Nghị quyết Đại hội XII của Đảng 2016 đã chỉ rõ những nhiệm vụ cần ưu tiên thực hiện, phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, với một số tiêu chí đề ra bao gồ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THƯỜNG
AN SINH XÃ HỘI CHO NGƯỜI DÂN:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC TIỄN (NGHIÊN CỨU TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN, QUẢNG NINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để có được thành quả ngày hôm nay, trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, kính gửi lời cảm ơn trân trọng tới các Quý Thầy cô giáo công tác tại Học viện Khoa học xã hội, Khoa Triết Học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam về quá trình đào tạo, cung cấp những kiến thức khoa học, kỹ năng nghiên cứu cho tôi trong suốt 2 năm học Cao học vừa qua
Tôi xin được trân trọng cảm ơn sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của cô giáo hướng dẫn khoa học, TS Trần Nguyệt Minh Thu; cảm ơn sự hỗ trợ, động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn sát cánh bên tôi, động viên tôi phấn đấu, giúp tôi vững vàng hợp trước những khó khăn, trở ngại để hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ này
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới tới một số cơ quan của tỉnh Quảng Ninh, gồm: Ủy ban nhân dân huyện Vân Đồn, Thư viện huyện Vân Đồn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tìm hiểu vấn đề, việc triển khai khảo sát thực trạng, tìm kiếm tài liệu của và viết luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2018
Học viên
Nguyễn Thị Thường
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy
đủ theo quy định
Học viên
Nguyễn Thị Thường
`
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU 18
1.1 Một số khái niệm cơ bản 18
1.2 Các văn bản chính sách của Việt Nam đối với ASXH giai đoạn 2012 - 2020 24
1.3 Bảo đảm mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân 30
1.4 Cách tiếp cận và lý thuyết nghiên cứu 34
Chương 2 THỰC TRẠNG AN SINH XÃ HỘI CHO NGƯỜI DÂN 40
2.1 Giới thiệu địa bàn khảo sát 40
2.2 Đặc điểm nhân khẩu xã hội của người dân trong mẫu khảo sát 43
2.3 Thực trạng tiếp cận giáo dục phổ thông 46
2.4 Thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế 49
2.5 Thực trạng điều kiện nhà ở của người dân 57
2.6 Thực trạng sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường của người dân 62
2.7 Thực trạng tiếp cận thông tin của người dân 64
Chương 3 GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI Ở VÂN ĐỒN TRONG THỜI GIAN TỚI 69
3.1 Phát huy tính chủ động, sáng tạo của Đảng bộ, Chính quyền trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch thực thi hệ thống chính sách an sinh xã hội thống nhất, đồng bộ, hiệu quả 69
3.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, nhóm cộng đồng, mọi người dân trong việc mở rộng hệ thống an sinh xã hội gắn với cộng đồng 70
3.3 Phân công, phối hợp, duy trì, điều chỉnh một cách đồng bộ, kịp thời trong việc thực hiện các giải pháp cụ thể trong hệ thống an sinh xã hội trên địa bàn huyện 72
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
PHỤ LỤC 82
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát (%) 43
Bảng 2.2 Tỷ lệ trẻ em mẫu giáo không đến trường đúng độ tuổi (%) 46
Bảng 2.3 Tỷ lệ gia đình có thanh niên trên 18 tuổi chưa tốt nghiệp trung học cơ sở (%) 47
Bảng 2.4 Tỷ lệ gia đình có thanh niên trên 18 tuổi chưa tốt nghiệp trung học cơ sở phân theo loại hộ gia đình(%) 47
Bảng 2.5 Tỷ lệ gia đình có thanh niên trên 18 tuổi chưa tốt nghiệp trung học cơ sở phân theo thu nhập chính của hộ (%) 48
Bảng 2.6 Tần suất người đi khám chữa bệnh của hộ gia đình (%) 50
Bảng 2.7 Tỷ lệ người dân lựa chọn cơ sở y tế để khám chữa bệnh (%) 52
Bảng 2.8 Đánh giá của người dân về thủ tục hành chính tại cơ sở y tế (%) 53
Bảng 2.9 Tỷ lệ thành viên trong hộ gia đình có BHYT từ 2015 đến nay (%) 54
Bảng 2.10 Tỷ lệ người dân có BHYT nhưng không đi khám chữa bệnh (%) 55
Bảng 2.11: Tỷ lệ sử dụng các loại nhà ở của người dân ở Huyện Vân Đồn (%) 57
Bảng 2.12 Vị trí nhà ở của người dân huyện Vân Đồn (%) 59
Bảng 2.13 Tỷ lệ sở hữu nhà ở của hô gia đình (%) 60
Bảng 2.14: Nguồn nước sinh hoạt chính được sử dụng (%) 62
Bảng 2.15 Loại hình nhà vệ sinh của các hộ gia đình (%) 63
Bảng 2.16 Tỷ lệ gia đình sử dụng dịch vụ thu gom rác thải (%) 64
Bảng 2.17 Nguồn tiếp cận thông tin của các hộ gia đình (%) 64
Bảng 2.18 Thành viên trong hộ gia đình sử dụng điện thoại thông minh (%) 65
Bảng 2.19 Mức độ tiếp cận thông tin của người dân (%) 66
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH
Biểu đồ 1.1 Số hộ nghèo của huyện Vân Đồn giai đoạn 2011- 2015 41
Hình 1.2 Mô hình chính sách an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2012-2020 30 Hình 1.1 Thang nhu cầu của Maslow 36
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng, vì con người luôn là động lực mạnh
mẽ, phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Ở Việt Nam, an sinh xã hội (ASXH) được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, một mặt do mục tiêu phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; mặt khác là do hậu quả của chiến tranh, thiên tai vẫn thường xuyên xảy ra thậm chí trên diện rộng, do đất nước còn khó khăn, số hộ nghèo tuy có giảm song vẫn còn nhiều Nghị quyết Đại hội XII của Đảng (2016) đã chỉ rõ những nhiệm vụ cần ưu tiên thực hiện, phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, với một số tiêu chí đề ra bao gồm: Quản lý tốt sự phát triển
xã hội; bảo đảm ASXH, nâng cao phúc lợi xã hội; thực hiện tốt chính sách với người
có công; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; thực hiện tốt chính sách lao động, việc làm, thu nhập v.v [14, tr.76,78] Có thể thấy trong mọi thời kỳ, chính sách xã hội luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, động lực để phát triển nhanh và bền vững Các chính sách luôn khẳng định việc cần không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân; đảm bảo ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của cả
hệ thống chính trị và của toàn xã hội
Tại đô thị đặc biệt là các đô thị trung tâm, quá trình đô thị hóa, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sức hút của nguồn cung việc làm khiến luồng di cư lao động từ nông thôn ra ngày càng nhiều Họ hầu hết phải chấp nhận một cuộc sống bấp bênh, rủi ro thường trực, đôi khi khó có thể hòa nhập dù đã có rất nhiều nỗ lực và sự tự ý thức từ phía bản thân Họ trở thành nhóm đối tượng đặc biệt, dễ bị tổn thương xuất phát từ tình trạng kém an sinh, không có khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản, điều kiện sống không đầy đủ, bị đối xử khác biệt cộng với những định kiến xã hội [39] Khu vực ven đô, sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp, đặc khu kinh tế là một trong những lý do chính của thực trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất vẫn diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây, ít nhiều đã gây xáo trộn về sinh kế và an
Trang 9sinh đối với một bộ phận người dân Với những người dân cư trú và lao động tại vùng biển đảo, những khó khăn trong cuộc sống và mưu sinh còn nhiều hơn bởi phải chịu đựng thêm những tác động của biến đổi khí hậu Người nghèo ở khu vực biển đảo và nhóm dễ bị tổn thương hiếm cơ hội hơn để thoát nghèo và vực dậy tình trạng thiếu thốn của gia đình Nhiều lao động đã phải chuyển đổi ngành nghề, di cư tìm việc làm Đối với người dân nông thôn làm nông nghiệp, khả năng tìm kiếm việc làm và chuyển đổi ngành nghề cũng gặp phải nhiều rào cản hơn do sự thiếu kỹ năng
và khó hòa nhập
