1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp môn niệm phật tam muội trong kinh hoa nghiêm

79 227 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 542,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay cách hiểu về Niết bàn và tiêu chí đạt tới cảnh giới đó cũng không thống nhất khi chúng ta tìm hiểu nó trong các bộ kinh của Phật giáo như Tạp A Hàm kinh, Đại Niết bàn kinh, Niệm Phậ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ TRỌNG BẢO

PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI

TRONG KINH HOA NGHIÊM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ TRỌNG BẢO

PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI

TRONG KINH HOA NGHIÊM

Ngành: Triết học

Mã số: 60220301

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN NGUYÊN VIỆT

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Pháp môn niệm Phật tam muội trong kinh Hoa

Nghiêm” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của

PGS.TS Trần Nguyên Việt Các số liệu trích dẫn trong luận văn là trung thực, rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Đỗ Trọng Bảo

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI VÀ KINH HOA NGHIÊM 7

1.1 PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI 7

1.2 KINH HOA NGHIÊM VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA NÓ 17

Chương 2 BỐN PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI CƠ BẢN TRONG KINH HOA NGHIÊM 38

2.1 NIỆM PHẬT PHÁP THÂN 39

2.2 NIỆM PHẬT CÔNG ĐỨC 44

2.3 NIỆM PHẬT DANH TỰ 53

2.4 NIỆM PHẬT ADIĐÀ 62

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong kinh Niết bàn có đoạn Thích Ca Mâu Ni nói về tính cần thiết của

giải thoát với các đệ tử của mình như sau:

“Tự mình làm ngọn đuốc, tự mình làm phước lành, xem chân lý chính là ngọn đuốc và phước lành đó Bất luận là trong giờ khắc này hay là sau khi ta mất đi, các đệ tử nhất định phải tự bảo vệ và tự soi sáng cho mình, đồng thời phải dùng chân lý để bảo vệ và soi sáng cho mình” [2, tr.26] Đây là di huấn hết sức quan trọng và cũng là tiền đề để Phật giáo tồn tại và phát triển, trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới Cũng như mọi tôn giáo khác, Phật giáo lấy giải thoát con người khỏi nỗi khổ truyền kiếp làm mục đích tối thượng

Tuy nhiên, làm thế nào để đạt được giải thoát, được đến với cõi Niết bàn hay Tịnh độ đã trở thành nguyên nhân của sự xuất hiện các phương pháp tu hành khác nhau trong Phật giáo Ngay cách hiểu về Niết bàn và tiêu chí đạt tới cảnh giới đó cũng không thống nhất khi chúng ta tìm hiểu nó trong các bộ

kinh của Phật giáo như Tạp A Hàm kinh, Đại Niết bàn kinh, Niệm Phật tam

muội kinh, v.v Duy chỉ có điều được thừa nhận chung về cảnh giới Niết bàn

chính là cảnh giới tâm linh, không phải là cảnh giới vật chất, vì thế nó không

có địa danh xác định Tiểu thừa Phật giáo cho rằng, đến với Niết bàn là đến với bến bờ bên kia (đáo bỉ ngạn), với chúng ta, chừng nào còn ở bờ bên này (thử ngạn) thì vẫn còn lẩn quẩn trong vòng luân hồi Ngược lại, Đại thừa Phật giáo cho rằng, Niết bàn tức là luân hồi xét từ góc độ nào đó, tức là có Niết bàn

ở thế giới bên này chứ không phải chỉ có ở thế giới bên kia như Tiểu thừa xác nhận Nói cách khác, cái vô minh, cái nhìn thấy được là luân hồi, còn cái nhận biết được, giác ngộ (tri nhận) được là Niết bàn Tiểu thừa Phật giáo coi việc đạt mục tiêu Niết bàn chỉ sau khi 1.đoạn trừ được nghi hoặc, đoạn trừ tham,

Trang 6

sân si và 2.sau khi chết mới có sự hoàn thành của trí tuệ Bát Nhã Trong khi

đó, Đại thừa Phật giáo cho răng, “thành phần của „thể tụ hợp‟ không ngừng hoán dị, cho nên sinh mệnh của cá thể chỉ có „sự tăng trưởng của nhất niệm‟… cho nên giả như tin rằng, „cá thể‟ không có sinh mệnh, chính là cách nhìn nhận „ngũ uẩn giai không‟… Cái gọi là Niết bàn chỉ là do cảm giác tỉnh táo của mộng mị, do từ trong sự trầm kha của tâm thức sống lại, Niết bàn chính là giác ngộ” [2, tr.317-318]

Qua đó cho thấy, ý nghĩa tên gọi của “Đại thừa Phật giáo” là cỗ xe lớn chở được nhiều người đến với Niết bàn hay Tịnh Độ chính là ở chỗ phái này đưa ra lý luận giải thoát cho con người ngay trong cõi Sa-bà và Ta-bà vừa bằng tự giác, vừa bằng giác tha Điều cốt yếu là hành giả trong quá trình tu tập phải nhất tâm, phải hướng tới pháp môn niệm Phật tam muội để tri nhận Pháp thân, Báo thân và Hóa thân thì sẽ đạt tới giác ngộ, thậm chí đạt tới giác ngộ rất nhanh (đốn ngộ)

Giác ngộ hay giải thoát là mục đích tối thượng của Phật giáo nói chung,

Phật giáo Đại thừa nói riêng Điều này được Kinh Hoa Nghiêm luận giải và

chỉ ra các phương pháp rất cụ thể để hành giả thực hành tu niệm cho đúng để đạt hiệu quả Mặt khác, tu niệm trong đời sống tôn giáo còn góp phần củng cố niềm tin vào đạo lý chân chính, điều đó có ý nghĩa không chỉ đối với các phật

tử xuất gia, mà đặc biệt đối với các cư sĩ tại gia không bị rơi vào tình trạng dao động, bị lôi cuốn bởi các tà đạo đang có xu hướng biến thái và xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta Pháp môn niệm Phật tam muội nói chung, niệm

Phật tam muội trong kinh Hoa Nghiêm giúp người tu hành giữ vững niềm tin

tôn giáo vào Phật giáo, một tôn giáo đã gắn bó với dân tộc hàng ngàn năm và hiện tại đang góp phần quan trọng vào việc xây dựng đất nước theo tinh thần

“Đạo Pháp, Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”

Trang 7

Vì vậy, với ý nghĩa và tầm quan trọng của pháp môn niệm Phật tam muội, cùng với việc bản thân học viên là nhà tu hành, cho nên mạnh dạn chọn

“Pháp môn niệm Phật tam muội trong kinh Hoa Nghiêm” làm đề tài nghiên

cứu cho luận văn cao học của mình với mong muốn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của Phật giáo Đại thừa vừa uyên bác về mặt triết học, vừa vi diệu về, mặt phương pháp tu hành trong bộ kinh này

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Từ các cuộc kết tập kinh điển của Phật giáo đã hình thành nên bộ kinh điển đồ sộ được gọi là Tam tạng kinh (tripitaka) Trong quá trình phát triển của Phật giáo trải qua hàng thế kỷ, số lượng kinh điển ngày càng tăng và điều

đó kéo theo một loạt các công trình nghiên cứu về Phật giáo với số lượng không thể thống kê hết được Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng tôi xác định số các công trình cần thiết để tham khảo và sơ bộ phân định các tài liệu

đó theo các hướng sau đây:

1 Hướng nghiên cứu các nội dung cơ bản của Phật giáo Đại thừa

Trong phạm vi luận văn này chúng tôi không thể kể hết được các công trình nghiên cứu về Phật giáo Đại thừa Song liên quan đến đề tài có thể chỉ ra một số công trình như sau:

Sách Đại thừa khởi tín luận [12] do Bồ tát Mã Minh soạn Cuốn sách

được phật tử Chân Hiền Tâm dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt với mục đích

dò tìm dấu vết nghìn năm cũ của các bậc Bồ tát Cuốn sách nói về lý duyên khởi của Như Lai tạng Hiện nay các sách trước thuật về khởi tín luận được chia thành sách được chia thành 18 loại với số lượng 89 quyển

Cuốn Lược sử Phật giáo Ấn Độ [10] do Hòa thượng Thích Thanh Kiểm

biên khảo năm 1963 trình bày khái quát lịch sử Phật giáo Ấn Độ Sách do Thành hội Phật giáo TP HCM xuất bản năm 1989 gồm 4 thiên, 19 chương Thiên thứ ba nói về Phật giáo Đại thừa kể từ cuối thế kỷ II đến cuối thế kỷ

Trang 8

VII với sự hưng long và phát triển của Đại thừa Phật giáo qua các thời đại ngài Long Thọ, Đề Bà

Cuốn Ấn Độ Phật giáo sử luận [31] do tác giả Viên Trí biên soạn, Nxb

Phương Đông, TP HCM, 2009 trình bày lịch sử Phật giáo Ấn Độ từ đức Phật đến thời kỳ Bộ phái

Cuốn Bước đầu học Phật [30] do HT Thích Thanh Từ biên soạn, Nxb

Tôn giáo 2002 với mục đích dẫn dắt những người mới bắt đầu học Phật hiểu Phật giáo một cách đúng đắn để trở thành phật tử chân chính Theo tác giả, bản chất của Phật giáo đã là chân lý, là sự thật, chúng ta đừng làm méo mó khiến kẻ bàng quan hiểu lầm Phật giáo

Bộ sách Nguyên thủy, Tiểu thừa, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận [7]

của Kimura Taiken do HT Thích Quảng Độ dịch, Nxb Tôn giáo, Hà Nội,

2012 Đây là bộ sách bàn về tư tưởng của Phật giáo được nhiều người quan tâm với cách trình bày khúc triết, dễ hiểu về Phật giáo, đặc biệt là cuốn thứ ba

về Phật giáo Đại thừa với lý luận giải thoát hết sức tinh tế và vi diệu

2 Hướng nghiên cứu Pháp môn niệm Phật tam muội

Hướng nghiên cứu này cũng có nhiều sách bàn về lý luận giải thoát thông qua các hình thức tu niệm, cụ thể:

Cuốn Đường về Cực Lạc [25] của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, Thành

hội Phật giáo TP HCM ấn hành năm 1995 Theo tác giả, cuốn sách là sự “gom góp những chỗ, những nơi dạy về Pháp môn Tịnh Độ của Phật Bồ Tát và Cổ đức, trong các Kinh các luận chính thức… Đường về Cực Lạc là con đường Pháp dẫn ta và tất cả chúng sinh từ xứ ác trược Ta Bà về đến thế giới Thanh tịnh Cực Lạc, cũng chính là Pháp môn Tịnh độ nói bằng một cách khác đấy thôi”

