Đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp tăng doanh thu bảo hiểm tại công ty Bảo hiểm Ngân hàng công thương Việt Nam chi nhánh HCM ” được nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
Ngành: Quản Trị Kinh Doanh
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TH.S LÊ VĂN LẠNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2011
Trang 3Hội đồng chấm báo cáo khoá luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khoá luận “Nghiên cứu và đề xuất
một số giải pháp tăng doanh thu bảo hiểm tại công ty Bảo hiểm Ngân hàng công thương Việt Nam chi nhánh HCM” do Trần Thị Hường, sinh viên khóa 33, ngành
Quản Trị Kinh Doanh, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày………
LÊ VĂN LẠNG Người hướng dẫn,
Ngày tháng năm 2011
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo
Ngày tháng năm 2011 Ngày tháng năm 2011
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Lời đầu tiên con xin được gửi lòng biết ơn sâu sắc đến ông bà, bố mẹ, các anh chị em và những người thân yêu trong gia đình đã nuôi dưỡng con nên người và tạo điều kiện cho con được học tập như ngày hôm nay
Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, quý Thầy, Cô trong Khoa Kinh Tế đã tận tình giảng dạy, trang bị cho tôi những kiến thức cần thiết trong suốt thời gian học tại trường
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Lê Văn Lạng người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Lãnh Đạo và các cô chú, anh chị, trong công ty Bảo Ngân đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực tập tại công ty để làm đề tài này Đặc biệt là chị Đinh Ngọc Tuyết Linh – Phó phòng kế toán đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu cần thiết giúp tôi thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin được gửi những lời chúc tốt đẹp nhất tới quý Thầy Cô Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là thầy Lê Văn Lạng và những người thân yêu nhất của tôi cùng toàn thể các cô chú, anh chị đang công tác tại Công
ty Bảo Ngân sẽ luôn gặp may mắn, hạnh phúc và thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống
Trang 5NỘI DUNG TÓM TẮT
TRẦN THỊ HƯỜNG Tháng 7 năm 2011 “Nghiên cứu và đề xuất một số giải
pháp tăng doanh thu bảo hiểm tại công ty Bảo hiểm Ngân hàng công thương Việt Nam chi nhánh HCM”
TRAN THI HUONG July 2011 “Reseach and propose some solution to
improve the insurance sales at VietinBank Insirance compant of HCM city”
Đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp tăng doanh thu bảo hiểm tại công ty Bảo hiểm Ngân hàng công thương Việt Nam chi nhánh HCM ” được nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việc khai thác các nghiệp vụ bảo hiểm của công ty trong những năm gần đây và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng doanh thu của công ty trong những năm tới
Việc gia nhập WTO đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho ngành bảo hiểm
Việt Nam nói chung và công ty Bảo Ngân nói riêng Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá thực trạng kinh doanh hiện nay của công ty Bằng cách phân tích môi trường cạnh tranh và các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ sản phẩm, đề tài nêu lên
những điều đã làm được và những tồn tại trong quá trình kinh doanh của công ty Trên
cơ sở đó đưa ra một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian tới
Trang 62.1.1 Giới thiệu về công ty Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam 4
2.1.3 Mục tiêu, phương châm hoạt động và Slogan của công ty 7
2.1.5 Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban 8
3.1.2 Định nghĩa, phân loại và bản chất của bảo hiểm 11 3.1.3 Vai trò của bảo hiểm trong đời sống xã hội 13
3.1.6 Sự cần thiết về tác dụng của bảo hiểm phi nhân thọ 15
3.1.8 Đặc điểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm 18 3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm 20
3.2.1 Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô 20
Trang 73.2.2 Các nhân tố thuộc về môi trường tác nghiệp 21
4.1 Tổng quan về thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2010 27 4.2 Khái quát chung thị trường bảo hiểm phi nhân thọ 28 4.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong hai năm qua (đối với
4.4 Dự kiến doanh thu của Bảo Ngân qua NHCT trong năm 2011 37 4.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm 37
4.5.1 Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô 37 4.5.2 Các nhân tố thuộc về môi trường tác nghiệp 42 4.6 Tình hình thực hiện một số chiến lược của công ty 44
4.8 Giải pháp hoàn thiện các chiến lược của công ty 55
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Bảng Doanh Thu Các Nghiệp Vụ của Công Ty Trong Hai Năm Qua 30 Bảng 4.2: Doanh Thu Phí Bảo Hiểm và Bồi Thường Một Số Nghiệp Vụ Trong Hai
Bảng 4.10: Số Liệu Về Tăng Trưởng Tổng Sản Phẩm Quốc Nội (GDP) Qua Hai Năm
Bảng 4.15 Bảng Dự Kiến Chi Phí Chiêu Thị Của Công Ty Năm 2011 57
Bảng 4.17 Dự Kiến Chi Phí Thành Lập Bộ Phận Marketing 59
Trang 10ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Biểu Đồ Thị Phần của Từng Nghiệp Vụ Bảo hiểm năm 2009 31 Hình 4.2: Biểu Đồ Thị Phần Từng Nghiệp Vụ Bảo Hiểm của Công Ty Năm 2010 32 Hình 4.3: Biểu Đồ Tổng Phí và Bồi Thường Bảo Hiểm Tài Sản Qua Hai Năm 2009 và
Trang 11Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ từng ngày, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO Sự chuyển biến đó được đánh dấu bằng sự phát triển mạnh mẽ của
