1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TỀ VÀ TIỀM NĂNG ÁP DỤNGGIẢI PHÁP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG TỪ RÁC TẠI BÃI RÁC GÕ CÁT, QUẬN BÌNH TÂN, TP HCM

68 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 782,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề quản lý rác thải đòi hỏi sự phối hợp của người dân vì vậy đề tài thực hiện khảo sát ý kiến của 70 hộ dân về công tác vệ sinh môi trường đô thị và tìm hiểu phản ứng của người dân v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

**************

TRẦN THỊ BÍCH NGỌC

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TỀ VÀ TIỀM NĂNG ÁP DỤNG

GIẢI PHÁP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG TỪ RÁC TẠI

BÃI RÁC GÕ CÁT, QUẬN BÌNH TÂN, TP HCM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

**************

TRẦN THỊ BÍCH NGỌC

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TỀ VÀ TIỀM NĂNG ÁP DỤNG

GIẢI PHÁP SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG TỪ RÁC TẠI

BÃI RÁC GÕ CÁT, QUẬN BÌNH TÂN, TP HCM

Ngành: Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn : TS LÊ QUANG THÔNG

Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 07/2011

Trang 3

Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Phân Tích Hiệu Quả Kinh Tế Và Tiềm Năng Áp Dụng Giải Pháp Sản Xuất Điện Năng Từ Rác Tại Bãi Rác Gò Cát, Quận

Bình Tân, Tp HCM”, do Trần Thị Bích Ngọc, sinh viên khóa 2007 - 2011, ngành Kinh

Tế, chuyên ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _

Lê Quang Thông Người hướng dẫn, (Chữ ký)

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Đầu tiên con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ba, Mẹ người đã sinh thành và nuôi nấng dạy dỗ con đến ngày hôm nay Xin cảm ơn các anh, chị và những người thân đã luôn động viên tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng toàn thể quý thầy cô trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là quý thầy cô khoa Kinh Tế đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt khóa học tại trường

Xin chân thành cảm tạ và biết ơn sâu sắc Thầy Lê Quang Thông, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các anh Nhân thuộc phòng Quản Lý Chất Thải Rắn Sở Tài Nguyên Môi Trường TP.Hồ Chí Minh, Các anh, chị phòng Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản thuộc công ty TINH Môi Trường Đô Thị TP.Hồ Chí Minh, các anh, chị quản lý bãi rác

Gò Cát TP.Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ và cung cấp những thông tin cần thiết giúp tôi hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn tất cả những người bạn đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường

Xin chân thành cảm ơn!

TPHCM, ngày 7 tháng 7 năm 2011 Sinh viên

TRẦN THỊ BÍCH NGỌC

Trang 5

Khóa luận tiến hành tìm hiểu thực trạng quản lý rác thải tại TP.Hồ Chí Minh và

mô hình sản xuất điện năng từ rác thải sinh hoạt tại Công ty TINH Môi Trường Đô Thị

TP Hồ Chí Minh, nhằm giúp cho quá trình phân tích đạt được của công ty giai đoạn từ năm 2003 – 2008 với dự án đầu tư nâng cấp xây dựng công trường xử lý rác Gò Cát Ngoài ra đề tài còn sử dụng các chỉ số nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế và trên cơ sở tính các chỉ tiêu đánh giá NPV, IRR, BCR để phân tích dự án sản điện năng từ rác thải sinh hoạt dưới góc độ tư nhân và xã hội Vấn đề quản lý rác thải đòi hỏi sự phối hợp của người dân vì vậy đề tài thực hiện khảo sát ý kiến của 70 hộ dân về công tác vệ sinh môi trường

đô thị và tìm hiểu phản ứng của người dân về việc phân loại rác tại nguồn, từ đó đề ra các giải pháp quản lý rác thải Cuối cùng đề tài dùng phần mềm excel để dự báo khối lượng rác thải sinh hoạt, rác chợ và rác đường phố phát sinh đến năm 2020 từ đó có những đề suất trong công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt ở TP Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung

Trang 6

4.2 Phân tích phản ứng của người dân trong công tác vệ sinh môi trường đô thị 28

Trang 7

vi

4.2.2 Nhận thức của người dân trong việc phân loại rác tại nguồn 30

4.2.5 Mức độ chấp nhận thực hiện việc phân loại rác khi có qui định 33

4.3.1 Phân tích tài chính dự án xây dựng nâng cấp bãi rác Gò Cát 334.3.2 Phân tích hiệu quả dự án dưới góc độ xã hội 37

Trang 9

viii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 3.1 Phần Trăm Trọng Lượng Ước Tính của Các Thành Phần trong Rác Thải 12

Bảng 4.1 Mức Độ Hài Lòng Của Người Dân Về Công Tác Vệ Sinh Môi Trường Đô Thị

29Bảng 4.2 Lượng Rác Thải Trung Bình Theo Cơ Cấu Hộ Dân 29Bảng 4.3 Thời Điểm Và Địa Điểm Bỏ Rác Của Người Dân 30Bảng 4.4 Tham Khảo Mức Độ Đồng Ý Của Người Dân Về Việc Bỏ Rác Đúng Nơi Qui

Bảng 4.5 Phương Thức Lưu Giữ Rác Tại Hộ Gia Đình 33Bảng 4.6 Mức Độ Đồng Ý Của Người Dân Về Phân Loại Rác Tại Nguồn 33Bảng 4.7 Chi Phí Hoạt Động Của Dự Án Từ Năm 2003-2010 34