Tiếp đến là cuốn Niệm Phật thập yếu [22] do Hòa thượng Thích Thiền

Tâm dịch, Nxb TP HCM ấn hành năm 1999 Cuốn sách được coi là kim chỉ

Trang 9

nam cho những hành giả tu Tịnh Độ Trọn bộ gồm 10 chương tương ứng với

10 yêu cầu thiết yếu nhất cho quá trình tu niệm của hành giả tới sự giác ngộ

Bộ sách Đại trí độ luận [3] của Bồ Tát Long Thọ gồm 5 tập giải thích về

các khái niệm của pháp môn tu niệm Phật, đặc biệt là vai trò và năng lực của trí để đạt tới giải thoát Bộ sách do HT Thích Thiện Siêu dịch, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1997

Cuốn Giải thoát luận Phật giáo [26] của TS Nguyễn Thị Toan, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010 cho rằng, quan niệm về giải thoát xuyên suốt giáo lý của đạo Phật, tạo thành nét đặc sắc của tôn giáo – triết hoc này Nghiên cưu quan niệm về giải thoát trong Phật giáo sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn sự đa dạng của các cách thức, các con đường giải phóng con người trong các học thuyết xã hội

Cuốn Khai sáng tuệ giác giáo nghĩa tinh yếu cơ bản của Đạo Phật [2]

của tác giả David Neil do Hoàng Ngọc Cương và Nguyễn Thị Xuân Hiền dịch, Nxb Đồng Nai ấn hành 2011 Cuốn sách trình bày khái quát giáo lý cơ bản của Phật giáo, nghiệp lực và Niết bàn tịch tĩnh, giúp độc giả hiểu rõ những khái niệm cơ bản của phương pháp tu niệm Phật

3 Hướng nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm và pháp môn niệm Phật tam muội trong kinh Hoa Nghiêm

Từ 4 tập của bộ kinh Hoa Nghiêm do Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch, Nxb TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 1999 đã xuất hiện nhiều công trình lược giải, đại cương, giáo trình về kinh này Cụ thể:

Cuốn Đại cương Kinh Hoa Nghiêm t.1 [28] do Thích Hằng Trường biên soạn, Nxb tôn giáo Hà Nội, 2004; cuốn Giáo trình Kinh Hoa Nghiêm, do TT

Thích Trí Hải biên soạn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2016; Hòa Thượng Thích Trí

Quảng với Lược giải Kinh Hoa Nghiêm, v.v giúp độc giả hiểu biết rõ hơn về

nguồn gốc, cấu trúc và những nội dung cơ bản của Kinh Hoa Nghiêm

Ngoài ra còn có các công trình khác liên quan đến hướng nghiên cứu này được đăng tải trên các tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Nghiên cứu Phật học, v.v

Trang 10

3 Mục đích và nhiệm vụ

3.1 Mục đích: làm rõ nội dung của Pháp môn niệm Phật tam muội

trong kinh Hoa Nghiêm

3.2 Nhiệm vụ: để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn cần tiến

- trình bày bốn pháp môn niệm Phật tam muội trong kinh Hoa Nghiêm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Pháp môn niệm Phật tam

muội

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn là Pháp môn niệm Phật tam muội

trong kinh Hoa Nghiêm

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: luận văn nghiên cứu Pháp môn niệm Phật tam muội

dựa trên cơ sở lý luận của lịch sử triết học, tôn giáo học

5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn: là các phương pháp được

ứng dụng trong nghiên cứu lịch sử triết học như phân tích, tổng hợp, sự thống nhất giữa logic và lịch sử cụ thể, phương pháp so sánh, đối chiếu, v.v

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những độc giả nghiên cứu lịch sử triết học, tôn giáo học, triết học tôn giáo và đặc biệt là những người quan tâm đến phương pháp tu niệm Phật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận án

có kết cấu gồm 3 chương 9 tiết

Trang 11

Chương 1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ PHÁP MÔN

NIỆM PHẬT TAM MUỘI VÀ KINH HOA NGHIÊM

1.1 PHÁP MÔN NIỆM PHẬT TAM MUỘI

1.1.1 Quan niệm của Phật giáo Đại thừa về Tịnh Độ

Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn của thế giới và có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài: thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, thời kỳ phân chia phái bộ thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ, tiếp đến là sự phân chia thành Tiểu thừa và Đại thừa Theo biểu tượng giản đơn thì quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo được ví như cây, gốc của nó là Phật giáo nguyên thủy, thân của nó là Tiểu thừa và phần ngọn là Đại thừa Đại thừa (Mahayana)

là cỗ xe lớn không chỉ giản đơn được dùng làm phương tiện vận tải, mà còn được dùng để chỉ giáo pháp khiến người tu được mở mang Nhất thiết trí

Trong Phẩm Thí dụ, Kinh Pháp Hoa viết rằng: “Nếu có chúng sinh nào theo

đức Phật Thế tôn, nghe pháp tín thụ siêng tu tinh tiến, cầu Nhất thiết trí, Phật trí, Vô sư trí, cầu Tri kiến, Lực, Vô sở úy của Như lai, xót thương làm cho vô lượng chúng sinh được an lạc, làm lợi ihcs cho Trời, Người, độ thoát hết thảy thì đó gọi là MaHaTat” Như vậy, Đại thừa hiểu một cách giản đơn, trong sự đối lập với Tiểu thừa, là cỗ xe lớn chở được nhiều người đến đích giải thoát Khái niệm Đại thừa còn được dùng để chỉ giáo pháp (Đại thừa giáo), tức pháp môn tu hành viên mãn lục độ để thành Phật; dưới tên gọi Đại thừa tông dùng

để chỉ tông phái, theo đó những tông cầu chứng ngộ thành La Hán thì gọi là Tiểu thừa tông, những tông cầu thành Phật (Bồ Tát) gọi là Đại thừa tông Trong lời giới thiệu bộ sách của Kimura Taiken “Nguyên Thủy, Tiểu Thừa, Đại Thừa Phật giáo tư tưởng luận”, dịch giả Hòa thượng Thích Quảng

Độ viết rằng: “Phật pháp chỉ có một vị, đó là vị giải thoát Nhưng phương

Trang 12

pháp để đạt đến giải thoát thì có rất nhiều, và phương pháp nào – dù là Đại Thừa hay Tiểu Thừa cũng đều nhằm đạt đến mục đích nhất vị kể trên” [7, tr.8] Khác với các phái Tiểu Thừa, đặc trưng căn bản nhất của đạo Bồ Tát là

sự nghiệp giải thoát cho bản thân và cho người khác (tự lợi, lợi tha) Đúng như nhận định của Kimura Taiken: “…nếu tự mình muốn đạt đến lý tưởng giới thì tất phải đưa người khác cũng đạt như mình; và đưa người khác đạt đến lý tưởng giới tức là chính mình đạt đến vậy Đương nhiên, nói một cách thực tế, trước phải tự cứu mình rồi sau mới cứu người được, đó là lẽ thường, thế nhưng đứng về mặt thệ nguyện mà nói, thì thay vì, vì mình, trước hết phải

vì người: đó là tâm từ bi và hạnh từ bi của Bồ Tát” [7, tr.451] Điều này làm

chúng ta liên tưởng đến tư tưởng trung thứ được trình bày trong cuốn Luận

ngữ của Khổng Tử (551-479 TCN), cho rằng “điều mình muốn thành đạt thì

cũng nên giúp người khác thành đạt” Tuy nhiên, quan điểm của Khổng Tử chỉ dùng lại ở chỗ “nên giúp người khác thành đạt” mà chưa nói rõ được bằng cách nào, mức độ nào, trong khi đó đạo Bồ Tát cho rằng, mỗi cá nhân trên con đường hoàn thiện bản thân, nếu chỉ hoàn thành cái nhỏ nhoi của riêng mình mà không hoàn thành cho kẻ khác thì sự hoàn thành đó chưa thể gọi là trọn vẹn Vì vậy, một tiêu ngữ rất nổi tiếng của đạo Bồ Tát xuất phát từ điều kiện tiên quyết để thực hiện lý tưởng giải thoát mang tính tối hậu là phải cùng với tất cả chúng sinh cùng tiến tới giải thoát khỏi mọi phiền muộn, khổ đau,

đó là: “Thượng cầu Bồ Đề, hạ hóa chúng sinh” (Trên cầu đạo giác ngộ, dưới hóa độ chúng sinh)

Theo Kimura Taiken, “Đạo Bồ Tát nếu muốn thực hiện lý tưởng tối cao, tất phải cùng với chúng sinh cùng tiến, cho nên ở đây tất nhiên cần phải nói đến Tịnh Độ, hoặc Phật Độ, tức là lý tưởng đó đã trở thành xã hội hóa” [7, tr.452] Vậy Tịnh Độ là gì?

Trang 13

Tịnh độ (Buddha ksetra) nguyên chữ phạn là Phật độ, cõi Phật, cõi thanh tịnh Trong truyền thống Đại thừa, người ta hiểu mỗi cõi Tịnh Độ thuộc về một vị Phật, và do có vô số chư Phật nên cũng có vô số Tịnh Độ Tịnh Độ được nhắc đến nhiều nhất là cõi Cực Lạc (Sukha-Vati) của Phật ADiĐà (Amitàbha) nơi Tây phương cự lạc Tịnh Độ phía Đông là cõi Phật Dược sư (Bhaisajyaguru-Buddha), có khi cõi đó gọi là Diệu hỷ quốc (Abhirati) của Phật Bất Động (Aksobhya), phía Nam là cõi Phật Bảo Sinh (Ratna-sambhava), phía Bắc là cõi Phật Cổ Âm (Đunubhi svara) Đức Phật tương lai DiLặc (Maitreya) là vị đang giáo háo ở cõi trời Đâu Suất (Tusita) sẽ tạo một Tịnh Độ mới

Tịnh Độ được xem là “hóa thân” của thế giới là cõi xứ mà ở đó người tu hành muốn đạt tới Muốn đạt được cõi này hành giả không phải chỉ trau dồi thiện nghiệp, mà còn phải nguyện cầu các Đức Phật của các cõi đó để được cứu độ Trong nhân gian, người ta thường hiểu Tịnh Độ là một nơi, có vị trí địa lý nhất định, nhưng thật ra Tịnh Độ là một dạng của tâm thức giác ngộ không bị nhiễm ô và các phương hướng Đông – Tây – Nam – Bắc chỉ có tính chất hình tượng Tịnh Độ không phải là mục đích cuối cùng trên con đường tu tập – chỉ là nơi được xem là cõi cuối cùng mà hành giả phải đạt tới tái sinh để sau đó đạt tới đích giải thoát viên mãn là cõi Niết bàn

Đúng thế, cảnh giới Tịnh Độ không phải ở một nơi nào đó xa xôi mà ở tại trong tâm thức của mỗi chúng sinh Nếu như chúng sinh xa lìa được vô minh phiền não, sáng suốt giác ngộ chân lý, và sống đúng chân lý thì chúng sinh mang tâm Phật, mà tâm Phật ở đâu thì quốc độ nơi đó tự trang nghiêm thanh tịnh Kimura Taiken còn chia Tịnh Độ quan của Phật giáo thành ba loại, gồm Quán Chiếu Tịnh Độ; Tha phương Tịnh Độ và Tịnh Độ trong tương lai ở ngay cõi này