các ngành dịch vụ, nhất là ngành dịch vụ tài chính Bảo hiểm cũng là một trong những ngành dịch vụ tài chính đã và đang rất phát triển ở nước ta
Ngành kinh doanh bảo hiểm không giống như các ngành sản xuất kinh doanh khác Khi một hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết, nhà kinh doanh bảo hiểm tiến hành thu phí trước của khách hàng Sau đó bằng sự cam kết của mình thông qua hợp đồng bảo hiểm các công ty sẽ thực hiện trách nhiệm đối với khách hàng Chính vì vậy mà người ta còn gọi kinh doanh bảo hiểm có “chu trình sản xuất ngược” Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, khách hàng chỉ nhận thức được giá trị của sản phẩm thông qua chất lượng dịch vụ cũng như sự hỗ trợ về mặt tài chính và tinh thần khi họ gặp phải những rủi ro
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, hoạt động sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp diễn ra với sự cạnh tranh gay gắt Trước ngưỡng cửa hội nhập, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì doanh thu là một điều rất quan trọng để duy trì sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Trong quá trình thực tập tại công
ty Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam tôi thấy đề tài “Nghiên cứu và đề
xuất một số giải pháp tăng doanh thu bảo hiểm tại công ty Bảo hiểm Ngân hàng
Trang 122
công thương Việt Nam chi nhánh HCM” là vấn đề cấp thiết đối với công ty nên tôi
đã tiến hành nghiên cứu đề tài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung:
Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp tăng doanh thu bảo hiểm gốc tại công
ty Bảo hiểm Ngân hàng công thương Việt Nam chi nhánh HCM
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
Nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh và đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty trong những năm đã qua
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới doanh thu
Đề xuất một số giải pháp để nâng cao doanh thu của công ty trong năm
1.3 Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn:
Khóa luận được thực hiện tại công ty bảo hiểm Bảo hiểm ngân hàng Công thương Việt Nam chi nhánh HCM
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài chủ yếu nghiên cứu doanh thu bảo hiểm của công ty trong những năm đã qua từ đó đề ra những ý kiến chung
Thời gian nghiên cứu:
Chương II: Tổng quan
Tổng quan về ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và về công ty Bảo Ngân nói riêng
Chương III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày các cơ sở lý luận làm nền tảng cho đề tài nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu sẽ được thực hiện trong đề tài
Chương IV: Kết quả và thảo luận
Trang 13Trình bày các kết quả nghiên cứu theo mục tiêu nghiên cứu đã đề ra ở chương I,
đề xuất các giải pháp tăng doanh thu bảo hiểm gốc của công ty
Chương V: Kết luận và kiến nghị:
Từ các mục tiêu nghiên cứu đặt ra và kết quả nghiên cứu đưa ra các kết luận và kiến nghị cho công ty
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về công ty
2.1.1 Giới thiệu về công ty Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam
Tên tiếng Việt:
Tên đầy đủ: Công ty TNHH Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam Tên giao dịch: Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam
Tên viết tắt: Bảo Ngân
Tên tiếng Anh:
Tên đầy đủ: Vietinbank Insurance Company Ltd
Tên giao dịch: Vietinbank Insurance Company
Tên viết tắt: Vietinsco
Website: www.baongan.vietinbank.vn
Email: baongan@vietinbank.vn
Vốn điều lệ: 300 tỷ (Ba trăm tỷ đồng)
Về nhân lực: Hiện nay Bảo Ngân có từ 300 đến 500 cán bộ nhân viên phục vụ
khách hàng tại trụ sở chính, 2 chi nhánh tại Tp.HCM, Đà Nẵng và trên 150 sở giao dịch, trên 800 phòng giao dịch của ngân hàng TMCP Công thương trên cả nước
Riêng tại chi nhánh Tp.HCM có khoảng 100 nhân viên phục vụ khách hàng tại các sở giao dịch và chi nhánh phía Nam của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Thời gian hoạt động: 70 năm
Loại hình doanh nghiệp: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Đại diện chủ sở hữu:
Ông Trần Xuân Châu – Chủ tịch Công ty
Đại diện trước pháp luật:
Trang 15Bà Trần Thị Bích Liên – Quyền Tổng giám đốc
Trụ sở chính:
Tầng 3, khu A, số 141 Lê Duẩn - Quận Hoàn Kiếm- Hà Nội
Điện thoại: 84 - 39425659, Fax: 84 - 39425646
Chi nhánh:
Chi nhánh Hồ Chí Minh:
Tòa nhà Thiên Sơn, số 5 Nguyễn Gia Thiều - Quận 3 - Thành phố HCM
Điện thoại: 84-39302804, Fax: 84-839302807
Chi nhánh Đà Nẵng:
Số 172 Nguyễn Văn Linh - Quận Thanh Khê - Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 84 - 05112225333, Far: 84 - 05113692443
Các mốc lịch sử:
Năm 2002:
Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam tiền thân là Công ty Liên doanh Bảo hiểm Châu Á - Ngân hàng Công thương, một liên doanh giữa Ngân hàng Công thương Việt Nam và Công ty Bảo hiểm Châu Á Singapore với tỉ lệ góp vốn 50/50, được thành lập theo giấy phép số 21/GP/KDBH ngày 21/12/2002 của Bộ Tài Chính
Năm 2008:
Ngày 17/12/2008, Bộ tài chính đã cấp Giấy phép chuyển đổi Công ty liên doanh Bảo hiểm Châu Á – Ngân hàng Công thương thành Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Công thương Việt Nam (Bảo Ngân) trên cơ sở Ngân hàng Công thương Việt Nam mua lại toàn bộ vốn góp của phía đối tác nước ngoài trong Công ty liên doanh để trở thành công ty trực thuộc hạch toán độc lập 100% vốn của Ngân hàng Công thương Việt Nam
Lĩnh vực hoạt động
Bảo hiểm phi nhân thọ
Tái Bảo hiểm
Đầu tư tài chính
2.1.2 Phạm vi và nội dung hoạt động
Bảo hiểm phi nhân thọ gồm:
Trang 166