Bảng 4.9 Lợi Ích – Chi Phí Của Công Ty TINH Môi Trường Đô Thị Trong Suốt Dự Án

36

Bảng 4.11 Tổng lượng rác thải tại BCL Gò Cát qua các năm 40Bảng 4.12 Khối lượng Khí Thu Nhận Được Từ Việc Xử Lý Rác 41Bảng 4.13 Khối Lượng Điện Năng Thu Được Hàng Năm 41Bảng 4.14 Dự Báo Khối Lượng RTSH Phát Sinh Tại TP.HCM Đến Năm 2020 47

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.2 Sơ Đồ Tác Hại CTR Đối Với Sức Khỏe Con Người 13Hình 3.3 Liên Hệ Giữa Các Bộ Phận Trong Hệ Thống Quản Lý Rác Thải 16

Hình 4.2 Biểu Đồ Cơ Cấu Hiểu Biết Của Người Được Phỏng Vấn Về Việc Phân Loại

Trang 11

x

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1 Bảng Câu Hỏi

PHỤ LỤC 2 Chi Phí Đầu Tƣ Tài Sản Cố Định

PHỤ LỤC 3 Bảng Tính Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Của Dự Án

Trang 12

Kê, 2010) Với tình hình dân số như vậy, TP.HCM đã và đang đối mặt với những những thách thức lớn từ nhiều vấn đề xã hội: Hạ tầng cơ sở không đủ đáp ứng cho tốc độ phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số quá nhanh, tình trạng ùn tắt giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường đang ngày một phổ biến và đặc biệt là thiếu hụt năng lượng

Là một đô thị lớn nên mức độ phát sinh chất thải rắn đô thị hàng năm tại thành phố

Hồ Chí Minh rất cao Chất thải gồm: rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, rác thải công nghiệp, rác thải xây dựng.…Theo số liệu của Sở Tài nguyên - Môi trường, mỗi ngày trên địa bàn TP.HCM đổ ra khoảng 5.800-6.200 tấn rác thải sinh hoạt, 500-700 tấn chất thải rắn công nghiệp, 150-200 tấn chất thải nguy hại, 9-12 tấn chất thải rắn y tế Nguồn chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng cao nhất, chủ yếu phát sinh từ các nguồn: hộ gia đình, trường học, chợ, nhà hàng, khách sạn…Tuy nhiên, công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố còn rất nhiều bất cập, ở cả các khâu thu gom, vận chuyển và xử lý, đặc biệt là trong công tác xử lý rác đang gặp phải nhiều khó khăn Năm 2002 dự án đầu tư nâng cấp chất lượng công trình xử lý rác Gò Cát được thực hiện Dự án này được thực hiện bởi các doanh nghiệp Nhà Máy Phân Tổng Hợp Hóc Môn,Sở Giao Thông Công Chánh và

Trang 13

2

Cách ly- Quản lý- Kiểm soát Tiêu chuẩn IMC được kết hợp bằng hệ thống thu hồi gas nối với một hệ thống phát điện.Chính dự án này đã đem lại rất nhiều lợi ích: Bảo vệ môi trường đất,nước ngầm và không khí,gia tăng tính an toàn và y tế cho khu vực gần bãi rác,sản suất ra năng lượng từ rác…

Vậy câu hỏi đặt ra là lợi ích mà dự án này mang lại là như thế nào và tính khả thi của việc sản xuất điện từ rác ? Từ thực tế trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Phân tích hiệu quả kinh tế và tiềm năng áp dụng giải pháp sản xuất điện năng từ rác tại bãi rác Gò Cát, quận Bình Tân, TP HCM.”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích hiệu quả kinh tế của việc áp dụng giải pháp sản xuất điện năng từ rác và xác định tiềm năng từ dự án tại bãi rác Gò Cát, quận Bình Tân, TP HCM

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Phân tích thực trạng các giải pháp xử lý rác thải ở TP HCM hiện nay

- Xác định tiềm năng của giải pháp sản xuất điện năng từ rác tại bải rác Gò Cát

- Phân tích hiệu quả kinh tế và môi trường của giải pháp

- Đề xuất, kiến nghị từ kết quả của đề tài nghiên cứu

1.4 Cấu trúc khóa luận

Luận văn gồm có 5 chương:

Chương 1: Mở đầu

Chương này trình bày sự cần thiết của đề tài,mục tiêu nghiên cứu của đề tài,phạm

vi nghiên cứu và cấu trúc của toàn bộ luận văn

Chương 2: Tổng quan

Trang 14

Trình bày tổng quan về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH của quận Bình Tân, TP.Hồ Chí Minh, bãi rác Gò Cát TP Hồ Chí Minh

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của nghiên cứu vấn và trình bày phương pháp thu thập số liệu, phân tích và tính toán để có được kết quả nghiên cứu

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Trình bày kết quả của quá trình nghiên cứu và tiến hành phân tích đánh giá kết quả đạt được từ đó đề ra một số giải pháp khắc phục.Cuối cùng là dự báo khối lượng RTSH,RC và RĐP phát sinh đến năm 2020

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Đưa ra những kết luận về nội dung nghiên cứu và đưa ra một số kiến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN

2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Xã hội ngày càng phát triển, mức sống của người dân ngày càng cao Song song với sự phát triển đó cũng chính là lượng rác do con người thải ra ngày một gia tăng và năm 2006 được coi là năm có lượng rác thải ra vượt bậc so với những năm trước Lượng rác thải ra năm 2006 tính riêng tại bãi rác Gò Cát tại TP.HCM là 1.338.183,77 (tấn) Với các biện pháp xử lý thô sơ lượng rác thải ra không được xử lý đã làm gia tăng ô nhiễm môi trường Vì vậy, có rất nhiều nghiên cứu, bài viết về vấn đề này, cụ thể:

Năm 2003, nhóm nghiên cứu thuộc Công ty cổ phần Công nghệ môi trường xanh Seraphin đã hoàn thiện công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện đô thị Việt Nam, đó là công nghệ Seraphin với mục tiêu xử lý triệt để rác thải sinh hoạt đô thị

mà không cần chôn lấp nghiên cứu này đã cung cấp cho đề tài thêm một phương pháp xử

lý rác hiệu quả từ đó làm cơ sở lý luận cho đề tài ; Trần Phạm Thùy Dung, 2008 Đề xuất giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt tại TP Đà Nẵng Đề suất các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt thải ra tại Đã Nẵng từ đó đề ra các biện pháp để thực thi các giải pháp có hiệu quả Nghiên cứu này cung cấp cho đề tài thêm về các giải pháp quản lý rác có hiệu quả

2.2 Tổng quan về quận Bình Tân

2.2.1 Địa lý

a) Vị trí địa lý

Phía bắc giáp huyện Hóc Môn và quận 12

Phía nam giáp quận 8 và huyện Bình Chánh

Phía đông giáp quận Tân Phú, quận 6 và quận 8

Trang 16

Phía tây giáp huyện Bình Chánh

Quận Bình Tân nằm ở cửa ngõ phía Tây của thành phố, có quốc lộ 1A chạy ngang qua vành ngoài của thành phố Song song quốc lộ 1A là tuyến đường Hồng Bàng - Hùng Vương đi các quận nội thành Bến xe Miền Tây là bến xe chính đi các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long.

Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Quận Bình Tân

Nguồn tin: Sở tài Nguyên Môi Trường TP Hồ Chí Minh

Trang 17

6

b) Điều kiện tự nhiên

Địa hình quận Bình Tân thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, được chia làm hai vùng: Vùng cao dạng địa hình bào mòn sinh tụ, cao độ từ 3 - 4m, độ dốc 0 - 4 m tập trung ở phường Bình Trị Đông, phường Bình Hưng Hoà Vùng thấp dạng địa hình tích tụ bao gồm: phường Tân Tạo và phường An Lạc

Đất đai của quận được phân thành 3 loại chính:

- Đất xám nằm ở phía Bắc thuộc các phường Bình Hưng Hoà, Bình Trị Đông thành phần cơ học là đất pha thịt nhẹ kết cấu rời rạc

- Đất phù sa thuộc phường Tân Tạo và một phần của phường Tân Tạo A

- Đất phèn phân bố ở An Lạc và một phần phường Tân Tạo

Nhìn chung vị trí địa lý thuận lợi cho hình thành phát triển đô thị mới

2.2.2 Xã hội

Bình Tân là quận mới thành lập, dân số năm 2003 là 265.411 người, trong đó nữ chiếm 52,55% nam chiếm 47,45% Đến năm 2006, theo số liệu của Cục Thống kê thành phố, dân số của quận là 447.173 người Như vậy, sau 3 năm thành lập, dân số đã tăng lên gần gấp đôi

Mật độ dân cư bình quân năm 2003 là 5.115 người/km2, năm 2006 là 8.618 người/km2 Điều này phản ánh tốc độ đô thị hoá của quận khá nhanh Tuy nhiên, dân cư phân bố không đều, nơi có mật độ dân cư đông nhất là phường An Lạc, thấp nhất là phường Tân Tạo

Trên địa bàn quận Bình Tân có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 91,27% so với tổng số dân, dân tộc Hoa chiếm 8,45%, còn lại

là các dân tộc Khmer, Chăm, Tày, Thái, Mường, Nùng, người nước ngoài… Tôn giáo có Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi Giáo… trong đó Phật giáo chiếm 27,26 % trong tổng số dân có theo đạo

Hệ thống giáo dục và y tế của quận cũng đang được cải thiện và nâng cao chất lượng Ngoài hệ thống các trường mầm non và phổ thông, trên địa bàn quận hiện có 1 trường trung học chuyên nghiệp và 3 cơ sở dạy nghề Năm 2003 trên địa bàn quận mạng

Trang 18

lưới y tế chỉ có 4 trạm y tế phường hiện nay quận đã và đang tập trung xây dựng 6 trạm y

tế và một trung tâm y tế theo tiêu chuẩn quốc gia

2.2.3 Kinh tế

Tuy là một quận mới thành lập, nhưng Bình Tân có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hoá khá nhanh Cơ cấu kinh tế của quận chuyển dịch theo hướng ngày càng tăng tỷ trọng của khu vực Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng và giảm dần tỷ trọng của khu vực Nông nghiệp, thuỷ sản Khu vực Thương mại – Dịch vụ có tỷ trọng tương đối ổn định

Trên địa bàn quận Bình Tân hiện có hai khu công nghiệp do Ban quản lý các khu công nghiệp thành phố quản lý là khu công ngiệp Tân Tạo và khu công nghiệp Vĩnh Lộc (Văn phòng BQL đặt tại phường Bình Hưng Hoà) Riêng khu công nghiệp giày da POUYUEN là khu công nghiệp 100% vốn nước ngoài chuyên sản xuất giày da, diện tích