Trang 14

Quán Chiếu Tịnh Độ là một phương pháp dựa vào tâm thanh tịnh mà cải tạo hiện thực thành một loại Tịnh Độ Theo Kimura Taiken, “nếu lấy dục làm tiêu chuẩn thì thế gian này là một cảnh giới bất mãn thường xuyên, là một vũ đài của khổ não Trái lại, nếu bỏ được lòng dục, dựa vào tâm thanh tịnh mà cải tạo thế giới, thì trong đó sẽ mở ra một thế giới khác, nếu có thể thì đó là sự triển khai một thế giới tốt đẹp Trong Tịnh Độ quan của Phật giáo, cách tưởng tượng đó gọi là Quán Chiếu Tịnh Độ” [7, tr.547-548]

Khi đề cập đến Tha phương Tịnh Độ là ý muốn nói đến một điều là ngoài thế giới của cái đẹp được tâm thanh tịnh triển khai về mặt nghệ thuật,

“chúng ta còn phải sống trong thế giới đạo đức, thế giới lợi hại, cho nên không thể nói tất cả đều cùng một duộc – có người lương thiện, cũng có những kẻ sát nhân và trộm cướp, tất cả đều sống trong thế giới hiện thực… Đứng về mặt toàn thể mà nói, nếu chỉ có Quán Chiếu Tịnh Độ thì chưa đủ; theo điểm này, đem quan niệm lợi hại đối chiếu với những sự xuất hiện xưa nay thì quyết không phải ở thế giới này mà muốn sản sinh một loại thế giới hoàn toàn viên mãn sau khi chết: tức là lý tưởng Tha Phương Tịnh Độ” [7, tr 449-450]

Hai Tịnh Độ quan nêu trên đều khẳng định người nào nhất tâm tín niệm Phật ADiĐà đều có thể cảm ứng được Cực Lạc Tĩnh Độ Tuy nhiên, sự nhất tâm niệm Phật ADiĐà để được đến với Cực Lạc Tĩnh Độ mà “bỏ rơi” thế giới thực tại bởi quan niệm cho thế giới này là nhơ nhớp là điều bất cập Chính vì vậy, đối với thế giới bên này, tại sao chúng ta không nỗ lực thường xuyên cải tạo nó, thanh tịnh hóa nó, biến nó thành một nơi sạch sẽ trang nghiêm, hay nói cách khác, làm cho nó trở thành Tịnh Độ Tương Lai trên cõi này? Người ta gọi loại Tịnh Độ này là Di Lặc Tịnh Độ Kimura Taiken cho rằng, “nếu người

đã chí nguyện kiến thiết Tịnh Độ Di Lặc thì cái thời gian luân hồi sinh tử vô cùng tự nó đã là giải thoát rồi, bởi thế nếu đi tìm cầu giải thoát sinh tử ở bên

Trang 15

ngoài thì không thể có được Chúng ta do tạo nghiệp mà phải lưu chuyển trong dòng sinh tử tuy đó là khổ, nhưng chúng ta đã tự nguyện lăn lộn trong dòng sinh tử vô hạn để kiến thiết Tịnh Độ Di Lặc thì sinh tử tự nó biến thành hoạt dụng của đạo Bồ Tát” [7, tr 554]

Tuy nhiên, để đạt tới cảnh giới của các loại Tịnh Độ, người tu hành phải dùng phương pháp nào?

Trong các kinh Phật chúng ta thường gặp luận điểm “Nhất thiết duy tâm tạo”, chứng tỏ mọi khổ đau hay an lạc đều do tâm quyết định Cũng trên tinh

thần này trong Kinh Duy Ma có nói: “Tuy kỳ tâm tịnh tắc Phật Độ tịnh” (Hễ

tâm người thanh tịnh thì có cõi Phật thanh tịnh) Lại nói: “Cõi Phật của Đức Thích Ca vẫn trang nghiêm thanh tịnh không thua kém gì cõi nước của chư Phật trong mười phương, thế mà Ngài Xá Lợi Phất lại thấy không thanh tịnh chẳng trang nghiêm” Điều đó cho thấy mười phương quốc độ đều là Tịnh

Độ, thế mà chúng ta có khác gì như người mù đứng dưới nắng ban mai trước cảnh trăm hoa nở mà không hề cảm nhận được một chút hương vị nào

Tịnh Độ không chỉ là thế giới của người niệm Phật vãng sinh, mà còn là thế giới của mọi tông phái thuộc Đại thừa Phật giáo Trong quá trình tu tập để thành tựu Pháp thân, Tịnh Độ là điều cần yếu cho mỗi hành giả Đại thừa Do

đó, sự vãng sinh về thế giới Cực Lạc Tịnh Độ của Phật ADiĐà là một phương tiện tối cần thiết, không chỉ dành riêng cho người tu tông Tịnh Độ, mà còn là khuôn mẫu chung không thể thiếu của mỗi hành giả Đại thừa Chính vì vậy

mà “Tịnh Độ tư tưởng tuy phổ biến rất rộng và rất mạnh, nhưng nếu lại tiến đến lĩnh vực luân lý của đạo Bồ Tát thì không những có thể vãng sinh Tịnh

Độ, mà tiến lên bậc nữa tự mình có thể thành Phạt, do đó có thể cấu tạo thành Tịnh Độ mới Vì mỗi người đều có Phật tính, mỗi người đều có thể thành Phật

để có khả năng tính cấu thành Tịnh Độ mà thực hiện Tịnh Độ” [7, tr 452]

Trang 16

452-Con đường thể nhập vào cảnh Tịnh Độ là con đường hành giả của Đại thừa là con đường của Đại Bồ Tát, tức là con đường thực hiện sự thanh tịnh của toàn thể Pháp giới (chẳng hạn Tỳ khiêu Pháp Tạng đã phát nguyện trang nghiêm thanh tịnh cảnh giới Tịnh Độ trong lúc thực hành Bồ Tát đạo) Muốn thực hiện trọn vẹn con đường đưa hành giả thể nhập vào Tịnh Độ, thể nhập vào Pháp thân, thì niệm Phật Tam muội là pháp môn căn bản và có tính quyết định

Pháp môn niệm Phật vãng sinh là do Phật ADiĐà lập bởi ngài nguyện Đức Thích Ca Mâu Ni chỉ giáo và được lục phương chư Phật tán dương

Trong cuốn Đường về Cực Lạc có nói: “Nơi hội Hoa Nghiêm đức Phổ Hiền,

trong hội Bát nhã Văn Thù, cùng vô lượng đại Bồ Tát đều có lời phát nguyện vãng sinh Cực Lạc: Mã Minh đại sỹ có lời khuyên tu niệm Phật trong luận Khởi Tín; Long Thọ Bồ Tát được Phật thọ ký vãng sinh nơi Pháp hội Lăng già, cùng vô số bậc Đại tổ Sư của các tông phái đại thừa Chẳng những Liên tông mà cả Tịnh Độ, Hoa Nghiêm tông cho đến Duy thức tông Ngài Thiên Thân, Ngài Khuy Cơ…đều cực lực tán dương và hoằng truyền môn Tịnh Độ” [25, tr.534] Đây cũng là lý do tại sao chư đại Bồ Tát trong Pháp hội Hoa Nghiêm lại tán thán sự trang nghiêm của cảnh giới Cực Lạc, năng lực của Đức Phật ADiĐà và sự lợi ích của chúng sinh khi được vãng sinh là Tịnh Độ Đức Thế Tôn muốn cho chúng sinh thoát khỏi thế giới Sa Bà (nhẫn nhục) để thể nhập vào được Pháp thân của chư Phật, tức cảnh Tịnh Độ Tuy nhiên, Ngài khẳng định rằng, để thể nhập vào cảnh giới Cực Lạc của Phật ADiĐà thì phải đi theo con đường Bồ Tát Đại thừa Bởi vì con đường vãng sinh về cảnh giới Tịnh Độ là con đường dễ đi nhất, cho nên hành giả vào được con đường này sẽ dễ dàng đi vào Pháp thân và có đủ năng lực trọn vẹn để đạt

đến quả Phật Do vậy mà trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Thế Tôn đã ân cần chỉ

Trang 17

ra pháp môn “Niệm Phật Tam muội” để hành giả nương theo đó tiến tu và vững bước trên lộ trình giải thoát

1.1.2 Các phương pháp niệm Phật và pháp môn niệm Phật tam muội

1.1.2.1 Các phương pháp niệm Phật

Theo Từ điển Phật học Hán Việt, thuật ngữ “Niệm Phật” có hai nghĩa chung và riêng Về nghĩa chung có: 1 Xưng danh niệm Phật: gọi tên Phật bằng lời nói; 2 Quán tưởng niệm Phật: tĩnh tọa mà quán niệm công đức tốt đẹp của Phật; 3 Thực tướng niệm Phật: xét nghĩa lý thực tướng trung đạo để hiểu rằng, pháp thân của Phật là không có, mà cũng không phải là không Về

ý nghĩa riêng thì vì để quán tri về Phật mà phải lập riêng các lời nói niệm Phật Người thời bấy giờ trong lúc quán Phật thu nhiếp cả hai thứ niệm Phật quán tưởng và thực tướng Do đó xưng danh niệm Phật, gọi tắt là Niệm Phật, như sự đối xứng giữa Quán Phật Tam muội và và Niệm Phật Tam muội Nay lời niệm Phật tuy thông đạt đến chư Phật, nhưng các thuyết Đại thừa đều hạn chế ở Phật ADiĐà” [4, t.1, tr.1079]

Trì danh niệm Phật là phương pháp niệm ra tiếng hay, niệm thầm bốn chữ “ADiĐà Phật” hoặc sáu chữ hồng danh “Nam mô ADiĐà Phật” Trì bốn chữ “ADiĐà Phật” được điển lợi dễ nhất tâm, trì sáu chữ thì dễ phát khởi lòng thành kính cơ cảm và phương pháp này được đề cập đến trong kinh ADiĐà

mà Đức Thế Tôn đã dạy

Quán tưởng niệm Phật: là chiếu theo Kinh Quán Vô lượng thọ để quán

tưởng y báo, chính báo nơi cõi Cực Lạc Nếu quán tưởng thành thục thì bất cứ lúc nào hành giả cũng thấy mình như được sống trong thế giới Cực Lạc, kinh hành dạo chơi cùng với các vị đại Bồ Tát, được nghe các loại chim sáo hót lên lời kệ du dương, lại được học hỏi chính pháp Đại thừa cùng các vị “Nhất sinh

bổ xứ” Công đức khó hành trì đối với người căn cơ thấp kém

Trang 18

Thực tướng niệm Phật là nhập vào “Đệ nhất nghĩa tâm”, là niệm tính Phật bản lai của chính mình Đây là quán Pháp thân thực tướng của Phật, kết quả sẽ chứng được chân như tam muội Phương pháp này thuộc về Thiền, nhưng cảnh giới do tâm Thiền hiển lộ lại là Tịnh Độ nên thuộc về Pháp môn niệm Phật