Bảo hiểm Tài sản gồm:
Bảo hiểm nhà chung cư
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khi có rủi ro về tài sản
Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt
Bảo hiểm tai nạn người lao động
Bảo hiểm Con người gồm:
Bảo hiểm tai nạn con người 24/24
Bảo hiểm kết hợp con người
Bảo hiểm du lịch
Bảo hiểm cho người nước ngoài du lịch tại Việt Nam
Bảo hiểm cho người Việt Nam du lịch nước ngoài
Bảo hiểm khách du lịch trong nước
Bảo hiểm Trách nhiệm gồm:
Bảo hiểm trách nhiệm công cộng và trách nhiệm sản phẩm
Bảo hiểm môtô, xe máy
Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe Mô tô - xe máy Bảo hiểm tai nạn người ngồi trên xe
Bảo hiểm Xe cơ giới gồm:
Bảo hiểm xe ôtô
Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
Bảo hiểm vật chất xe
Bảo hiểm tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu gồm:
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu nội thủy
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu viễn dương (P&I)
Bảo hiểm Hàng hải gồm:
Bảo hiểm thân tàu
Bảo hiểm thân tàu biển
Bảo hiểm thân tàu thủy nội địa
Bảo hiểm tai nạn thuyền viên
Bảo hiểm rủi ro nhà thầu đóng tàu
Trang 17Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa
Bảo hiểm cho các loại hàng hóa riêng biệt
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường hàng không
Bảo hiểm Kỹ thuật gồm:
Bảo hiểm máy móc và trang thiết bị xây dựng
Bảo hiểm nồi hơi
Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng - lắp đặt
Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác
Tái bảo hiểm:
Nhận tái và tái bảo hiểm tất cả các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Đầu tư tài chính:
Đầu tư cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư trực tiếp, tư vấn đầu tư và các hình thức đầu
tư tài chính khác
Hoạt động khác:
Đề phòng, hạn chế tổn thất
Giám định tổn thất
Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
2.1.3 Mục tiêu, phương châm hoạt động và Slogan của công ty
Mục tiêu:
Đáp ứng tốt nhất nhu cầu Bảo hiểm cho các tổ chức, các nhân Việt Nam và nước ngoài hoạt động sinh sống tại Việt Nam, đặc biệt là các khách hàng vay vốn của NHCT Việt Nam
Luôn luôn đảm bảo khả năng tài chính để thực hiện trách nhiệm đối với khách hàng
Áp dụng công nghệ quản lý hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hướng
tới việc cung cấp các dịch vụ với chi phí hợp lý nhất
Xây dựng và phát triển lực lượng lao động bao gồm cả đội ngũ Đại lý có chuyên môn nghiệp vụ cao, tận tâm phục vụ và đem lại lợi ích tốt nhất cho khách hàng
Trang 188
Hợp tác với các công ty Bảo hiểm khác trên thị trường để cùng đóng góp vào sự phát triển của thị trường Bảo hiểm Việt Nam
Phương châm hoạt động:
Chuyên nghiệp - Phát triển bền vững
Slogan: Luôn bên bạn và vì bạn
2.1.4 Tình hình tổ chức bộ máy quản lý
Sơ đồ 2.1 Sơ Đồ Cơ Cấu Bộ Máy Quản Lý Của Công Ty
2.1.5 Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban
Phòng kinh doanh:
Lập các kế hoạch kinh doanh và triển khai thực hiện
Thiết lập, giao dịch trực tiếp với hệ thống khách hàng, hệ thống phân phối Thực hiện hoạt động bán hàng tới các khách hàng nhằm mang lại doanh thu cho doanh nghiệp
Phối hợp với các bộ phận liên quan nhằm mang đến các dịch vụ đầy đủ nhất cho khách hàng
Tổ chức thực hiện công tác hoạch định, giao và theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh toàn Tổng công ty
Trang 19Tổ chức thực hiện công tác thống kê toàn Tổng công ty
Phòng bồi thường:
Tổ chức thực hiện công tác bồi thường thống nhất toàn Tổng công ty
Giải quyết bồi thường các vụ việc trên mức phân cấp đối với các công ty thành viên và tham mưu Ban Điều Hành phê duyệt bồi thường các vụ việc trên phân cấp của Ban Bồi thường
Đòi bồi thường bên thứ ba và đòi bồi thường từ nhà tái bảo hiểm
Giải quyết và tham gia giải quyết các vụ khiếu nại, tranh chấp liên quan đến công tác bồi thường
Trang 20CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ sở lý luận
3.1.1 Sự ra đời của bảo hiểm
Cho đến nay, bảo hiểm không còn là khái niệm xa lạ đối với chúng ta Hoạt động bảo hiểm liên tục phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên, việc tìm hiểu xem bảo hiểm xuất hiện từ khi nào lại là điều khó khăn hơn nhiều Nhìn chung, mọi ý kiến đều cho rằng bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch
sử văn minh nhân loại, gắn liền với sự phát triển của lịch sử loài người
Lịch sử loài người trước hết là lịch sử đấu tranh với thiên nhiên Trong quá trình đó, con người phải từng bước chinh phục và cải tạo thiên nhiên, đồng thời cũng luôn phải chịu sự tác động của thiên nhiên, phải đương đầu với thiên tai và gánh chịu những hậu quả do thiên tai gây ra Do đó, một mặt đấu tranh với thiên nhiên, mặt khác hạn chế tác hại và khắc phục hậu quả của thiên tai luôn là nhiệm vụ cấp bách của mọi thời đại Thông thường người ta hạn chế bằng nhiều cách: tránh né rủi ro, tự đề phòng
và tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, con người dần nhận ra việc dự trữ chung theo cộng đồng có hiệu quả hơn rất nhiều Đây chính là tiền đề của bảo hiểm, nghĩa là nhiều người cùng nhau góp tiền hoặc lập ra một quỹ chung để khi có thiên tai hay tai nạn xảy
ra bất ngờ gây tổn thất thì người ta sẽ lấy từ quỹ chung ra để bù đắp cho những tai nạn bất ngờ đó
Khi cuộc sống ngày càng phát triển, yếu tố tác động đến đời sống con người không chỉ là thiên tai mà còn cả yếu tố xã hội nữa Những tổn thất không chỉ do thiên nhiên mà còn do cả chiến tranh, khủng hoảng kinh tế Trong hoàn cảnh đó, vấn đề thành lập quỹ chung để bù đắp tổn thất lại tỏ ra hữu hiệu hơn bao giờ hết Cũng từ đó hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và tính ưu việt của nó được thể hiện ngày càng rõ nét hơn
