1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chế tạo các loại ruột bầu ươm cây tiên tiến thân thiện với môi trường cho cây lâm nghiệp

55 335 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 13,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khóa luận tốt nghiệp đã đưa ra công thức chế tạo ruột bầu ươm sử dụng các vật liệu tiên tiến như polyme siêu hấp thụ nước và polyme liên kết đât PAM để ươm cay thông keo. khóa luận đưa ra công thức cụ thể của ruột bầu và chọn công thức tối ưu để ứng dụng ươm cây thông cây keo.

Trang 2

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới thầy PGS.TS Nguyễn Thế Hữu cùng toàn thểcác thầy cô trong Khoa Công nghệ hóa học - Trường Đại học Công nghiệp HàNội đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích và tạo mọi điều kiện để em

có khả năng hoàn thành khóa luận này

Em xin cảm ơn các thầy, các cô, bạn bè, người thân và các anh chị thuộcPhòng vật liệu polime - Viện hoá học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệViệt Nam đã dạy bảo, giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện cho em hoàn thànhkhoá học và thực hiện thành công khoá luận tốt nghiệp này

Tuy nhiên do việc tham gia nghiên cứu khoa học còn ít thời gian, việctiếp cận với thực tế chưa nhiều nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhấtđịnh mà bản thân chưa thấy được Em rất mong được sự góp ý của Quý Thầy

Cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2017 Sinh viên

Hoàng Thị Thu Hương

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

VINAGAMMA Trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ

Trang 5

DANH M C CÁC HÌNH Ụ

Trang 6

DANH M C CÁC B NG Ụ Ả

Trang 7

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, do điều kiện khí hậu, thời tiết có tính chấtbiến đổi khó lường, tình hình hạn hán kéo dài dẫn đến việc sản xuất nông,lâm nghiệp ngày càng khó khăn Trong quá trình trồng mới các loại cây nông,lâm nghiệp thì giai đoạn ươm và gieo trồng có tính chất quyết định đến khảnăng sinh trưởng và phát triển của cây trồng sau này

Bầu ươm cây là một sản phẩm không thể thiếu với mỗi nhà vườn trồngcây Nó giúp cây sinh trưởng tốt, giữ nước, khoáng tốt, và đặc biệt là ổn địnhcây khi vận chuyển xa Bầu ươm là môi trường trồng cây và chứa nguồn dinhdưỡng cẩn thiết để cung cấp cho cây trổng ở giai đoạn sinh trưởng và pháttriển đầu tiên Thành phần và đặc tính của ruột bầu và túi bầu đóng vai tròquyết định đến số lượng, chất lượng cây giống và thời gian cây lưu bầu

Hiện nay, phần lớn bầu ươm còn nhiều mặt hạn chế như: khối lượnglớn, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém, nguyên liệu không ổn định, vỏbầu khó phân hủy Do vậy, vấn đề tìm ra các loại vật liệu để cải thiện tínhnăng của bầu ươm như có thể giữ ẩm, giữ chất dinh dưỡng và có lợi cho câytrồng là rất cấp thiết

Đề tài “Nghiên cứu chế tạo các loại ruột bầu ươm cây tiên tiến thân thiện với môi trường cho cây lâm nghiệp” được đặt ra nhằm cải thiện một số

tính năng của bầu ươm trong sản xuất cây giống và phục vụ để sản xuất câygiống trong lâm nghiệp

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

1.1 Vai trò của bầu ươm trong sản xuất cây giống [1]

Trồng rừng bằng cây con là phương pháp phổ biến và chủ yếu ở nước tahiện nay Ươm cây con là công tác quan trọng và phức tạp Chất lượng câycon tốt hay xấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng rừng trồng và hiệu quảcủa công tác trồng rừng Nhiệm vụ của công tác ươm cây là trên một đơn vịdiện tích, với thời gian ngắn nhất sản xuất được số lượng cây con nhiều nhất,chất lượng tốt nhất, đồng thời giá thành hạ Muốn đạt được mục tiêu đó phảigiải quyết các khâu về lý luận và kỹ thuật tăng năng suất cây con, thực hiệnthâm canh trong công tác ươm cây Có nhiều phương pháp sản xuất cây connhư: Sản xuất cây con trên nền thấm nước và nền không thấm nước; Trongbầu dinh dưỡng; Sản xuất cây con bằng phương pháp nhân giống vô tính:(Chiết, ghép, giâm hom, nuôi cấy mô ) Mỗi phương pháp có đặc điểm riêng,

về mặt kỹ thuật không thể có quy trình chung cho tất cả các phương pháp.Tuy vậy về mặt nguyên lý đều có những đặc điểm chung là phải tạo đượcnguồn giống tốt điều kiện sinh trưởng của cây con phải thuận lợi

Bầu gieo ươm cấu tạo gồm 2 phần: Vỏ bầu và ruột bầu

- Vỏ bầu bằng PE: Đây là loại vỏ bầu hiện nay đang được sử dụng rấtphổ biến ở nhiều cơ sở sản xuất cây con trong cả nước, bởi vì tính ưu việt của

nó là: Bền, định hìnhđược ruột bầu tốt, gọn, nhẹ, khi bóng cây và vận chuyểncây đi xa tiện lợi và không dễ vỡ Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của loại vỏ bầunày là không tự hoại được trong đất sau khi trồng, khó trao đổi nước vàkhông khí với môi trường bên ngoài, dễ tạo ra hiện tượng bức nhiệt Kích

Trang 9

thước tuỳ thuộc vào tuổi nuôi cây mà định [2].

- Vỏ bầu bằng đất rơm: Thành phần gồm đất thịt + rơm rạ + phânchuồng hoài + lân được dùng khuôn đóng thành vỏ có kích thước tùy thuộcvào tuổi nuôi cây.Tỷlệ pha trộn: 100 kg đất + 3 kg rơm rạ + 2 kg phân chuồngloại trong đó có 5% phân lân Loại vỏ bầu này có thành phần chất dinh dưỡngcho cây, dễ lưu thông nước, không khí, vật liệu sẵn Tuy nhiên thời gian nuôicây không được lâu, khi bóng cây, vận chuyển đi trồng, nặng và dễ vỡ nếunuôi cây lâu rễ đâm xuyên qua vỏ bầu Một số nơi còn sử dụng loại vỏ bầubằng tre, nứa, đan Có thể tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có tại địaphương và thời gian nhàn rỗi để làm Ngoài ra trên thế giới hiện nay một sốnước tiên tiến còn sử dụng vỏ bầu bằng giấy, có nhiều tiện lợi song giá thànhcao so với các loại vỏ bầu khác

- Vỏ bầu hữu cơ: loại vỏ bầu này được làm từ thân lá, phụ phẩm nôngnghiệp nguyên liệu từ các sản phẩm phụ nông nghiệp dồi dào như rơm rạ vàthân lá cây trồng sau thu hoạch Kết quả thử nghiệm ban đầu cho thấy,loại vỏbầu hữu cơ có thể sử dụng tốt để trồngcác loại cây hàng năm và làm bầu chocác loại cây lâm nghiệp Người dân có thể sản xuất cácnguyên liệu làm bầu từcác nguồn vật liệu sẵncó tại địa phương, giúp tận dụng được nguyênliệu vànguồn lao động (Số liệu nghiên cứu chưa công bố) Sử dụng vỏ bầu hữu cơcông nghiệp (HCCN) cho phép tích hợp nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mớinhư: sử dụng phân viên nén, các loại phân chậm tan, các loại chất giữ nước,giữ ẩm, có thể trồng bằng máy… Do được tích hợp các công nghệ, bầuHCCN có các ưu điểm như giảm số lần bón phân, tưới nước, với một số loạicây trồng ngắn ngày không cần phải bón thúc sau khi ra bầu Cho đến nay cáckết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng vỏ bầu HCCN, kết hợp sửdụng các loại cá thể đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng cònrất ít

Ngoài hai loại vỏ bầu chính ở nước ta còn sử dụng vỏ bầu làm từ giấyhoặc gieo trực tiếp trên khay có lỗ Những loại vỏ bầu này thường ít sử dụng

do tính ưu việt của nó hạn chế

Trang 10

1.1.2 Ruột bầu

Ruột bầu là môi trường trực tiếp nuôi cây, thành phần ruột bầu gồm đất

và phân bón Đất làm ruột bầu thường sử dụng loại đất có thành phần cơ giớinhẹ hoặc trung bình, phân bón là phân hữu cơ đã ủ hoài (phân chuồng, phânxanh), phân vi sinh và phân vô cơ Tuỳ theo tính chất đất, đặc tính sinh tháihọc của cây con mà tỷ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp Ví dụ: Hỗnhợp ruột bầu để gieo ươm cây Keo là: 94% đất + 5% phân chuồng 1% supelân Hỗn hợp ruột bầu gieo ươm cây Mỡ là: 85% đất + 10% phân chuồng +4% đất hun + 1 % supe lân Đất đóng bầu nên chọn đất cát pha hoặc thịt nhẹđất tầng mặt có độ sâu từ 0 - 30 cm Tốt nhất là lấy được đất dưới tán rừngThông, Keo Theo kinh nghiệm của một số cán bộ lâm nghiệp lấy đất ở nơi cónhiều phân giun đùn lên là tốt Đất khai thác về cần được phơi ải, đập tơi nhỏ,sàng sạch cỏ rác, đá sỏi qua lưới sắt có đường kính lỗ sàng nhỏ 0,5 - 1 cm,thường khai thác và phơi ải đất trước 10- 15 ngày Phơi ải đất: Phun một ítnước cho đất đủ ẩm, rải đất dày 5-7 cm lên nền phẳng ngoài trời, dùng mộttấm vải mưa trong suốt phủ lên trên đống đất, lấy gạch hoặc khúc gỗ chặn kínmép của tấm vải mưa, để nguyên như vậy trong vòng 4-5 ngày là đủ

Đất ruột bầu sau khi đã xử lí xong, nếu chưa dùng đến ngay thì nên chấtđống bảo quan trong kho đất Nếu để ngoài trời thì lấy một tấm vải mưa phủlên trên để tránh cho đất bị nhiễm lại mầm mống sâu, nấm bệnh hoặc cỏ dại.Đất và phân để tạo hỗn hợp ruột bầu phải được trộn đều trước khi đóng bầu.Ruột bầu không nên đóng quá chặt hoặc quá lỏng, ruột bầu phải đảm bảo độxốp, độ ẩm Độ xốp của ruột bầu 60 - 70%, kích thước bầu phải phù hợp vớituổi nuôi cây

Bảng 1.1: Quy định cỡ bầu cho từng loại cây

Trang 11

Hình 1.2. Trình tự các bước

hơn), hoàn chỉnh bầu Luống để xếp bầu phải có nền phẳng Tuỳ theo tìnhhình khí hậu, đất đai mà tạo mặt bằng đáy luống chìm hay bằng Đáy luốngchìm bố trí thấp hơn mặt vườn ươm 5 - 7 cm, chiều rộng đáy luống 1 - 1,2 m,chiều dài luống tuỳ theo các khu đất của vườn, có thể 5, 10, 15 m Luốngbằng được bố trí bằng mặt vườn ươm Xếp bầu theo hàng tạo thành luống bầutheo đáy luống Dùng đất tơi mịn vun xung quanh luống để cố định luốngbầu

1.1.3 Tình hình nghiên cứu về bầu ươm trong nước

1.1.3.1 Sản xuất cây giống và sử dụng bầu ươm

Đối với cây ăn quả: Theo định hướng phát triển cây ăn quả của Bộ Nông

nghiệp và PTNT, đến năm 2010 sản lượng quả đạt 9 triệu tấn trên phạm vi cả

nước, trong đó 1,6triệu tấn dành cho xuất khẩu [3] Với sản lượng đó, diện tích

trồng cây ăn quả cả nước sẽ lên đến 1.000.000 ha, và hàng năm, diện tích cây ănquả nước ta tăng 6,2% Trên diện tích đó nhu cầu về cây giống mỗi năm, ướctính khoảng 20 triệu cây [4].Trong tổng điện tích cây ăn quả cả nước, xoài là cây

có diện tích lớn đứng thứ 5 sau nhãn (16,4%), cây có múi (15,3%), chuối (14%),vải (11,7%), diện tích xoài là 79,368 ha (năm 2004) chiếm 10,6%[5]

Để góp phẩn nâng cao chất lượng cây giống, việc tạo ra các loại bầu ươm

là rất quan trọng, bởi vì giảm được chi phí chuyên chở nhờ sử dụng bầu ươm nhẹ

và rút ngắn được các chu kỳ sản xuất nhờ tưới nước và bón phân cân đối, hợp lý[6]

Trang 12

Tuy nhiên, theo kết quả điều tra ở phía Bắc [4] phần lớn bầu ươm cây chưa đạtyêu cầu vì có những tổn tại sau: (i)nặng và chưa có độ kết dính nhất định, (iỉ)khả năng giữ nước kém, chưa được tiệt trùng, (iii) thiếu dinh dưỡng cho câytrong thời gian dài, (iv) nguồn nguyên liệu cung cấp chưa ổn định, (v) quy cách

áp dụng cho từng loại cây chưa đạt tiêu chuẩn

Tại Đông Nam bộ, Duyên hải Miền Trung và đồng bằng sông Cửu Longthường phối trộn bầu ươm từ than bùn, mụn xơ dừa, bã bùn mía, tro trấu và trodừa ươm giống cây ăn quả Theo Nguyễn Đăng Nghĩa [7], bên cạnh ưu điểm củabầu ươm loại này là xốp, sạch bệnh, khả năng giữ nước tốt, dinh dưỡng phù hợp,trữ lượng nguyên liệu nhiều, giá thành rẻ, còn tồn tại những nhược điểm sau: (i)chưa xác định được tỷ lệ phối trộn thích hợp cho từng đối tượng, chủng loại cây,(ii) chưa kiểm soát và khống chế được nguồn vi sinh vật gây bệnh cây, (iii) hàm

lượng dinh dưỡng chưa đáp ứng tối thích cho từng giai đoạn cây ở vườn ươm,

(iv) tỷ lệ sống của một vài cây chưa cao

Trong sản xuất giống cây ăn quả, chi phí cho hỗn hợp bầu ươm câythường chỉ chiếm tỷ lệ từ 10-15% tổng chi phí sản xuất cây giống Giá thành bầu

ươm cây ăn quả các loại ở mỗi nơi khác nhau, dao động trong khoảng từ 500

- 1.000 đ/bầu [4].

+ Đối với cây công nghiệp: Ngành chè, theo Quyết định 43 của Thủ

tướng Chính phủ, đến năm 2010 phải trồng mới 30 ngàn ha chè, với mật độ 1 vạn cây/ha thì phải cần tới 300 triệu cây chè giống [8] Như vậy, nhu cầu hàng năm về số lượng cây chè giống cho trồng mới khoảng trên 40 triệu cây Với

việc áp dụng kỹ thuật giâm cành, ngành chè có thể đáp ứng được nhu cầu trên,tuy nhiên, do điều kiện chăm sóc vườn ươm (bầu ươm, giống, bảo vệ thực vật )còn nhỏ lẻ, nên mới chỉ có khoảng 60 - 70% số lượng cây giống đạt tiêu chuẩnđược cung cấp cho sản xuất

Ở nước ta, đất phát triển trên phiến thạch mica, gơnai tương đối thích hợp

để giâm cành chè Sau khi bỏ lớp mặt 20 cm, đất giâm cành chè thường có thànhphần cơ giới là đất thịt trung bình, dung trọng 1,10-1,19 g/cm3, tỷ trọng 2,5-2/7g/cm3, độ xốp 53-57%, pHKC1 4,5-5,3, mùn tổng số 1,3-2,5%; N, P, K dễ tiêu

Trang 13

trong đất nghèo [8]

Tuỳ điều kiện sản xuất, giâm cành chè có thể áp đụng bằng 2 cách: (i)

giâm cành trực tiếp trên luống rộng l-l,2m, cao 15cm, mật độ (hàng-hàng) 8cm x (hom-hom) 4cm tương ứng 250 hom/m2, (ii) giâm cành trong bầu túi PExếp trên luống mật độ 250 bầu/m2 Hỗn hợp bầu ươm được đóng vào túi bầuhoặc đổ thành luống

Tài liệu của Cục Khuyến nông và Khuyến lâm [ 9-10] và Quỳnh Xuân

Thuỷ khuyến cáo làm bầu chè nên trộn 2 phần đất tơi xốp với 1 phần phân chuồng hoai mục, độ ẩm 60-70%, bầu được xếp lên luống rộng 1 - l,2m.

Theo biện pháp kỹ thuật giâm cành chè của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đất đóng bầu được chọn như sau: đất feralit đỏ vàng tơi xốp, tỷ trọng thấp, pHKCl 4,5-5,5, gạt lớp đất mặt, lấy ở lớp dưới lên đập nhỏ, phơi ải và

đóng bầu [11]

Tàiliệu của Cục Khuyến nông và Khuyến lâm [12], hướng dẫn giâm cành chè bằng cách cắm hom trực tiếp vào túi nilong, đáy túi đựng 1 lớp đất mặt trộn với tỷ lệ 50% phân chuồng hoai mục, phía trên 8cm là đất đỏ hoặc vàng, trọng lượng trung bình của 1 bầu đất từ 550-620 g/bầu Tưới nướcđạt 80 -

85% sức chứa ẩm tối đa Mỗi túi cắm 1-2 hom Xếp bầu từng luống thẳng hàng,

khoảng cách 2 luống 45-50cm Thời vụ cắm hom từ tháng 8 đến tháng 11 Thời gian cây giống trong bầu 8-11tháng Phân bón được bổ sung khi cây bắt đẩu ra rễ

(trung bình 80 ngày) như: Đạm, NPK, Urê, Supe photphat hoặc một số loại phân

hữu cơ.Chi phí sản xuất bầu ươm chè là khá thấp, giá thành bầu ươm chỉ chiếm

tỷ lệ khoảng 10% so với giá bán cây giống, thường từ 40 - 50 đ/bầu [4]

+ Đối với cây lâm nghiệp (thông, keo):Nhu cầu về giống cây rừng để đáp ứng

trên diện tích trồng mới hàng năm là rất lớn (trung bình từ 260-400 ngàn ha).Theo Nguyễn Dương Tài [13], nhu cầu giống lâm nghiệp hàng năm cho trồngrừng giai đoạn 2006-2010 là 159.535kg hạt giống và 586,67 triệu cây con giống.Tuy nhiên, chúng ta mới đảm bảo cung ứng được 30% cây giống có chất lượngtốt cho sản xuất, số còn lại sử dụng giống không rõ lai lịch.Theo tài liệu củaCông ty Giống và Phục vụ trồng rừng, thành phần ruột bầu gồm: đất rừng (tầng

Trang 14

A + một phẩn tầng BB) + phân chuồng hoai + phân vô cơ (NPK) Để tạo khả

năng cộng sinh của rễ cây với các vi sinh vật đất, nên trộn thêm đất mùn lấy ở rừng thông Cây lâm nghiệp thường yêu cầu hỗn hợp bầu ươm chua đến ít

chua, pH từ 5-6 Trộn hỗn hợp ruột bầu với các chất dinh dưỡng theo yêu cầu

của cây, cho qua sàng 0,5-l cm rồi đóng bầu [13] Theo Nguyễn Đình Thiêm và Phạm Văn Giáp [14] yêu cầu vẻ bầu ươm cho thông (12TCN 16-82 vầ 12TCN 17-82) như sau: (i) Ruột bầu: sét vật lí 25-35%, pHKC1 4-4,5, P2O5hh 1,54,8 mg/l00g, mùn 1,5-3,5%; (ii) Vỏ bầu PE với tuổi cây 12 tháng kích thước 6 x 12cm và 18 tháng: 7 x 13cm; (iii) Nguyên liệu làm bầu: đất mật độ sâu 50cm phát triển trên đá sa thạch, phấn sa, gơnai, phiến mica, liparit, granit, phiến

sét và bazan duới thực bì tế, ruột hoặc cây bụi có độ che phủ trên 50% Nhấtthiết phải có đất mùn thông, không sử đụng đất có pH > 5,5, đất giây hoá, đất sét

bí, đất cát rời Phân chuồng hoai ủ với lượng vôi vừa phải và supephotphat.Trong sản xuất cây giống lâm nghiệp giá thành bầu ươm khá thấp, chỉ

chiếm khoảng 8-10% giá bán cây giống Kết quả điều tra cho thấy: bầu ươm cây lâm nghiệp ở phía Bắc có giá thành dưới l00đ/bầu, còn ở phía Nam giá cao

hơn, thường từ 301- 400đ/bầu, có khi 600đ [4]

1.1.3.2 Nguyên liệu làm ruột bầu ươm

+ Đất mặt: Đất mặt tốt là đất có tỷ lệ 3 thành phần hợp lý 40% chất rắn

(khoáng chất và mùn), 30% nước, 30% không khí và có khả năng giữ chất dinhdưỡng cao, pH từ 5,5-7,5 và có hoạt động của vi sinh vật Đất sét có khả nănggiữ nước tốt, nhưng lượng không khí ít Đất cát có hàm lượng không khí caonhưng khả năng giữ nước kém [15] Đất trồng luôn có kết cấu Kết cấu đất hìnhthành nhờ các phần tử cơ giới (cát, limon, sét) có thể dính kết với nhau bởi keohữu cơ (humat canxi), keo vô cơ (oxit sắt, oxit nhôm), về phuơng diện nông hoá,cấu trúc viên và cấu trúc cục nhỏ có đường kính trong khoảng giới hạn từ 0,25-10mm được coi là cấu trúc tốt [16] Tùy theo tầng trong phẫu diện, C.A, NguyênMười [17] chia ra các tầng đất như sau: (i) tầng A-tầng rửa trôi có độ sâu 0-20cm, hàm lượng mùn, dinh dưỡng cao; (ii) tầng AB- tầng chuyển tiếp có độ sâu

Trang 15

20-40cm, (iii) tầng B-tầng tích tụ có độ sâu 40-150cm, (iv) tầng C-8 tầng mẫuchất 150-200cm, (v) tầng D-tầng đá mẹ >200cm Tuy nhiên, sự phân chia nàychỉ là tương đối vì còn phụ thuộc vào loại đất, nguồn gốc phát sinh và khôngphải tất các phẫu diện đều có đầy đủ các tầng đất như mô tả Bầu ươm chủ yếulấy đất tầng A hay tầng AB, trong trường hợp cần thiết cũng có thể lấy đất ở tầng

B làm nguyên liệu phối trộn bầu ươm

+ Cát: Cát là loại nguyên liệu rẻ tiền, luôn có sẵn và dễ làm sạch Cátthường dùng là cát thô vì cát mịn thoát nước kém Hai nhược điểm trong sử dụngcát là khối lượng của nó nặng khi ướt và tốc độ mất nước nhanh Cát tốt là cát

khai thác từ sông hồ, được rửa sạch, có đường kính từ 2,0-0,6mm [18].

+ Vermiculit: Ở nước ta, vermiculit có ở Phú Thọ, Quảng Ngãi, Lào Cai

và một số tỉnh Tây Bắc Tổng cục Địa chất đang có chương trình khảo sát,nghiên cứu chế biến và sử dụng loại nguyên liệu này Vermicuiit có thành phầngồm: SiO2-39%, Fe-16%, Al-14%, Mg-2,3%, Mn-1%, Cu-0,7%, Zn-0,28%, Co-0,8% Đây là nguồn bổ sung dinh dưỡng vi lượng tốt cho cây trong bầu

ươm Dung tích hấp thụ (OEC) đạt 19,5 meq/100g [19] Vermiculit có dạng vảy

như vảy cá, màu nâu, óng ánh như bạc pH 6,0-6,8 Khối lượng riêng từ 48-160

kg/m3 Vermiculit có thể nở ra gấp vài chục lần, nó vô cùng nhẹ (8,91-14,85

kg/m3), có phản ứng trung tính với tính đệm rất tốt và không tan trong nước,

có thể hấp thụ một lượng nước lớn 50% thể tích (45-60 lít/m3) [18-19]

Vermiculit sử dụng cho vườn ươm có 4 loại vảy với đường kính: 5-8 mm,

2-3 mm (là phần phổ biến chính), 1-2 mm và 0,75-1 mm, sử dụng chủ yếu để làmnguyên liệu phối trộn hỗn hợp bầu ươm rất tốt Hiện nay, quặng vermiculit đượckhai thác nhiều nên giá khá cao Đối với những địa phương có giá cả hợp lý thìnên sử dụng làm bầu ươm

+Than bùn:Than bùn giàu chất hữu cơ (4865,9%), giàu đạm (0,15 1,82%), amin tự do nhiều, nghèo lân và kali [20] 2 chỉ tiêu thường được dùng để

-đánh giá chất lượng than bùn là sức chứa ẩm và mức độ phân huỷ [21] Than

bùn nước ta có thể khai thác ở nhiều nơi, ví dụ mỏ than bùn ở Tam Dương, Vĩnh

Trang 16

Phúc có trữ lượng trên 5.000.000 tấn, hàm lượng hữu cơ khá cao (36,24% OM),

dung tích hấp thu lớn (20,88 me/100g) và nhiều dinh dưỡng

+ Trấu hun: Trấu hun có dung trọng nhỏ, nhẹ, độ hổng cao, thông khí tốt,giữ nước tương đối tốt, không gây ra quá khô hay quá ướt Trấu hun không chứanhiều dinh dưỡng, song hàm lượng kali rất cao (0,19-0,3%) Trấu hun kiềm tính

vì vậy trước khi sử dụng nên trung hoà Trấu hun hút ẩm nhiều, nên chú ý khitưới không để quá ẩm

+ Phế thải nguyên liệu nhà máy giấy: Phế thải nguyên liệu nhà máy giấy

có trữ lượng khá lớn, riêng Công ty giấy Bãi Bằng thải ra từ 5.000-15.000

tấn/năm Phế thải này gồm: vỏ cây, vụn gỗ, dăm tre nứa, độ ẩm 30-35%, pHKCl 5,7-6,0 được nghiền vụn, rây sàng Muốn sử dụng, phế thải cần phải ủ để phân

giải chất xơ (xenlulo), chất hữu cơ và các thành phần khác [4]

+ Mùn xơ dừa:Mùn xơ dừa là sản phẩm phụ từ chế biến quả và cây dừa Sau xử lý, mùn xơ dừa có ưu điểm là xốp, sạch bệnh, giữ nước tốt, dinh dưỡng

phù hợp, giá rẻ và trữ lượng lớn Riêng tỉnh Bến Tre, hàng năm có khoảng 30.000 tấn Mụn xơ dừa có pH là 5,5 và tính đệm tốt nên rất ổn định, trước khihoạt hóa vi sinh phải xử lý bằng dung dịch kiềm Mùn xơ dừa có hàm lượng lignin,

20.000-taninvà xenlulo cao, tỷ lệ C/N là 80/1, độ xốp 10-12% Dùng nước vôi 5% ngâm 2 ngày, sau đó sử dụng vi sinh vật (nấm mốc và xạ khuẩn) hoặc chế phẩm EMBokashi 7% xử lý 20-30 ngày, sản phẩm thu được dùng làm bầu ươm hay

phân bón rất tốt Điều này là do sau khi xử lý, tính chất của mùn xơ dừa đã biến

đổitheo hướng có lợi [7].

+ Phân chuồng: Phân chuồng được dùng phổ biến để sản xuất bầu ươm,

có ưu điểm là chứa đ các nguyên ủ tố dinh dưỡng: đạm, lân, kali, canxi, magie, silic, đồng, kẽm, mangan, coban, bo, molipđen tuy hàm lượng không cao Để

làm bầu ươm, phân chuồng phải qua chế biến bằng cách xếp thành lớp rộng, nén

chặt thành đống cao 1,5-2,0m, trát kín bùn, ở giữa chọc một lỗ hình phễu để tưới nước, ủ từ 2 đến 6 tháng Nên ủ phân chuồng với đất bột, supe photphat (tỷ lệ 2%), vôi (3-5%) cho phân nhanh hoai mục, bớt chua, các visinh vật hoạt động thuận tiện Phân chuồng, phụ thuộc vào thời gian ủ, có các chỉ tiêu chất

Trang 17

lượng như sau: pHKCl: >7; dung trọng: 0,2-0,4g/cm3; chất hữu cơ: 17,5-19,5%;CEC: 16-20me/100g; N tổng : 0,60-0,73; P2O5 tổng: 0,38-0,48%; K2O tổng:0,64-0,84 [4].

1.2 Sử dụng một số loại vật liệu tiên tiến trong chế tạo bầu ươm

1.2.1 Polyme siêu hấp thụ nước

Polyme siêu hấp thụ nước là loại polyme dạng hydrogel không tan nhưng

có khả năng hấp thụ nước cao Có 3 loại hydrogel chính là: copolyme ghép tinhbột, polyacrylat tạo lưới và polyacrylamit tạo lưới

Polyme siêu hấp thụ nước được biết tới vào đầu những năm 1950 cùng vớiviệc đưa các chất đa điện ly tổng hợp để làm bền và gia cố cấu trúc đất [22] Việc

sử dụng hydrogel làm tăng lượng ẩm sẵn có ở vùng rễ, nhờ đó kéo dài khoảngthời gian giữa các lần tưới Khả năng giữ nước phụ thuộc vào cấu trúc đất, loạihydrogel và kích thước hạt (bột hoặc hạt), độ muối của dung dịch đất và sự cómặt các ion

Sản phẩm thường được bán trên thị trường có khả năng hấp thụ 350- 400gnước/1g polyme khô và tạo ra một nguồn nước dự trữ trong đất để cây trồng hấpthu Việc sử dụng polyme siêu hấp thụ nước để giữ ẩm và dinh dưỡng, sử dụngnước và phân bón hiệu quả ngày càng trở nên quan trọng đặc biệt khi nguồnnước sẵn có bị hạn chế

1.2.1.1 Ảnh hưởng của polyme siêu hấp thụ nước tới khả năng giữ ẩm và tính chất đất

Polyme siêu hấp thụ nước có khả năng cải tạo tính chất đất nhờ hấp thụmột lượng lớn nước Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng polyme siêu hấp thụ nước cóthể giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển trong đất có nguy cơ bị hạn hán.Polyme này cũng làm tăng khả năng giữ nước của đất cát và làm chậm thời điểmcây héo khi bay hơi mạnh Bổ sung polyme siêu hấp thụ nước cũng làm giảm tốc

độ bay hơi của đất [23]

Trang 18

Cơ chế trương và hấp thụ nước của polyme siêu hấp thụ nướcpolyacrylat được minh hoạ trên hình 1.3.

Hình 1.3 Cơ chế trương và hấp thụ nước của polyme siêu hấp thụ nước

Trang 19

Mạch chính polyme có chứa các nhóm -COOH và COO- ưa nước Khiđưa vào môi trường nước, có sự tương tác giữa polyme và dung môi, đó là sựhydrat hoá do các nhóm -COO- và ion Na+ hút các phân tử nước phân cực vàliên kết hydro giữa các phân tử nước (tương tác tĩnh điện) Các hiệu ứng nàylàm giảm năng lượng và làm tăng entropy của hệ Do bản chất ưa nước, cácmạch polyme có xu hướng phân tán không hạn chế trong nước (xu hướng tantrong nước), quá trình này cũng làm tăng entropy Nhờ sự có mặt của chất tạolưới tạo thành mạng lưới 3 chiều, lực co đàn hồi của mạng lưới ngăn polymetrương không hạn chế (hoà tan), kèm theo sự giảm entropy của mạch, khichúng trở nên cứng hơn so với trạng thái cuộn rối ban đầu Có một cân bằnggiữa lực co đàn hồi mạng lưới và xu hướng trương không xác định của mạch.Đối với các polyme có tính ion, các mạch được trung hoà chứa các điện tíchcùng dấu đẩy lẫn nhau Tính trung hoà điện tích được duy trì khi các nhóm-COO- tích điện âm được cân bằng với các ion Na+ tích điện dương Khi tiếpxúc với nước, các ion Na+ bị hydrat hoá làm giảm lực hút của chúng đối vớicác nhóm -COO- (do hằng số điện môi của nước cao) Quá trình này cho phépcác ion Na+ chuyển động tự do bên trong mạng lưới tạo thành áp suất thẩmthấu bên trong gel Tuy nhiên, các ion Na+ linh động không thể dời khỏi gel

do chúng vẫn bị hút yếu với các nhóm -COO- dọc theo mạch chính polyme vàgiống như là bị giữ lại bởi một màng bán thấm Do đó, động lực của quá trìnhtrương là chênh lệch áp suất thẩm thấu bên trong và bên ngoài gel

Việc sử dụng hydrogel làm tăng hiệu quả sử dụng nước do nước thấmqua vùng rễ sẽ bị giữ lại Trong những ngày nắng nóng, hệ rễ tóc của thực vật

sẽ hút và làm cạn kiệt hầu hết nước ở khu vực gần vùng rễ làm cho cây bịhéo Nhờ làm tăng lượng ẩm hữu hiệu, hydrogel giúp làm giảm áp lực nướccủa thực vật, nhờ đó thúc đẩy quá trình phát triển và tăng năng suất cây trồng.Hydrogel cũng làm giảm sự rửa trôi phân bón và là chất mang thuốc trừ sâu,diệt nấm và diệt cỏ [24]

Trang 20

Nghiên cứu bổ sung hydrogel vào đất nghèo giúp cải thiện khả nănghấp thu dinh dưỡng của cây trồng và giảm thiểu thất thoát dinh dưỡng do rửatrôi Hydrogel cũng hoạt động như một loại phân bón nhả chậm chất dinhdưỡng [25-26] Điều này chứng tỏ hydrogel không chỉ có khả năng giữ ẩm,tăng năng suất cây trồng mà còn giảm thiểu rửa trôi chất dinh dưỡng, nhờ đóngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước ngầm.

Iran là vùng đất khô, các hệ thống sản xuất mùa màng đều phải thíchnghi với điều kiện khí hậu này Để tiết kiệm ẩm trong đất, nhiều loại vật liệu

đã được sử dụng như tàn dư thực vật, cây phủ bổi, chất thải, rác, rơm, rạ vàpolyme siêu hấp thụ nước Phân bò làm tăng sự hấp thụ K và photphat.Polyme siêu hấp thụ nước làm tăng sự hấp thụ N, P, K Ảnh hưởng kết hợpcủa phân bò và polyme siêu hấp thụ nước làm tăng sự hấp thu dinh dưỡng,dung tích trao đổi cation (CEC) và cung cấp ẩm cho đất Sự hấp thụ tối đalàm tăng năng suất 16,2% và hấp thu đa lượng 9,6% ở cây ngô [27] Năngsuất hạt đạt cực đại khi sử dụng 65% phân động vật và 35% polyme siêu hấpthụ nước [28]

Nhiều tác giả thừa nhận rằng khi bổ sung polyme siêu hấp thụ nước vàođất có thể có các tác dụng sau: chống xói mòn đất và dòng chảy mặt, tăng khảnăng thấm, tăng kích thước đoàn lạp đất, giảm dung trọng đất, tăng khả nănggiữ nước, cải thiện khả năng sống sót của cây trồng chịu hạn, cải thiện khảnăng thu hồi dinh dưỡng từ phân bón đã sử dụng và giảm tần suất tưới

1.2.1.2 Ảnh hưởng của polyme siêu hấp thụ nước tới sự phát triển cây trồng

Trang 21

Nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng polyme siêu hấp thụ nước làm tăngkhả năng nảy mầm và phát triển, tăng khả năng sống sót của cây cũng nhưkéo dài thời hạn sử dụng của cây cảnh trong chậu Bổ sung hydrogel vào đất

có thể kích thích sự phát triển của cây dưa chuột, làm tăng khối lượng khôcủa xà lách, củ cải và lúa mì trong môi trường cát [29] hay tăng khối lượng

trung bình của thân, rễ và chiều cao măng Pinus patula tới hơn 800 % [30].

Hydrogel cũng làm tăng số hoa và khối lượng khô của cây dã yên thảo (thuốc

lá cảnh) trong điều kiện khô hạn [31] Đối với cây đậu tương, việc áp dụngpolyme siêu hấp thụ nước với tỷ lệ 225kg/ha làm tăng cả quá trình phát triển

và năng suất Năng suất hạt, chất khô tổng số, chỉ số diện tích lá, tốc độ pháttriển của cây và chỉ số thu hoạch đều đạt cao nhất ở tỷ lệ này [32]

Độ ẩm thấp, đặc biệt ở những vùng khô hạn và mưa ít thường hạn chế

sự sinh trưởng của cây nông nghiệp phát triển từ hạt Sự hấp thụ nước của hạt

và tốc độ nảy mầm sau đó phụ thuộc chủ yếu vào độ ẩm trên bề mặt phâncách hạt- đất Hơn nữa, bổ sung polyme siêu hấp thụ nước vào đất cũng làmgiảm áp lực trước và sau khi nảy mầm như tạo váng đất và làm cho đất khônhanh

Woodhouse và Johnson [33] đã bổ sung polyme siêu hấp thụ nước vàocát silic làm khô trong không khí (0,2-2,0mm) giúp tăng tỷ lệ nảy mầm nhờtăng lượng nước sẵn có Sản phẩm polyme siêu hấp thụ nước với sức căngliên kết với nước trong khoảng hiệu lực cho cây trồng có khả năng tăng độ ẩmxung quanh hạt nảy mầm Đưa polyme vào đất cát giúp cải thiện cấu trúc đất,

tăng khả năng nảy mầm của lúa mì (Hordeum vulgare), cỏ ba lá trắng (Trifolium repens) và xà lách (Lactuca sativa) Khả năng nảy mầm của mẫu

đối chứng chỉ đạt 10% trong khi các mẫu có bổ sung polyme siêu hấp thụnước, tỷ lệ nảy mầm tăng từ 3 đến 6 lần Tuy nhiên, polyme siêu hấp thụ nướcvẫn có thể làm giảm tỷ lệ nảy mầm ở một số loại cây do cung cấp quá nhiềunước, dẫn đến hạt bị trẩm

Trang 22

Polyme siêu hấp thụ nước không những tác động đến quá trình sinhtrưởng và phát triển, năng suất của cây trồng mà còn ảnh hưởng có lợi đếnmột số đặc điểm trao đổi chất, hoạt tính các enzyme trong thực vật Thựcnghiệm đã được tiến hành với việc bổ sung hydrogel cho cây yến mạch với tỷ

lệ 60kg/ha sử dụng 3 mức nước tưới (đầy đủ, trung bình và thiếu) nhằm hiểu

rõ hơn cơ chế chịu hạn vả cải thiện chiến lược quản lý nước trong đất Kếtquả cho thấy hàm lượng nước tương đối trong lá ở cây yến mạch có sử dụngpolyme siêu hấp thụ nước thì cao hơn nhiều Mặc dù polyme ít có ảnh hưởngtới sự tích luỹ sinh khối trong điều kiện tưới đủ và trung bình nhưng nó vẫnlàm tăng sinh khối 52,7% trong điều kiện tưới thiếu Trong điều kiện tướikhông đủ, cây trồng đều bị giảm hoạt tính các enzyme catalaza, peroxidaza,ascorbate peroxidaza và glutathion reductaza trong lá so với đối chứng [34]

Nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng polyme siêu hấp thụ nước làm tăngkhả năng nảy mầm và phát triển, tăng khả năng sống của cây cũng như kéodài thời hạn sử dụng của cây cảnh trong chậu Khi bổ sung polyme siêu hấpthụ nước vào đất có thể kích thích sự phát triển của cây dưa chuột Khốilượng khô của xà lách, củ cải và lúa mì đều tăng khi đưa polyme siêu hấp thụnước vào môi trường cát Trong một thí nghiệm được tiến hành bởi Theron[35], khối lượng trung bình của thân, rễ và chiều cao trung bình của măng

Pinus patula tăng tương ứng 830, 750 và 340% so với đối chứng khi cây

được trồng trong polyme siêu hấp thụ nước

Một thí nghiệm được tiến hành bởi Boatright, Balint, Mackay &Zajicek [36]cho thấy số hoa và khối lượng khô của cây dã yên thảo (thuốc lácảnh) tăng khi được trồng trong đất có bổ sung polyme siêu hấp thụ nướctrong điều kiện khô Polyme có thể duy trì độ ẩm cao hơn so với môi trườngkhông có polyme

Trang 23

Nghiên cứu bổ sung polyme siêu hấp thụ nước vào đất nghèo giúp cảithiện khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây trồng và giảm thiểu thất thoát chấtdinh dưỡng do rửa trôi Trong điều kiện rửa trôi cao, sự phát triển của cỏ đuôitrâu được cải thiện và khả năng tích luỹ N trong lá tăng cũng như giảm N bịrửa trôi Polyme siêu hấp thụ nước cũng hoạt động như một loại phân bón nhảchậm chất dinh dưỡng Mikkelsen [37] đã thí nghiệm với 4 công thức mangancho đất trồng đậu tương để xác định ứng đáp khi polyme có trong đất Tất cảcây đậu tương đều có hàm lượng mangan và sinh khối cao hơn trừ những câyđối chứng không có polyme Trong một thí nghiệm so sánh ảnh hưởng củatrận mưa 2000mm tới quá trình rửa trôi phân bón trong đất cát thấy rằngpolyme siêu hấp thụ nước có thể lưu giữ được lượng N nhiều hơn 400%, Knhiều hơn 300% so với các loại phân bón nhả chậm và nhả nhanh tiêu chuẩn[38] Điều này chứng tỏ polyme siêu hấp thụ nước không chỉ có thể tăng năngsuất và giữ ẩm mà còn giảm thiểu rửa trôi chất dinh dưỡng, nhờ đó ngăn ngừa

ô nhiễm nguồn nước ngầm

1.2.1.3 Khả năng phân huỷ sinh học của polyme siêu hấp thụ nước

Trang 24

Quá trình phân huỷ sinh học trong đất của 2 loại polyme siêu hấp thụnước, polyacrylat không tan và copolyme polyacrylat/polyacrylamit không

tan đều được tạo lưới, bởi nấm que trắng Phanerochaete chrysosporium đã

được nghiên cứu Cả 2 loại polyme đều bị hoà tan và khoáng hoá bởi nấmnhưng quá trình hoà tan và khoáng hoá của copolyme nhanh hơn làpolyacrylat Vi khuẩn đất hoà tan polyme kém hơn và không có khả năngkhoáng hoá polyme nguyên vẹn Tuy nhiên, vi khuẩn đất kết hợp với nấmtrong quá trình phân huỷ polyme trong đất, nấm hoà tan polyme và vi khuẩnđất thúc đẩy quá trình khoáng hoá Hơn nữa, các vi khuẩn đất có khả năng

khoáng hoá cả 2 loại polyme sau quá trình hoà tan bởi Phanerochaete

chrysosporium phát triển trong điều kiện tạo ra peoxidaza nấm hay cellobiose

dehydrogenaza hay sau quá trình hoà tan bởi tác nhân Fenton phát quang hoá.Kết quả chứng tỏ rằng quá trình phân huỷ sinh học của các polyme này trong

đất tốt nhất trong điều kiện tăng tối đa quá trình hoà tan Khi Phanerochaete

chrysosporium được nuôi cấy trong điều kiện thúc đẩy sự giải phóng Cellobiose dehydrogenaza (CDH) mà không phải là các peoxydaza phân huỷ

lignin thì nấm hoà tan và khoáng hoá hiệu quả cả 2 loại polyme siêu hấp thụnước Thêm sắt vào mẻ cấy vi khuẩn cũng làm tăng hoạt tính CDH cũng nhưtốc độ và mức độ hoà tan và khoáng hoá cả 2 loại polyme Cả 2 loại polymeđều bị hoà tan khi được nuôi CDH tinh chế, ion sắt (II) và hydropeoxit [39]

Trang 25

Quá trình hấp thụ, phân bố, tỷ lệ và con đường bài tiết một loại polymesiêu hấp thụ nước polyacrylat sau khi cung cấp một liều duy nhất qua miệng

đã được đánh giá Các con chuột đực được cung cấp một liều duy nhất từ 26đến 39mg/kg Khoảng 98,8% tổng liều cung cấp được bài tiết trong nước tiểutrong 5 ngày và hầu hết (khoảng 88%) được bài tiết trong 24 giờ đầu Bài tiếtqua nước thải chiếm khoảng 0,69% tổng liều cung cấp Việc thu hồi hoạt tínhphóng xạ trong các cơ quan, mô và thân thường nhỏ hơn 0,5% liều được cungcấp Mức hoạt tính phóng xạ tổng cộng trong máu nằm trong khoảng 0,75 đến1,2 ́ g đương lượng/g Việc loại bỏ hoạt tính phóng xạ tổng cộng qua mậtchiếm không tới 0,1% liều được cung cấp Kết quả cho thấy polyme siêu hấpthụ nước bị hấp thụ rất ít và bị loại bỏ nhanh trong nước tiểu sau khi cung cấpqua miệng [24]

1.2.1.4 Nghiên cứu ứng dụng của polyme siêu hấp thụ nước tại Việt Nam

Hiện nay polyme siêu hấp thụ nước đã được một số Viện Nghiên cứu ởnước ta như: Viện Hoá học- Viện Hàn lân KH&CN Việt Nam, Trung tâmnghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ (VINAGAMMA), Viện Công nghệHóa học TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu chế tạo loại vật liệu này theo nhiềucon đường khác nhau Trong đó Viện Hoá học đã chế tạo polyme siêu hấp thụnước trên cơ sở quá trình trùng hợp ghép gốc tự do axit acrylic và muốiacrylat lên tinh bột sắn có mặt chất tạo lưới divinyl Sản phẩm có độ hấp thụnước 350g/g Thời gian phân huỷ hoàn toàn trong đất từ 12-15 tháng và cóthể phát huy tác dụng từ 2-3 vụ

Trên đất bạc màu Sóc Sơn, sử dụng polyme siêu hấp thụ nước đã làmtăng độ ẩm đất, tăng sức chứa ẩm và tăng khả năng tạo đoàn lạp đất, tạo chođất có kết cấu, có chế độ ẩm thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển.Trên đất bạc màu, bón AMS-1 với mức 50kg/ha làm tăng năng suất phụ phẩm7-28%, làm tăng năng suất nông sản (hạt, củ) 11-23% [41]

Trang 26

Hình 1.4: Hình ảnh mô tả polyme siêu hấp thụ nước trước khi hấp thụ

nước (a); sau khi hấp thụ nước (b) và mô tả quá trình giữ nước cho của

Trên đất cát ven biển tại Thừa Thiên Huế, sử dụng chất giữ ẩm AMS-1

có thể duy trì độ ẩm, tăng khả năng sinh trưởng và phát triển cây trồng Vớiliều lượng chất giữ ẩm 35kg/ha, năng suất dưa hấu vụ hè thu có thể tăng tới71,6% so với đối chứng Đối với cây lạc vụ đông xuân trên đất cát nội đồng,

sử dụng chất giữ ẩm với liều lượng 35kg/ha làm tăng năng suất lạc lên 45,5%.Mặc dù không phải bổ sung thêm trong vụ hè thu, chất giữ ẩm vẫn duy trìhiệu lực tồn dư và tăng năng suất 56,6% so với đối chứng Polyme siêu hấpthụ nước AMS-1 làm tăng khả năng sinh trưởng, phát triển, tăng năng suấtcây trồng trên đất gò đồi Với liều lượng chất giữ ẩm 35kg/ha cho 2 vụ, năngsuất lạc vụ đông xuân có thể tăng 41,3%, vụ hè thu tăng 55,2% so với đốichứng [42]

Polyme siêu hấp thụ nước cũng có tác động tích cực đến sự sinh trưởng

và phát triển của cây chè trồng mới cũng như chè kinh doanh ở Hải Hà,

Trang 27

Quảng Ninh Đối với cây chè trồng mới, các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triểnkhi sử dụng AMS-1 đều cao hơn so với đối chứng, trong đó công thức35kg/ha cho kết quả tốt nhất Cụ thể tỷ lệ cây chết giảm rõ rệt, khả năng phâncành tăng 27,6%, khối lượng rễ khô và chiều cao cây tăng đáng kể so với đốichứng Nhờ đó, có thể giảm công chăm sóc, tưới tiêu, tăng năng suất chè vàđem lại hiệu quả kinh tế cao hơn Đối với chè kinh doanh, các chỉ tiêu sinhtrưởng và phát triển của mô hình khảo nghiệm cơ bản và khảo nghiệm sảnxuất có sử dụng AMS-1 đều tăng lên rõ rệt, đặc biệt năng suất thu hoạch búptươi tăng khoảng 22,5% so với đối chứng [43].

Các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của polyme siêu hấp thụ nước đến

sự sinh trưởng và phát triển của một số cây phân xanh họ đậu (cốt khí, cúcThái Lan, đậu mèo, kudzu) trồng trên bãi thải khai thác than của mỏ than NúiHồng - Thái Nguyên cho thấy loại polyme này có ảnh hưởng tích cực đến quátrình sinh trưởng và phát triển của cây, tỷ lệ cây sống, tỷ lệ che phủ đất, năngsuất sinh khối và năng suất chất xanh vượt trội so với đối chứng Tỷ lệ AMS-

1 phù hợp là từ 75-80kg/ha [44]

Qua triển khai ứng dụng ở quy mô sản xuất tại nhiều địa phương, đãchứng minh được khả năng của polyme siêu hấp thụ nước AMS-1 trong việcgiữ ẩm, chống hạn, cải tạo đất và tăng cường quá trình sinh trưởng, phát triểncủa nhiều loại cây trồng, bảo vệ môi trường đem lại các kết quả có ý nghĩakinh tế và xã hội cao

Trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ (VINAGAMMA)

đã nghiên cứu chế tạo chế phẩm có tên gọi “Gam-sorb” Đây là gel polyme từtinh bột sắn biến tính, có khả năng hấp thụ nước cao khoảng vài trăm lần sovới khối lượng khô của chúng ở dạng bột, hạt, vảy để điều hoà độ ẩm Thờigian phân hủy của loại Gam-sorb này khá dài Sau 9 tháng chôn trong đất, sảnphẩm tự phân hủy 85,5% Theo nhóm tác giả thì sản phẩm này thích hợp vớimột số loại cây trồng như: cây dâu tây, cây thông đỏ, cây cải ngọt, cây raumuống… là những cây trồng ngắn ngày, có nhu cầu tăng vụ vào những thờiđiểm khô hạn ở các vùng như Tây Nguyên và Trung Trung Bộ

Ngày đăng: 14/06/2018, 09:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w