Ngoài ra còn thêm một phương pháp niệm Phật là quán tượng niệm Phật, tức là phương pháp chăm chú nhìn vào bức tranh hay một pho tượng Phật ADiĐà bày trước mặt, quan sát vẻ đẹp trang nghiêm của Phật từng chi tiết, cho đến khi không có ảnh, tượng của Phật trước mình mà lúc nào cũng thấy Phật với đẩy đủ đức tướng trang nghiêm Quá trình từ quán tượng niệm Phật đến “nhất tâm bất loạn” đạt tới mức độ hành giả có thể cảm thông được với Phật, và hình tướng giả của Phật biến thành thực tướng Phật chói sáng rạng

ngời trong tâm thức hành giả Theo kinh Hoa Nghiêm thì năng lực và vật chất,

hay tâm và vật chỉ là một, tượng Phật là cảnh được quán niệm bởi tâm, khi đã

hiểu rõ lý nhất như rồi thì sự cảm thông giữa hình tượng giả bên ngoài biến

thành thực tướng trong tâm là sự kiện đương nhiên xảy ra

Xét bốn phương pháp niệm Phật này chúng ta thấy “Thực tướng niệm Phật” thuộc về “Lý”, ba môn còn lại thuộc về “Sự” Về “sự”, do công phu niệm Phật ADiĐà tới nhất tâm bất loạn, hành giả chắc chắn sẽ được dứt nghiệp vãng sinh Về “lý” thì cho rằng, thế giới Cực Lạc ở ngay trong tâm mình, chỉ cần “Kiến tính” là thành Phật Nghe qua ta thấy 2 điểm khác nhau nhưng thật ra chỉ là hai lối diễn đạt để chỉ một cái đích chung là giác ngộ giải

thoát Ngài Phổ Hiền đã dạy trong kinh Như Lai bất tư nghị cảnh giới như

sau: “Nếu ai cầu vô thượng Bồ Đề, mà chuyên tu một Pháp môn thời thành tựu cả” Bởi vậy hành giả muốn thành công nơi Pháp môn niệm Phật, nhập vào “Niệm Phật tam muội” thì “Lập chí cầu thành Phật và chuyên cầu tu niệm Phật”

Trang 19

Theo Từ điển Phật học Hán Việt thì Niệm Phật Tam muội hay “phép tam

muội niệm Phật có hai thứ: 1 Nhất tâm quán tưởng tướng mạo trang nghiêm

vi diệu của Phật hoặc nhất tâm quán tưởng thực tướng pháp thân (cả hai đều thuộc loại Quán tưởng niệm Phật), hoặc nhất tâm xưng danh hiệu Phật (tức thuộc loại xưng danh Niệm Phật) mà tu hành gọi là Niệm Phật tam muội, là phép Niệm Phật tam muội về nhân hành; 2 Do 3 thứ nhân hạnh nói trên sẽ thành đạt được những sự như: tâm nhập thiền định, hoặc thấy Phật thân hiện

ra trước mắt mình, hoặc chứng đắc pháp thân thực tướng, v.v gọi là phép niệm Phật tam muội, là phép niệm Phật tam muội về quả thành Phép niệm Phật tam muội về nhân hành gọi là “tu”, phép niệm Phật tam muội về quả thành gọi là “phát đắc” [4, t.1, tr.1080] Trên cơ sở niệm Phật theo luật nhân quả (nhân hành và quả thành), niệm Phật tam muội được qui về bốn môn tam muội là Ban chu tam muội, Nhất hạnh tam muội, Pháp Hoa tam muội và Tùy

tự ý tam muội

1.1.2.2 Bốn môn tam muội

Người niệm Phật khi đi đến chỗ tuyệt đỉnh tận cùng duy có một dinh thể

là niệm phật tam muội Đây là cảnh hư linh sáng lặng, vọng giác tiêu tan, hành giả tuy còn trụ tâm nơi tướng hảo hoặc hồng danh của Phật Nhưng tuy nói trụ mà thật ra vô trụ, vì tâm thanh sắc tướng đương thể như huyễn, chính

đó là không Tướng tam muội ấy như thế nào? Khi hành giả chuyên nhất niệm Phật quên hết thân tâm ngoại cảnh, tuyệt cả thời gian, không gian, đến lúc sức cục công thuần, ngày nơi đương niệm trần vọng bỗng thoạt tiêu tan, tâm thể bừng sáng chứng vào cảnh giới “vô niệm vô bất niệm” Cảnh ấy như hư không, mây tan, trời xanh một vẻ, niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, không thấy biết mới là sự thấy biết chân thật, có thấy biết tức lạc theo trần cảnh Đến đây thì nước bạc non xanh đều là chân đế, suối đế, suối reo,

Trang 20

chim hót, tâm quang bao hàm muôn tượng mà không trụ một pháp, tịch mà chiếu, chiếu mà tịch, đều còn đều mất, tuyệt đối viên dung

Cảnh giới tam muội đại để là như thế, khó mà tả nên lời, duy chứng mới thể nghiệm được Niệm Phật tam muội vẫn là một thể, nhưng đi vào cảnh định ấy người xưa đã căn cứ theo kinh, y nơi ý nghĩa và oai nghi hành trì mà chia làm bốn môn như sau:

Thứ nhất: Ban chu tam muội Ban chu có nghĩa là “Phật lập” hành trì

môn tâm muội này có 3 oai lực phù trợ; oai lực của Phật, oai lực của Pháp tam muội và oai lực công đức của người tu Khi thành công trong tam muội hành giả thấy đức ADiĐà và chư Phật mười phương hiện ra đứng trước mình khuyến tấn khen ngợi

Thứ hai: Nhất hạnh tam muội, nghĩa là chuyên nhất về một hạnh Khi tu

môn tam muội này, hành giả thường ngồi và chỉ chuyên nhất quán tưởng, hoặc niệm danh hiệu Đức ADiĐà Lại tuy chỉ tu một hạnh mà được dung thông tròn đủ tất cả các hạnh, cho nên “Nhất hạnh” cũng là “Viên hạnh”

Thứ ba: Pháp Hoa tam muội Đây là một trong mười sáu tam muội mà

kinh Pháp hoa phẩm Diệu Âm Bồ tát đã trần thuật Theo ý chỉ của thiên thai

tông thì ba đế viên dung là “Pháp”, quyền thực không hai là “hoa” Ví như hoa sen khi cánh hoa (quyền) chưa nở, mà gương sen (thực) đã thành, gương với cánh đồng thời, nơi một đóa hoa gồm đủ ý nghĩa quyền và thực

Nói theo tông Tịnh Độ thì tức niệm Phật, tức sắc là tâm, một câu niệm Phật bao gồm cả ba đế, nhiếp cả thật quyền Nếu tỏ ngộ lý này niệm Phật gọi

là tu hạnh Pháp hoa tam muội Khi tu môn tam muội này hành giả dùng hai oai nghi ngồi và đi mà thay đổi để quán Phật hoặc niệm Phật cho đến khi nào chứng nhận chánh định Pháp nghi tu tập này lại có phần dễ hơn nhất hạnh tam muội

Trang 21

Thứ tư: Tùy tự ý tam muội Pháp này có nghĩa là tùy tâm hoặc đi đứng,

hoặc nằm ngồi đều nhiếp niệm không rời danh hiệu đức A Di Đà đề tu chứng vào tam muội Pháp này tuy tùy tiện dễ dàng nhưng phải khéo tránh bớt các duyên và có tâm bền bỉ mới mong thành tựu

1.2 KINH HOA NGHIÊM VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA

1.2.1 Vài nét khái quát về kinh Hoa Nghiêm

1.2.1.1 Lịch sử hình thành kinh Hoa Nghiêm

Trong hệ thống giáo lý đại thừa của Phật giáo có rất nhiều bộ kinh lớn mang y nghĩa lý uyên thâm như Bát Nhã, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn…và đặc biệt là Hoa Nghiêm

Kinh Hoa Nghiêm có tên gọi đầy đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Kinh Hoa Nghiêm tiếng Phạn là Avatamsaka sutra Hoa

Nghiêm có nghĩa là đóa hoa thanh khiết tuyệt đẹp nhất trần gian, ngát hương khắp mười phương các cõi pháp giới Bộ kinh này được coi là kinh Phật đồ sộ

và vĩ đại nhất trong Phật giáo Đại thừa Theo truyền thuyết thì ngay tức khắc sau khi đức Thích Ca Mâu Ni thành chính giác dưới gốc bồ đề, Ngài đã thuyết giảng về toàn bộ nội dung của nó trong 21 ngày Qua bộ kinh Hoa Nghiêm cho thấy đức Phật đã trình bày rõ nguyên lý vạn pháp do tâm sinh, coi tâm là thực thể của vạn pháp, tức Ngài đã hiển bày một nhân sinh quan và vũ trụ quan sâu rộng, không bị giới hạn về mặt thời gian, không gian cũng như phạm

vi nhỏ bé của một cá thể hay một nền văn hóa

Về Phạn bản của kinh từ xưa đến nay có rất nhiều thuyết khác nhau Nguyên bản của kinh gồm có 3 bộ, đó là: Thượng – Trung – Hạ Bộ Thượng

do Pháp thân Phật tức là Đức Tỳ Lư Giá Na chuyển, bộ Trung do Báo thân Phật tức đức Lư Xá Na chuyển, bộ Hạ do ứng thân Phật do Đức Thích Ca Mâu Ni chuyển Tương truyền Ngài Long Thọ sau khi đã đọc hết tất cả sách

Trang 22

vở thế gian, cũng như xuất giá thế gian, nghe nói rằng ở Long Cung có chứa nhiều pháp bảo, cho nên Ngài đã dùng thần lực (nhất định) xuống Long Cung

để sao chép, nhưng do 2 bản thượng và trung ý nghĩa rất cao sâu mà lại rất nhiều bài kệ, sức phàm phu không thể thụ trì được cho nên Ngài không chép

mang về Mà chỉ chép bản hạ mang về tức là kinh Hoa Nghiêm mười vạn bài

kệ 48 phẩm ngày nay

Thật ra theo sử học Phật giáo Ấn Độ thì bộ kinh Hoa Nghiêm đã được

biên soạn trước Bồ tát Long Thọ khoảng từ 1 năm đến 200 năm Và Ngài Mã Minh Bồ tát đã có công triển khai tư tưởng Hoa Nghiêm, một thế kỷ trước khi Ngài Long Thọ ra đời Nhưng tại sao truyền thuyết lại viện dẫn ẩn dụ Long cung? Bởi lẽ, “Long cung hoàn toàn không bị biển làm dao động, Chư long là

kẻ cai quản biển cả Cũng vậy, Phật tánh không bị tâm thức làm dao động, ngược lại chính Phật tánh thì siêu việt và ngự trị được tâm thức Kinh ở trong

