mạng; biết làm chủ tri thức, làm giàu trí tuệ; có khả năng cảm thụ và sáng tạo cái hay, cái đẹp Qua đó, chúng ta có thể thấy những quan điểm của Đảng ta về phát triển con người toàn diện vừa là sự kế thừa những lý luận của triết học Mác – Lênin, vừa là sự vận
Trang 3227
dụng, phát triển sáng tạo những tư tưởng của Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện trong tình hình mới Phát triển con người toàn diện luôn được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và trở thành một trong những nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người
Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Trong mọi thời đại, con người luôn là vấn đề trung tâm của triết học Học thuyết Mác là sự tiếp nối và là bước ngoặt trong nhận thức về phát triển con người,
nó tạo ra tiền đề lý luận để nhân loại bước sang một kỷ nguyên mới, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người Là người Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn ai hết là người ý thức rõ, nhận thức sâu sắc học thuyết Mác về con người và phát triển con người toàn diện Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo học thuyết đó của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, rằng muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa.Với quan niệm
đó, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã đề ra và thực hiện phương châm: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [41, tr.258] Việc xây dựng con người Việt Nam mới – con người phát triển toàn diện, đã trở thành tư tưởng nhất quán, xuyên suốt sự nghiệp cách mạng của Người Với Hồ Chí Minh, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, đào tạo những con người toàn diện cho xã hội xã hội chủ nghĩa, những người “vừa hồng, vừa chuyên”, vừa có đức, vừa có tài, bao giờ cũng là một việc làm rất quan trọng và cần thiết
Tiếp thu và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phát triển con người toàn diện, Hồ Chí Minh tiếp cận con người trên những mặt chủ yếu như: Thể lực, trí lực, đạo đức và thẩm mỹ Điều này được thể hiện qua nhiều bài nói, bài viết của Người Trong báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1959), Người viết: “Nhà nước chú
Trang 3328
trọng đặc biệt việc giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục và thể dục” [41, tr 277] Như vậy, có thể nói, con người phát triển toàn diện trong quan niệm của Hồ Chí Minh hiện ra như một thực thể toàn vẹn, trong đó sự khỏe mạnh về mặt thể chất, sự giàu có về mặt trí tuệ, sự hiểu biết thẩm mỹ, cũng như những phẩm chất đạo đức trong sáng, cao đẹp là những điểm cơ bản và chủ yếu nhất
Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh được trình bày một cách gián tiếp và trực tiếp qua rất nhiều tác phẩm, cũng như thông qua thực tiễn hoạt động của Người Đặc biệt, tư tưởng đó được nêu lên rõ nhất qua các văn bản
như: Thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của chế độ mới (tháng
9/1945), Người đã đặt ra yêu cầu: Phải thực hiện “một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” [34, tr 34]; Trong bức thư cuối cùng viết cho ngành giáo dục nước ta (tháng 10/1968), Người khẳng định: “Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề
ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật”
[45, tr 507] Và Trong bản Di chúc cuối đời mà Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng,
toàn quân và toàn dân ta, Người đề ra nhiệm vụ: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên” [45, tr 612]
Hồ Chí Minh luôn xem xét con người trong mối quan hệ với xã hội; mặc dù, Người không xem nhẹ mặt sinh học Theo Hồ Chí Minh, các yếu tố xã hội có tác động vô cùng to lớn đến sự phát triển toàn diện của con người Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sự tác động này sẽ mạnh mẽ hơn khi có sự tham gia của hoạt động có ý thức và chủ đích của con người Điều này thể hiện qua sự thống nhất trong hệ thống đào tạo, giáo dục từ tiểu học đến đại học Theo Người, mục tiêu cao cả của sự nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa là phải tạo ra những con người phát triển về mọi mặt Sinh thời, Người viết: “Làm cách mạng là phải biết toàn diện, việc gì cũng phải biết làm – biết bắn súng thì khi súng hỏng cũng phải biết sửa
Trang 34trước hết phải chú trọng phát triển các bộ phận cấu thành nên chỉnh thể đó
1.2.2 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện
Thứ nhất, phát triển con người về thể lực
Hồ Chí Minh xem con người vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể
xã hội Là một thực thể tự nhiên, để phát triển con người toàn diện cần phải quan tâm đến vấn đề thể lực và sức khỏe Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ gắn bó giữa sức khỏe của cá nhân và sức mạnh của cả dân tộc: “Việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khoẻ tức là cả nước mạnh khoẻ Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi một người yêu nước” [34, tr 241] Để phát triển thể lực, Hồ Chí Minh hết sức coi trọng việc luyện tập thể dục, thể thao Người coi đây
là biện pháp có tác dụng lớn để nâng cao thể lực và phát triển con người Người viết: “Dân cường thì quốc thịnh Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắng tập thể dục Tự tôi, ngày nào tôi cũng tập”, phải rèn luyện thân thể cho khỏe mạnh Khỏe mạnh thì mới đủ sức tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những việc ích quốc, lợi dân Bản thân Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về luyện tập thể dục, thể thao Bên cạnh việc luyện tập thể dục thể thao nhằm nâng cao thể lực, Hồ Chí Minh còn rất coi trọng việc cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Người chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân có ăn
Trang 3530
2 Làm cho dân có mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở
4 Làm cho dân có học hành” [34, tr 175]
Trong bản Di chúc thiêng liêng mà Người để lại cho dân tộc, Người đã căn
dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [45, tr 612] Ngoài ra, trong vấn đề phát triển thể lực của con người, Hồ Chí Minh còn chú trọng đến vấn đề vệ sinh phòng bệnh và chăm sóc y tế Người viết: “Ra sức học hành và thực hiện vệ sinh phòng bệnh, để làm cho Khu tự trị ta ngày càng phồn thịnh, đời sống của đồng bào ngày càng no đủ, tươi vui” [41, tr 369]
Như vậy, có thể nói, Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ đề cập nhiều nhất đến vấn đề thể lực, bảo vệ và phát triển sức khỏe của nhân dân Việc vận động, khuyến khích nhân dân tự rèn luyện, phát triển thể lực của Người chủ yếu bằng ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu và bằng chính tấm gương về sự tự rèn luyện nâng cao thể lực của bản thân Hồ Chí Minh
Thứ hai, phát triển con người về trí tuệ
Bên cạnh yếu tố thể lực, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng và đề cao việc xây dựng và phát triển con người Việt Nam về mặt trí tuệ Tư tưởng này xuất phát từ những kinh nghiệm thực tế cũng như nhu cầu thiết yếu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngay từ rất sớm, Người đã xác định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức Cần phải học văn hóa, chính trị, kỹ thuật Cần phải học lý luận Mác - Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày, học đi đôi với hành Lênin có nói: “Không học thì không thể trở thành người cộng sản” [43, tr 90] Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước giành được độc lập, đây là một sự kiện có ý nghĩa vô cùng trọng đại Tuy nhiên, chúng ta lại sớm phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới, trong xã hội Việt Nam lúc này hơn 90% dân số nước ta không biết chữ, một trong những nhiệm vụ quan trọng
được Hồ Chí Minh đặt ra lúc này là tiêu diệt giặc dốt Theo Người, “một dân tộc dốt
là một dân tộc yếu, vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” [34,
Trang 3631
tr 7] Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng sự dốt nát cũng là kẻ địch nguy hiểm cần phải chống lại Người chủ trương phải tập trung phát triển nền giáo dục thì mới xây dựng được chủ nghĩa xã hội, mới tiến kịp được sự phát triển chung của nhân loại Hồ Chí Minh xác định rõ mục đích học tập là để làm việc, làm người, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và nhân loại “Dốt thì dại, dại thì hèn Vì không chịu dại, không chịu hèn, cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới” [40, tr 125] Khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh các công việc khác, Hồ Chí Minh
đã dành sự quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo, bồi dưỡng và không ngừng nâng cao trình độ học vấn của người Việt Nam lên tầm cao mới để có thể tiếp thu vốn kiến thức văn hóa và khoa học kỹ thuật trên thế giới phục vụ cho nước nhà Theo Hồ Chí Minh, con người cần phải có trình độ học vấn và vốn kiến thức văn hóa nhất định thì mới có thể tiếp thu được khoa học công nghệ và sử dụng thành tựu của khoa học công nghệ một cách hiệu quả nhất Dù cho máy máy, công cụ có hiện đại, tinh vi đến mấy nhưng con người không đạt đến trình độ tương ứng, nhất định thì cũng không thể nào phát huy được tác dụng, hiệu quả của nó Để nâng cao trí lực thì biện pháp tốt nhất là phải không ngừng học tập Người nói: “Chúng ta phải học nhiều, phải cố gắng học Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được Không tiến bộ là thoái bộ Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo Mình
mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình” [42, tr 333] Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về tự học tập, vươn lên không mệt mỏi theo đúng tinh thần của trong câu nói bất hủ của Lênin “học, học nữa, học mãi”
Trong tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh, con người là
bộ phận của xã hội, tri thức của con người có được nâng cao thì xã hội mới phát triển được Ngược lại, xã hội ngày càng tiến lên lại đòi hỏi năng lực của con người cũng phải được nâng cao để có thể đáp ứng được những yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới
- Thứ ba, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức
Trang 3732
Bên cạnh việc nâng cao thể lực, làm giàu trí tuệ thì việc bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cũng là nội dung không thể thiếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người toàn diện Xây dựng và phát triển đạo đức là nhu cầu thiết yếu, khách quan của xã hội Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc bồi dưỡng và giáo dục đạo đức cách mạng cho con người Theo Người, đạo đức gốc, là cái căn bản của người cách mạng Gọi là đạo đức cách mạng vì nó được hình thành và phát triển thông qua quá trình cách mạng, qua cuộc đấu tranh gian khổ và hy sinh xương máu của dân tộc Đạo đức cách mạng gồm các nội dung như tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân; có tinh thần hy sinh cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm
để vượt mọi khó khăn, bất kỳ cương vị nào, làm bất kỳ công việc gì đều không sợ khó, sợ khổ, đều một lòng một dạ phục vụ lợi ích của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội Đạo đức cách mạng là “đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [35, tr 292] Người làm cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành những nhiệm vụ cách mạng vẻ vang, “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [35, tr 293] Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng cần phải nâng cao sự hiểu biết của con người, làm cho mọi người có nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của đạo đức cách mạng trong quá trình hình thành nhân cách cũng như trong hoạt động thực tiễn Nội dung giáo dục đạo đức cách mạng có nhiều vấn đề, trong đó Người tập trung vào giáo dục những kiến thức về các phạm trù thiện và ác; về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về trung hiếu… Như vậy, đạo đức cách mạng, đạo đức xã hội chủ nghĩa
là gốc, là nền tảng, là phẩm chất hàng đầu làm nên nhân cách vẹn toàn của con người trong xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa
Thứ tư, phát triển con người về mặt thẩm mỹ
Xu thế vận động nói chung của xã hội và con người là phát triển, là hướng tới cái hoàn thiện hơn Con người sinh ra không chỉ có nhu cầu tồn tại mà còn có nhu
Trang 3833
cầu vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ Trình độ thẩm mỹ, khả năng sáng tạo, làm đẹp cho bản thân và cộng đồng là một trong những biểu hiện mang tính nhân văn cao cả của con người Quá trình vươn tới những cái đẹp cũng đồng nghĩa với quá trình con người phủ định biện chứng dần những cái xấu, cái chưa tốt và kế thừa, phát triển những cái tốt, đẹp để trở nên ngày càng hoàn thiện hơn Để phát triển trình độ thẩm mỹ của con người, Hồ Chí Minh chủ trương bồi dưỡng và nâng cao
sự hiểu biết của con người, trong đó trước hết phải chú trọng đến việc bồi dưỡng và giáo dục những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Theo Người:
“Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn” [41, tr 599], nó gần gũi với nhân dân,
dễ đọc, dễ hiểu “Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý” [41, tr 599] Muốn làm cho viên ngọc ấy tỏa sáng thì tất nhiên phải có chính trị, có kỹ thuật, thì mới mài cho viên ngọc ấy thành tốt, khéo và đẹp Tuy nhiên, để phát triển năng lực thẩm
mỹ của con người thì cần phải bồi dưỡng cho con người những hiểu biết về cái đẹp, cái tốt, cái xấu, cái lạc hậu… Theo Người, để có những định hướng trong nhận thức
và hành động, không ngừng vươn tới cái hay, cái đẹp, cái cao cả, đồng thời đấu tranh với những cái cái xấu, cái lạc hậu, “ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi” [45, tr 672] Đặc biệt, đối với một số người có thói hư tật xấu, trừ những người phản lại Tổ quốc và nhân dân, chúng ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong mỗi con người ấy vượt lên để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho họ tơi bời Theo Người, việc lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau
là một trong những cách tốt nhất để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Đồng thời, qua quá trình đấu tranh trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, con người sẽ có động lực vươn lên, hướng tới những giá trị cao quý, góp phần hoàn thiện nhân cách bản thân… Có thể nói, phát triển năng lực và nâng cao trình độ thẩm mỹ của con người là một nội dung quan trọng không thể thiếu trongviệc xây dựng và phát triển con người toàn diện trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 3934
Tóm lại, xây dựng con người mới, con người xã hội chủ nghĩa hay con người phát triển toàn diện, theo Hồ Chí Minh, là con người có tinh thần làm chủ, có tri thức văn hóa và khoa học, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức cần thiết; là con người sống có mục đích, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có chính kiến, luôn phấn đấu cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đó còn là con người có niềm tin, trí tuệ, trình độ học vấn vững vàng, có sức khỏe, thể lực có thể đảm bảo phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Như vậy, đó là con người vừa có đức vừa có tài, vừa hồng vừa chuyên, vừa có sức khỏe tốt vừa có năng lực thẩm mỹ cao luôn hướng tới chân, thiện, mỹ, hướng tới sự hoàn thiện và phát triển toàn diện
1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường hình thành và phát triển con người toàn diện
Một là, thông qua giáo dục và đào tạo
Từ chỗ ý thức được vị trí, vai trò quyết định của con người đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta, Hồ Chí Minh coi việc xây dựng con người mới – con người phát triển toàn diện ở nước ta như một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Sự phát triển con người toàn diện ở Hồ Chí Minh chủ yếu thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của họ trên các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó giáo dục, đào tạo là một trong những con đường cơ bản góp phần hình thành và phát triển con người toàn diện Giáo dục, đào tạo theo cách nói của Người, là sự nghiệp “trồng người” Năm 1958, tại lớp học chính trị của các giáo viên cấp II và cấp III toàn miền Bắc, Người nói:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [41, tr 528] Người đã đặt vấn đề “trồng người” cho toàn Đảng, toàn dân như một nhiệm vụ mang tính quy luật của cách mạng
Giáo dục và đào tạo có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người nói chung và con người toàn diện nói riêng Là một người thầy vĩ đại của dân tộc và cách mạng Việt Nam, Người đánh giá cao vai trò của giáo dục, đào tạo trong việc phát triển con người Cho nên, Người từng nói
“hiền, dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên” Người luôn tin vào
Trang 4035
sức mạnh của nền giáo dục trong việc tạo ra những con người toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới Để có được những con người ấy cần coi trọng sự nghiệp giáo dục và đào tạo, tiến hành sự nghiệp ấy một cách chu đáo và khoa học Người nhấn mạnh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải bồi dưỡng con người xã hội chủ nghĩa” [44, tr 140] Làm gì cũng phải nêu cao tinh thần học hỏi, cầu tiến, muốn làm cách mạng thì cũng phải học tập và thực hành mới
có thể làm tới nơi tới chốn và đạt hiệu quả cao Theo Người, giáo dục, đào tạo là một trong những con đường hiệu quả nhất để hình thành và phát triển con người toàn diện Người viết: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất” [41, tr 647] Giáo dục phải toàn diện, không xem nhẹ một mặt nào, phải gắn việc học tập lý luận với thực hành, thực tiễn để đạt được mục đích đề ra Đồng thời, Người khẳng định: Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân; học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế
Theo Người nội dung giáo dục phải phù hợp với từng đối tượng khác nhau nhau như đại học, trung học, tiểu học và các tầng lớp nhân dân Từ những đối tượng khác nhau đó mà điều chỉnh phương pháp và nội dung giáo dục, đào tạo cho phù hợp Đối với các đối tượng như các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên, sinh viên, công nhân, nông dân, phụ nữ, hay những người đảng viên đến các chiến sỹ công an, quân đội cũng phải có những hình thức giáo dục khác nhau Tùy theo từng đối tượng mà Hồ Chí Minh đề ra những yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể để họ phấn đấu nỗ lực vươn lên Khi thực hiện tốt việc này sẽ tạo ra được những công dân hữu ích, những người chủ tương lai của đất nước vừa “hồng” vừa “chuyên Nội dung giáo dục phù hợp sẽ tạo điều kiện để con người vươn lên chiếm lĩnh tri thức nhân loại,
tự hoàn thiện nhân cách và phát triển toàn diện bản thân
Thông qua việc giáo dục, đào tạo con người sẽ được trang bị một cách có hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, một học thuyết cách mạng, khoa học của thời đại Nhờ đó con người có được thế giới quan, phương pháp luận khoa học để