Trang 213.1.2 Định nghĩa, phân loại và bản chất của bảo hiểm
kê (Theo Monique Gaullier)
Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm (Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa)
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam 2000)
Bản chất của bảo hiểm:
Là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu
Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít (Theo Dennis Kessler)
Phân loại bảo hiểm:
Căn cứ vào tính chất hoạt động bảo hiểm chia thành: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế và bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội do nhà nước tổ chức và quản lý thống nhất (bộ Lao động thương binh xã hội và bộ Y tế…) chịu trách nhiệm
Bảo hiểm thương mại do Bộ tài chính quản lý (có nước do ngân hàng nhà nước quản lý) Bảo hiểm thương mại hoạt động kinh doanh do đó có nhiều tổ chức của các
Trang 2212
thành phần kinh tế tham gia Nhà nước quản lý hoạt động bảo hiểm thương mại thông qua luật, các văn bản pháp quy, các điều lệ, thông qua xét duyệt hình thành cũng như giải thể các tổ chức, kiểm tra hoạt động của các tổ chức có phù hợp với luật pháp điều lệ…
Bảo hiểm thương mại còn được gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo hiểm kinh doanh, được hiểu là sự kết hợp giữa hoạt động kinh doanh và việc quản lý các rủi ro Hoạt động này có từ rất lâu trong lịch sử văn minh nhân loại Xã hội ngày càng phát triển với các cuộc cách mạng công nghiệp, đến cuộc cách mạng thông tin thì bảo hiểm cũng ngày càng khẳng định vai trò của mình trong mọi hoạt động xã hội của con người bởi rủi ro nhiều hơn và các nhu cầu về an toàn cũng lớn hơn
Trên thị trường thế giới cũng như Việt Nam hiện nay có rất nhiều nghiệp vụ (sản phẩm) bảo hiểm khác nhau:
Bảo hiểm cháy và rủi ro đặc biệt
Bảo hiểm hàng hóa xuất khẩu, nội địa
Bảo hiểm thân tàu
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu
Bảo hiểm xe cơ giới
Bảo hiểm tai nạn con người
Bảo hiểm xây dựng – lắp đặt
Bảo hiểm thăm dò khai thác dầu khí
Bảo hiểm sinh mạng cá nhân
Bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm cây trồng
Bảo hiểm chăn nuôi
Các sản phẩm trên đều được phân loại theo từng đặc trưng riêng Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và quản lý nghiệp vụ, sẽ có các tiêu chí khác nhau được lấy làm căn cứ phân loại Chẳng hạn theo đối tượng bảo hiểm, các nghiệp vụ bảo hiểm có thể được sắp xếp vào các loại: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự hay bảo hiểm con người
Trang 23Với các đặc trưng kỹ thuật tương đối giống nhau, người ta có thể ghép bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự vào trong bảo hiểm thiệt hại.
Trong khi đó bảo hiểm con người có thể phân tích thành bảo hiểm con người phi nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ Cũng căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm, nhưng có thể sắp xếp các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại thành: bảo hiểm xe cơ giới… hoặc phân loại thành bảo hiểm nhân thọ hoặc bảo hiểm phi nhân thọ trong đó bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ về bảo hiêm tài sản, về trách nhiệm dân sự, và các nghiệp
vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ khác
3.1.3 Vai trò của bảo hiểm trong đời sống xã hội
Cho đến nay, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, bảo hiểm càng thể hiện rõ vai trò là nhu cầu không thể thiếu, là yếu tố quan trọng đảm bảo cho quá trình tái sản xuất có thể tiến hành thường xuyên liên tục, đồng thời góp phần ổn định đời sống cho mọi thành viên trong xã hội
- Bảo hiểm bảo đảm cho các tổ chức và các doanh nghiệp phát triển vững mạnh Bảo hiểm là yếu tố cấu thành tất yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh Những rủi ro ngoài ý muốn luôn đe dọa tới sự an toàn trong mỗi thời khắc của đời sống kinh tế xã hội Xã hội càng phát triển con người càng ứng dụng kỹ thuật cao vào cuộc sống cũng như cố gắng hạn chế các thiệt hại do thiên tai gây ra, thì rủi ro có thể thiệt hại cho chúng ta vẫn không thể giảm bớt mà còn có xu hướng tăng lên Những thiệt hại này mỗi tổ chức, doanh nghiệp không thể tự gánh chịu tự trang trải Họ luôn cần tới một chỗ dựa vững chắc đó là bảo hiểm
Dựa trên nguyên tắc san sẻ rủi ro, bảo hiểm mang lại cho các tổ chức và các doanh nghiệp sự an tâm được bảo vệ và đền bù các mất mát, thiệt hại đối với con người, với tài sản, với công việc, tiền, lợi nhuận… thuộc tổ chức và đơn vị đó
Tham gia bảo hiểm không nhằm triệt tiêu, né tránh rủi ro xong chắc chắn sẽ góp phần đề phòng và giảm thiểu tổn thất, đảm bảo cho mọi doanh nghiệp tổ chức phát triển vững mạnh
Bảo hiểm góp phần hoàn thiện cuộc sống của mỗi chúng ta
Cuộc sống của mỗi chúng ta dù ở nông thôn hay thành thị, dù nghèo túng hay khá giả đều chứa chấp những yếu tố không định trước Mọi nỗ lực của nhân loại luôn
Trang 243.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm
-Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty):
Chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra
- Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith):
Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề
- Nguyên tắc quyền lợi cụ thể được bảo hiểm (insurable interest):
Quyền lợi cụ thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi cụ thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đó có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm
- Nguyên tắc bồi thường (indemnity):
Trang 25Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi
- Nguyên tắc thế quyền (subrobgation):
Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình
3.1.5 Khái niệm về bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ là sự cam kết giữa người tham gia bảo hiểm với người bảo hiểm mà trong đó, người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm một số tiền nhất định khi có các sự kiện đã định trước xảy
ra, còn người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn
3.1.6 Sự cần thiết về tác dụng của bảo hiểm phi nhân thọ
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày
dù đã luôn luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ Các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân, ví dụ như:
- Các rủi ro do môi trường thiên nhiên: Bão, lụt, động đất, rét, hỏa hoạn, dịch bệnh.v.v
- Các rủi ro xảy ra do sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật
Khoa học và kỹ thuật phát triển, một mặt thúc đẩy sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con người: nhưng mặt khác cũng gây ra nhiều tai nạn bất ngờ như tai nạn ô tô, hàng không, tai nạn lao động v.v…
- Các rủi ro do môi trường xã hội: Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro cho con người Chẳng hạn, nếu xã hội tổ chức quản lý chặt chẽ - mọi người làm việc và sống theo pháp luật thì sẽ không xảy ra hiện tượng thất nghiệp, trộm cắp Nếu làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe sẽ hạn chế được các rủi ro không đáng có như hỏa hoạn, bạo lực, v.v…
Bất kể do nguyên nhân gì, khi rủi ro xảy ra thường đem lại cho con người những khó khăn trong cuộc sống như mất việc hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài
Trang 26+ Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các hiện tượng tránh né rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro Các biện pháp này thường được sử dụng để ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro
- Tránh né được rủi ro là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống Mỗi người, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện pháp thích hợp để tránh né rủi ro có thể xảy ra, tức loại trừ cơ hội dẫn đến tổn thất Chẳng hạn, để tránh các tai nạn giao thông người ta hạn chế việc đi lại, để tránh tai nạn lao động người ta chọn những nghề không nguy hiểm Tránh né rủi ro chỉ với những rủi ro có thể tránh né được Nhưng trong cuộc sống có rất nhiều những rủi ro bất ngờ không thể tránh né được
- Ngăn ngừa tổn thất: Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất đưa ra các hành động làm giảm tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra Ví dụ, để giảm thiểu các tai nạn lao động, người ta tổ chức các khóa học nâng cao trình độ cho người lao động hay nâng cao chất lượng hoạt động đảm bảo an toàn lao động, đề phòng chông hỏa hoạn người ta thực hiện tốt việc phòng cháy chữa cháy
- Giảm thiểu tổn thất: người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất xảy ra Ví dụ, như khi có hỏa hoạn, để giảm thiểu tổn thất, người ta cố gắng cứu các tài sản dùng được, hay trong một tai nạn giao thông
để giảm thiểu các thiệt hại về người và của người ta đưa những người bị thương tới nơi cấp cứu và điều trị
Mặc dù các biện pháp kiểm soát rủi ro có hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc giảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lường hết được hậu quả
Trang 27+ Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất xảy ra nếu có
+ Chấp nhận rủi ro: Đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự chấp nhận khoản tổn thất đó Một trường hợp điển hình của chấp nhận rủi ro là tự bảo hiểm Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro, tuy nhiên có thể phân chia làm hai nhóm : chấp nhận rủi ro thụ động và chấp nhận rủi ro chủ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người gặp rủi ro không có sự chuẩn bị trước và họ có thể phải vay mượn để khắc phục hậu quả tổn thất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quỹ dự phòng và quỹ này được sử dụng để bù đắp tổn thất do rủi ro gây
ra Tuy nhiên, việc này dẫn đến nguồn vốn không được sử dụng một cách tối ưu hoặc nếu đi vay thì sẽ bị động và còn gặp phải các vấn đề về gia tăng lãi xuất
- Bảo hiểm: Đây là một phần quan trọng trong chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là
sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ
là sự chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi
ro cho phép có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra Bảo hiểm là công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất Như vậy, bảo hiểm ra đời
là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh
Do đòi hỏi về sự tự chủ và sự an toàn về tài chính cũng như các nhu cầu của con người, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và không thể thiếu với mỗi cá nhân, doanh nghiệp và mỗi quốc gia Ngày nay, sự giao lưu kinh tế văn hóa giữa các quốc gia càng phát triển thì bảo hiểm cũng ngày càng mở rộng
Vì vậy, khái niệm bảo hiểm trở nên gần gũi, gắn bó với con người, với các đơn
vị sản xuất kinh doanh Có được quan hệ đó vì bảo hiểm đã mang lại lợi ích kinh tế xã hội thiết thực cho mọi thành viên, mọi đơn vị có tham gia bảo hiểm
Trang 2818
Nhờ có bảo hiểm những người tham gia đóng góp một số phí tạo thành nguồn quỹ bảo hiểm lớn ngoài chi trả hay bồi thường còn là nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế
Bảo hiểm, nhất là bảo hiểm thương mại còn đóng góp tích lũy cho ngân sách Bảo hiểm cùng với những người tham gia bảo hiểm thực hiện các biện pháp để phòng ngừa tai nạn xảy ra nhằm giảm bớt và hạn chế hậu quả thiệt hại
Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức giúp họ yên tâm trong cuộc sống, trong sinh hoạt sản xuất kinh doanh, bảo hiểm thể hiện tính cộng đồng, tương trợ, nhân văn sâu sắc
Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các quốc gia nhất là qua hoạt động tái bảo hiểm…
Cuối cùng, hoạt động bảo hiểm thu hút một số lao động nhất định, góp phần giải quyết bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội (theo thống kê, bảo hiểm các nước thu hút 1% lực lượng lao động xã hội)
3.1.7 Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ
Để không ngừng phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, bảo hiểm phi nhân thọ đã luôn chú trọng phát triển các nghiệp vụ nhằm đa dạng hóa sản phẩm Bảo hiểm, đáp ứng được nhu cầu đa dạng và phong phú của con người Hiện nay nếu căn cứ vào đối tượng bảo hiểm phi nhân thọ được chia làm 3 loại:
Bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Bảo hiểm con người phi nhân thọ
3.1.8 Đặc điểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Bảo hiểm thương mại hay hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại Bảo hiểm thương mại chỉ những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng
Trang 29Chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo là doanh nghiệp bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm đứng ra lập quỹ bảo hiểm từ nguồn thu phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm, quản lý sử dụng quỹ bảo hiểm để chi trả hoặc bồi thường bảo hiểm cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng khi có sự kiện bảo hiểm Mặc dù kinh doanh bảo hiểm là một quan hệ được thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên tham gia để giúp cho các bên thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm Tuy nhiên để thiết lập được quan hệ hợp đồng ngoài việc các bên trực tiếp thiết lập quan hệ còn có các chủ thể khác tham gia để giúp cho các bên thiết lập được quan hệ bảo hiểm gốc là đại lý bảo hiểm, doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm Trong kinh doanh bảo hiểm ngoài mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm với người mua bảo hiểm còn có các quan hệ bảo hiểm phát sinh là quan hệ kinh doanh tái bảo hiểm
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn nhằm mục đích thu lợi nhuận Thu nhập được tạo ra từ phần chênh lệch giữa số phí thu được với các nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm và số lãi thu được từ hoạt động đầu tư tài chính từ nguồn phí thu được còn nhàn rỗi
Đối tượng kinh doanh bảo hiểm là sản phẩm đặc biệt một lời cam kết gắn liền với yếu tố rủi ro Xét về tính chất thì kinh doanh bảo hiểm thuộc loại hình kinh doanh dịch vụ “Dịch vụ tài chính” Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình – là sự bảo đảm
về mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm và kèm theo các dịch vụ có liên quan Người tham gia bảo hiểm nộp phí cho nhà bảo hiểm để đổi lấy lời hứa hay cam kết là sẽ trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
Chu trình kinh doanh bảo hiểm là một chu trình đảo ngược, sản phẩm bảo hiểm được bán ra trước – doanh thu phát sinh, sau đó mới phát tính chi phí Đặc điểm này tạo ra tính nhàn rỗi của nguồn vốn bảo hiểm trong thời gian nhất định Chủ thể nhận bảo hiểm có thể sử dụng chúng đẻ đầu tư sinh lời nhằm tăng khả năng tài chính cho chi trả bồi thường và tăng thu nhập cho doanh nghiệp Bởi vậy, đầu tư tài chính là hoạt động không thể tách rời với hoạt động bảo hiểm Điều này nó làm cho bảo hiểm có tính phức tạp và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo lợi ích cho người tham gia
Trang 3020
Bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn vừa mang tính không bồi hoàn: Trong thời gian bảo hiểm, không có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì DN bảo hiểm không phải trả tiền hay bồi thường bảo hiểm Nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì DNBH phải trả tiền hoặc bồi thường bảo hiểm
Do tính bất ngờ của rủi ro bảo hiểm cả không gian, thời gian và quy mô nên DNBH phải xây dựng các quỹ dự phòng để thực hiện cam kết của mình trước bên tham gia bảo hiểm Quỹ này được sử dụng để tham gia đầu tư tuy nhiên bảo đảm tính thanh khoản cao
Số tiền bồi thường bảo hiểm trong một hợp đồng nếu có thường rất lớn, lớn hơn nhiều lần số tiền phí mà người tham gia bảo hiểm đã đóng (Do lợi ích các bên có xung đột trực diện thường xảy ra tranh chấp trong thực hiện hợp đồng) Vì thế có thể dẫn đến các trường hợp trục lợi bảo hiểm DN bảo hiểm muốn bảo đảm và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất trong hoạt động bảo hiểm thì phải thực hiện tốt nguyên tắc lấy số đông bù số ít Trong trường hợp có hợp đồng có giá trị lớn hoặc đối tượng bảo hiểm có nguy cơ dẫn đến rủi ro cao thì doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp phân tán rủi ro như đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm Mặt khác để giảm bớt phí bồi thường các DNBH phải tăng cường các biện pháp đề phòng, ngăn ngừa và hạn chế tổn thất bảo hiểm
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được điều chỉnh bằng luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kinh doanh có điều kiện đặt dưới