58 ha

Ngoài ra, quận Bình Tân còn có 4 cụm công nghiệp do quận quản lý với tổng diện tích 31,4 ha Tất cả 4 cụm công nghiệp trên địa bàn quận đều hình thành tự phát do các doanh nghiệp (chủ đầu tư) tự đứng ra đầu tư cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước, hệ thống nước thải… rồi cho các doanh nghiệp khác thuê lại để sản xuất kinh doanh theo phương thức khai thác đến đâu, mở rộng đến đó

2.3 Tổng quan về bãi chôn lấp Gò Cát

2.3.1 Vị trí địa lý

Bãi chôn lấp Gò Cát có diện tích 25 ha, nằm cách trung tâm Thành phố 16,4km về phía Tây, thuộc quận Bình Tân của Tp.HCM

Giới hạn xung quanh của bãi chôn lấp Gò Cát:

Phía Đông và Đông Bắc là kênh nước đen với khu dân cư mới phát triển dọc hai bên bờ kênh

Phía Tây là quốc lộ 1A

Phía Nam là đầm nước có diện tích khoảng 6 ha không được canh tác và có lục bình phủ kín

Trang 19

8

Phía Bắc là vùng hồ đầm hoang hóa và một phần diện tích được dân định cư chuyển thành hồ nuôi cá

2.3.2 Điều kiện tự nhiên

BCL Gò Cát nằm trong khu vực thuộc địa bàn Tp.HCM nên có đầy đủ tính chất về điều kiện tự nhiên của Tp.HCM

Tại BCL, Liên đoàn Địa chất 8 đã khoan thử nghiệm 5 lỗ khoan để khảo sát địa chất, với độ sâu 50m cho mỗi lỗ Kết quả kiểm tra và thử nghiệm cho thấy :

c) Tình hình nước ngầm

Trang 20

Theo số liệu trong bản báo cáo của Sở Giao thông Công chánh cho thấy rằng đất ở BCL Gò Cát có tốc độ thấm nước là 0,018 cm/giờ, có khả năng chống thấm khá cao Do

đó, trong quá trình chôn lấp rác, nước rỉ rác khó có khả năng thấm xuống đất, nhưng nếu không thu hồi nước rỉ rác và nước mưa chảy tràn một cách hợp lý thì nước rỉ rác có thể chảy tràn trên bề mặt gây ô nhiễm môi trường Chính vì vậy, độ thấm nước phải được kiểm tra và quản lý thường xuyên

Cũng giống như lượng mưa, độ ẩm của khu vực BCL Gò Cát cao, trung bình đạt 19,5%

Trang 21

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu

3.1.1 Các khái niệm liên quan

Chất thải rắn là những vật ở dạng rắn do hoạt động của con người (sinh hoạt, sản xuất, tiêu dùng,….) và động vật gây ra Đó là những vật đã bỏ đi, thường ít được sử dụng hoặc ít có ích và không có lợi cho con người

Chất thải rắn đô thị là vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ mà TP phải có trách nhiệm thu gom và phân hủy

3.1.2 Nguồn gốc và phân loại CTR

a) Nguồn chủ yếu phát sinh CTR

Hình 3.1 Các Nguồn Phát Sinh Ra Chất Thải

Nguồn: Phòng Quản Lý Chất Thải Rắn - Sở Môi Trường TP HCM

Chất thải

Cơ quan trường học

Nông nghiệp,hoạt động

Trang 22

b) Phân loại CTR

- Rác thực phẩm

Bao gồm phần thừa thãi, không ăn được sinh ra trong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu

ăn, v.v Đặc điểm quan trọng của loại rác này là phân hủy nhanh chóng trong điều kiện thời tiết nóng ẩm Quá trình phân hủy này thường gây ra mùi khó chịu

- Rác bỏ đi

Bao gồm chất thải cháy và không cháy sinh ra từ hộ gia đình, công sở, hoạt động thương mại,.v.v.Các chất thải cháy như giấy, plastic, vải, cao su, da, gỗ, v.v Chất thải không cháy như thủy tinh, vỏ hộp lim loại, nhôm, v.v

- Tro, xỉ

Vật chất còn lại trong quá trình đốt củi, than, rơm, rạ, lá cây, v.v Ở các gia đình, công sở, nhà máy, xí nghiệp

- Chất thải xây dựng

Rác từ các nhà đổ vỡ, còn rác từ các công trình xây dựng, sữa chữa nhà ở, nhà hàng

là xây dựng, rác loại này thường được xếp vào loại rác bỏ đi

- Chất thải đặc biệt

Rác quét phố, rác từ các thùng rác công cộng, xác động vật, vôi gạch đổ nát, …

- Chất thải từ những nhà máy xử lý ô nhiễm, chất thải này có từ hệ thống xử lý nước, nước thải, nhà máy xử lý chất thải công nghiệp

- Chất thải nông nghiệp

Vật chất loại bỏ từ các hoạt động như gốc rơm, rạ, cây trồng, chăn nuôi Hiện nay chất thải nông nghiệp chưa được quản lý tốt ngay cả ở các nước phát triển đặc điểm phát tán về số lượng và khả năng thu gom

- Chất thải nguy hiểm

Chất thải hóa chất, sinh học dễ cháy, dễ nổ hoặc mang tính phóng xạ, theo thời gian

có ảnh hưởng đến đời sống con người, động vật, thực vật Những chất thải nguy hiểm nêu trên thường xuất hiện ở dạng lỏng, khí và ở thể rắn Đối với chất thải này thì vệc thu gom, chôn vùi đòi hỏi phải cẩn thận