Long cung ý nói rằng chánh pháp mà kinh Hoa Nghiêm giản thì lưu xuất từ

Phật tánh Ba bản kinh là ám chỉ cho đặc tính của chân lý, tuy vô lượng tất khả tư nghì, nhưng chân lý có thể ứng theo căn cơ thượng, trung, hạ bất đồng của nhân sinh vạn loại” [5, tr.11] Vì vậy, muốn lấy được kinh phải nhờ ngài Long Thọ, và muốn thấu hiểu chân lý thì phải có định lực

Về mặt văn bản học, sự phiên dịch của kinh này sang Hán văn gồm có ba

bản chính theo bộ xuất Tam tạng ký tập 9 và Hoa Nghiêm kinh thám huyền

ký I, thì Phạm bản của kinh này 10 vạn bài kệ, được Ngài Chi Pháp lãnh đời Đông Tấn mang về từ nước Vu Điền và chỉ có 36.000 bài kệ Đến đời vua An

Đế thứ 14 (năm 418), Ngài Phật Đà Bạt Đà khởi dịch kinh này ra tiếng Hán thành 60 quyển, nhưng phẩm “Nhập Pháp giới” chưa được hoàn bị Mãi đến năm 680 mới được bổ sung đầy đủ, nay lược kê các bản dịch thì có ba bản như sau:

Trang 23

1 Lục thập Hoa Nghiêm, còn gọi là Hoa Nghiêm do Ngài Phật Đà Bạt

Lan Đà (Buddhabhadra) dịch Gồm 60 quyển trong đó có 7 xứ, 8 hồi, 34 phẩm Được xếp vào Đại chính Tạng tập 9

2 Bát thập Hoa Nghiêm, còn gọi là Tân Hoa Nghiêm Đường kinh, do

Shikshananda, tức Ngài Thực Xoa Nan Đà (652-710) dịch vào đầu đời Đường gồm có 80 quyển Được xếp vào đại chính tạng tập 10

3 Tứ thập Hoa Nghiêm, gọi đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm

Kinh Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyên Phẩm

Kinh này còn gọi là Trinh Nguyên kinh bởi năm Trinh Nguyên thứ 11 (795)

vua Sư Tử nước Ô Trà ở Nam Ấn Độ phái sứ giả đem dâng bộ kinh Hoa Nghiêm do tự tay vua viết, cho vua Đường Đức Tông, gồm 40 quyển do Prajna, tức Ngài Bát Nhã (734-?) dịch vào đời Đường được xếp vào đại chính tạng tập 10

Ngoài ra còn có 3 bản dịch khác là:

Kinh La ma già: ba quyển do Ngài Thánh Tiên dịch vào thời Tây Tấn

Đại phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Nhập Pháp Giới phẩm, một

quyển do Ngài Địa Bà Ha la dịch, vào đời Đường

1.2.1.2 Vài nét khái quát về tên gọi và yếu chỉ của kinh Hoa Nghiêm

Kinh Hoa Nghiêm bát thập (80 quyển) gồm 9 hội và 39 phẩm Bản dịch

của Hòa thượng Trí Tịnh lấy phẩm nhập bất tư nghì giải thoát cảnh giới khổ hiền hạnh nguyện làm phẩm thứ 40

Kinh Hoa Nghiêm còn được gọi là Hoa Nghiêm kinh, tạp Hoa Nghiêm

Là một trong những bộ kinh trọng yếu của Phật giáo Đại thừa Là Pháp môn thuộc về giáo Pháp viên đốn, giáo lý nhất thừa tối thượng mà Như Lai chỉ ra chân tướng chứng ngộ, ngay sau khi thành ngôi chính giác Đồng thời nó là đỉnh cao trí huệ của văn học Phật giáo Nó không những chỉ tẳng bản tính của mỗi người, mà còn chỉ ra con đường viên mãn của đạo Bồ Tát Theo tinh thần

Trang 24

của kinh Hoa Nghiêm thì “giác ngộ không phải là giai đoạn chót của đường tu

mà là một điểm nhỏ trong quá trình tu hành độ sinh, thực hành hạnh nguyện của đức Phổ Hiền (Samantabhadra Visvabhadra, theo âm Hán là Ta mạn đa bạt đà Bồ tát, Bật thâu bạ đà Bồ tát) Ngài là một trong 4 vị đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc, cùng với ngài Văn Thù là vị hiệp sĩ của đức Thích Ca Như Lai

Với tên gọi của kinh Hoa Nghiêm đã phần nào nói lên tính chất trọng đại

của nội dung giác ngộ giáo nghĩa thậm thâm vi diệu Thực lý mà nói thì văn

tự có tuyệt xảo đến mấy cũng không trở hết được ý nghĩa Cổ nhân đã từng nói: “Ý tại ngôn ngoại”, còn Đức Thế Tôn thì dạy “Nhất thiết Tu Đa La như tiêu Nguyệt chỉ” (tất cả kinh như ngón tay chỉ mặt trăng) Thế nên qua tên gọi của kinh thì khó mà hiểu trọn được nội dung

Với ba chữ “Đại Phương Quảng” có thể nói đã bao hàm rất nhiều ý nghĩa, chỉ ngay vào tâm tính nhất niệm hiện tiền, nếu hết cả lý thể đã nói trong kinh Vì là căn bản chất như diệu lý thực tại của vũ trụ biểu hiện theo ba phương diện Thể - Tướng – Dụng Thể của chân lý thì bao hàm vạn hữu nên gọi là “Đại” tướng của chân lý thì chu biến khắp vặn hữu nên gọi là “Phương” dụng của chân lý không bờ cõi nên gọi là “Quảng”

Hai chữ Hoa Nghiêm còn có nghĩa là “Tạp Hoa Nghiêm”, nghĩa là đem

các thứ hoa tươi tốt để nghiêm sức đạo tràng và đó cũng là một ẩn dụ để tôn xưng Đức Phật đã giác ngộ chân lý

Như vậy đề hiệu của Kinh Hoa Nghiêm còn có nghĩa là “Tôn xưng sự

chứng ngộ của Đức Phật” đã chứng ngộ được cái chân lý của vũ trụ, của pháp giới Đề hiệu của kinh cho ta thấy cảnh giới chứng ngộ của chư Phật không phải là cảnh địa phàm phu Vậy muốn khai hiển cái diệu pháp ấy tất nhiên phải mượn sự thực tế để tượng trưng, cho nên Đức Phật đã ở trong “Hải Ấn Tam muội” mà nói ra kinh này Toàn kinh đức Phật chỉ im lặng trong thiền

Trang 25

định và chỉ có sự hoạt động của Bồ Tát, chư thiên thần đem hình thức để biểu hiện cái thần lực chính giác của Đức Phật qua mọi hiện tượng của vũ trụ vạn hữu Mỗi lời nói mỗi việc làm của chư Bồ Tát, chư Thiên Thần đều thống nhất về oai thần của Phật Đây là tác dụng vô ngại tự tại của Đức Phật và điểm quan trọng đầu tiên trong kinh

Kinh Hoa Nghiêm được viết từ lý duyên khởi, tức nguyên lý quán xuyến

toàn bộ nội dung giác ngộ của Đức Phật Lý duyên khởi được chia ra làm 2 bộ phận: nội duyên và ngoại duyên Ngoại duyên là thuyết minh toàn bộ vũ trụ, vạn pháp sinh thành hoại diệt làm nhân tố tác động cho nhau Cái này sinh ra thì chính nó thường hưởng bao nhiêu sự kiện hữu tình khác để sinh, và khi nó diệt cũng kéo theo bao nhiêu là nhân tố khác để làm nhân cho cái khác lên đường Vũ trụ vạn hữu luôn bên nhau trong cái thể “trùng trùng vô tận” diễn tiến không ngừng Nội duyên là thuyết minh cái vòng quay khép kín thiên thu của chúng sinh trong 6 cõi luân hồi là 12 nhân duyên Phật là người duy nhất chỉ ra nguyên nhân và động lực làm cho bánh xe luôn hồi quay mãi đó là Ái – Thủ Vì sự khao khát yêu mến ham thích quá độ là động lực để tái sinh Chặt đứt mắt xích này thì vòng quay luân hồi tự tháo bung

Hành giả cần phải biết một nội dung nữa của Kinh Hoa Nghiêm mà không kém phần quan trọng đó là Pháp thân Tỳ Lư Giá Na Theo Hoa

Nghiêm không chỉ có đức Phật Thích Ca chứng ngộ dưới cội Bồ Đề, mà trong

thân đó còn bao hàm cả Tỳ Lư Giá Na Phật Tỳ Lư Giá Na nghĩa là Quang Minh Biến Chiếu, để chỉ cho cái chân lý tổng hợp của vạn hữu vận thường trụ trong ba đời: Quá khứ - Hiện tại - Vị lai và biến mãn khắp 10 phương Pháp thân Tỳ Lư Giá Na ở đây không phải là một trong ba thân mà là đại Pháp thân

Tỳ Lư Giá Na, là đại Pháp thân trong “Mười thân cụ túc” của Đức Phật, thế

nên phần nội dung chính giác của Hoa Nghiêm đó là Tỳ Lư Giá Na Pháp thân

Trang 26

Khi Phật Đà chính là Tỳ Lư Giá Na Pháp thân thì vũ trụ vạn hữu không còn là thế giới hiện tại nữa mà trở thành pháp giới Pháp giới trong Hoa Nghiêm chính là Liên Hoa Tạng thế giới Thế giới này là Pháp giới thanh tịnh

vô ngại trùng trùng, điệp điệp, dung thông với nhau, cũng giống như cánh hoa

sen hợp thành một bông sen Đây là phần chân lý tuyệt đối của Hoa Nghiêm

Và một điểm cuối cùng cũng là điểm trọng yếu nhất đó là muốn nhập vào Pháp giới thì phải hướng vào hạnh nguyện của Phổ Hiền Ngài Thiện tài Đồng tử sau khi cầy đạo qua 52 bậc thiện trí, cuối cùng gặp Phổ Hiền Bồ tát tại kim cương Đạo tràng Thiện tài được nghe lý tưởng kính hạnh nguyện của Phổ Hiền và tin tưởng vào đại Pháp vãng sinh Cực Lạc thế giới – cảnh giới của Phật A Di Đà – nơi kết thúc cuộc vân du tầm thầy học đạo Qua 53 vị thiện trí thức cuối cùng Thiện tài đồng tử đã nhận ra rằng: Pháp môn niệm Phật cầu sinh Tây phương là phương tiện tối thắng để hành giả nhập vào Liên Hoa tạng vào Pháp thân thanh tịnh Tỳ Lư Giá Na

1.2.2 Quan niệm về Đức Phật trong Phật giáo nguyên thủy và trong Kinh Hoa Nghiêm

1.2.2.1 Đức Phật trong Phật giáo nguyên thủy

Đức Phật bắt nguồn từ Đức Phật lịch sử, Ngài là thái tử Tất Đạt Đa đản sinh năm 6241

Tr.CN; là thái tử con vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Gia ở nước Ca Tỳ La Vệ phía Bắc Ấn Độ