Cùng với quá trình phát triển KT-XH, trước những nhu cầu và thách thức mới, theo đà phát triển chung, nội dung của ASXH đã ngày càng được mở rộng, những chính sách về ASXH đã và đang hoàn thiện hơn, dần phủ tới mọi nhóm xã hội, giúp nhóm yếu thế giảm thiểu rủi ro, đảm bảo sinh kế và phúc lợi cho người dân, tạo cơ sở vững chắc giúp xã hội ổn định và phát triển Xuất phát từ lý do trên, cũng với mong muốn một cuộc sống tốt đẹp sẽ đến với người dân, học viên đã lựa
chọn chủ đề nghiên cứu “An sinh xã hội cho người dân: Một số vấn đề chính sách và thực tiễn (Nghiên cứu tại huyện Vân Đồn, Quảng Ninh)”; chọn huyện Vân Đồn,
Quảng Ninh làm địa bàn khảo sát; triển khai nghiên cứu hướng tới mục tiêu tăng cường hiệu quả của chính sách an sinh, góp phần nâng cao chất lượng và tạo sự ổn định cho cuộc sống cho người dân trong huyện Vân Đồn nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
An sinh xã hội là một trong những vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia ASXH đã và đang là vấn đề được quan tâm nghiên cứu bởi các nhà khoa học trong nước và trên thế giới với cách tiếp cận, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Có thể kể đến những công trình chủ yếu và các kết quả nghiên cứu chính sau:
2.1 Nghiên cứu về đảm bảo an sinh xã hội của một số quốc gia trên thế giới
Tác giả Robert M Ball trong cuốn: "Social security today and tomorrow" (An sinh xã hội hôm nay và ngày mai) [48] đã đề cập đến khái niệm An sinh xã hội
Trang 10và lý giải đây là hệ thống chính sách hỗ trợ những người đang phải đối mặt hoặc bị
đe doạ bởi sự thiếu thốn nguồn thu nhập Tác giả cũng đề cập đến các chương trình
mà chính phủ các nước đặt ra với mục đích hàng đầu là giúp đỡ những người dân gặp rủi ro dẫn đến việc bị mất hoặc giảm sút thu nhập Chế độ ASXH được xem như là sự bảo vệ của nhà nước đối với người dân trước những rủi ro về xã hội
"Social Security in Global Perspective" (An sinh xã hội trong viễn cảnh
toàn cầu) của tác giả John Dixon [49] đã đề cập đến nội dung ASXH của một quốc gia là nhằm cung cấp các biện pháp công cộng (tiền mặt và hiện vật) cho những biến cố ngẫu nhiên mà luật pháp đã quy định người dân có quyền được hưởng bao gồm mất mát thu nhập hoặc thu nhập không đầy đủ, bù đắp hỗ trợ chi phí đối với những người sống phụ thuộc; ASXH chỉ dành cho những cá nhân và hộ gia đình bị rơi vào hoàn cảnh mất hoặc giảm thu nhập thường xuyên một cách đột ngột - ASXH chỉ tập trung vào hạn chế nghèo đói, bồi thường xã hội và phân phối lại thu nhập, các hình thức bảo hiểm không được coi là một bộ phận của ASXH
“Thiết kế và triển khai hệ thống an sinh hiệu quả” của nhóm tác giả
M.Grosh, C.Ninno, E.Tesliuc và A.Ouerghi [47] đã đề ra quan niệm "Mạng lưới
an sinh xã hội vừa dùng để đỡ những người rơi từ trên xuống về phương diện kinh
tế trước khi họ rơi vào cảnh bần hàn, vừa trợ cấp hoặc cung cấp một khoản thu nhập tối thiểu cho những người ở trạng thái nghèo thường xuyên, lâu dài hơn"; ASXH chỉ bao gồm hệ thống chính sách trợ giúp xã hội không có đóng góp
và nhắm đến đối tượng là người nghèo và người dễ bị tổn thương Đồng thời, ASXH cũng chỉ dừng lại ở những hoạt động chính thức của nhà nước mà không tính đến vai trò của tư nhân, thị trường trong việc cung cấp các dịch vụ ASXH khác
Tác giả cuốn “Social Security The Unfinished Work” (ASXH: Các công việc
dở dang) của tác giả Charles Blahous [46], ông cho rằng: Nước Mỹ nhận thức được ASXH phải đối mặt với những thách thức đáng kể trong những thập kỷ tới – và một loạt các tổ chức xã hội chứa đựng các mâu thuẫn Với niềm say mê nghiên cứu và mong muốn trả lời câu hỏi làm thế nào để làm cho chương trình ASXH mạnh mẽ và
có lợi trong tương lai Trong tác phẩm, tác giả đã trình bày một số nội dung thường
Trang 11bị hiểu lầm; một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn ASXH Tác giả nêu ra thảo luận: Vấn đề đó ảnh hưởng như thế nào đến người tham gia chương trình và tìm hiểu các yếu tố nhân khẩu học, kinh tế, và chính trị thực sự đe dọa tương lai của ASXH
Tác giả James Midgley trong cuốn sách “Basis of social security in Asia: mutual aid, micro-insuranc and social security” (Cơ sở ASXH ở châu Á: Viện trợ
lẫn nhau, bảo hiểm vi mô và ASXH) [51], ông là người đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện các hoạt động của các hiệp hội lẫn nhau và các chương trình bảo hiểm vi mô của các hiệp hội ở châu Á nơi mà các chương trình này được phát triển đặc biệt tốt Cuốn sách đã cung cấp một số nghiên cứu quan trọng như thông tin chi tiết về các hiệp hội tác động lẫn nhau trong các phần khác nhau của khu vực, bao gồm Nam Á, Sri Lanka, Thái Lan, Mông Cổ, Indonesia và Philippines Nghiên cứu trường hợp cung cấp những hiểu biết quan trọng về tiềm năng của các hiệp hội để cung cấp bảo vệ thu nhập hiệu quả và làm thế nào các hoạt động của họ có thể vào việc xây dựng chiến lược ASXH toàn diện và cơ sở hiệu quả trong thế giới đang phát triển đóng góp rõ rệt cho mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và cải thiện mức sống
Cuốn sách: “Social Securty, the Economy and development” (ASXH, Kinh
tế và phát triển) của tác giả James Midgley [50], ông cho rằng: Hiện nay, nhiều chính phủ được tư nhân hóa các chương trình ASXH, chủ yếu là các chương trình tốn kém và có hại cho sự phát triển kinh tế Cuốn sách này cung cấp các phân tích
có hệ thống đầu tiên của mối quan hệ giữa ASXH và phát triển kinh tế, giải quyết các mâu thuẫn đó ASXH có thể gây tổn hại theo hai chiều của sự phát triển Sử dụng nhiều nghiên cứu quốc tế, cuốn sách làm sáng tỏ cuộc tranh luận, với mỗi nghiên cứu quốc gia tập trung vào một khía cạnh cụ thể của vấn đề này và thể hiện tích cực, sự đóng góp ASXH với phát triển kinh tế
Qua các tài liệu tham khảo từ một số nghiên cứu quốc tế, có thể thấy vấn đề ASXH đã được nghiên cứu từ lâu, trên nhiều quốc gia và bao hàm nhiều nội dung Tuy có sự đa dạng nhưng các nghiên cứu đều nhấn mạnh rằng ASXH là các biện pháp bảo vệ sự an toàn xã hội cho các thành viên trong trường hợp họ gặp rủi ro dẫn đến bị mất hoặc giảm thu nhập hay tăng chi phí đột ngột, thông qua các tầng lưới
Trang 12khác nhau để duy trì cuộc sống bình thường ASXH hướng tới mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân
2.2 Những nghiên cứu về an sinh xã hội ở Việt Nam
Cuốn An sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực [20] của Mạc Văn Tiến
tập hợp 101 bài viết nghiên cứu, bài trao đổi tại các Hội thảo trong và ngoài nước
của tác giả, cuốn sách chia làm 3 phần: Phần I - Một số vấn đề về an sinh xã hội,
gồm 17 bài, đã đề cập đến nhiều nội dung, nhiều khía cạnh khác nhau về ASXH,
như khái niệm, cấu trúc, nội dung của ASXH Phần II - Bảo hiểm xã hội (BHXH),
gồm 55 bài, đề cập đến nguồn gốc, đặc trưng, chức năng, vai trò của BHXH, tác giả
đã nhấn mạnh, BHXH là một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất của hệ thống ASXH
Phần III - Phát triển nguồn nhân lực, gồm 29 bài, đề cập đến nhiều vấn đề khác
nhau về nguồn nhân lực hiện nay ở nước ta
Cuốn Giáo trình An sinh xã hội [23] của tác giả Nguyễn Văn Định đã cung
cấp những kiến thức cơ sở về ASXH Cuốn giáo trình đã nêu ra vai trò của ASXH; bản chất và chức năng của ASXH; hệ thống các chính sách ASXH, như bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, chính sách xóa đói giảm nghèo, quỹ dự phòng; nêu ra sự cần thiết, các nguyên tắc và nội dung của quản lý nhà nước về ASXH Với những nội dung được trình bày, giáo trình này là tài liệu cơ sở để phân tích những vấn đề lý luận về ASXH và ASXH ở Việt Nam hiện nay
Cuốn Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
[15] của tác giả Đinh Công Tuấn đã phân tích tổng quát về hệ thống ASXH của châu Âu nói chung và một số quốc gia điển hình trong việc cải cách hệ thống ASXH: Mô hình “thị trường xã hội” của Đức; mô hình “thị trường tự do” của Anh;
mô hình “xã hội dân chủ” của Thụy Điển Cuốn sách còn chỉ ra thành công, hạn chế
và xu hướng cải cách của hệ thống ASXH của một số nước châu Âu; từ đó, gợi ý những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay
Cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam [18] của tác giả Mai Ngọc Cường đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về khái
niệm, cấu trúc, nội dung của ASXH Chẳng hạn, về khái niệm ASXH, tác giả cho
Trang 13rằng, ASXH là một khái niệm mở, có thể tiếp cận phạm trù này dưới hai giác độ là theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo nghĩa rộng, ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được hưởng an bình, an ninh, an toàn và an khang trong xã hội; theo nghĩa hẹp, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em
mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ… Tác giả ủng hộ cách tiếp cận ASXH theo nghĩa hẹp, vì theo tác giả, cách tiếp cận theo nghĩa hẹp phù hợp với cách tiếp cận của ILO Tác giả cuốn sách đã đưa ra quan điểm nghiên cứu về khái niệm ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị
ốm đau, bệnh tật, hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa
“Pháp luật an sinh xã hội - kinh nghiệm một số nước đối với Việt Nam” của
Trần Hoàng Hải, Lê Thị Thúy Hương [38] đã làm rõ quan niệm và vai trò của pháp luật ASXH của một số nước như Đức, Nga, Hoa Kỳ cũng như khái quát khá đầy đủ
hệ thống pháp luật ASXH của Việt Nam Trên cơ sở đó, các tác giả đã nhấn mạnh
để hoàn thiện pháp luật ASXH của Việt Nam trong tình hình mới cần phải xúc tiến xây dựng Bộ Luật ASXH và cải cách các Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Bảo hiểm y
của nước ta hiện nay trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Trang 14"Bảo đảm xã hội trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản hiện nay" của Trần
Thị Nhung [37] đã phân tích được khái niệm và lịch sử phát triển của hệ thống đảm bảo xã hội của Nhật Bản Trên cơ sở đó, tác giả cung cấp thông tin một cách đầy đủ về đặc điểm, các loại hình, vai trò, chức năng của nhà nước cũng như những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện các chế độ đảm bảo xã hội của nhà nước như: Chế độ đảm bảo thu nhập, bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ và trợ giúp xã hội
"Chính sách và biện pháp giải quyết phúc lợi ở Nhật Bản" của Nguyễn Duy
Dũng [27] đã khái quát sự hình thành và phát triển chế độ phúc lợi xã hội ở Nhật Bản; các hình thức và biện pháp nhà nước đảm bảo phúc lợi xã hội ở Nhật Bản (Chế
độ chăm sóc sức khoẻ; phúc lợi đối với bà mẹ và trẻ em; phúc lợi xã hội đối với người già, người tàn tật, người có thu nhập thấp); tổ chức quản lý và tài chính cho việc thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhật Bản
"Giáo trình nhập môn về an sinh xã hội" của Nguyễn Hải Hữu [24]; "Hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam" của Nguyễn Hải Hữu [25]; "Giáo trình Luật an sinh xã hội" của Nguyễn Thị Kim Phụng [26]; "Giáo trình ưu đãi xã hội" của Trường Đại học Lao động [35]; "Giáo trình Cứu trợ xã hội" của Trường Đại học Lao động [36]; "Giáo trình Bảo hiểm xã hội" của Trường Đại học Kinh tế quốc dân
[31] Các giáo trình đã trình bày quan niệm về ASXH, đặc điểm và cấu trúc ASXH, phương pháp đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chính sách ASXH, vai trò và tầm quan trọng của xây dựng và thực thi chính sách ASXH
Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020 [2] của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội đã chỉ ra rằng, hệ thống ASXH thời kỳ 2011 - 2020 gồm 3 tầng lưới có khả năng hỗ trợ lẫn nhau hướng tới mục tiêu bảo đảm mức sống tối thiểu cho mọi người dân, không để cho người dân bị bần cùng hóa, bị gạt ra bên lề xã hội, gồm: Lưới thứ nhất - Phòng ngừa rủi ro, bao gồm nhóm chính sách hỗ trợ người dân có việc làm, tạo thu nhập và tham gia thị trường lao động để chủ động phòng ngừa rủi
ro về đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh hoặc do biến động của môi trường tự nhiên; lưới thứ hai: Giảm thiểu rủi ro, bao gồm nhóm chính sách BHXH, BHYT, bảo hiểm nông nghiệp để bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các biến
Trang 15cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên; lưới thứ ba: Khắc phục rủi ro, bao gồm nhóm chính sách trợ giúp xã hội, xóa đói giảm nghèo, tăng cường cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản để hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên, bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân Đây thực chất là nội hàm phản ánh khái niệm, nội dung, chức năng ASXH ở nước ta mà luận văn sẽ kế thừa
Các bài nghiên cứu trên các tạp chí liên quan đến lĩnh vực ASXH có thể kể
đến là: “An sinh xã hội ở nước ta - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Vũ Văn Phúc [43]; “Một số vấn đề cơ bản về chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay” của Mai Ngọc Cường [19]; “Hệ thống an sinh xã hội cho người nông dân Việt Nam” của Nguyễn Danh Sơn [30]; "Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, bảo đảm an sinh xã hội trong phát triển bền vững" của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân [21]; “Bảo đảm an sinh xã hội dưới ánh sáng Đại hội XI của Đảng” của Dương Văn Thắng [12] Các bài viết nói trên đã đã đề cập đến những
vấn đề lý luận chung vấn đề thực tiễn về ASXH ở nước ta, xây dựng và hoàn thiện
hệ thống ASXH ở Việt Nam trên quan điểm các nghị quyết chuyên đề của Đảng về ASXH
Ngoài các ấn phẩm sách, tạp chí, các kỷ yếu của các cuộc hội thảo sau đây
cũng phần nào làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến lĩnh vực ASXH: “An sinh xã hội ở Việt Nam: Chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới” do Đại học Kinh tế Quốc dân [34]; Hội thảo “Xây dựng Chiến lược an sinh xã hội giai đoạn 2011 - 2020”
của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Cộng hoà Liên bang Đức (GTZ) [1]; “An sinh xã hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Ban Tuyên giáo Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương [4] Qua các hội thảo này, cũng đã có nhiều phát hiện và tiếp cận mới trong xây dựng và thực hiện chính sách ASXH cũng như vai trò của nhà nước trong thực hiện chính sách ASXH, thực trạng và giải pháp thực thi chính sách ASXH ở Việt Nam
Trang 162.3 Vai trò và một số nhân tố ảnh hưởng tới hệ thống an sinh xã hội
Phạm vi, chức năng: Trong xã hội hiện đại, các quốc gia, một mặt hướng vào
phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tạo ra bước phát triển bền vững và ngày càng phồn vinh cho đất nước; mặt khác không ngừng hoàn thiện hệ thống ASXH để giúp cho con người, nhất là người lao động, có khả năng chống chọi với các rủi ro xã hội, đặc biệt là rủi ro trong KTTT và rủi ro xã hội khác
Ngoài tác động chung như đối với các nước giàu, chính sách ASXH có thể
có những đóng góp cho sự nghiệp phát triển KT-XH ở những nước nghèo
Các yếu tố ảnh hướng tới hệ thống an sinh xã hội: Tính chất của vấn đề
chính sách công (đơn giản hay phức tạp, cấp bách, bức xúc hay bình thường); môi trường thực hiện ASXH (điều kiện vật chất - kỹ thuật trong nền kinh tế, bầu không khí chính trị, trật tự xã hội, nhóm lợi ích, quan hệ quốc tế); mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện ASXH (thống nhất hay không thống nhất về lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu thực hiện ASXH); tiềm lực của các nhóm đối tượng hưởng chính sách (trên các phương diện chính trị, kinh `tế, xã hội về cả quy mô và trình độ); đặc tính của đối tượng hưởng chính sách (tính tự giác, tính kỷ luật, tính sáng tạo, lòng quyết tâm, tính truyền thống); năng lực thực thi chính sách ASXH của cán bộ, công chức (tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, năng lực thực
tế, đạo đức công vụ); mức độ tuân thủ các bước trong chu trình chính sách công; các điều kiện vật chất để thực hiện ASXH (trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện hiện đại hỗ trợ); sự đồng tình, ủng hộ của người dân (thiết thực với đời sống nhân dân, phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có của nhân dân) [29, tr.137, 145] Cụ thể, những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách ASXH có thể kể đến như sau:
Thể chế chính sách về ASXH: Thể chế chính sách là trụ cột quan trọng của hệ
thống ASXH Nội dung cơ bản của thể chế chính sách ASXH là xác định đối tượng tham gia, đối tượng điều chỉnh với những tiêu chí, điều kiện cụ thể và cơ chế xác định đối tượng theo một quy trình thống nhất; xác định các chính sách, các chế độ
Trang 17đóng góp, thụ hưởng và những điều kiện ràng buộc nhất định về trách nhiệm đóng góp, trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện chính sách, chế độ
đề ra Cơ chế để tham gia các loại hình ASXH mà các quốc gia thường áp dụng là bắt buộc hoặc tự nguyện những có sự hỗ trợ của nhà nước Mỗi một cơ chế cụ thể đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, việc vận dụng cơ chế nào là phụ thuộc vào điều kiện KT-XH và truyền thống văn hóa của từng quốc gia Nếu chính sách ASXH phù hợp với đòi hỏi với thực tiễn cuộc sống thì việc thực thi chính sách ASXH sẽ thuận lợi, khả thi; ngược lại chính sách ASXH phù hợp với đòi hỏi với thực tiễn cuộc sống thì việc thực thi chính sách ASXH sẽ khó khăn, thậm chí không khả thi, thiếu hiệu quả Biểu hiện của sự không khả thi đó là chính sách xây dựng có mức độ bao phủ hẹp; không đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của nhóm các đối tượng yếu thế cần trợ giúp trong xã hội; không đảm bảo tính hệ thống, toàn diện, cân đối giữa các bộ phận trong cấu trúc ASXH; không đồng bộ với kế hoạch triển khai và địa bàn áp dụng; thiếu các điều khoản giám sát và chế tài xử phạt; không đảm bảo tính bền vững về tài chính [18, tr.48-56]
Thể chế tổ chức bộ máy và cán bộ: Nhân tố này có vai trò quyết định trong
việc tổ chức các chính sách ASXH Cho dù chính sách có tốt đến mấy đi chăng nữa nhưng tổ chức thực hiện không tốt thì chính sách sẽ không đi vào cuộc sống Do vậy, việc thiết lập hệ thống tổ chức quản lý với đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp (từ nhận thức, cơ cấu tổ chức, năng lực, phẩm chất, phương thức phối hợp) để thực hiện
có hiệu quả việc thực thi chính sách ASXH Về nguyên tắc, có thể thiết lập hệ thống
tổ chức độc lập cho từng hợp phần; nhưng cũng có thể sử dụng bộ máy chính quyền hiện có để thực hiện, tùy điều kiện cụ thể
Nhận thức của xã hội và người dân: Sự phát triển của hệ thống ASXH phụ
thuộc vào nhận thức chung về ASXH của xã hội Khi người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước hiểu được tầm quan trọng của chính sách ASXH, từ đó
tự nguyện và tích cực tham gia, thì hệ thống này mới có cơ hội phát triển và ngược lại Người dân là đối tượng thụ hưởng chính sách ASXH, nếu họ tự giác, tích cực, chủ động, tự nguyện tham gia thì việc thực thi chính sách ASXH sẽ có hiệu quả,
Trang 18bền vững; ngược lại nếu họ thờ ơ, thụ động, ỷ lại và thậm chí vụ lợi thì việc thực thi chính sách ASXH sẽ không hiệu quả
Môi trường thực thi chính sách ASXH: Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, xã hội của mỗi địa phương, vùng, miền: Những địa phương, vùng, miền có vị trí, điều
kiện tự nhiên thuận lợi, người dân có hiểu biết và nhận thức về chính sách ASXH thì việc thực thi chính sách ASXH thuận lợi; ngược lại nơi nào có vị trí, điều kiện tự nhiên khó khăn, phong tục tập quán lạc hậu, người dân ít hiểu biết về chính sách ASXH thì việc thực thi chính sách ASXH khó khăn Trình độ phát triển kinh tế của các địa phương, vùng, miền: Nếu địa phương nào có trình độ phát triển kinh tế cao, nguồn lực tài chính mạnh, thu nhập của người lao động ổn định, mức độ thất nghiệp thấp thì việc thực thi chính sách ASXH thuận lợi và ngược lại Môi trường chính trị: Nơi nào đảm bảo giữ vững ổn định - xã hội trong quá trình phát triển thì việc thực thi chính sách ASXH thuận lợi và nơi nào không giữ vững ổn định - xã hội thì việc thực thi chính sách ASXH khó khăn
Trong phần này, tác giả đã tổng hợp các nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu từ nguồn tài liệu chính là báo cáo nghiên cứu, sách, tạp chí Tổng quan
đã đưa ra một số quan điểm tiếp cận từ các nghiên cứu cũng như những phát hiện chủ yếu của mỗi nghiên cứu đó Quan điểm chung cho rằng ASXH là các biện pháp bảo vệ sự an toàn xã hội cho các thành viên của mình trong trường hợp họ gặp rủi
ro dẫn đến bị mất hoặc giảm thu nhập hay tăng chi phí đột ngột, thông qua các tầng lưới khác nhau để duy trì cuộc sống bình thường - các tầng lưới đó bao gồm các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội, xóa đói giảm nghèo bền vững và đối với Việt Nam, các quan điểm nghiên cứu về chính sách công, góc độ tiếp cận và nhìn nhận đối với chính sách ASXH cũng có nhiều điểm tương đồng
Tiếp nối những thành tựu đã đạt được, với mong muốn đóng góp thêm một
công trình khoa học về nội dung này, tác giả đã đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “An sinh xã hội cho người dân: Một số vấn đề chính sách và thực tiễn (Nghiên cứu tại huyện Vân Đồn, Quảng Ninh)” với mong muốn tìm hiểu thực trạng vấn đề, tìm
kiếm giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả của chính sách an sinh, nâng cao chất
Trang 19lượng sống cho người dân và cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho các nhà hoạch định chính sách
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thực thi chính sách ASXH; phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất lượngviệc thực thi hệ thống chính sách ASXH ở huyện Vân Đồn trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ASXH, về thực thi chính sách ASXH ở nước ta hiện nay
- Phân tích thực trạng thực thi chính sách ASXH ở huyện Vân Đồn thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng việc thực thi hệ thống chính sách ASXH ở huyện Vân Đồn trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài xác định đối tượng nghiên cứu là vấn đề an sinh xã hội cho người dân qua tìm hiểu chính sách và thực tiễn
Trang 20Phạm vi nội dung
Hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam được xây dựng trên nguyên lý quản lý rủi ro, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, gồm 4 nhóm chính sách cơ bản sau đây:
Nhóm chính sách việc làm, đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo:nhằm
hỗ trợ người dân chủ động phòng ngừa các rủi ro thông qua tham gia thị trường lao động để có được việc làm tốt, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững
Nhóm chính sách bảo hiểm xã hội: nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu rủi ro khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già…thông qua tham gia vào hệ thống BHXH
để chủ động bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro trên
Nhóm chính sách trợ giúp xã hội: bao gồm chính sách thường xuyên và đột xuất nhằm hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, đói, nghèo kinh niên)
Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản nhằm tăng cường cho người dân tiếp cận hệ thống dịch vụ cơ bản ở mức tối thiểu, bao gồm giáo dục tối thiểu, y tế tối thiểu, nhà ở tối thiểu, nước sạch và thông tin truyền thông
Bên cạnh việc nghiên cứu lý luận, đề tài bước đầu rà soát, nhận diện về các nội dung được đề cập trong chính sách ASXH của Việt Nam hiện nay, trong đó tập trung chủ yếu vào mục tiêu thứ tư trong phát triển an sinh xã hội giai đoạn 2012-
2020 theo Nghị Quyết số 15-NQ/TW của BCH TW Đảng khóa 5, ngày 1/6/2012
“Nhóm chính sách dịch vụ xã hội cơ bản” được tìm hiểu gồm 5 nội dung: Bảo đảm giáo dục tối thiểu; bảo đảm y tế tối thiểu; bảo đảm nhà ở tối thiểu; bảo đảm nước sạch; bảo đảm thông tin
4.3 Câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài hướng tới trả lời 3 câu hỏi sau:
Thực trạng an sinh xã hội cho người dân huyện Vân Đồn, Quảng Ninh đang diễn ra như thế nào?
Nguyên nhân của sự khác biệt trong thực trạng tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội đối với người dân huyện Vân Đồn, Quảng Ninh?
Trang 21 Đặc điểm của chính sách an sinh xã hội cho người dân là gì?
4.4 Giả thuyết nghiên cứu
Có sự khác biệt trong thực trạng tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội của người dân huyện Vân Đồn, Quảng Ninh
Điều kiện kinh tế gia đình, nghề nghiệp, thu nhập là những yếu tố cơ bản tạo nên sự khác biệt trong tiếp cận dịch vụ ASXH của người dân huyện Vân Đồn, Quảng Ninh
Các chính sách ASXH thời gian gần đây đều hướng tới việc cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, đến năm 2020 cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông
4.5 Khung phân tích
Mô tả khung phân tích: cùng với quá trình phát triển KT-XH của đất nước,
chính sách ASXH ngày càng được hoàn thiện nhằm thực hiện tốt 3 chức năng: Quản lý rủi ro chống lại các cú sốc về thu nhập; đảm bảo thu nhập tối thiểu và
Sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
Chính sách An sinh xã hội cho người dân
Mục tiêu ASXH giai đoạn 2012 - 2020
Đảm bảo mức tối thiểu một số dịch vụ xã hội cơ bản
- Bảo đảm giáo dục tối thiểu
- Bảo đảm y tế tối thiểu
- Bảo đảm nhà ở tối thiểu
- Bảo đảm nước sạch
- Bảo đảm thông tin
Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
Trang 22quyền sống tối thiểu của con người, nâng cao năng lực quản lý rủi ro; Thúc đẩy cơ hội về cuộc sống và việc làm tốt hơn, qua đó thúc đẩy sự gắn kết và phát triển xã hội Hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam được xây dựng trên nguyên lý quản lý rủi ro, đồng thời nhấn mạnh đến vai trò cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, gồm 4 nhóm chính sách cơ bản, đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân với các yêu cầu: (1) Việc làm đảm bảo, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo; (2) Bảo hiểm xã hội; (3) Trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; (4) Bảo đảm mức tối thiểu một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân
Do những hạn chế về nguồn lực, kinh phí và thời gian, nghiên cứu này được xác định phạm vi nội dung tập trung vào mục tiêu thứ tư trong 4 mục tiêu phát triển
an sinh xã hội giai đoạn 2012-2020 “Bảo đảm mức tối thiểu một số dịch vụ xã hội
cơ bản cho người dân”, theo Nghị Quyết số 15-NQ/TW của BCH TW Đảng khóa 5, ngày 1/6/2012, mục tiêu này gồm 5 nội dung: Bảo đảm giáo dục tối thiểu; bảo đảm
y tế tối thiểu; bảo đảm nhà ở tối thiểu; bảo đảm nước sạch; bảo đảm thông tin Việc thực hiện tốt những chức năng trên sẽ tạo động lực mạnh mẽ hơn cho sự phát triển KT-XH đất nước như Đại hội X đã đưa ra tư tưởng chỉ đạo có tính chất định hướng chiến lược “Thực hiện tốt chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ hơn cho phát triển kinh tế – xã hội”, đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp phương pháp lịch sử
- lôgíc, phân tích và tổng hợp, phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa, hệ thống hóa… Đồng thời, sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội khác trong quá trình thực hiện và hoàn thiện, nố lực có được những kết quả tốt nhất
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phân tích tài liệu có sẵn là nghiên cứu, tìm hiểu những tài liệu thu thập được từ các báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đã có, các tài liệu khác liên quan đến
đề tài thông qua việc tổng hợp, thống kê, so sánh Phân tích tài liệu có sẵn bao gồm
Trang 23bài báo khoa học, sách, luận văn, luận án, các văn bản, bài viết, trang web có liên quan tới vấn đề nghiên cứu Dựa trên những nghiên cứu đi trước, tác giả có thể sử dụng nguồn thông tin nghiên cứu trước đó để làm sáng tỏ cho đề tài của mình Thông tin thu được không chỉ cung cấp một bức tranh chung về chủ đề nghiên cứu
mà còn giúp người nghiên cứu tìm ra những khía cạnh mới cần khai thác sâu hơn trong đề tài Qua đó bổ sung những thiếu sót trong quá trình phân tích định lượng thu được từ điều tra bằng bảng hỏi
5.2 Phương pháp thu thập thông tin qua điều tra bảng hỏi
Luận văn sử dụng phương pháp này để điều tra thu được ý kiến rộng rãi của nhiều đối tượng Trong nghiên cứu này, đối tượng là những cán bộ thực thi chính sách và người dân Những ý kiến thu được thông qua phương pháp này dùng để thuyết minh cho những luận điểm, luận cứ mà tác giả đưa ra Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi dùng để thu thập thông tin từ người trả lời trên cơ sở một bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn với nhưng phương án trả lời đã được xác định trước hoặc những phương án mở để điền thông tin của câu trả lời do người trả lời cung cấp Thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng bảng hỏi dành cho người dân, trực tiếp phỏng vấn 200 trường hợp là người dân sống ở 3 xã Đông Xá, Thị Trấn, Hạ Long, qua đó xử lý số liệu định lượng để có cơ sở đánh giá thực trạng ASXH trên địa bàn huyện Vân Đồn Mẫu được tác giả chọn theo nguyên tắc ngẫu nhiên
5.3 Phương pháp thu thập thông tin qua phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu là đi sâu vào tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của khách thể nghiên cứu nhằm bổ sung, giải thích thêm cho số lượng nghiên cứu định lượng hoặc thông tin mà định lượng không khảo sát hết Các câu hỏi được thực hiện trong phỏng vấn sâu thường là các câu hỏi mở để thông tin thu thập được hiệu quả
hơn
Luận văn thực hiện 20 mẫu phỏng vấn sâu, trong đó, đối tượng phỏng vấn sâu được lựa chọn ngẫu nhiên trên 3 địa bàn: Hạ Long, Thị Trấn và Đông Xá Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích và tổng hợp, phương pháp trừu tượng hóa và khái quát hóa
Trang 245.4 Phương pháp quan sát
Trong điều tra xã hội học, quan sát là phương pháp thu thập thông tin xã hội
sơ cấp bằng cách tri giác trực tiếp và ghi chép lại những gì liên quan tới đối tượng
và mục đích nghiên cứu Đây là phương pháp nghiên cứu đối tượng ở trạng thái tự nhiên Đối tượng được quan sát là người trả lời, điều kiện ở, môi trường sống, bữa
ăn, tài sản và điều kiện sinh hoạt hàng ngày của họ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Thực hiện đề tài, tác giả mong muốn được đóng góp vào tri thức lý luận chung trong việc nghiên cứu, giúp chúng ta hiểu biết về ASXH nói chung và tầm quan trọng của ASXH đời sống xã hội nói chung và đối với người dân huyện Vân Đồn nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu giúp chúng ta nhận thấy rõ thực trạng về công tác ASXH đối với người dân Vân Đồn hiện nay Đánh giá khách quan về kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi hệ thống chính sách ASXH, hướng tới xây dựng Vân Đồn trở thành một đặc khu kinh
tế “An bình, đáng sống” Nghiên cứu đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm cho việc cần thiết phải đẩy mạnh công tác đổi mới, hoàn thiện chính sách hơn nữa từ nhiều phương diện Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho những tổ chức, cá nhân quan tâm đến vấn đề này
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận nghiên cứu
Chương 2.Thực trạng an sinh xã hội cho người dân huyện Vân Đồn, Quảng Ninh:
Chương 3: Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng thực thi chính sách ASXH ở Vân Đồn trong thời gian tới
Trang 25Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm An sinh xã hội
Khái niệm An sinh xã hội được ra đời ở các nước công nghiệp phát triển từ cuối thế kỷ XIX và đã phát triển rộng khắp trên toàn cầu Theo Ngân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập Quan niệm này nhấn mạnh đến các giải pháp nhằm kiềm chế nguy cơ làm giảm thu nhập của các cá nhân, gia đình và cộng đồng Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp Quan niệm này nhấn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): ASXH là một hệ thống chính sách công (CSC) nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đình và cá nhân Quan niệm này nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác động bất lợi đến các cá nhân và hộ gia đình [18, tr.21-22]
Trong cuốn: Giáo trình nhập môn an sinh xã hội của Nguyễn Hải Hữu định
nghĩa: ASXH là một hệ thống cơ chế chính sách, biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế, xã hội làm cho họ có nguy cơ bị sút giảm nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không có sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa , thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và hỗ trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ đặc biệt [24, tr.16-17]
Trong cuốn An sinh xã hội Việt Nam hướng tới 2020 tác giả Vũ Văn Phúc
cho rằng: Theo nghĩa rộng ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội Theo nghĩa hẹp, ASXH là sự
Trang 26đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mấy việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, người yếu thế Bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên trong xã hội trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác [45, tr.14]
Trong cuốn Chính sách an sinh xã hội - thực trạng và giải pháp tác giả Lê
Quốc Lý xác định: ASXH là sự bảo đảm thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội trong trường hợp họ gặp phải các rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự an sinh cho mọi thành viên trong xã hội [17, tr.17]
Trong Chiến lược An sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020 và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTƯ khóa XI khái niệm về ASXH được quan niệm như sau:
An sinh xã hội là hệ thống các chính sách và các chương trình do nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm đảm bảo mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực cho cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý
và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản [2, tr.2], [5]
Trong cuốn: Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, an sinh xã hội được quan niệm: ASXH là một hệ thống
chính sách và giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân [40, tr.18]
Tóm lại, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng để trợ giúp các thành viên trong xã hội trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Mục đích của ASXH
là tạo ra một mạng lưới bảo vệ an toàn cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội
Trang 27trước những rủi ro trong cuộc sống Bản chất của ASXH là đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội, vì thế nó mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc Đối tượng của ASXH là những thành viên trong cộng đồng trước những rủi ro trong cuộc sống do những tác động bất thường về kinh tế, xã hội, môi trường - đặc biệt là những nhóm dễ bị tổn thương, người nghèo, vùng nghèo, vùng dân tộc, miền núi, nông thôn [40, tr.18-19] Phương thức hoạt động của ASXH là thông qua các chính sách, biện pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, trụ cột “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo đồng thời phải được xã hội hóa cao, huy động sự tham gia của mọi tổ chức, đơn vị, gia đình, cá nhân và của toàn xã hội [40, tr 18,19]
1.1.2 Khái niệm Bảo trợ xã hội
Bảo trợ xã hội: Là một loại hình quan trọng trong lĩnh vực an sinh xã hội đó
là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình BTXH là sự giúp đỡ thêm của nhà nước và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng
BTXH thường có 02 loại: Trợ giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp đột xuất Trợ giúp thường xuyên là hình thức trợ giúp xã hội đối với những người hoàn toàn không thể lo được cuộc sống trong một thời gian dài (một hoặc nhiều năm) hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng trợ giúp (ví dụ: trợ cấp một khoản kinh phí hàng tháng; miễn phí thẻ BHYT cho những đối tượng người cao tuổi, người nghèo, người tàn tật, tâm thần; miễn, giảm học phí học tập; đưa người già cô đơn, trẻ em
mồ côi vào các trung tâm nuôi dưỡng…)
Trợ giúp đột xuất là hình thức trợ giúp xã hội do nhà nước và cộng đồng giúp
đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc gặp những biến cố khác mà đời sống của họ bị đe dọa về tính mạng, lương thực, nhà ở, chữa bệnh, chôn cất hay
Trang 28phục hồi sản xuất nếu không có sự trợ giúp khẩn cấp Đối tượng, chế độ của hai nhóm đối tượng trên được quy định tại Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật
1.1.3 Khái niệm Bảo hiểm xã hội
BHXH là bộ phận lớn nhất trong hệ thống ASXH BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến
cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động từ hoạt động nghề nghiệp của họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động [41, tr.40]
Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền ASXH vững mạnh BHXH có các đặc điểm cơ bản là: BHXH dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia; đòi hỏi tất cả mọi người tham gia phải đóng góp tạo nên một quỹ chung; các thành viên được hưởng chế độ khi họ gặp các “sự cố” và đủ điều kiện để hưởng; chi phí cho các chế độ được chi trả bởi quỹ BHXH; nguồn quỹ được hình thành từ sự đóng góp của những người tham gia, thường là sự chia sẻ giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, với một phần tham gia của nhà nước; đòi hỏi tham gia bắt buộc, trừ những trường hợp ngoại lệ; phần tạm thời chưa sử dụng của quỹ được đầu tư tăng trưởng, nâng cao mức hưởng cho người thụ hưởng chế độ BHXH; các chế độ được bảo đảm trên cơ sở các đóng góp BHXH, không liên quan đến tài sản của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ
lệ với thu nhập trước khi hưởng BHXH…
Ở nước ta, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn
Trang 29mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất
Nguyên tắc bảo hiểm xã hội: Mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH Mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc, vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng BHXH Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH…[10]
1.1.4 Khái niệm Trợ giúp xã hội
Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp
đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng
1.1.5 Khái niệm Chính sách xã hội
Chính sách xã hội là một loại hình chính sách được thể chế hóa bằng pháp luật nhà nước, là hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết những vấn đề xã hội đặt ra trong một thời gian và không gian nhất định, trước hết là những vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của con người theo nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước Các chính sách xã hội cơ bản gồm chính sách dân số, chính sách gia đình, chính sách sức khỏe, chính sách giáo dục, chính sách đối với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội; chính sách đối với các giới, chính sách an sinh xã hội…
Trang 301.1.6 Khái niệm Chính sách an sinh xã hội
Trong cuốn An sinh xã hội ở nước ta ở Việt Nam hướng tới năm 2020, tác
giả Vũ Văn Phúc đã cho rằng: Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội [45, tr.14]
Trong cuốn Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam tác giả Nguyễn Văn Chiểu cho rằng: Chính
sách ASXH là những biện pháp bảo vệ của nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội [22, tr.18]
Chính sách an sinh xã hội được hiểu là hệ thống chủ trương, phương hướng
và biện pháp đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ
bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa Đây là hệ thống chính sách nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội Mục tiêu của chính sách ASXH là đảm bảo thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho mọi thành viên trong xã hội Đối tượng của chính sách ASXH là mọi người dân, kể cả những người trong đối tượng lao động, người chưa đến tuổi lao động và người hết tuổi lao động, trong đó bao gồm các đối tượng của chính sách xã hội là người nghèo thành thị và nông thôn, phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người tàn tật và người dân tộc thiểu số…[18]
Trang 311.2 Các văn bản chính sách của Việt Nam đối với ASXH giai đoạn 2012 - 2020
An sinh xã hội là công cụ để xây dựng một xã hội hài hòa, văn minh, không
có sự loại trừ và cũng thể hiện quyền cơ bản của con người Nguyên tắc cơ bản mà ASXH hướng tới là đảm bảo sự đoàn kết, chia sẻ và tương trợ cộng đồng Sự tương trợ này giúp các thành viên cộng đồng có cơ sở để vượt qua các rủi ro trong đời sống, thúc đẩy sự đồng thuận, bình đẳng, công bằng bác ái Đảm bảo ASXH là cơ
sở quan trọng, tạo tiền đề cho việc nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, đảm bảo
sự an toàn thu nhập, đảm bảo tiếp cận các dịch vụ xã hội
Lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, “Bảo đảm ASXH” được khẳng định với tư cách là nội dung cấu thành của một trong 11 chủ đề chính của Báo cáo chính trị, chủ trương phát triển hệ thống ASXH đa dạng ngày càng mở rộng và hiệu quả [13, tr.125], được xem là một trong những nội dung hợp thành của sự định hướng về “Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế” trong Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020 Đặc biệt, tại Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Khóa XI, Đảng ta đã ban hành nghị quyết “Một
số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” Nghị quyết nhấn mạnh:
“Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công
và bảo đảm ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của
cả hệ thống chính trị và toàn xã hội… [13, tr.105-107]
Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 - 2020 Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu cần phấn đấu là: Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội tự nguyện; thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế
Ðại hội XII của Ðảng ta đã nêu rõ phương hướng và nhiệm vụ an sinh xã hội là: Tiếp tục hoàn thiện chính sách, nâng cao mức sống người có công Rà soát,
Trang 32hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an sinh xã hội Ðẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số Chú trọng các giải pháp tạo điều kiện và khuyến khích hộ nghèo, cận nghèo phấn đầu tự vươn lên thoát nghèo bền vững Khuyến khích nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh xã hội của người dân Thực hiện tốt chính sách việc làm công, chính sách bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ có thời hạn cho người lao động mất việc khu vực công Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Mở rộng đối tượng tham gia, nâng cao hiệu quả của hệ thống, đổi mới cơ chế tài chính, bảo đảm phát triển bền vững quỹ bảo hiểm xã hội Tiếp tục hoàn thiện chính sách, khuyến khích tham gia của cộng đồng, nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội Thực hiện chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều, bảo đảm mức tối thiểu
về thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin [14, tr.137]
Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững Đặc biệt, ngày 1/6/2012 đánh dấu mốc quan trọng của sự kiện lần đầu tiên Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành một nghị quyết
về chính sách xã hội với tên gọi “Nghị quyết 15-NQ/TW một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020” Nghị quyết đặt mục tiêu “Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản bảo đảm gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn Đến năm 2020, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân”
Nghị quyết 15-NQ/TW tập trung vào giải quyết các vấn đề thuộc 2 nhóm chính sách cơ bản, quan trọng trong hệ thống các chính sách xã hội là chính sách
Ưu đãi người có công và chính sách an sinh xã hội Để thực hiện thắng lợi Nghị
Trang 33quyết số 15-NQ/TW Chính phủ ban hành nghị quyết số 70/NQ-CP Ban hành
Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày
01 tháng 6 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn đề
về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 Chương trình xác định các nhiệm vụ
chủ yếu để các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân thực hiện thành công mục tiêu của Nghị quyết 15 đã đề ra nhằm không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người có công với cách mạng vàbảo đảm an sinh xã hội cho mọi người dân phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từng thời kỳ Chương trình là căn cứ để các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch hành động theo chức năng nhiệm vụ của mình để chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 15
Trên quan điểm của Đảng, hệ thống chính sách An sinh xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới được Nhà nước thể chế hóa bằng những văn bản có giá trị pháp lý qua từng chặng đường phát triển trong quá trình đổi mới Hệ thống ASXH Việt Nam trong thời gian qua là đã hỗ trợ đắc lực, đặc biệt đối với người nghèo, người yếu thế Các chính sách ASXH từng bước được mở rộng về phạm vi, đối tượng và mức hưởng; ngày càng nhận được sự ủng hộ, tham gia của cộng đồng dựa trên tinh thần đoàn kết, chia sẻ và tương trợ
Việc làm đảm bảo thu nhập tối thiểu và giảm nghèo
Chính sách việc làm là một trong những chính sách cơ bản của mỗi quốc
gia Thông qua tạo thêm việc làm và đảm bảo việc làm cho người lao động, chính sách việc làm có mục tiêu xã hội là nâng cao phúc lợi cho người dân, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho người dân hòa nhập xã hội, giảm dần sự tách biệt xã hội Chính sách việc làm ở nước ta thời gian qua đã từng bước thực hiện được mục tiêu đó
Ngày 08/10/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1489/QĐ-TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-
2015 với tổng kinh phí thực hiện Chương trình là 27.509 tỷ đồng, huy động từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, viện trợ nước ngoài và các nguồn vốn huy
Trang 34động hợp pháp khác Mục tiêu đến năm 2015, 10% số huyện nghèo và 50% số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; 30% số xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước tăng lên 1,6 lần so với cuối năm 2011, trong đó riêng các hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi tăng gấp 2,5 lần Đồng thời, phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 2%/năm, riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2011-2015, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt [32]
Chính sách giảm nghèo tiếp tục được hoàn thiện theo hướng: tăng cường hỗ trợ người nghèo toàn diện; tập trung giảm nghèo cho đồng bào dân tộc, các vùng nghèo, huyện nghèo; cải cách, đổi mới thể chế chính sách, nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình giảm nghèo; cải cách quản lý, thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững Quốc hội đã thông qua Luật Việc làm tạo cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách về việc làm, triển khai các chương trình đề án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề giai đoạn 2012-2015; tiếp tục chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2015
Giai đoạn 2012-2013, đã phê duyệt các Khung giảm nghèo và chương trình giảm nghèo: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-
2015, Chương trình 135 về đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015 (giai đoạn 3), bổ sung 23 huyện nghèo mới hưởng một số cơ chế, chính sách theo Nghị quyết 30a [32]
Trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo về giáo dục - đào tạo; tiếp cận y tế; hỗ trợ đối với hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình tham gia
Trang 35BHYT; sửa đổi chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo về mức vay và lãi suất vay; với hộ cận nghèo, được sửa đổi theo hướng kéo dài thời gian cho vay đối với hộ mới thoát nghèo; chính sách đào tạo nghề, tạo việc làm, xuất khẩu lao động tiếp tục được hoàn thiện, trong đó ưu tiên cho hộ nghèo dân tộc thiểu số, hộ sinh sống trên địa bàn các huyện nghèo, xã nghèo; hỗ trợ về nhà ở, tiền điện cho hộ nghèo
Đến cuối năm 2015, tỷ lệ nghèo theo chuẩn Quốc gia còn dưới 4,5%; Các chương trình giảm nghèo đã có tác dụng tích cực làm tăng khả năng thoát nghèo của
hộ nghèo, giảm khoảng cách nghèo giữa các vùng, miền, nhóm dân tộc; đời sống của người dân, nhất là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng yếu thế được cải thiện và nâng cao
Xóa đói giảm nghèo không chỉ đơn thuần làm thế nào để người nghèo thoát nghèo, một phần quan trọng không kém là ngăn cho những người hiện đang không nghèo khỏi bị rơi vào cảnh nghèo Đó là những người có thu nhập cận mức nghèo hoặc thu nhập chưa đủ cao dễ bị tổn thương trong cuộc sống, vì vậy các quỹ ASXH giúp đỡ họ khi gặp khó khăn là cần thiết Ở nước ta, quỹ ASXH đặc biệt dành cho lao động dôi dư trong thời gian qua là một ví dụ Khi chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, quá trình cơ cấu lại và giải thể các doanh nghiệp Nhà nước đã dẫn tới tình trạng dư thừa lao động Nhiều người lao động rơi vào tình trạng mất việc làm sau nhiều năm gắn bó với doanh nghiệp, nguy
cơ rơi vào cảnh nghèo khó là rất cao Chính vì vậy, chính phủ đã cho thành lập quỹ ASXH đặc biệt cho lao động dôi dư do Bộ tài chính quản lý Những người lao động bị cho thôi việc hoặc tự nguyện thôi việc được nhận 2 tháng lương cơ bản cho mỗi năm công tác, trợ cấp đào tạo tương đương 6 tháng lương cộng với 6 tháng lương hỗ trợ cho quá trình tạo việc mới và một khoản trợ cấp chọn gói là 5 triệu
Bảo hiểm xã hội
Trên phương diện hệ thống chính sách, đây là giai đoạn phát triển nhất của chính sách BHXH với sự ra đời của một loạt các văn bản có giá trị pháp lý cao như:
Trang 36Ngày 20 tháng 11 năm 2014, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội (Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016) [41] Bộ luật này đã quy định chi tiết hơn một số chính sách về bảo hiểm xã hội hiện hành và bổ sung nhiều chính sách mới có lợi cho người lao động; đặc biệt, luật còn đưa ra cũng quy định để thực hiện lộ trình đảm bảo nguyên tắc đóng hưởng, sự bền vững của hệ thống bảo hiểm xã hội
Trợ giúp xã hội cho các nhóm đặc thù
Trong giai đoạn từ năm 2012-2020, Nhà nước đã ban hành văn bản pháp luật
về trợ giúp xã hội, trong đó một số văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như: Nghị định số 56/2017/NĐ-CP Văn bản pháp luật đã quy định rõ phạm vi hưởng, đối tượng, chế độ, nguồn tài chính thực hiện cứu trợ xã hội thường xuyên và cứu trợ
xã hội đột xuất làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện trợ giúp xã hội ở nước ta Ngày 21 tháng 10 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội [9] Theo Nghị định quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, có 6 đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; cấp thẻ BHYT cho đối tượng bảo trợ xã hội; hỗ trợ làm nhà
ở cho hộ nghèo, cận nghèo
Ngày 20 tháng 10 năm 2012 UBTV Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà
mẹ Việt Nam anh hùng” Ngày 22 tháng 5 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh
dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” [8], [43]
Các dịch vụ xã hội cơ bản
Nghị quyết 15 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Khóa XI của Đảng
ngày 01 tháng 6 năm 2012 “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020” đã xác định cụ thể một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, bao gồm:
giáo dục tối thiểu, y tế tối thiểu, nhà ở tối thiểu, nước sạch và vệ sinh môi trường,
Trang 37và thông tin truyền thông Luận văn sẽ tập trung chủ yếu vào dịch vụ xã hội cơ bản
và sẽ phân tích cụ thể ở phần tiếp sau
1.3 Bảo đảm mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân
Hình 1.2 Mô hình chính sách an sinh xã hội Việt Nam giai đoạn 2012-2020
Nguồn: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=25347)
Các dịch vụ xã hội cơ bản như: chăm sóc sức khỏe, giáo dục cơ sở, nước,
điều kiện vệ sinh, nhà ở… là những dịch vụ mà người nghèo khó có khả năng tiếp
cận nếu họ phải trả đầy đủ các khoản chi phí Chính vì vậy ở các nước, một phần
đáng kể trong chi tiêu công của ngân sách Nhà nước có liên quan đến cung cấp các
dịch vụ cơ bản này, trong đó nhìn chung người nghèo là đối tượng được hưởng lợi
nhiều nhất Ngay cả ở các nước có khu vực tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ xã
Trang 38hội cơ bản, Nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng thông qua điều tiết hay trợ cấp
1.3.1 Chính sách bảo đảm giáo dục tối thiểu
Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn, kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến Việt Nam, tư tưởng đạo đức Hồ Chủ Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân” (Điều 30)
Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hóa phản động, đồi truỵ, bài trừ mê tín, hủ tục Khẳng định và biểu dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm tiến bộ, phê phán những cái lỗi thời Nhà nước tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình văn hóa…
Hiến pháp tuyên bố: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; Đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” ( Điều 35)
Năm 2012-2013, Chính phủ ban hành 4 chính sách hỗ trợ, góp phần nâng cao tiếp cận giáo dục cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đặc biệt khó khăn Năm 2013, ước tính tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học, mẫu giáo 5 tuổi đạt trên 99,7%, tiểu học đạt 97,7%, trung học cơ sở đạt 88%, phổ thông trung học đạt 58%; tỷ lệ trẻ khuyết tật đi học đạt 58,4%; tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân đạt 58,4 người; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên đạt 98,5% Sau 3 năm thực hiện, dự án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, khoảng 1,09 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề, bình quân mỗi năm có 0,36 triệu lao động Năm 2012, có 0,49 triệu lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề, trong đó, khoảng 74,2% tìm được việc làm Năm 2013 dự kiến tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt trên 49%, trong đó qua đào tạo nghề trên 27% [ 32]
Trang 391.3.2 Chính sách bảo đảm y tế tối thiểu
Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 - 2020 Nghị quyết đã chỉ rõ mục tiêu cần phấn đấu là: Thực hiện có hiệu quả các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội tự nguyện; thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân Phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế
Ngày 13 tháng 6 năm 2014, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015) Ngày 15 tháng 11 năm 2014 Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 105/2014/NĐ- CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế [42] Những điểm mới của Luật Bảo hiểm y tế liên quan đến đối tượng tham gia BHYT; mức hưởng BHYT; mở thông tuyến khám chữa bệnh có BHYT
Với Quyết định số 1167/QĐ-TTg, ngày 28-6-2016, của Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm y tế lên hơn 90% vào năm 2020, cao hơn rất nhiều so với chỉ tiêu Quốc hội đã giao năm 2013 là 80%, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao trong việc chăm lo đời sống nhân dân của Đảng và Nhà nước ta [32] Nhìn chung, hệ thống các văn bản pháp luật BHXH, BHYT giai đoạn hiện nay tương đối hoàn thiện, có giá trị pháp lý cao, đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của người lao động Thông tư số 02/2017/TT-BYT ngày 15/3/2017 quy định mức tối đa khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc phạm vi thanh toán của Quỹ bảo hiểm y tế trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh chữa bệnh trong một số trường hợp Đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện Kế hoạch số 266/KH-BYT ngày 10/03/2017 của Bộ Y tế về triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám chữa bệnh và thanh toán BHYT năm 2017
Trang 401.3.4 Chính sách bảo đảm mức tối thiểu về nhà ở
Chi phí về nhà ở là một trong những chi phí lớn đối với người dân nói chung Vì vậy đối với người nghèo, hỗ trợ của Nhà nước và xã hội về nhà ở là rất cần thiết Các chương trình hỗ trợ người nghèo về nhà ở như: bán nhà với giá rẻ, xây nhà, xây nhà tình nghĩa Ở nước ta, tính đến hết tháng 5/2011, cả nước đã hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho hơn 350 nghìn hộ, đạt tỷ lệ 68%, trên tổng số 512.475
hộ 59 tỉnh, thành phố trên cả nước có đối tượng hỗ trợ nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
1.3.5 Chính sách bảo đảm nước sạch cho người dân
Hiện nay ở các nước, các dịch vụ về nước và vệ sinh môi trường đều do nhà nước cung cấp, hoặc do tư nhân làm thì cũng có sự điều tiết và hỗ trợ của Nhà nước,
để đảm bảo mức giá hợp lý và thường là thấp cho người dân nói chung, trong đó có đối tượng người nghèo Trong một số trường hợp, các hộ nghèo có thể có những hỗ trợ thêm như: hỗ trợ và tư vấn xây nhà vệ sinh, cung cấp nước sạch cho những vùng
khô hạn
Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012- 2015 với 3 dự án: (1) cấp nước sinh hoạt và môi trường nông thôn; (2) Vệ sinh nông thôn; và (3) Nâng cao năng lực, truyền thông và giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình Đến cuối năm 2013, 82% dân
số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, mang lại những hiệu quả kinh tế và
xã hội, góp phần nâng cao sức khoẻ của người dân, tiết kiệm sức người và thời gian lấy nước, cải thiện điều kiện vật chất [32]
1.3.6 Chính sách bảo đảm tiếp cận thông tin cho người dân
Ở nước ta, để đảm bảo quyền được thông tin, Đảng ta đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua Đại hội VII năm
1991 Điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 sau đó ghi rõ: “Công dân có quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin theo quy định của pháp luật” Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước và quyền con người nói chung, quyền tiếp cận thông tin nói riêng có mối quan hệ tác động qua ở