Trang 23

12

Nguồn CTR có thể khác nhau ở nơi này và nơi khác, khác nhau về số lượng kích thước, phân bố về không gian Trong nhiều trường hợp thống kê người ta thường phân chất thải thành hai loại chính: chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt Ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển tỷ lệ chất thải sinh hoạt thường cao hơn chất thải công nghiệp Ở một số nước công nghiệp phát triển, tỷ trọng của hai loại nêu trên có lúc xấp xỉ nhau(1/1) Còn ở các nước đang phát triển thì lượng chất thải sinh hoạt cao hơn nhiều so với chất thải công nghiệp (3/1)

Các chất không tái chế

Chất độc hại

Rau, củ, quả, xác động vật, thức ăn thừa, v.v

Nhựa, nilon Giấy

Thủy tinh Kim loại

Gỗ

Vỏ sò, ốc

Da Đất, cát, tro, v.v

Vải Nilon, nhựa không tái chế

Chất thải y tế

61,12

5,93 4,03 3,76 2,11 3,65 2,43 2,33 9,03 1,61 2,00

Trang 24

Rác thải sinh hoạt có đặc điểm là không đồng nhất, chúng bao gồm cả chất hữu cơ

dễ phân hủy, các chất hữu cơ khó phân hủy và các chất vô cơ Đặc điểm này gây khó khăn rất lớn trong quá trình xử lý sau này Rác thải hữu cơ trong sinh hoạt hàng ngày chiếm tỷ lệ rác thải rất lớn so với các loại rác thải vô cơ khác

Rác thải hữu cơ có nguồn gốc chủ yếu từ thực vật, động vật nên có hàm lượng nước rất cao, chúng lại kết hợp với các chất dinh dưỡng và vi sinh vật có sẵn trong chất thải tạo nên hiện tượng thối rữa nhanh gây ra ô nhiễm đất, nước và không khí rất nghiêm trọng

Rác thải ở nước ta không được phân loại tại nguồn Do đó trong rác thải ở khu tập trung hay tại địa điểm tiến hành xử lý thường chứa cả những vật liệu dễ tạo ra phân bón, chứa cả kim loại, các chất độc hại và cả vi sinh vật gây bệnh Ngoài ra, trong chất thải này còn chứa cả các chất thải từ xây dựng và cả các chất thải từ nhiều nhà máy khác nhau Đặc biệt này gây khó khăn trong quá trình quản lý và xử lý rác thải

hô hấp

Trang 25

14

Ô nhiễm đất do CTR: Các tác nhân ô nhiễm trong CTR đặc biệt là các hóa chất độc hại thâm nhiễm vào môi trường đất, tồn tại trong đất và đi vào các chuỗi thức ăn, qua đó xâm nhập và tích tụ trong cơ thể người Ở một liều lượng nhất định, các tác nhân này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người như gây ung thư, ngộ độc, các bệnh hệ tiêu hóa, tim mạch,.v.v

Ô nhiễm nguồn nước: Đây được coi là nguy cơ lớn nhất đối với sức khỏe người dân từ chất thải rắn đặc biệt là chất thải nguy hại ở thể rắn Các tác nhân gây ô nhiễm như các chất độc hại, các mầm bệnh, v.v Thấm nhiễm vào nguồn nước (nước mặt và nước ngầm) gây ô nhiễm nguồn nước uống, nước sinh hoạt gây các bệnh đường tiêu hóa như tiêu chảy, giun sán, v.v mắc bệnh truyền nhiễm như gan; ngộ độc thực phẩm; các bệnh

về mắt, da liễu, phụ khoa,.v.v

Ô nhiễm không khí: Do nền khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao làm bay hơi nhiều chất độc hại từ chất thải rắn sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người dân đặc biệt là những người lao động thường xuyên tiếp xúc với các nguồn chất thải, gây các bệnh về đường hô hấp như viêm phế quản, viêm đường hô hấp…

Đối với 70% số dân trong thành phố ở các nước đang phát triển mắc bệnh nhiễm trùng nhất là đường ruột, 30% mắc bệnh ung thư

Cảnh quan xung quanh: Hiện tượng vứt rác bừa bãi vừa làm cho cảnh quan luôn có cảm giác mất vệ sinh, không sạch sẽ, làm khách du lịch không hứng thú với cảnh đẹp mà chỉ chăm chú tránh các bãi rác “bất đắc dĩ” trên đường phố Bên cạnh đó, những thùng rác nằm lộ thiên trên lối đi gây khó chịu khi đi ra đi vào khu tập thể, đôi khi làm hỏng những công trình kiến trúc xây dựng quanh đó

Làm phí phạm tài nguyên: Theo số liệu của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước Liên Xô trước đây, trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12, khối lượng kim loại đen vụn và phế liệu kim loại hàng năm là 106 triệu tấn Nhưng kế hoạch thu hồi không đạt yêu cầu Do quá chú ý đến lợi nhuận kinh tế nên các xí nghiệp đã không quan tâm đầy đủ đến việc thu hồi và giao nộp phế liệu cho nhà nước, để lãng phí tài nguyên rất lớn

Kinh phí đầu tư cho xử lý rác thải rất lớn Hiện nay để thiêu đốt 1 tấn rác và chất thải công nghiệp phải tốn tới 20 USD Chỉ tính riêng việc xử lý chất thải rắn của công

Trang 26

nghiệp ô tô (300 triệu tấn/năm) phải tốn 1,3 tỷ USD Đó chính là nguyên nhân vì sao các nước Tư Bản công nghiệp đang tìm mọi cách để đổ CTR rất khó phân hủy này sang các nước chậm phát triển Bởi vì theo tính toán thì để đổ 1 tấn chất thải này sang các nước khác chỉ cần tốn 40 USD

Việc quản lý CTR không tốt sẽ gây ra hàng loạt các hậu quả xấu như sau:

Thu gom và vận chuyển không hết sẽ dẫn đến tình trạng tồn đọng chất thải trong các đô thị, làm mất mỹ quan, gây cảm giác khó chịu cho dân cư trong các khu đô thị

CTR đổ bừa bãi xuống cống, rãnh, ao, hồ, kênh, rạch,…làm quá tải thêm hệ thống thoát nước đô thị, là nguồn gây ô nhiễm cho nguồn nước mạch và nước ngầm Trong môi trường khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm chất thải bị thối rữa nhanh là nguyên nhân gây

ra dịch bệnh, nhất là chất thải độc hại, chất thải bệnh viện

Đội ngũ lao động của các đơn vị làm vệ sinh đô thị phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, ô nhiễm nặng: nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 1,9 lần; khí độc vượt tiêu chuẩn cho phép từ 0,5 đến 0,9 lần; các loại vi trùng, siêu vi trùng; nhất

Quản lý tổng hợp các quá trình quản lý CTR từ khâu thu hồi, phân loại tại nguồn,

thu gom, vận chuyển đến khâu xử lý cuối cùng là tiêu hủy

Môi hình quản lý CTR theo từng đô thị được phổ biến ở những nước đang phát triển, nơi mà trình độ nhận thức môi trường và kỹ thuật chưa cao, hạn chế do các qui định hành chính Hiện nay, việc qui hoạch quản lý CTR theo mô hình từng đô thị riêng biệt đã bộc lộ nhiều bất cập như:cùng với sự phát triển nhanh chóng của việc đô thị hóa thì việc qui hoạch xác định vị trí khu xử lý CTR thuộc biên giới hành chính của đô thị mà vẫn đảm bảo yêu cầu về khoảng cách ly vệ tinh, việc dành quỹ đất cho khu xử lý CTR là những điều khó khăn

Trang 27

Thu gom: là quá trình nhặt CTR từ nhà dân, các cơ sở thương mại, cơ sở sản xuất hoặc từ những điểm thu gom, đưa chúng lên xe và chở đến điểm xử lý hoặc điểm chuyển tiếp Chi phí thu gom thường chiếm 50% tổng chi phí quản lý CTR hàng năm

b) Các phương pháp xử lý CTR

Xử lý CTR bao gồm việc thay đổi các tính chất vật lý, hóa học và sinh học của CTR nhằm:

 Tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý CTR

 Thu hồi các CTR có thể sử dụng lại hoặc tái chế được

Nguồn phát sinh rác thải

Phân loại, lưu trữ tại nguồn

Thu gom (hẻm & đường phố)

Tách, tái chế và xử

Chôn lấp Trung chuyển và

vận chuyển

Trang 28

 Tạo ra sản phẩm sau quá trình chuyển đổi như phân vi sinh ,năng lượng có thể sử dụng để đốt hoặc khí biogas, năng lượng điện Việc chuyển đổi CTR dẫn đến giảm quy mô bãi chôn lấp cũng như lượng rác thải đem đi đốt

Xử lý CTR bằng công nghệ chuyển hóa sinh học

Các phương pháp thông dụng để xử lý rác thải đô thị là ủ hiếu khí, hiếm khí và

phân hủy kỵ khí

Các quá trình phân hủy kỵ khí thường diễn ra phức tạp hơn so với ủ hiếu khí tuy nhiên quá trình phân hủy kỵ khí thường mang lại lợi ích từ việc thu hồi năng lượng dưới dạng hình thành khí mêtan

Cả hai quá trình đều cho ra sản phẩm là chất mùn có thể sử dụng làm tăng độ phì của đất

Xử lý CTR bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh

Là phương pháp sự phân hủy của CTR khi chúng được chôn nén và phủ lớp bề mặt CTR trong BCL sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh học nên trong dể tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và các khí CO2, CH4 Bao gồm:

Phương pháp chôn lấp hoàn toàn

Đối với các loại chất thải sinh hoạt, công nghệ ít độc hại thường được thu gom, vận chuyển, chuyển đến các bãi chứa sau đó được chôn lấp đi Đây là phương pháp đơn giản nhất, ít tốn kém nhưng không vệ sinh dễ gây ra ô nhiễm môi trường nhất là ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm và tốn diện tích đất chôn lấp Phương pháp này chỉ phù hợp với các nước chưa phát triển, kinh tế còn khó khăn, thường áp dụng với đô thị nhỏ và đòi hỏi địa điểm phải rộng và cách xa khu dân cư

Đối với các chất thải độc hại thì đáy BCL phải được xử lý đầm nén hoặc trải tấm lót Polime đặc biệt sao cho chất thải được chôn lấp hoàn toàn cách ly với môi trường bên ngoài Chi phí một BCL như vậy tốn kém từ hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng

Trang 29

18

3.1.7 Tìm hiểu về quá trình sản xuất điện năng từ rác

Hình 3.4 Quy Trình Công Nghệ Thu Và Xử Lý Khí

Nguồn: Ban quản lý bãi rác Gò Cát

a) Giới thiệu chung về qui trình

Khí gas thoát ra từ BCL trong quá trình phân hủy kị khí sẽ được đưa lên mặt đất bằng các giếng thu hồi khí kiểu đứng, khí gas từ các giếng được dẫn đến một đường ống thu hồi rồi được đưa đến các bể thu hồi ngưng tụ khí gas

Tại các bể ngưng tụ khí gas, khí gas bão hòa hơi nước sẽ được tách ra nhờ bộ phận tách xoáy ngưng tụ để ngăn chặn sự tích tụ hơi nước trong họng đốt hay trong máy phát điện gây ảnh hưởng đến máy phát Nước ngưng tụ thu hồi được sẽ được đưa vào bộ phận tách nước ở phía bên để hút vào trục tách nước

Trục tách nước này phải đặt trong hố xả nước ngưng tụ

Khí thải

Trang 30

Các loại khí sinh ra từ BCL chủ yếu là các loại khí dễ gây cháy nổ khi đạt tới một mật độ khí nhất định, các chất khí này thoát ra ngoài gây ô nhiễm môi trường và là một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính nên cần phải được xử lý hợp lý Để khắc phục tình trạng trên, ở BCL Gò Cát người ta chọn cách xử lý thu hồi để chuyển tải thành điện năng hay đốt ở họng đốt nhiệt độ cao để chuyển hóa thành CO2

CH4 + 2O2 = CO2 + 2H2O Như vậy khi đốt CH4 ở nhiệt độ cao sẽ chuyển hóa thành CO2 hạn chế được việc gây hiệu ứng nhà kính vì tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính của CH4 gấp 21 lần so với khí

CO2

Để chiết xuất được khí gas, người ta phải tạo ra độ chân không nhỏ bên trong các giếng thu hồi lắp đặt sâu bên trong lòng BCL Giếng gas bao gồm một ống lọc được bao bọc xung quanh bởi xà bần và sỏi Đầu giếng gas được đặt trên đỉnh của ống lọc, đầu giếng này được nối với máy thổi khí thông qua hệ thống đường ống vì vậy toàn bộ hệ thống giếng được giữ ở trạng thái chân không

Đường ống ở trên đỉnh của bãi rác giữa giếng gas và nhà máy chiết suất gas có một

số trục xả nước ngưng tụ để tách nước ngưng tụ trong khí gas sau đó đưa đến nhà máy xử

lý nước thải

Khí gas sẽ được nén lại tại hệ thống chiết suất và đưa đến nhà máy phát điện Tuy nhiên, khi lượng gas đưa đến lớn hơn lượng khí gas tiêu thụ cho nhà máy phát điện hoặc khi máy phát điện bị hỏng thì lượng khí gas thừa này sẽ được chuyển đến đốt ở họng đốt

để hạn chế việc thoát khí gas ra ngoài môi trường gây ô nhiễm

Trước khi chiết suất gas trong hệ thống xử lý rác thì van điều chỉnh ở đầu giếng gas phải được mở khoảng 15% vì khi các giếng gas hoạt động sẽ tạo một lực hút từ phía BCL rác lên để hút khí methane về Nếu không mở van trước, không khí không đi vào giếng gas, áp suất trong giếng gas thấp hơn áp suất bên ngoài làm cho lực hút không đủ mạnh để hút khí gas khỏi giếng gas Ban đầu hàm lượng khí methane tích lũy trong các giếng gas rất cao, khoảng 55% đến 60% trong tổng hàm lượng khí gas, tuy nhiên sau một thời gian, hàm lượng khí methane sẽ giảm xuống do việc thu khí gas hoạt tính không khí

Trang 31

20

lượng khí methane tích tụ trong các giếng gas không kịp làm cho hàm lượng khí methane giảm xuống

Trong quá trình chiết suất khí gas, nếu áp lực hút càng lớn, hàm lượng khí methane

sẽ càng thấp do lượng khí methane không kịp tích tụ trong các giếng gas làm cho chất lượng gas sẽ không cao Nếu áp lực hút càng nhỏ thì hàm lượng khí methane sẽ cao hơn, chất lượng gas sẽ tốt hơn Đây chính là nguyên nhân máy phát điện tại BCL Gò Cát chỉ chạy hết 1/3 công suất

Tuy nhiên nếu áp lực hút trong giếng gas tăng lên quá cao thì không khí bên ngoài

sẽ bị hút vào, không khí hút vào chứa một hàm lượng oxy không đổi Nếu lượng oxy xâm nhập vào trong các giếng gas lớn hơn 6% thì một hỗn hợp nổ sẽ được hình thành Trong trường hợp này thì hệ thống phải ngừng hoạt động, hàm lượng oxy đạt 3% thì hệ thống sẽ phát ra tín hiệu báo động

b) Hiệu quả của quá trình sản suất điện năng từ rác

Chi phí xây dựng và vận hành thấp, từ chi phí mua thiết bị máy móc đến chi phí vận hành, chi phí lao động đều thấp

Công nghệ từ khâu lắp đặt đến khâu vận hành đều đơn giản, dễ tiến hành không đòi hỏi nhiều nhân viên có tay nghề cao

Nếu không có công nghệ thu hồi khí áp dụng thì lượng khí thải sẽ thải trực tiếp ra môi trường không khí, ảnh hưởng đến con người và môi trường xung quanh, gây ô nhiễm mùi và mang lại nhiều bệnh tật về đường hô hấp Công nghệ này giúp bảo vệ môi trường không khí xung quanh do không làm thất thoát nhiều khí rác thải ra môi trường

Tại một nước có khí hậu nóng ẩm và đô thị hóa cao như nước ta, lượng rác thải phát sinh nhiều, số lượng bãi rác ngày càng tăng, đây là một trong những tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường không khí và góp phần tăng lượng khí nhà kính, nếu xử lý bằng các công nghệ đòi hỏi nguồn chi phí cao thì nước ta khó có khả năng đáp ứng Do đó, công nghệ này được cho là phù hợp và hiệu quả

Áp dụng công nghệ thu hồi khí này giúp ta chuyển đổi từ khí rác thải thành điện năng đem lại thu nhập và lợi ích cho khu vực

Trang 32

Lợi ích xã hội: một công trường xử lý rác có thể kiểm soát sẽ thỏa mãn tiêu chuẩn

vệ sinh, đây không những là vấn đề nhân văn mà còn là vấn đề xã hội Một công trường

xử lý rác có kiểm soát sẽ giúp cho người dân sống tại các khu vực xung quanh tránh phải đương đầu với những hoạt động của các tầng lớp thấp kém trong xã hội hay việc vận chuyển các vật liệu ô nhiễm đến ngoại ô đã tạo một cảm giác tự ti mặc cảm cho những dân cư sống tại đây

Hiệu quả kinh tế: thể hiện kết quả sản xuất trong mỗi đơn vị chi phí của các nghành sản xuất Về mặt hình thức, hiệu quả kinh tế là một đại lượng so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra

Trang 33

22

∑ Tiêu hao năng lượng

∑ Lượng chất thải được xử lý

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu là khâu rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt các dữ liệu thu thập được sẽ làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá và phát triển của vấn đề nghiên cứu một cách chính xác và toàn diện hơn

 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp ở bải rác Gò Cát và các đơn vị ban nghành có liên quan và từ sách, mạng internet

 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp bằng cách phỏng vấn 70 người dân (chiếm khoảng 5% dân số trên toàn quận) sống trong quận Bình Tân để biết được nhận thức của họ về vấn đề môi trường và họ có đồng ý cho việc phân loại rác để thuận tiện cho việc xử lý hay không

3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được từ những nguồn khác nhau sẽ được tổng hợp lại và phân ra thành từng loại, từng mảng để tiện quản lý và sử dụng Những số liệu cần tính toán sẽ được nhập vào bảng tính excel và xử lý bằng phần mềm Eview 3.0

a) Phương pháp dự báo CTR

- Cơ sở dự báo

Lượng CTR phát sinh của đô thị phụ thuộc và dự báo dựa trên các yếu tố:

+ Dân số đô thị

+ Tốc độ phát triển kinh tế - xã hội

+ GDP bình quân đầu người

Lượng CTR còn phụ thuộc vào cơ cấu nhành nghề của đô thị trong tương lai và sự phát triển của công nghệ Ngoài ra lượng CTR còn phụ thuộc vào phong tục tập quán trong sinh hoạt của người dân ở mỗi vùng, mỗi quốc gia Thành phần CTR thay đổi theo

xu hướng: Giảm tỷ lệ chất hữu cơ, tăng tỷ lệ khối lượng giấy và các chất không phân hủy như bao bì, nhựa PVC, PP, PE,.v.v

Trang 34

- Phương pháp dự báo

+ Dự báo theo mức độ tăng trưởng GDP Lượng CTR phát sinh có liên quan đến tốc độ tăng trưởng kinh tế được phản ánh qua thu nhập bình quân đầu người và dân số

+ Dự báo theo quy mô dân số Lượng CTR phát sinh liên quan đến dân số Qua số liệu thống kê dân số và lượng CTR của từng giai đoạn để dự báo CTR trong tương lai trong cơ sở dự báo dân số

+ Dự báo CTR trên cơ sở nghành nghề

Lượng CTR được dự báo trên cơ sở các nghành nghề trong tương lai Mỗi ngành

có CTR khác nhau và lượng phát sinh khác nhau

b) Phương pháp thống kê mô tả

Là phương pháp sử dụng các yếu tố có sẵn trong quá khứ và hiện tại thể hiện thực trạng và tình hình vùng nghiên cứu Sau khi thu thập các số liệu cần thiết tiến hành phân tích tổng hợp, đánh giá nghiên cứu và phân phối kết quả nghiên cứu theo các mục tiêu nghiên cứu

c) Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí

Phân tích lợi ích – chi phí là một phương pháp đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau, khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho toàn xã hội

- Các bước thực hiện

+ Nhận dạng vấn đề và xác định các phương án giải quyết: đó là nhận dạng khoảng cách giữa tình trạng hiện tại và tình trạng mong muốn Sau đó các dự án, chính sách hoặc chương trình khác nhau được xác định để làm thu hẹp khoảng cách này và giải quyết vấn đề

+ Nhận dạng lợi ích và chi phí xã hội ròng của mỗi phương án: nhận dạng bản chất của lợi ích và chi phí xã hội thực của mỗi phương án

+ Ước tính và đánh giá lợi ích - chi phí của mỗi phương án: ở bước thứ ba này ta cố gắng tìm ra giá trị kinh tế cho lợi ích và chi phí xã hội của mỗi phương án

Ngày đăng: 14/06/2018, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w