Theo David Neil, lịch sử có ghi lại rằng: “Vị tu hành khổ hạnh Tất Đạt

Đa, trong thời gian đầu, xuống tóc cạo râu, khoác áo choàng vàng, rời bỏ gia thất, sống cuộc sống của người không gia đình Coi cuộc sống gia đình chính

là cái vòng kiềm tỏa, chỉ có thể rời bỏ gia thất mới có thể được tự do tu tập” [D.Neil, tr 24] Vì vậy, Ngài đã từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ,

1 Cho đến nay niên đại của Đức Phật vẫn còn là vấn đề chưa được giải quyết rốt ráo và chưa có sự thừa nhận thống nhất Phần lớn các tài liệu đều khẳng định Phật sinh năm 563 mất năm 483 Tr.CN Chính vì vậy, có nhiều sách tuy giới thiệu nguồn gốc, quá trình tu niệm thành Phật của Tất Đạt Đa nhưng không đề cập đến

Trang 27

dấu thân tìm chân lý Sau 6 năm học hỏi và thiết thân thực nghiệm các pháp tu của ngoại đạo Ngài đến núi Già Na nhập Định dưới cội Bồ Đề Qua 49 ngày

tư duy quan sát Ngài đắc quả vô thượng (Bồ Đề) chính đẳng chính giác

Từ đạo tràng Bồ Đề Ngài bắt đầu hoằng Pháp độ sinh Thuyết pháp độ năm anh em Kiều Trần Như nơi vườn lộc uyển và từ đó hình thành ngôi tam bảo Phật – Pháp – Tăng Phần lớn các tỷ khiêu đều xuất thân từ ngoại đạo hay

từ các tổ chức khác thời bấy giờ Họ trở về quy phục với đức Phật vì Ngài là

vị mô phạm sáng suốt nhất và họ thường tôn xưng Ngài là Bậc “Đại Đạo Sư,

là vị “Thánh” cao cả nhất trong hàng thánh Tại thế gian Ngài là bậc đạo sư minh triết nhất và những gì Ngài nói ra đều là chân lý Đây chính là hình ảnh Đức Phật toàn giác toàn trí được tôn sùng như vậy trong thời gian Phật giáo nguyên thủy

Nhưng khi Phật diệt độ thì ngôi tam bảo mất đi phần Phật bảo Vị thầy sáng uốt không còn nữa nên vấn đề được đặt ra ai là người lãnh đạo tăng đoàn? Và sau 100 năm Phật diệt độ, tăng đoàn chia làm hai bộ phái Thượng Tọa bộ và Đại chúng bộ hay còn gọi là Nam tạng và Bắc tạng

Thượng tọa bộ thì giữ nguyên hình thái sinh hoạt của thời Đức Phật tại thế gian và chỉ có một vài thay đổi nhỏ Họ cho rằng khi không có Phật nên lấy giáo pháp làm Phật và còn gọi đó là “Phật Pháp thân” Như vậy Phật hiện hữu dưới dạng giáo Pháp thân

Tư tưởng Đại chúng bộ thì cho rằng, từ Lộc Uyển đến Sa La song thọ, hơn ba trăm hội mà thế tôn thuyết Pháp đều không giống nhau Vấn đề đặt ra cho người hiện tại, nên lựa chọn sử dụng pháp nào cho thích hợp và những gì không còn thích hợp thì dựa vào tăng để quyết định cách khác Từ đây đại chúng bộ lấy tăng làm chuẩn và cho rằng Phật hiện trong tăng đoàn Khi cần sửa đổi điều gì trong sinh hoạt Phật pháp, ý kiến được tập thể chư Tăng tán thành đồng ý và coi quyết định đó hoàn toàn có giá trị Lúc này Phật không

Trang 28

còn nằm trong giáo pháp nữa mà nằm ngay trong suy nghĩ của Tăng Đoàn Vì vậy chư Tăng thanh tịnh hòa hợp chế định ra giáo pháp Tức là nguyên tắc sống phù hợp, lợi lạc an vui trên tinh thần “Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên” được coi là Pháp thân Phật thuyết ra Như vậy “Phật hiện hữu dưới Tăng đoàn Pháp thân”

Tóm lại Nam tạng và Bắc Tạng quan niệm đức Phật hiện hữu trong giáo Phật và trong sinh hoạt hòa hợp thanh tịnh của chữ Tăng Đó là Pháp thân và Tăng đoàn pháp Thân

1.2.2.2 Đức Phật theo kinh Hoa Nghiêm

Phật giáo nguyên thủy quan niệm Đức Phật có sinh thân và Pháp thân, đại chúng bộ lại chủ trương Báo Thân và Ứng thân Hoa Nghiêm là sự kết hợp hai tư tưởng này để hình thành tam thân Phật: Ứng Hóa Thân – Báo Thân – Pháp thân Tỳ Lư Giá Na

Theo tinh thần của Hoa Nghiêm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là ứng thân

cõi Sa bà để khai thị cho chúng sinh con đường vào tri kiến Phật (Pháp thân) Sau khi Phật nhập Niết bàn, những Tỷ Khiêu mang hình thức giống Phật, thay Phật truyền bá chính pháp gọi là Hóa Phật Vì thế có bao nhiêu người hướng tâm về Ngài thì có bấy nhiêu Phật, dẫn đến hình thành tư tưởng “Thiên Bách

ức hóa thân Phật”, từ góc độ này hình thành nên “Báo thân” hay thân phước đức trí tuệ của Phật Báo thân này không phải là một thân ở nơi xa xôi nào mà tồn tại ngay trong sinh thân Ngài Được cấu tạo từ sự kết hợp giữu trí tuệ và những việc làm thánh thiện vì lợi ích chúng sinh Từ báo thân viên mãn, đầy

đủ phúc đức, trí tuệ, Đức Phật dùng vốn quý ấy để cấu tạo nên một thân thứ

ba “Pháp thân” Pháp thân không phải là một cái gì siêu hình trừu tượng ở trong hư không, mà nó nằm trong mỗi hiện tượng, mỗi sự vật, của vũ trụ và thế giới

Trang 29

Tuy nói ba thân: Ứng thân – Báo thân và Pháp thân, nhưng thực sự chỉ có một thân thanh tịnh đó là Pháp thân Tỳ Lư Giá Na Tư tưởng đặc biệt của Hoa Nghiêm là sự hiện hữu vĩnh hằng của một Đức Phật toàn diện (Pháp thân

thanh tịnh Tỳ Lư Giá Na) Với mười loại thân, gồm: Ngũ ấm thân, Quốc độ

thân, Chúng sanh thân, Thanh văn thân, Duyên giác thân, Bồ tát thân, Như Lai thân, Trí thân, Pháp thân, Hư không thân

1 Ngũ ấm thân: là những yếu tố cấu tạo nên thân người và con người bị

lệ thuộc vào nó Bản thân Đức Phật cũng hiện hữu từ ngũ ấm, nhưng do Ngài tiến đến quả vị toàn giác cho nên mới không bị ngũ ấm chi phối Nói cách khác, Phật điều khiển được thân hoàn toàn theo mục tiêu mà Ngài đặt ra, tức

là mục tiêu giải thoát Như trên chúng tôi đã đề cập Phật mang thân ngũ ấm trang nghiêm với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, thành Vô thượng Đẳng giác để giáo hóa chúng sinh Bởi lẽ chúng sinh bị thân ngũ uẩn dày vò, hành hạ, lúc nào cũng có cảm giác khổ với thân mình, đến chết cũng còn chưa yên với nó Trong khi đó Đức Phật tự tại hoàn toàn vì biến đổi được ngũ uẩn thành ngũ phần Pháp thân, đạt đến đỉnh cao như Tỳ Lư Giá Na cho nên chi phối được muôn loài

2 Quốc độ thân: theo tinh thần Hoa Nghiêm, khi “nhìn sông núi hùng vĩ,

ngắm dòng suối chảy, nụ hoa mơn mởn, cá bơi chim liệng hay thấy tượng Phật trang nghiêm, cảnh chùa thanh tịnh, khiến ta phát tâm; đó là vô tình thuyết pháp Thân Tỳ Lư Giá Na đã tác động vào cảnh quan, tạo thành lực hấp dẫn đưa ta đến với Phật đạo” [24, tr.42] Tỳ Lư Gia Na đã có sức mạnh tác động tới muôn vật kể trên, nhờ đó mà chúng sanh hữu tình được tồn tại

3 Chúng sanh thân: đó là thân hình thứ hai của thân Phật Tỳ Lư Giá Na

Ngài lấy thân mình trải ra làm đất đai, làm cây cỏ, núi sông, v.v để che chở, nuôi sống muôn loài Ngài làm cho người tu hành nhìn thấy đâu cũng đẹp, cái

gì hiện hữu trên thế gian này đều đẹp và không có thái độ câu nệ vào ngoại

Trang 30

cảnh, nơi nó thực hiện cuộc tu hành Hoa Nghiêm đã chỉ ra cho chúng ta thích nghi với tinh thần cởi mở, bao dung mà giúp đỡ người phát triển Đó là tinh thần nhập thế của Hoa Nghiêm

4 Thanh văn thân: Thanh văn có bốn hạng, đó là: tăng thượng mạn, học

nhiều nhưng chỉ để khoa trương, khoác lác; hạng thứ hai gọi là thú tịch Thanh văn, học và chấp vào pháp cho đến khi kết thúc cuộc đời nhưng không biết gì đến thế gian Khi đắc đạo họ hướng thẳng về an trú Niết bàn; hạng thứ ba là thoái chuyển Thanh văn, phát tâm Bồ đề, làm lợi ích chúng hữu tình, song nghiệp và phiền não của bản thân còn nhiều, bị chúng sinh gây khó khăn; hạng thứ tư là Bồ tát thị hienj Thanh văn, là Bồ tát chân chính đúng nghĩa của

từ Cả bốn hạng Thanh văn đều mang hình thức đệ tử của Phật Vì vậy, người

tu theo pháp Phật nếu trắc nghiệm 37 phẩm trợ đạo giữa lòng cuộc đời, đều được coi là Pháp thân của đức Phật hay Thanh văn thân

5 Duyên giác thân: trong số các đệ tử của Phật, những người có trí thức,

tinh thần nhạy bén, quán được nhân duyên để thấy được mối quan hệ giữa mọi người trong xã hội, nắm bắt được pháp chân thật sẽ trở thành Duyên giác

và tiến tới quả vị toàn giác

6 Bồ tát thân: là bậc giác hữu tình, tức người đem ánh sán giác ngộ đến

các loài hữu tình Họ dùng Phật lực phát tâm bồ đề, khởi niệm thương chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh trên tinh thần hành đạo cứu đời mà Phật lực đó chính

là cái họ nhận được từ Tỳ Lư Giá Na Chính vì vậy, Bồ tát thân cũng là thân của Phật

7 Như Lai thân: là người tu hành tu đạt đủ hạnh Bồ tát và tâm đai bi thì

đồng nghĩa với sự đạt quả vị Phật, tức Như Lai thân Chính thân đó tác động đến các loài chúng sinh và giáo hóa được tất cả mà không cần cử thân động niệm

Trang 31

8 Trí thân: là thân như bất động nhưng vẫn hóa độ được chúng sinh, bởi

hoạt động chính của Như Lai không phải bằng thân xác vật chất, ngôn ngữ bình thường, mà bằng trí tuệ, nên gọi là trí thân

9 Pháp thân: là bậc dùng trí thân, tức dùng trí tuệ Như Lai tác động tới

chúng sinh, khiến họ phát tâm Bồ đề Những tu sĩ, tín đồ, chùa, cảnh vật, pháp khí hiện hữu để Phật pháp tồn tại, phát triển, đều được gọi là Pháp thân của

Đức Phật Pháp thân Phật theo tinh thần Hoa Nghiêm được triển khai rộng

hơn ý niệm Pháp thân của Phật giáo nguyên thủy vốn chỉ hạn hẹp trong giáo

pháp Phật Kinh Hoa Nghiêm quan niệm tất cả các pháp, kể cả sơn hà đại địa

đều nhận lực chi phối của huệ Như Lai, đều được coi là Pháp thân Phật

10 Hư không thân: là đỉnh cao của sự hiện thân Ngài Tý Lư Giá Na, tức

là phổ quang minh chiếu, chi cho trí tuệ rọi vô pháp, biến pháp thành Pháp thân Lúc đó trí và lý bất nhị, kết hợp thành một Đây là loại hình của thế giới

tu chứng, khó diễn tả bằng ngôn ngữ bình thường

Mười thân Phật nói trên là tổng thân của Tỳ Lư Giá Na Phật, là sự kết

hợp giữa chân lý và trí tuệ, chi phối ngược xuống 9 loại hình, từ hàng Thánh giả đến người bình thường trên cuộc đời, cả loài hữu tình lẫn vô tình Trong

vô hình, lực của Tỳ Lư Giá Na chi phối xuống hữu tình chúng sinh và vô tình khí thế giới, khiến cho tất cả được phát tâm bồ đề, tiến tu đạo nghiệp, kết hợp thành pháp giới

Ngoài ra, Đại Bồ Tát còn có mười thân nghiệp: Thân nghiệp tràn đầy tất cả thế giới, nó thị hiện trước tất cả chúng sinh Thân nghiệp nơi tất cả các loại đều có thể thọ sinh Thân nghiệp du hành tất cả thế giới Thân nghiệp qua đến tất cả chúng hội của chư Phật Thân nghiệp dùng một tay có thể che khắp tất cả thế giới Thân nghiệp dùng một thân dung thọ tất cả chúng sinh giới Thân nghiệp ở trong tự thân hiện khắp tất cả cõi Phật thanh tịnh, tất cả chúng sinh giới Thân nghiệp ở trong tự thân hiện khắp tất cả cõi Phật thanh tịnh, tất

Trang 32

cả chúng sinh, rồi ở trong đó hiện thành đạo Kinh Hoa Nghiêm viết: “Nếu

chư Bồ Tát an trụ pháp này thời được Phật nghiệp vô thượng của Như lai, đều

có thể giác ngộ tất cả chúng sinh” [14, Phẩm Ly thế gian, tr.57]

Trong Lược giải kinh Hoa Nghiêm Hòa thượng Thích Trí Quảng nói:

“Đứng trên lập trường bao quát, thấy Phật là tất cả, là pháp giới, được kinh

Hoa Nghiêm tiêu biểu qua hình ảnh Phật với mười loại thân… Có thể nói

mười loại hình này là diễn tiến của sự sống từ thấp nhất (phàm phu) đến quả

vị Phật, từ Phật giới chi phối ngược lại xuống toàn bộ các loài hữu tình, vô tình” [24, tr 40]

Tinh thần Hoa Nghiêm cho chúng ta ý niệm về Đức Phật hoàn toàn mới,

khác hẳn với các kinh Đại thừa khác, vì ở đây Đức Phật không bị giới hạn trong bất cứ loại hình cố định nào mà dung thông tất cả Hoa Nghiêm mở ra cho chúng ta tầm nhìn thật phóng khoáng Theo đó thì không có gì không phải

là Phật, đó mới là Đức Phật chân thật Phật này là Phật Tuệ hay chính là Pháp thân Tỳ Lư Giá Na biến khắp pháp giới Đây cũng chính là điểm then chốt của Hoa Nghiêm

1.2.3 Vấn đề nhất tâm chân như pháp giới duyên khởi trong kinh Hoa Nghiêm

Giáo lý căn bản của Kinh Hoa Nghiêm là chủ trương “nhất tâm chân

như, Pháp giới duyên khởi” Vũ trụ vạn hữu trùng trùng do nhân duyên hòa hợp mà thành Hay nói một cách khác từ một mảy vi trần cho đến Sơn hà đại địa và tất cả mọi sinh vật, đều phải nương tự lẫn nhau làm nhân duyên cho nhau mà sinh khởi, biến dịch trong mối tương duyên của lý “Pháp giới trùng trùng duyên khởi” Mỗi Pháp trong vũ trụ không thể tồn tại biệt lập riêng rẽ

mà tự có được, cái này có là nhờ cái kia, cái kia có là nhờ cái này Tương quan tương duyên lớp lớp không cùng tận

Trang 33

Do cái này có mặt nên cái kia có mặt

Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt

Do cái này sinh nên cái kia sinh

Do cái này diệt nên cái kia diệt [32, Tiểu bộ kinh, tr.291]

Pháp giới duyên khởi là nguyên lý của mọi hiện hữu, nó là sự thật nên không bị giới hạn trong không gian và thời gian Đức Thế Tôn đã nói “Duyên sinh là thực tính của mọi hiện hữu, sự thật này không thay đổi dù Như Lai có

xuất hiện hay không xuất hiện” (Kinh Hoa Nghiêm) Một hiện hữu dù có nhỏ

như hư trần, đến lớn như càn khôn vũ trụ cũng không nằm ngoài nguyên lý này

Kimura Taiken lý giải: “Vấn đề duyên sinh có thể hiễn ra theo nhiều cách, song điểm xuất phát của nó vẫn không ngoài tâm, nếu lìa tâm ra thì lý nhân duyên sẽ vô căn cứ Bởi thế nói một cách rốt ráo thì tâm là nguồn gốc của Duyên sinh quan Cho nên cái gọi là Pháp, là duyên sinh rốt cuộc cũng không ngoài cái tâm tưởng biến hiện của ta Đó là điểm căn bản độc nhất vô nhị của Phật giáo tiểu thừa cũng như đại thừa Điều phục tâm đã trở nên một phương châm tu dưỡng quyết định trong Phật giáo Do đó khi nói đến duyên khởi tất nhiên phải đề cập đến tâm, vì giữa hai điểm ấy có một mối quan hệ rất mật thiết và nếu ta muốn hiểu rõ dụng ý căn bản của Phật giáo, ta không thể quên điều hệ trọng này” [7, tr.28]

Hòa Thượng Thích Đức Nhuận viết: “Vạn pháp trong vũ trụ đều do tâm (bản thể) biểu hiện bằng nhất thiết duy tâm tạo” [17, tr.232] Ngay cả Phật cũng do tâm tạo ra Nếu tâm ta tu pháp Phật thì thành Phật đạo Nếu thích Bồ tát hạnh thì tu Bồ tát đạo, thành một vị Bồ tát Nếu lòng muốn đọa địa ngục thì cứ nhắm hướng địa ngục mà tu thì tương lai xé đọa địa ngục Cho nên Cổ Đại đức nói: Mười Pháp giới không rời một niệm tâm” [5, tr.116-117] Chữ tâm ở đây không có nghĩa là vui buồn ghen ghét hay trí hiểu biết thông

Trang 34

thường của con người Để hiểu tâm cho đúng quan niệm của Phật giáo thì ta phải hiểu theo hai nghĩa: Chân tâm và Vọng tâm Căn bản phiền não sinh tử là

“Vọng Tâm”, còn căn bản Bồ đề Niết bàn là “Chân tâm”, đúng như trong

kinh Lăng Nghiêm đức Thế Tôn nói: “Như Lai tàng tâm, tức là tâm chân

như”, còn tâm mà Anan bảy lần nói là núp sau con mắt, trong thân, ngoài thân… đều là vọng tâm

Do vậy “Nhất thiết duy tâm tạo” hay “Tam giới duy tâm” chính là “Như

Lai viên giác diệu tâm” (Kinh Viên Giác) là “Như Lai tàng tâm” (Kinh Lăng

nghiêm) và “Nhất tâm chân như” (Kinh Hoa Nghiêm) đều là bản thể của vũ

trụ vạn hữu Kinh Kim Cương chép: “Thị Pháp bình đẳng vô hữu cao hạ”, ý

nói các pháp trong vũ trụ trọn vẹn nằm trong “tâm”, tâm vô phân biệt nên tất

cả các pháp đều bình đẳng không có sai khác Hay Bồ Tát Long Thọ nói:

“Trong một hạt bụi đã có đầy đủ trí tuệ của vũ trụ vạn hữu Trong con người

đã có đầy đủ Phật tâm” (Luật Đại Trí Độ) Cũng trên tinh thần này kinh Hoa

Nghiêm nói:

“Nhược nhân dục liễu tri

Tam thế nhất thiết Phật

Ứng quán pháp giới tính

Nhất thiết duy tâm tạo”

Nghĩa là: Nếu hành giả muốn biết rõ pháp môn công đức của tất cả chư

Phật ở ba đời, nơi mười phương, thì cần phải xét soi ngay nơi một niệm hiện tiền của tính pháp giới Tất cả chỉ tâm tạo) Do vì mười pháp giới (Phật, Bồ

tát, Thanh văn…) hoặc tính hoặc tướng hoặc vô lậu hoặc hữu lậu, nào thiện, nào ác, tất cả các pháp đều duy nơi một niệm Tâm hiện tiền của chúng sinh tạo ra Đúng là: “Chẳng phải phướn động, chăng phải gió động mà chính tâm

động” (Kinh Pháp Bảo Đàn) Kinh Lăng Nghiêm cũng chép: “Chư pháp sở

sinh duy tâm sở hiệu, nhất thiết nhân quả thế giới vi trần, nhân tâm thành thế

Trang 35

(Tất cả các pháp đều do tâm hiện tất cả nhân quả lớn như thế giới nhỏ như vi

trần lấy tâm làm thể)

Thập nhị nhân duyên cũng là cách trình bày đặc biệt của giáo lý duyên khởi (Paticca samuppuda), giáo lý này do Thế Tôn thân chứng dưới cội Bồ đề sau 49 ngày tư duy thiền định Mười hai nhân duyên hay duyên khởi là giáo

lý rất đặc thù, là điểm xác định sự khác biệt giữa Phật giáo với các tôn giáo khác Nó là cốt lõi của “Nhân sinh quan” Phật giáo được đề cập nhất quán trong tất cả các kinh

Con người và cuộc đời là hiện hữu của cấu trúc 12 nhân duyên (vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử) Trong

Thanh tịnh đạo luận có nói: “Không thể tìm ra một đấng sáng tạo, một

Bruhma, hay một vị nào khác làm chủ vòng luân chuyển của đời sống Chỉ có những hiện tượng diễn biến, tùy thuộc vào những điều kiện” Đúng vậy, con người chính là chủ nhân của chính mình, do vướng mắc vào vô minh, ái, thủ nên mãi trôi lặn trong sinh tử nhưng mầm giác ngộ thì vẫn tiềm ẩn trong mỗi chúng sinh

Ta đã biết rằng, lý duyên khởi chỉ ra “do cái này có nên cái kia có” Do vậy tu tập suy nghiệm từ chỗ vô minh bắt đầu, vô minh duyên hành, hành duyên thực….sinh duyên lão tử Về danh số thì phải nói vô minh đứng đầu

Vì bất cứ hành động nào không xuất phát từ ánh sáng giác ngộ, từ chính niệm soi sáng thì đều gọi là vô minh Có vô minh mở đầu là có dòng lưu chuyển bất tận của 12 nhân duyên, của sinh tử luân hồi Khi hành giả tu tập, suy nghiệm

để giác ngộ thì nên quán ngược mười hai cái mắt xích đó Từ đâu có già chết?

Có phải là do sinh? Từ đâu có sinh? Có phải do hữu? Cứ thế đi ngược lại cái điểm xuất phát là vô minh, diệt vô minh là chấm dứt vòng cuốn hút của luân hồi Khi một trong mười duyên vận hành hoặc hoại diệt thì mười một chi

Trang 36

phần còn lại cũng theo đó sinh thành và hoại diệt Đây chính là triết lý dung thông giữa “một” và “tất cả” vượt ra ngoài khái niệm không gian và thời gian

Ta thấy mỗi pháp trong vũ trụ không thể tồn tại riêng rẽ, biệt lập mà chúng tương quan, tương duyên lớp lớp không cùng tận Vì thế mà vạn pháp đều dung thông nhau Đúng là pháp giới vạn hữu đều do nơi nhất tâm của chân tâm bản giác mà sinh “Nhất tâm chân như, pháp giới duyên khởi” Để hiểu rõ về diệu lý này thì đi theo quy luật gồm bốn giai đoạn gọi là “bốn pháp giới” [6, 1997]

Thứ nhất, Sự pháp giới, là nói về các hình tướng sai biệt của các pháp

trong vũ trụ Trong vũ trụ các pháp đều có giới hạn rõ ràng như nước lạnh, nước đá, nước sôi…, đều có tướng trạng khác nhau, tùy theo duyên nghiệp

mà biến hiện, nó như cảnh phù vân Đây là đứng về sự mà quan sát vũ trụ vạn hữu

Thứ hai, Lý pháp giới, là nói về cái phần bên trong vô hình của sự vật

Đây tức là lý tính bình đẳng, chỗ nương tựa cho tất cả sự tướng Lý dung thông khắp tất cả như nước lạnh, nước đá, nước sôi…, tuy tướng trạng khác nhau nhưng thể tính vẫn là một Đây là đứng về lý mà quan sát vũ trụ

Thứ ba, Lý sự vô ngại pháp giới, là thế giới mà lý vô sự hoàn toàn dung

thông không ngăn ngại Như trên chúng ta đã thấy, mỗi pháp giới đều có sự

và lý Lý do nơi sự mà có, sự do nơi lý mà thành Lý sự dung thông như nước với sóng, nước tức là sóng mà sóng tức là nước

Thứ tư, Sự sự vô pháp giới Sự dùng để chỉ các cá thể trong vũ trụ hay

mọi pháp, hoặc toàn thể không gian lẫn thời gian vô cùng vô tận Nói sự sự vô ngại là nói thời gian dung thông với thời gian, không gian dung thông với không gian Một dung thông với tất cả, tất cả dung thông vơi một

Trong pháp giới có hằng hà số sự vật, hình tướng tuy khác nhau, giới hạn tuy bất đồng, nhưng lý tính lại dung thông bình đẳng, không có chia cách

Trang 37

ngăn ngại, nhờ lý mà sự sự được dung thông vô ngại Ví như nhiều hồ nước hình dáng rộng hẹp khác nhau, nhưng ăn thông với nhau bằng những ống nước, do đó mà có sự đầy vơi, nhớp sạch của hồ này đều dung thông với hồ kia

Thí dụ này thật ra vô cùng thô thiển, cốt để gợi lên một ý niệm về “sự sự

vô ngại pháp giới” thôi chứ không đúng hẳn Vì đối với những mối tương

quan Lý – sự, tâm – sắc, không – vật trong kinh Hoa Nghiêm thì đều nằm

ngoài ngôn ngữ biện luận của thế gian

Dưới nhãn quan của người đã chứng nhập triết lý Hoa Nghiêm, thay vì

nhìn đời bằng cặp mắt thường tình, người ngộ đạo lại nhìn sự vật thấu suốt qua sắc, qua sự, không thấy tướng bề ngoài sai khác, mà chỉ thấy tướng bên trong hay cái thực tướng vô tướng Tức là chỉ thấy cái lý tình bình đẳng hay cái bản thể chân không của vạn pháp mà thôi Và nếu quan sát như thế thì Lý

Sự đều viên dung vô ngại

Đúng là: “Càn khôn tận thị mão đầu thượng

Nhất nguyệt bao hàm giới tử trung”

(Càn khôn rút lại đầu lông xít

Nhất nguyệt nằm trong hạt cái mòng)

Trong pháp giới, sở dĩ sự sự được dung thông vô ngại, là do các pháp đều có đủ “sáu tướng” và “mười lý huyền môn”

Thế nào là sáu tướng?

Dựa theo bộ kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát thế nhân đã làm ra bộ “Thập địa

luận” để giải thích nghĩa lý của sáu tướng (lục tướng) Sở dĩ được gọi là viên dung bởi nó mang đức tính viên mãn dung thông vô ngại Sáu tướng của sự vật trong vũ trụ đó là:

Trang 38

1 Tổng tướng: là cái tướng bao trùm tất cả, tổng cộng tất cả các tướng

sai biệt Như khi ta nói đến cái nhà là đã gồm tất cả cột, kèo, tường, mái, v.v… Vậy cái nhà là tổng tướng

2 Biệt tướng: là cái nói riêng biệt, nhiều biệt tướng cộng lại thành tổng

tướng Như cái biệt tướng trong cái nhà là cột, kèo, tường, mái, v.v… hợp lại

sẽ thành cái nhà (tổng tướng)

3 Đồng tướng: là cái tướng chung dung hòa với nhau, không ngăn ngại,

không chống trái nhau Như kèo, cột, tường, mái, v.v…Tuy khác nhau nhưng không ngăn ngại mà vẫn đồng hướng về mực tiêu chung là cái nhà

4 Dị tướng: là cái tướng riêng biệt cái này cái kia hình tướng không

giống nhau mặc dù vẫn cùng nhau dung hòa, để gánh vác một trách nhiệm chung, như cột, kèo, tường, v.v…trong một cái nhà không cái nào giống cái nào Dị tướng không phải là đồng tướng, không phải là biệt tướng, không phải

là tổng tướng

5 Thành tướng: là tướng thành tựu, sự chung cùng để thành ra một cái gì

đó gọi là thành tướng Như cái nhà là sự thành tựu của các cột kèo, tường, mái, v.v…Vậy cái nhà đứng về phương diện công dụng để ở, là thành tướng

6 Hoại tướng: là cái tướng độc lập của các pháp, như kèo, cột, tường,

mái trong khi hợp tác với nhau để thành cái nhà, thì vẫn giữ cái địa vị riêng của chúng, chứ không phải thành cái nhà rồi mà chúng mất đi cái tướng riêng Sáu tướng này chia làm ba đôi gọi là “tam đối lục tướng” [TĐPH, tr.793] Tổng biệt cùng đối với nhau thuộc về thể

Đồng dị cùng đối với nhau thuộc về tướng

Thành hoại cùng đối với nhau thuộc về dụng

Chẳng hạn chúng ta lấy con sư tử bằng vàng làm vị dụ: toàn thể thân hình của nó là tổng tướng, mỗi bộ phận riêng rẽ như tai, mắt, mũi, lưỡi là biệt tướng, chất vàng của nó là đồng tướng, mỗi bộ phận có hình dáng riêng biệt

Trang 39

khác là dị tướng Mỗi bộ phận cộng tác hòa hợp với nhau để thành hình sư tử

là thành tướng Nhưng mỗi bộ phận đều có phạm vi riêng biệt, tự lập của nó

là hoại tướng

Khi chúng ta nói đến tổng – đồng – thành là nói về phương diện toàn thể, viên dung bình đẳng của bản thể vũ trụ Khi chúng ta nói đến biệt – dị - hoại

là nói về phương diện hiện tượng giới trong đó mỗi mỗi sự vật đều phơi bày

riêng rẽ khác nhau Theo Hoa Nghiêm thì tổng – đồng – thành thuộc về môn

viên dung, còn biệt – dị - hoại thuộc về môn hàng bố (hiển bày, phơi bày) Một bên là bình đẳng, một bên là sai biệt, nhưng bình đẳng và sai biệt tướng tức tương nhập viên dung vô ngại Tất cả các pháp đều đủ 6 tướng này, không một pháp nào là không viên dung tự tại

Thế nào là mười huyền môn?

1 Đồng thời cụ túc tương ứng môn: tất cả mọi pháp không có giới hạn ở

không gian, và thời gian, mà sự sự vật vật vẫn đầy đủ viên dung

2 Nhất đa tương dung bất đồng môn: là số một bao hàm tất cả số nhiều,

số nhiều lại nhiếp thu số một, nhưng số một vẫn là số một, và số nhiều vẫn là

số nhiều Không cùng nhau

3 Chư pháp tương tức tự tại môn: bản thể của chư pháp thì tự tại hòa hợp

với nhau, tương tức lẫn nhau, một tức hết thảy, hết thảy tức một

4 Nhân đà la vi tế cảnh giới môn: Nhân Đà La Là Đế Thích Thiên, trong

cung điện của vua Đế Thích mắc tấm màn bằng bảo châu có nhiều mắt lưới, ánh sáng của mỗi bảo châu đó soi rọi lẫn nhau, trùng trùng điệp điệp cùng dung thông với nhau mà không chướng ngại nhau

5 Vi tế tương dung an lập môn: là sự vật nhỏ bao dung sự vật lớn, số một

bao hàm nhiều mà không phá hoại lẫn nhau

6 Bí mật ẩn hiện câu thành môn: nghĩa là ẩn bên trong là bí ẩn, hiện ra

bên ngoài là hiển hiện Vậy lý tương tức tương nhập của chưu pháp là phần

Ngày đăng: 14/06/2018, 16:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w