sự quản lý nhà nước của Bộ Tài Chính
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm
3.2.1 Các nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô
Các yếu tố về kinh tế
Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, trong mỗi giai đoạn nhất định của chu
kỳ nền kinh tế, DN sẽ có những quyết định phù hợp cho riêng mình Các yếu tố tác động đến nền kinh tế: Lãi suất, lạm phát, Các chính sách kinh tế của chính phủ: Luật tiền lương cơ bản, các chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các ngành: Giảm thuế, trợ cấp, Triển vọng kinh tế trong tương lai: Tốc độ tăng trưởng, mức gia tăng GDP,
Trang 31Các yếu tố về kinh tế tác động khá tích cực đến công ty Nếu môi trường kinh tế thuận lợi thì công ty phải nắm bắt ngay thời cơ để đầu tư và phát triển ngược lại nếu môi trường kinh tế không thuận lợi thì công ty phải điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình mới
Các yếu tố về pháp luật
Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ, các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ ngành nào Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó
Các yếu tố về văn hoá
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó
Bên cạnh văn hóa, các đặc điểm về xã hội cũng khiến các DN quan tâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập, khác nhau
Các yếu tố thuộc về hội nhập
Toàn cầu hóa tạo ra các sức ép cạnh tranh, các đối thủ đến từ mọi khu vực Quá trình hội nhập sẽ khiến các DN phải điều chỉnh phù hợp với các lợi thế so sánh, phân công lao động của khu vực và thế giới
Điều quan trọng là khi hội nhập, các rào cản về thương mại sẽ dần được gỡ bỏ, các DN có cơ hội buôn bán với các đối tác ở cách xa khu vực địa lý, khách hàng của các DN lúc này không chỉ là thị trường nội địa nơi DN đang hoạt động mà còn ở khắp nơi trên thế giới
3.2.2 Các nhân tố thuộc về môi trường tác nghiệp
Khách hàng :
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hướng đến mục tiêu cuối cùng là đáp ứng
và thoả mãn được nhu cầu của khách hàng Khách hàng nhân tố quyết định quá trình hoạt động kinh doanh của công ty, khách hàng càng nhiều thì thị trường tiêu thụ càng lớn, quy mô kinh doanh công ty càng mở rộng Vì vậy nhiệm vụ của người kinh doanh
là phải có khả năng nhận biết đúng khách hàng mục tiêu của mình
Trang 3222
Đất nước ta đang trên đà mở cửa và hội nhập vì vậy ngày càng có nhiều công ty bảo hiểm gia nhập và thị trường nước ta Thách thức đặc ra cho công ty là làm sao để khách hàng chọn mua sản phẩm của công ty mình chứ không phải là sản phẩm khác
Các đại lý trung gian
Theo thuật ngữ bảo hiểm, đại lý bảo hiểm là người làm việc cho doanh nghiệp bảo hiểm, thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm cho người mua
Hoạt động đại lý là phương thức bán bảo hiểm theo đó đại lý chịu trách nhiệm thu xếp việc ký kết các hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người mua bảo hiểm theo ủy quyền của doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở hợp đồng đại lý được hưởng hoa hồng
Chính vì vậy việc phát triển các đại lý đối với công ty là cực kỳ quan trọng do vậy công ty nên tạo mối quan hệ tốt đẹp với họ thông qua phương thức thanh toán chiết khấu, hoa hồng để tạo sự hấp dẫn, lôi kéo các trung gian sản phẩm bán ra ngày càng nhiều, hoạt động kinh doanh của công ty ngày càng hiệu quả hơn
Đối thủ cạnh tranh:
Phân tích đối thủ cạnh tranh là trả lời các câu hỏi: Số lượng đối thủ cạnh tranh
là bao nhiêu? Sức mạnh của họ như thế nào? Họ sử dụng chiến lược gì? Sản phẩm nào
họ cung cấp, mục tiêu phát triển của họ là gì?…
3.2.3 Hoạt động Marketing Mix của công ty
Về sản phẩm
Khái niệm sản phẩm: Theo quan điểm Marketing thì sản phẩm gắn liền với nhu
cầu, mong muốn của người tiêu dùng trên thị trường Sản phẩm là tất cả những gì có thể đưa ra thị trường để tạo sự chú ý, ham muốn mua sắm và sử dụng để thỏa mãn nhu
cầu và ước muốn của con người Nó có thể là những sản phẩm dịch vụ, chất xám cụ
thể đáp ứng nhu cầu của thị trường và xã hội
Khái niệm chiến lược sản phẩm: Chiến lược sản phẩm là tổng thể các định hướng, nguyên tắc, biện pháp thực hiện trong việc xác lập một hay một chủng loại mặt hàng sao cho phù hợp với từng thị trường, từng giai đọan khác nhau trong chu kỳ sống của sản phẩm đó
Trang 33Chiến lược sản phẩm là nhân tố quyết định chiến lược kinh doanh cũng như chiến lược Marketing, bởi vì công ty chỉ tồn tại và phát triển thông qua lượng sản
phẩm hay dịch vụ bán ra
V ề giá
Khái niệm giá: Theo quan điểm Marketing, giá là số tiền người bán dự tính sẽ
nhận được của người mua qua việc trao đổi một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó trên
thị trường
Vai trò của giá cả trong nền kinh tế xã hội: Giá cả có vai trò rất quan trọng đối
với các hoạt động kinh tế và sự vận hành của hệ thống kinh tế Chúng còn giữ vai trò trong việc suy đoán tính chất và hướng phát triển của các tổ chức kinh doanh và các hoạt động kinh tế Ngoài ra giá còn có vai trò không nhỏ trong cuộc sống xã hội Mỗi
hiện tượng về giá đều có ảnh hưởng tới cuộc sống của mỗi cá nhân, mỗi gia đình một cách trực tiếp Giá đúng là tấm gương phản ánh một cách trung thực tình trạng kinh tế-
xã hội
V ề phân phối
Khái niệm phân phối: Phân phối là các hoạt động có liên quan đến việc tổ chức, điều hành và vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng
nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất
Khái niệm chiến lược phân phối: Chiến lược phân phối là hệ thống quan điểm chính sách và giải pháp tổ chức các kênh, luồng mạng lưới bán sỉ bán lẻ hàng hóa
nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
Vai trò của chiến lược phân phối: Chiến lược phân phối góp phần không nhỏ trong quá trình cung cấp cho khách hàng đúng sản phẩm, đúng thời gian, đúng vị trí trên cơ sở đúng kênh hay luồng hàng Chiến lược phân phối hợp lý, thuận tiện cho khách hàng thì góp phần làm cho sản phẩm lưu thông tốt, giúp doanh nghiệp bán được nhiều sản phẩm, tăng lợi nhuận, tạo vị thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
Trang 3424
hợp lý, có rất nhiều sản phẩm nhờ vào hoạt động chiêu thị cổ động mà đã đạt được nhiều lợi thế khi bán sản phẩm
Nội dung chủ yếu của chiêu thị cổ động:
- Quảng cáo: là việc sử dụng không gian và thời gian để truyền tin định trước về sản phẩm, về doanh nghiệp hay thị trường cho khách hàng
Khuyến mại: là tất cả các hoạt động góp phần vào việc gia tăng và khuếch trương khối lượng bán
Tuyên truyền: là các hoạt động để công chúng biết được những thông tin tốt về các hoạt động doanh nghiệp tạo nên sự kích thích, ảnh hưởng tốt về sản phẩm doanh nghiệp Các mẫu này mang tính chất thông tin đại chúng không mang màu sắc quảng cáo
Bán hàng cá nhân: Đây là hình thức quan hệ giữa nhân viên bán hàng và khách hàng nhằm thu hút và thuyết phục khách hàng mua sản phẩm, phương thức này tiến hành trên cơ sở “mặt đối mặt” hoạt động giao tiếp qua các phương tiện thông tin Cùng
với sự phát triển của công nghệ thông tin ngoài những cách bán hàng truyền thống còn xuất hiện thêm kiểu bán hàng như: bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua mạng, internet ở nhiều nước cũng bắt đầu gia tăng
3.2.4 Ma trận SWOT
Nhằm xác định nhiệm vụ và đưa ra các giải pháp phát triển công ty dựa vào các yếu tố:
• Phân tích những điểm mạnh (Strengths)
• Phân tích những điểm yếu (Weaknesses)
• Phân tích cơ hội (Oppotunities)
• Phân tích nguy cơ (Threats) Trên cơ sở phân tích để đề ra các chiến lược giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh để công ty ngày càng phát triển hơn nữa
Chiến lược điểm mạnh, cơ hội (SO): sử dụng những điểm mạnh bên trong công
ty để tận dụng những cơ hội bên ngoài Tất cả những nhà quản trị đều mong muốn tổ chức của họ ở vào vị trí mà những điểm mạnh bên trong có thể sử dụng để lợi dụng những xu hướng và biến cố của môi trường bên ngoài Thông thường các tổ chức sẽ theo đuổi chiến lược WO, ST hay WT để tổ chức có thể vào vị trí mà họ có thể áp
Trang 35dụng các chiến lược SO Khi một công ty có những điểm yếu lớn thì nó sẽ cố gắng vượt qua, làm cho chúng trở thành điểm mạnh Khi tố chức phải đối đầu với những mối đe dọa quan trọng thì nó sẽ tìm cách tránh chúng để có thể tập trung vào những cơ hội
Chiến lược WO: nhằm cải thiện những điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng những cơ hội bên ngoài Đôi khi những cơ hội lớn bên ngoài đang tồn tại, nhưng công
ty có những điểm yếu bên trong ngăn cản nó khai thác những cơ hội này
Các chiến lược ST: sử dụng các điểm mạnh của công ty để tránh khỏi hay giảm
đi ảnh hưởng của những thách thức bên ngoài Điều này không có nghĩa là một tổ chức hùng mạnh luôn gặp phải những mối đe dọa từ môi trường bên ngoài
Các chiến lược WT: là những chiến lược phòng thủ nhằm làm giảm đi những yếu điểm bên trong và tránh khỏi những thách thức bên ngoài Một công ty đối đầu với
vô số những mối đe dọa bên ngoài và những yếu điểm bên trong có thể lâm vào tình trạng không an toàn Trong thực tế, một công ty như vậy thường phải đấu tranh để tồn tại, liên kết, hạn chế chi tiêu, tuyên bố phá sản hay phải chịu vỡ nợ
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp: được lấy từ nhiều nguồn, các dữ liệu do công ty cung cấp, từ sách, báo, luận văn, internet
Dữ liệu sơ cấp: thu được từ việc quan sát, phỏng vấn một số nhân viên trong công ty
3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
Phương pháp thống kê mô tả: là phương pháp lập bảng biểu, vẽ đồ thị và tính
toán số nhằm tóm tắt tổng hợp dữ liệu Bao gồm thu thập dữ liệu, sắp xếp dữ liệu, tóm tắt tổng hợp dữ liệu, diễn đạt dữ liệu…Mục đích là mô tả hiện tại
Phương pháp so sánh: là phương pháp được dùng chủ yếu trong phân tích
hoạt động sản xuất kinh doanh, phương pháp này đòi hỏi các chỉ tiêu phải có cùng điều kiện, có tính so sánh được để rút ra kết luận về hiện tượng và quá trình kinh doanh
Các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu kinh tế như sau:
Phải thống nhất về nội dung phản ánh
Phải thống nhất về phương pháp tính toán
Trang 3626
Số liệu thu thập được của các chỉ tiêu kinh tế phải cùng một khoảng thời gian tương ứng
Các chỉ tiêu kinh tế phải có cùng đại lượng biểu hiện là đơn vị đo lường
Tùy theo mục đích yêu cầu, tính chất và nội dung của việc phân tích mà các chỉ tiêu kinh tế mà sử dụng phương pháp so sánh cho thích hợp
Số tuyệt đối: là mức độ biểu hiện quy mô, khối lượng, giá trị của một chỉ tiêu kinh tế nào đó trong thời gian và địa điểm cụ thể Nó có thể tính bằng thước đo hiện vật, giá trị, giờ công Số tuyệt đối là cơ sở tính các chỉ tiêu khác
- So sánh tuyệt đối: là so sánh của các chỉ tiêu kinh tế giữa kì kế hoạch và thực
tế, giữa những khoảng thời gian, không gian khác nhau để thấy được mức độ hoàn thành, quy mô phát triển của chỉ tiêu kinh tế nào đó
- So sánh tương đối: Là tỉ lệ phần trăm (%) của chỉ tiêu phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỉ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu
gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng