Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý Khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp tại Trường Quản lý Khoa học và công nghệ) (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý Khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp tại Trường Quản lý Khoa học và công nghệ) (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý Khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp tại Trường Quản lý Khoa học và công nghệ) (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý Khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp tại Trường Quản lý Khoa học và công nghệ) (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý Khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp tại Trường Quản lý Khoa học và công nghệ) (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý Khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp tại Trường Quản lý Khoa học và công nghệ) (Luận văn thạc sĩ)Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý Khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp tại Trường Quản lý Khoa học và công nghệ) (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN THỊ THU HÀ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
NHÂN LỰC QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG QUẢN LÝ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số : 8.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN QUANG TUẤN
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 8
1.1 Tổng quan về chất lượng đào tạo nhân lực Khoa học Công nghệ 8 1.2 Nguồn nhân lực,nhân lực KH&CN và nhân lực quản lý KH&CN 14 1.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý KH&CN 18 1.4 Kinh nghiệm nước ngoài 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CHÂT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC QUẢN LÝ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TẠI TRƯỜNG QUẢN
LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 27
2.1 Thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Trường Quản lý Khoa học
và Công nghệ 28 2.2 Thực trạng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý KH&CN 37
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC QUẢN LÝ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TÀI TRƯỜNG QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 56
3.1 Bối cảnh chung 57 3.2 Định hướng phát triển Trường Quản lý KHCN 59
3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản ly KHCN
của Trường trong thời gian tới 61
KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM THẢO 76
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy cuộc chạy đua rất quyết liệt trong việc phát triển nguồn nhân lực tại các quốc gia, các khu vực trên thế giới Việc nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế là nhiệm vụ sống còn của mỗi quốc gia
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
Trong các nguồn lực phát triển, nguồn lực con người được xem là yếu
tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Hơn nữa, hiện nay nhân tố con người trong phát triển khoa học và công nghệ nói chung và quản lý khoa học
và công nghệ nói riêng lại càng phải được quan tâm hơn bao giờ hết, hơn bất
cứ một lĩnh vực hoạt động nào khác trước những đòi hỏi to lớn của giai đoạn phát triển: Cùng với giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ
Trong thực tế, từ năm 2000 đến nay, các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về khoa học và công nghệ liên tục được bổ sung, hoàn thiện, đặc biệt là Nghị quyết số 20 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nội dung Nghị quyết cũng đã nêu rõ các nhiệm vụ và giải pháp trong giai đoạn phát triển hiện nay, trong đó có nhiệm vụ và giải pháp về phát triển nhân lực khoa học và công nghệ: Xây dựng và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ, tôn vinh đội ngũ cán bộ khoa học và
Trang 5công nghệ, nhất là các chuyên gia giỏi, có nhiều đóng góp Tạo môi trường thuận lợi, điều kiện vật chất để cán bộ khoa học và công nghệ phát triển bằng tài năng và hưởng lợi ích xứng đáng với giá trị lao động sáng tạo của mình Nâng cao năng lực, trình độ và phẩm chất của cán bộ quản lý khoa học và công nghệ ở các ngành, các cấp
Hiện nay, có thể nói chất lượng bồi dưỡng công chức nói chung và công chức quản lý khoa học và công nghệ thuộc Bộ KH&CN nói riêng ở nước ta đã được quan tâm thực hiện từ nhiều năm qua Tuy nhiên, cho đến nay việc thực hiện vẫn chưa toàn diện, hệ thống và đồng bộ Các chương trình bồi dưỡng chỉ mới được tập trung vào việc thực hiện mục tiêu là cung cấp những kiến thức và kỹ năng cơ bản, nhằm từng bước nâng cao trình độ nghiệp
vụ, làm cơ sở để thực hiện có hiệu quả các công việc thuộc phạm vi quản lý
và hoàn thiện hoạt động nghề nghiệp chuyên môn cho đội ngũ công chức quản lý khoa học và công nghệ
Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ CNH, HĐH, việc tăng cường năng lực khoa học công nghệ và đổi mới, sáng tạo là một đòi hỏi mang tính cấp bách, là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cũng như từng địa phương trên toàn quốc Điều đó có nghĩa là việc huy động và sử dụng các nguồn lực KH&CN phục vụ tích cực cho khả năng đổi mới, sáng tạo, nâng cao nhanh chóng trình độ công nghệ chung Định hướng này thể hiện thông qua tiếp nhận, thích nghi và ứng dụng thành công các tiến bộ KH&CN cho việc sáng tạo và đổi mới công nghệ, nhập và làm chủ công nghệ thích hợp Việc thực hiện khả năng ấy phải được dựa trên một năng lực khoa học ở một trình độ nhất định và đầu tư các nguồn lực KH&CN
Một trong những động lực phát triển khoa học công nghệ và xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và cán bộ quản lý khoa học và công nghệ là thiết lập
cơ chế cạnh tranh Ở các quốc gia nói trên, nhà nước tạo ra các cơ chế, chính sách để thực hiện cạnh tranh trong việc tuyển chọn các vị trí làm việc trong bộ
Trang 6máy, các vị trí nghiên cứu khoa học và công nghệ; tạo cơ chế để các đơn vị nghiên cứu tham gia cạnh tranh, đấu thầu thực hiện các đề tài, dự án, đề án nghiên cứu khoa học; tạo điều kiện để các đơn vị trong nước tham gia cạnh tranh giành các đề án, dự án khoa học và công nghệ ở nước ngoài Nhờ đó mà tăng cường năng lực, trình độ và sức cạnh tranh của từng nhà khoa học, từng tập thể nghiên cứu trên thị trường trong nước cũng như quốc tế, tăng cường hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ
Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ xác định “phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế” Chiến lược phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia giai đoạn 2011-
2020 cũng xác định “khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực then chốt, đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đến năm 2020, khoa học và công nghệ Việt Nam có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến, hiện đại của khu vực ASEAN và thế giới”
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhất là sau khi nước ta
đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới luôn là vấn đề đặt ra đối với các ngành, các địa phương, trong đó có ngành KH&CN
Nhân lực quản lý khoa học và công nghệ chủ yếu được đào tạo, bồi dưỡng từ hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của Bộ Khoa học và Công nghệ, tiêu biểu là Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ Ngoài ra, trong mấy năm trở lại đây, một số cơ sở đào tạo đại học và sau đại học ở trong nước
đã bắt đầu đào tạo lực lượng này
Ngoài ra, Trường Quản lý khoa học và công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ còn tổ chức đào tạo hoặc phối hợp với các cơ sở khác để đào tạo,
Trang 7bồi dưỡng kiến thức về lý luận chính trị, quản lý nhà nước ngạch công chức (tiền công vụ, chuyên viên, chuyên viên chính, kiểm soát viên và kiểm soát viên chính chất lượng sản phẩm hàng hóa), ngoại ngữ, tin học và một số kỹ năng quản lý khác
Mỗi năm, có hàng nghìn lượt cán bộ quản lý khoa học và công nghệ được đào tạo, bồi dưỡng các nội dung này
Tuy nhiên, năng lực đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của xã hội góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước của Trường QLKH&CN cũng còn rất nhiều hạn chế và bất cập
Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Trường, theo đó là góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá của ngành khoa học và công nghệ cũng như việc
chuẩn bị cho hội nhập vào nền công nghiệp 4.0 của đất nước, đề tài : Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý KH&CN (nghiên cứu trường hợp tại Trường Quản lý KH&CN) đã được lựa chọn để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong các năm qua đã có một số Nhiệm vụ KH&CN từ cấp nhà nước đến cấp Bộ và cấp cơ sở được thực hiện và hầu hết đều có liên quan đến vấn
đề ”nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” Cụ thể:
Nhiệm vụ HTQT theo Nghị định thư: "Bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ quản lý KH&CN của CHDCND Lào giai đoạn 2010-2011" do PGS.TS Vũ
Văn Khiêm chủ nhiệm, thực hiện năm 2010-2011;
Nhiệm vụ HTQT theo Nghị định thư với Hoa Kỳ: “Hợp tác đào tạo nâng cao năng lực quản lý khoa học và công nghệ (KH&CN) cho đội ngũ cán
bộ quản lý KH&CN nguồn của Việt Nam” TS Bùi Tiến Dũng chủ nhiệm, thực hiện năm 2012-2013;
Nhiệm vụ HTQT theo Nghị định thư với CHDCND Lào: “Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý khoa học và công nghệ (KH&CN) của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn 2013-2014” do PGS.TS Đào Thị Ái Thi chủ nhiệm, thực hiện năm 2013-2015
Trang 8“Nghiên cứu xây dựng chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ về ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao” nghiệm thu năm 2011,
do CN Hoàng Văn Thụ chủ nhiệm
“Nghiên cứu xây dựng chương trình khung và nội dung các bài giảng chuyên đề để đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ giám định sở hữu công nghiệp” do
TS Trần Công Yên chủ nhiệm thực hiện năm 2011- 2012;
“Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành cho lãnh đạo quản lý cấp phòng và tương đương trong lĩnh vực quản lý KH&CN” do KS Nguyễn Việt Cường chủ nhiệm, thực hiện năm 2011-2012;
“Nghiên cứu dự báo nhu cầu đào tạo cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ đến năm 2020” do ThS Bùi Hải Cường chủ nhiệm, thực hiện năm 2012;
“Nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo ngắn hạn về quản trị công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ” do ThS Lê Vũ Toàn chủ nhiệm, thực hiện năm 2012;
“Nghiên cứu xây dựng tài liệu giảng dạy về quản lý công nghệ cho cán
bộ quản lý nhà nước về công nghệ tại địa phương” do ThS Lê Vũ Toàn chủ nhiệm, thực hiện năm 2013;
“Nghiên cứu xây dựng chương trình khung trong bồi dưỡng đội ngũ quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo vị trí việc làm ở các bộ, ngành” do TS Đào Thị Ái Thi chủ nhiệm, thực hiện năm 2013
“Nghiên cứu xây dựng bộ giáo trình “Quản lý Nhà nước về KH&CN” trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” do
TS Vũ Trường Sơn làm chủ nhiệm, thực hiện năm 2014
“Nghiên cứu xây dựng khung chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp cho viên chức chuyên ngành khoa học và công nghệ” do PGS.TS Đào Thị Ái Thi chủ nhiệm, thực hiện năm 2015
Trang 9“Nghiên cứu xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng về thu thập, phân tích và xử lý thông tin công nghệ” do ThS Hoàng Thu Hiền chủ nhiệm, thực hiện năm 2015
“Điều tra khảo sát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng trong lĩnh vực quản lý KH&CN của các địa phương năm 2016” do ThS Bùi Hải Cường chủ nhiệm, thực hiện năm 2015;
“Xây dựng khung chương trình bồi dưỡng bắt buộc cập nhập kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành khoa học và công nghệ” do TS Bùi Tiến Dũng chủ nhiệm, thực hiện năm 2015;
“ Nghiên cứu xây dựng nội dung chương trình đào tạo kỹ năng tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp”
do ThS Nguyễn Văn Khương chủ nhiệm, thực hiện 2016
Nhìn chung tất cả các đề tài nghiên cứu đều xoay quanh việc xây dựng khung chương trình, đều phục vụ cho các nội dung, chương trình giảng dạy của Trường theo chức năng, nhiệm vụ Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ tập chung vào việc xây dựng chương trình đạo tạo, bồi dưỡng cho đối tượng là các cán bộ, công chức, viên chức nhà nước Chưa có đề tài nào nghiên cứu và đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của Trường Quản lý khoa học và công nghệ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
+ Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là phát hiện ra được những mặt hạn chế và cản trở về đào tạo nguồn nhân lực KHCN tại Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ và từ đó đề xuất ra các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại Trường QL KH&CN
Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hoá những cơ sở lý luận liên quan đến chất lượng đào tạo
phát triển nguồn nhân lực quản lý KH&CN
+Phân tích thực trạng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực KH&CN của Trường QLKH&CN
Trang 10+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực KH&CN của Trường QLKH&CN
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn mới củaTrường Khách thể nghiên cứu: Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của Trường QLKH&CN
Đề tài tập trung nghiên cứu một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của Trường QLKH&CN
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp điều tra khảo sát
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Hình thức hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ;
Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực Quản lý khoa học nói riêng;
Đề xuất những phương hướng, giải pháp thúc đẩy hoạt động đào tạo nguồn nhân lực Khoa học công nghệ
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung nghiên cứu được trình bày trong 3 chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo nhân lực quản lý khoa học và công nghệ
Chương 2 Thực trạng về chất lượng đào tạo nhân lực quản lý KHCN tại Trường Quản Lý Khoa học và Công nghệ
Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý KHCN Tại Trường Quản Lý Khoa học và Công nghệ
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC
QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 Tổng quan về chất lượng đào tạo nhân lực Khoa học Công nghệ
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Đào tạo: (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng), được hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình Nói một cách cụ thể đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc
cụ thể một cách hoàn hảo hơn
Theo từ điển Tiếng việt do GS Hoàng Phê chủ biên (nxb.Từ điển Bách khoa, Hà nội, 2010, Đào tao là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định
Theo Đại từ điển do GS Nguyễn Như Ý chủ biên (nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội,1998), Đào tạo – đó là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp
Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người lĩnh hội và nắm giữ những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhân được công việc nhất định
Đào tạo là một quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các
kỹ năng, những quy tắc, hành vi hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữa những đặc điểm của nhân viên và yêu cầu của công việc
Đào tạo: được hiểu là quá trình trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến nghề nghiệp của họ đang làm nhằm khắc phục những thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng hiện tại cũng như cập nhật
Trang 12những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo mới để giúp họ có thể thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả hơn
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, 2005: “Đào tạo: làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; “Bồi dưỡng: làm cho năng lực hoặc phẩm chất tăng thêm”
Khái niệm về đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm về giáo dục, thường tạo đề cập đến giai đoạn sau khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, một trình độ nhất định
Đào tạo cán bộ được hiểu là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm trang bị kiến thức cho người học một cách hệ thống để nâng cao năng lực chuyên môn, đủ khả năng công tác độc lập theo yêu cầu nhiệm vụ được giao Hay nói cách khác, đào tạo được xem như một quá trình làm cho người được đào tạo trở thành người có kiến thức và năng lực theo tiêu chuẩn nhất định đề ra
Tóm lại, Đào tạo là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, là CBCC làm việc trong tổ chức Đào tạo tác động đến con người trong tổ chức, làm cho họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ, phát huy hết năng lực làm việc của họ Với quan niệm như vậy thì Đào tạo nhân lục quản lý KHCN nhằm tới các mục đích sau:
Phát triển năng lực làm việc CBCC và nâng cao khả năng thực hiện công việc thực tế của họ
Giúp CBCC luôn phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực trong tương lai của tổ chức
Giảm thời gian học tập, làm quen với công việc mới của CBCC do thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ và đảm bảo cho họ có đầy đủ khả năng làm việc một cách nhanh chóng và tiết kiệm
Trang 13Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2000, Tập 1, tr.735: Đào tạo là "quá trình tác động đến con người, nhằm làm cho người đó lĩnh hội
và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận được một
sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo CCVC, Đảng ta đã chủ trương: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với chương trình, nội dung sát hợp Có chương trình, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên cán
bộ, công chức nhà nước” [7, tr.217-218,339]
Đảng ta coi việc đào tạo cán bộ công chức là việc làm thường xuyên, cần được ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trên cơ sở định hướng từ các Văn kiện Đại hội Đảng, các Nghị quyết Trung ương, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo CCVC và chỉ đạo, triển khai thực hiện thống nhất trong toàn quốc Khoản 4, Điều 11 Luật cán bộ, công chức quy định về quyền của cán bộ, công chức được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ và Khoản 2, Điều 11 Luật Viên chức quy định về quyền của viên chức trong hoạt động nghề nghiệp đều chỉ rõ: Cán bộ, CCVC “được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ” Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công chức, Khoản 1, 2, Điều 48, Luật cán bộ, công chức còn quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với việc đào tạo cán bộ, công chức: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có trách nhiệm xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức Cơ quan, tổ chức, đơn vị
sử dụng công chức có trách nhiệm tạo điều kiện để công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ” Tương
tự, Khoản 1, 2, Điều 34, Luật Viên chức cũng quy định “Đơn vị sự nghiệp
Trang 14công lập có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng viên chức Đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm tạo điều kiện để viên chức được tham gia đào tạo, bồi dưỡng” Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đưa ra khái niệm về đào tạo như sau: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học.” Như vậy, đào tạo CCVC có tính chất đặc thù so với đào tạo nguồn nhân lực cũng như hệ thống giáo dục quốc dân nói chung Đào tạo nhân lực được thực hiện cho nhiều loại lứa tuổi, mọi thành phần kinh tế - xã hội trong tất cả các loại trường, cơ sở giáo dục đào tạo hiện có Còn đào tạo cán bộ, công chức chỉ giới hạn trong phạm vi những người làm việc trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, được xác định theo các đối tượng cụ thể thuộc phạm
vi điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Quan niệm về đào tạo CCVC phải được đặt trong mối quan hệ tương
hỗ với đào tạo hệ thống giáo dục quốc dân Vì trên thực tế, đại đa số người lao động trước khi trở thành CCVC phải có một bằng cấp hoặc chứng chỉ nhất định được đào tạo trước đó Như vậy, quan niệm về đào tạo CCVC không thể
bỏ qua hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, không nên hiểu việc đào tạo CCVC là đào tạo lại từ đầu Phần lớn những người được tuyển dụng vào đội ngũ CCVC đã được đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân, đã được tiếp thu một hệ thống tri thức các chuyên ngành cụ thể theo chương trình đào tạo cơ bản mà cơ quan sử dụng CCVC có nhu cầu
Thứ hai, do nhu cầu công tác trong các đơn vị sự nghiệp và thực hiện tiêu chuẩn hoá các chức danh nên việc đào tạo tiếp theo cho CCVC với mục tiêu, nội dung, chương trình và đối tượng đào tạo không giống với hệ thống đào tạo giáo dục quốc dân Ở giai đoạn này, đào tạo CCVC trên thực tế giữ
Trang 15vai trò trang bị những kiến thức chuyên ngành, chuyên sâu về kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo hành chính; phải hiểu được đầy đủ các tiêu chuẩn phải có, chế
độ công vụ , trách nhiệm của CCVC…, mới có thể hoà quyện, chuyển hoá được những kiến thức đã được đào tạo trước đó với kiến thức chuyên ngành vào trong cương vị công tác của mình
Như vậy, có thể khái quát khái niệm đào tạo CCVC theo PGS.TS Phạm Hồng Thái “thực chất là việc cung cấp các tri thức, huấn luyện một cách có kế hoạch, có tổ chức theo nhiều hình thức nhằm xây dựng đội ngũ CCVC có năng lực, giỏi về chuyên môn, có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, ổn định và hiệu quả trong hoạt động công vụ.”
Theo quan niệm của tác giả, nâng cao chất lượng đào tạo là quá trình
truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau cho CCVC phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việc được giao, do bồi dưỡng CCVC thực hiện
Chất lượng đào tạo:
Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với một chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp, Đại học quốc gia Hà Nội)
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giái trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể (Trần khánh Đức – Viện nghiên cứu
và phát triển giáo dục)
Do đó việc nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục nói chung và tại các Trường bồi dưỡng cán bộ nói riêng là một vấn đề hết sức quan trọng
Chất lượng được đánh giá bằng đầu vào
Trang 16Một số nước phương tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng các yếu tố đầu vào của cơ sở đào tạo
đó Quan điểm này được gọi là “Quan điểm nguồn lực” có nghĩa là:
“Nguồn lực = “chất lượng”
Theo quan điểm này nếu một trường tuyển được học sinh, sinh viên giỏi, có cán bộ giảng dậy uy tín, có cơ sở vật chất tốt … thì Trường đó được coi là chất lượng tốt
Chất lượng là một khái niệm rộng lớn khó định nghĩa, khó đo lường và
có nhiều cách hiểu khác nhau Ở Việt Nam, tiêu chuẩn thuật ngữ ISO 8402 (TCVN 5814 - 94) đã định nghĩa: chất lượng là toàn bộ những đặc trưng của một sản phẩm hoặc của một dịch vụ có khả năng làm thỏa mãn những yêu cầu
*Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với một chương trình đào tạo*( Lê Đức Ngọc, Lân Quang Thiện- Đại học Quốc gia, Hà Nội)
* Chất lượng đào tạo là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, là chất lượng người học được hình thành từ các hoạt động giáo dục theo những mục tiêu định trước Sự phù hợp được thể hiện thông qua mục tiêu giáo dục, phù hợp với nhu cầu người học
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nhà trường đào tạo.Việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả các cơ sở đào tạo, trong
Trang 17đó có đào tạo cho cán bộ của các bộ ngành.Trong giáo dục đào tạo chất lượng
là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường
Nâng cao chất lượng đào tạo chính là làm cho sản phẩm của quá trình đào tạo có giá trị cao thể hiện qua thi thức sâu, kỹ năng và kỹ xảo nghề nghiệp tốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xà hội
1.2 Nguồn nhân lực, nhân lực Khoa học và Công nghệ và nhân lực quản lý KH&CN
1.2.1 Khái niệm về nguồn nhân lực
Tại Đại hội lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định tập trung “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” Đây là nội dung được kế thừa và phát triển từ tất
cả các kỳ đại hội Đảng Điều đó cho thấy, nguồn nhân lực là vấn đề cực kỳ quan trọng trong tất cả các giai đoạn lịch sử
Khái niệm nguồn nhân lực hiện đang được sử dụng phổ biến trong các
cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Khái niệm này không xa lạ đối với mọi người trong xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý hành chính các cấp và khối cán bộ quản lý doanh nghiệp Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm
về vấn đề này chưa được thống nhất Nguồn nhân lực còn thể hiện dưới nhiều dạng quan điểm khác nhau tùy theo mục tiêu cụ thể mà có những nhận thức khác nhau Có thể chỉ ra một số quan niệm sau:
Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì Theo như quan niệm này thì nguồn nhân lực là chỉ sức lực trí tuệ, sức lực cơ bắp, sức lực tinh thần và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh
Cũng có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là một tập hợp các cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu
tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động Khác với quan niệm trên, ý kiến ở đây xem xét vấn đề ở động thái Bên cạnh đó, có quan niệm cho rằng khi đề cập đến vấn đề này chỉ nhấn mạnh khía cạnh trình
Trang 18độ chuyên môn và kỹ năng của nguồn nhân lực, ít đề cập một cách đầy đủ và
rõ ràng đến những đặc trưng khác như thể lực, yếu tố tâm lý – tinh thần,…
Theo giáo sư Phạm Minh Hạc (nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT), nguồn
nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay
một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó “trích, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóa 2001”
Tuy nhiên, nguồn nhân lực được định nghĩa như sau: Nguồn nhân lực
là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng
yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế xã hội nhất định
Khái niệm liên quan đến nguồn nhân lực là năng lực của đội ngũ này Khái niệm năng lực được định nghĩa: Năng lực là sự tổng hợp của các yếu tố kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người
Kiến thức là những điều hiểu biết có được hoặc do từng trải, hoặc nhờ học tập Nó gồm 3 thành phần cơ bản: Kiến thức tổng hợp (những hiểu biết chung về thế giới), kiến thức chuyên môn theo chuyên ngành được đào tạo hoặc tự đào tạo và kiến thức đặc thù do khả năng tiếp thu và được đào tạo
Kỹ năng của người lao động là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào
đó Những kỹ năng sẽ giúp cho cá nhân đó hoàn thành công việc của mình, quy định tính hiệu quả của công việc
Thái độ của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vai trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình đối với các công việc, điều này sẽ được thể hiện qua các hành vi của họ Một người có kỹ năng tốt nhưng thái độ không đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao
Như vậy, nói đến năng lực của nguồn nhân lực là nói đến ba yếu tố: Thái độ, kỹ năng và kiến thức Ở đây, thái độ là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của công việc cũng như với tổ chức Một người có thể có kiến
Trang 19thức tốt, kỹ năng chuyên nghiệp nhưng thái độ bàng quang với cuộc sống, vô trách nhiệm với xã hội và công việc thì chưa hẳn đã làm tốt công việc
1.2.2 Nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ
Theo định nghĩa của UNESCO: nguồn nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức
và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học
và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ
Trên cở sở này, cách hiểu về nguồn nhân lực KH&CN được diễn giải gồm những người: 1) Đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng và sau đại học và làm việc trong một ngành KH&CN; 2) Chưa tốt nghiệp đại học, cao đẳng nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương
Theo Sách KH&CN Việt Nam 2003 (tr.61), định nghĩa được dựa theo cuốn “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực KH&CN”, xuất bản năm 1995 tại Paris của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) như sau:
“Nguồn nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây:
• Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN;
• Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương”
Theo cách diễn đạt của OECD, hầu như mọi khía cạnh của nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ đều cần những con người có kỹ năng Nguồn nhân lực KH&CN, theo nghĩa rộng là những người đã tốt nghiệp bậc đại học hay sau phổ thông và/hoặc những người làm việc với tư cách nhà chuyên môn hay kỹ thuật, đóng vai trò trung tâm trong việc tạo ra kiến thức mới, thông qua nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, phát triển, xây dựng và cải tiến những vật liệu, sản phẩm và quy trình mới; thiết kế, chế tạo và thao tác các quy trình sản xuất, chạy thử và thu thập dữ liệu; đăng ký sáng chế; làm thích nghi và tiếp thu các công nghệ tại nơi làm việc, v.v… Những kỹ năng cụ thể trong những hoạt động này có rất nhiều và không giống nhau, trải rộng từ
Trang 20những kiến thức hàn lâm sâu về những lĩnh vực khoa học nhất định đến các
kỹ năng kỹ thuật thực hành, và các kỹ năng quản lý và làm việc nhóm Với những hoạt động sáng tạo trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế ở các cấp,
cả công nghệ lẫn phi công nghệ, rõ ràng nhận thấy là ngay cả khi không tham gia trực tiếp vào nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tất cả các lao động đều cần tối thiểu những kỹ năng cơ bản để có thể tiếp thu được các công nghệ, kỹ thuật mới cũng như các cách thức làm việc và tạo khả năng cho đổi mới diễn ra thành công tại nơi làm việc của họ
Ở nước ta, nguồn nhân lực KH&CN được định nghĩa như sau: Nguồn nhân lực KH&CN là tập hợp những người tham gia vào các hoạt động KH&CN với các chức năng: Nghiên cứu sáng tạo, giáo dục đào tạo, khai thác
sử dụng và tác nghiệp, góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển sản xuất và xã hội
Nội hàm các khái niệm liên quan đến nhân lực trong lĩnh vực KH&CN không chỉ đơn giản là phép tính cộng tổng đầu người Theo khuyến nghị của
OECD và UNESCO (được nhiều nước áp dụng), bên cạnh việc đếm đầu
người cần phải tính đến yếu tố khác như: Quy đổi tương đương thời gian làm việc đầy đủ và các đặc trưng của họ Việc đưa ra thông số nhân lực theo thời gian làm việc sẽ giúp các nhà nghiên cứu và phân tích có được cái nhìn xác thực hơn về thực trạng và năng lực KH&CN hay R&D của một quốc gia, một ngành, qua đó có được những tư vấn hay đối sách thích hợp để thúc đẩy phát triển Ngoài ra, theo tìm hiểu cá nhân, phần đông các quốc gia phát triển và đang phát triển đều chú trọng vào nguồn nhân lực R&D theo các tiêu chí cụ thể như: Đếm đầu người, thời gian làm việc,
Trong khi đó, hệ thống số liệu về nguồn nhân lực KH&CN chính thức (theo Sách KH&CN Việt Nam) của ta hiện nay mới chỉ là phương thức “đếm đầu người” đơn giản những người có trình độ đại học và tương đương trở lên
Số liệu này mới chỉ phản ánh “tổng số nhân lực có trình độ” của một quốc
Trang 21gia Về lý thuyết, con số này vẫn có giá trị nhưng nó không giúp cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách phát triển KH&CN của quốc gia
1.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý KH&CN
1.3.1 Chính sách đào tạo và bồi dưỡng
Đây là yếu tố quan trọng, tạo nền móng và định hướng cho công tác xây dựng kế hoạch, triển khai đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức
Thứ nhất, chính sách là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Thứ hai, dựa vào văn bản quy phạm pháp luật quy định chính sách đào
tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức để xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ngành, từng cấp, từng cơ quan về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức
Thứ ba, dựa vào các văn bản quy định chính sách để xây dựng chiến
lược, kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng phù hợp với đặc thù của ngành, địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và hợp lý về cơ cấu
Thứ tư, dựa vào văn bản quy định để kiểm tra, kiểm soát công tác đào
tạo và bồi dưỡng, chất lượng và nội dung chương trình cũng như kết quả đạt được của công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức
Nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ công chức
Chất lượng học viên tham gia bồi dưỡng cán bộ, công chức: Được xem xét bởi việc xác định: mục tiêu học tập phù hợp với năng lực và phù hợp với khóa bồi dưỡng của đội ngũ công chức quản lý KH&CN; phương pháp học tập khoa học; khả năng tự học, tự nghiên cứu; khả năng vận dụng thực tiễn trong quá trình học tập và thái độ học tập của học viên như tính chủ động trong quá trình học tập, việc tham gia đầy đủ các hoạt động của khóa học và
Trang 22thực hiện nghiêm túc quy định của nhà trường trong quá trình tham gia các khóa bồi dưỡng
Nguồn tuyển dụng đầu vào là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của đội ngũ công chức Tuyển dụng được người học đúng ngành, chuyên ngành sẽ làm cho việc bố trí, sử dụng công chức sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn; việc đánh giá năng lực của công chức cũng sát với thực tế hơn Nếu đội ngũ công chức được tuyển dụng hoặc được luân chuyển không sát với yêu cầu công việc sẽ là một bất lợi cho tổ chức vì phải tiến hành đào tạo, đào tạo lại mới có thể sử dụng được
Nguồn và chất lượng đầu vào của đội ngũ công chức sẽ ảnh hưởng đến chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ công chức Nó ảnh hưởng lớn đến nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng; thời gian đào tạo, bồi dưỡng; số lượng cần phải đào tạo, bồi dưỡng và kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức
Hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
Chất lượng cơ sở vật chất phục vụ bồi dưỡng cán bộ, công chức của
Trường Quản lý KH&CN: Đó là việc đánh giá chất lượng phòng học đáp ứng
được yêu cầu giảng dạy và học tập, chất lượng và hiệu quả sử dụng máy móc, trang thiết bị, sử dụng công nghệ thông tin như khai thác hệ thống thông tin, website, cập nhật các phần mềm hỗ trợ giảng dạy, học tập và nghiên cứu phục vụ công tác bồi dưỡng của trường
Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức là nơi tổ chức thực hiện các khóa đào tạo, bổi dưỡng trang bị, cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng hoạt động công vụ cho công chức Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần bảo đảm các tiêu chuẩn tối thiểu của một trường/viện/ trung tâm đào tạo công chức hiện đại, như: khuôn viên rộng rãi, có hội trường, các phòng học, ký túc xá, khu vui chơi giải trí thể thao; trang thiết bị giảng dạy hiện đại; cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý, phần mềm đào tạo hiện đại và chất lượng;
Trang 23đội ngũ giảng viên đảm bảo về số lượng và đủ năng lực giảng dạy; đội ngũ quản lý đào tạo chuyên nghiệp
1.3.2 Trình độ, kỹ năng của đội ngũ giảng viên
Được đánh giá qua kiến thức chuyên môn của giảng viên đáp ứng được yêu cầu của khóa bồi dưỡng; việc áp dụng kinh nghiệm thực tiễn vào các chuyên đề giảng dạy của giảng viên; về phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm của người giảng viên như việc thực hiện các nội quy, quy định của nhà trường, thái độ ứng xử với học viên của giảng viên, việc biên soạn bài giảng phục vụ giảng dạy và việc sử dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với khóa bồi dưỡng
Đây là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng,
vì vậy yêu cầu đội ngũ giảng viên phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm đạt chuẩn và kinh qua thực tế công tác Bởi vì trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức giảng viên là người hướng dẫn học viên học tập, rèn luyện
kỹ năng làm việc Một nguyên tắc của việc bồi dưỡng là cung cấp kiến thức ở mức cần thiết, rèn luyện kỹ năng đến mức có thể Cho nên, giảng viên phải là người có kiến thức, có kỹ năng và kinh nghiệm thực tế đối với lĩnh vực chuyên môn đảm nhận, chỉ có như vậy công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức mới thu được kết quả như mong muốn
1.3.3 Ngân sách đào tạo và bồi dưỡng
Số liệu thực tế về trình độ, năng lực của đội ngũ công chức cho thấy:
“Theo đánh giá chung, đội ngũ này còn không ít hạn chế so với đòi hỏi của thời kỳ mới: chỉ khoảng 30% trong số họ đáp ứng được yêu cầu, khoảng 40%
"tàm tạm" và khoảng 30% còn lại là chưa đáp ứng được yêu cầu”(6)
Sử dụng và quản lý ngân sách dành cho đào tạo, bồi dưỡng tốt sẽ có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưõng Nguồn kinh phí được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng sẽ đem lại kết
Trang 24quả cho tổ chức cũng như cá nhân cống chức Ngược lại, nếu nguồn ngân sách được sử dụng sai mục đích, lãng phí không những vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý đào tạo, bồi dưỡng công chức mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi chính đáng của công chức về nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng
- Hiệu quả sau đào tạo cán bộ, công chức: Công chức quản lý KH&CN
qua “thụ hưởng” trực tiếp quá trình bồi dưỡng họ sẽ quan tâm đến việc đóng góp vào sự phát triển cá nhân thông qua mức độ tiếp thu kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ, tính chủ động, trách nhiệm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và sự tự tin trong công việc sau quá trình bồi dưỡng để áp dụng thực
tế vào việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
1.4 Kinh nghiệm nước ngoài
Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, vấn đề phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là phát triển đội ngũ cán bộ quản lý khoa học và công nghệ của mỗi quốc gia có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng
Trong báo cáo này cán bộ quản lý khoa học và công nghệ được quan niệm là người có tri thức về khoa học luận, được phân công đảm nhiệm trong
bộ máy quản lý khoa học và công nghệ của nhà nước hoặc của các tổ chức dựa vào nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ để hoạt động và phát triển Báo cáo được viết dựa trên nghiên cứu phân tích kinh nghiệm của các nước sau:
Hoa Kỳ, Nhật Bản, CHLB Đức là những nước phát triển hiện đại, có trình độ khoa học kĩ thuật cao và có quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa lâu dài;
Hàn Quốc và Singapore là những nước công nghiệp mới, từ một trình
độ kinh tế, khoa học kĩ thuật lạc hậu vài chục năm trước đây, đã có những chính sách phát triển đột phá và vươn lên mạnh mẽ, trở thành những nước phát triển mới;
Trang 25Trung Quốc là nước có nhiều đặc điểm về kinh tế, xã hội tương đồng với Việt Nam, đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh và có triển vọng trở thành cường quốc về nhân lực trên thế giới
Trong những thập niên cuối thế kỷ 20, với sự duy trì tốc độ tăng trưởng cao, công nghiệp hóa nhanh và phát triển bền vững các nước trên thế giới đã đạt được những thành tích vượt bậc về tăng trưởng kinh tế - xã hội và đặc biệt
là khoa học, công nghệ, kỹ thuật Để đạt được các kết quả đó Chính phủ các nước đã có những quyết sách và chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh
đạo, công chức nhà nước Kinh nghiệm từ Trung Quốc:
Trung Quốc rất coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán
bộ công chức nhà nước trong đó có đội ngũ công chức quản lý KH&CN, coi đây là một phần trong chiến lược thực hiện và đẩy nhanh quá trình cải cách hệ thống công vụ Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức nhà nước quán triệt các nguyên tắc lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, cần gì dạy nấy, coi
trọng hiệu quả, thiết thực
Hiện nay, Trung Quốc có các hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức nhà nước sau:
Đào tạo chính quy cho công chức mới tuyển dụng
Bồi dưỡng ngắn hạn gồm các loại hình sau:
+ Bồi dưỡng cho công chức đang giữ chức vụ lãnh đạo: công chức
từ cấp vụ trở lên đang công tác trong các bộ máy chính phủ và chính quyền cấp tỉnh
+ Bồi dưỡng, huấn luyện công chức chuẩn bị được đề bạt vào các chức
vụ lãnh đạo cấp vụ, cục và tương đương
+ Bồi dưỡng Giám đốc các doanh nghiệp lớn của nhà nước
+ Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo nhu cầu công tác chuyên môn; + Bổ túc những kiến thức mới về quản lý nhà nước cho các công chức nhà nước đang làm việc;
Trang 26Thành tích học tập và nhận xét đánh giá qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng là một trong những căn cứ để bố trí, sử dụng, đề bạt chức vụ đối với công chức nhà nước
Ngoài ra, Trung Quốc còn tổ chức nhiều khóa học tập, bồi dưỡng ở nước ngoài (chủ yếu là ngắn hạn) Về kinh phí, có loại do Nhà nước đài thọ,
có loại tự bỏ tiền để đi học Để khắc phục tình trạng cán bộ đi học ở nước ngoài rồi không trở về phục vụ đất nước hay còn gọi là hiện tượng “chảy máu chất xám” những người được cử đi học ở nước ngoài phải ký hợp đồng và đặt cược một khoản tiền, cơ quan gửi vào ngân hàng, khi nào họ trở về sẽ được nhận trả cả vốn lẫn lãi
Cơ quan được giao trách nhiệm phụ trách tổ chức đào tạo công chức nhà nước là Học viện Hành chính Quốc gia Trung Quốc; các trường Hành chính địa phương và các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành khác, trong
đó có các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành về quản lý KH&CN
Trung Quốc đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ chính trị, phẩm chất, năng lực chuyên môn cho đội ngũ công chức nhằm xây dựng một đội ngũ công chức chuyên nghiệp và có chất lượng cao trong đó có đội ngũ công chức quản lý KH&CN, đây là một phần trong chiến lược thực hiện và đẩy nhanh quá trình cải cách hệ thống công vụ
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức của Trung Quốc trong đó có đội ngũ công chức quản lý KH&CN tập trung vào: lý luận xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc và chiến lược phát triển; quản lý hành chính nhà nước trong nền kinh tế thị trường; quản lý vĩ mô nhà nước với những nội dung cụ thể như thể chế hành chính, quyết sách hành chính, đào tạo và phát triển nhân tài Tất cả các khóa đào tạo đều phải học chủ nghĩa Mác - Lênin và
lý luận Đặng Tiểu Bình
Nội dung chương trình đào tạo chủ yếu được xây dựng dựa vào vị trí của từng công chức để đào tạo, bồi dưỡng Thông thường một khóa học của công chức bao gồm khóa học cơ bản và khóa học chuyên môn, gọi là mô hình
Trang 27"cơ bản + chuyên môn" Trong đó, khóa học cơ bản đi sâu vào các nội dung như: về học thuyết chính trị, về luật hành chính, về hành chính công, về phát triển kinh tế - xã hội ; khóa học chuyên môn thường được thiết kế dựa vào các nhu cầu khác nhau của công chức ở các nhóm và các cấp khác nhau, thể hiện tính chuyên môn trong đào tạo cho các cấp và các loại công chức khác nhau Tỷ lệ của các khóa học thường được sắp xếp là 30% cơ bản và 70% chuyên môn Cấu trúc và thời lượng bài học có thể được sắp xếp: bài giảng là 70%, thảo luận và trao đổi là 10%, điều tra là 10%, giấy tờ và văn bản là 5%, các khóa học kinh nghiệm là 5%
Có thể nói công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của Trung Quốc khá linh hoạt song vẫn theo đúng nguyên tắc: công khai, công bằng, cạnh tranh, chọn được người giỏi; lý luận gắn với thực tế, học tập gắn liền với ứng dụng, coi trọng hiệu quả thiết thực; không bồi dưỡng đủ thì không đề bạt Đặc biệt, Trung Quốc rất chú trọng rèn luyện năng lực thực hành của công chức trong thực tiễn, coi đây là một trong ba tố chất chủ yếu tạo nên phẩm chất công chức, đó là trình độ lý luận chính trị, năng lực hoạt động thực tiễn và đức tính
tự trọng, tự lập
Giảng viên ở các trường hành chính, trường Đảng các cấp và các cơ sở đào tạo khác trong đó có các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức quản lý KH&CN, bên cạnh đội ngũ giảng viên chuyên trách được đào tạo bài bản và thường xuyên được bồi dưỡng cập nhật kiến thức, còn có đội ngũ giảng viên kiêm chức Nguồn giảng viên kiếm chức đa dạng và hình thức tuyển dụng linh hoạt Những công chức có năng lực chuyên môn cao, các chuyên gia hoặc các học giả từ các trường cao hơn và từ các viện nghiên cứu khoa học có thể được tuyển vào vị trí này Một cách khác nữa là sử dụng một
số quan chức của Chính phủ và cán bộ từ các ủy ban của Đảng hoặc thuê giáo
sư nước ngoài giảng dạy
Trang 28Để nắm bắt được sự thay đổi trong quá trình thực thi công vụ của công chức, Trung Quốc chú trọng đánh giá quá trình đào tạo, bồi dưỡng của họ Có hai cách thức đánh giá chủ yếu là đánh giá thái độ học tập và kết quả học tập Việc đánh giá thái độ học tập dựa vào việc học viên tham gia đầy đủ thời gian đào tạo theo quy định và việc chấp hành kỷ luật nghiêm túc Nội dung đánh giá bao gồm cả tỷ lệ tham gia các giờ học trên lớp, các sáng kiến hội thảo và các quan điểm đúng đắn Kết quả học tập được đánh giá dựa trên số điểm của các bài kiểm tra, tiểu luận, đề tài Việc đánh giá học viên trong trường được thực hiện dưới hình thức "Mẫu đăng ký đánh giá đào tạo công chức", đó là những thông tin phản hồi tới cơ quan, đơn vị mà học viên đang công tác Đây
là một trong những cơ sở cho quy trình kiểm tra và đánh giá hàng năm của các bộ phận tổ chức nhân sự phù hợp
Kinh nghiệm của Singapore:
Quá trình đào tạo và bồi dưỡng của Singapore thông qua 5 công đoạn chính:
Chương trình giới thiệu: Công đoạn này nhằm tổ chức chon nhân viên mới về nhận việc, trong vòng từ 1 đến 3 tháng Phần này còn dành cho cả những người mới chuyển công tác từ nơi khác đến
Chương trình cơ bản: Đào tạo để công chức thích ứng với công tác của mình Khóa học này được thiết kế cho người mới tuyển dụng trong năm đầu tiên công tác
Chương trình nâng cao: Đào tạo bổ sung, giúp công chức đạt hiệu quả cao nhất trong công việc; được tiến hành trong khoảng 1 đến 3 năm đầu công tác
Chương trình mở rộng : Tạo điều kiện cho công chức vượt ra khỏi công việc của mình, có thể làm những công việc liên quan khi cần thiết
Chương trình tiếp tục: Đào tạo này không chỉ liên quan đến công việc hiện tại của công chức mà còn nâng cao khả năng làm việc của người đó trong tương lai
Trang 29Các công đoạn đào tạo trên có liên quan chặt chẽ tới cuộc đời chức nghiệp của công chức và tới việc sắp xếp bố trí công chức vào các vị trí công tác.Việc đào tạo được tổ chức theo hình thức chính quy hoặc tại chức.Tùy theo yêu cầu của từng loại đối tượng, có thể có những phần hợp nhất giữa một vài công đoạn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của cá nhân người công chức
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức nói chung và công chức quản lý khoa học và công nghệ nói riêng ở nước ta hiện nay đang
là một trong những vấn đề được các ngành, các cấp và các địa phương hết sức quan tâm Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: Giải pháp Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực Quản lý KH&CN: Nghiên cứu trường hợp
Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ của mình với mong muốn góp phần
nâng cao năng lực, trình độ và phẩm chất của đội ngũ công chức quản lý khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ CHÂT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC QUẢN LÝ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TẠI TRƯỜNG QUẢN LÝ KHOA HỌC
Giai đoạn 1 đến 2002: Trường có 05 đơn vị trực thuộc với tổng số
cán bộ trong biên chế được phê duyệt là 13 người Trường đã tổ chức
được169 khóa tập huấn, cho 9.970 học viên
Giai đoạn 200 đến 200 : Trường có 05 đơn vị trực thuộc với tổng số
cán bộ trong biên chế được phê duyệt là 16 người Trường đã tổ chức được
203 khóa tập huấn, cho 16.689 học viên
Trang 31Giai đoạn 200 đến 2012: Trường có 08 đơn vị trực thuộc với tổng số
cán bộ trong biên chế được phê duyệt là 30 người Trường đã tổ chức được
130 khóa tập huấn, cho 11.495 học viên
Giai đoạn 201 đến nay: Trường có 09 đơn vị trực thuộc với tổng số
cán bộ trong biên chế được phê duyệt là 34 người Trường tổ chức được 172
khóa tập huấn, cho hơn 13.000 học viên
Ngoài những nhiệm vụ được giao, Trường còn trở thành môi trường để các cán bộ, công chức trên cả nước thảo luận, trao đổi kinh nghiệm về các tình huống xảy ra trong thực tiễn công tác quản lý KH&CN Trường Quản lý KH&CN thực sự là cầu nối liên kết ngành KH&CN giữa các CBCC thuộc các
Sở KH&CN, giữa các CBCC thuộc y ban nhân dân cấp huyện lại với nhau, tạo thành sợ dây liên kết các địa phương, các cấp và địa phương với Bộ KH&CN
Hiện nay, Trường Quản lý KH&CN đang ngày càng phấn đấu đa dạng hóa loại hình đào tạo, bồi dưỡng; đối tượng đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng chức năng nhiệm vụ và nhu cầu ngày càng tăng cao của xã hội
Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng trong đó, năm sau luôn cao hơn năm trước và ngày càng đa dạng về số lượng các đối tượng học viên Về cơ bản, nội dung của các lớp đào tạo, tập huấn do Trường tổ chức đã đón bắt được các yêu cầu thực tế công tác quản lý tại các địa phương, đã bám sát nhiệm vụ quản lý của Bộ và các Sở KH&CN, vì thế các khóa đào tạo của Trường đã thu hút nhiều đối tượng tham gia và rất thiết thực, đã giúp cho các học viên cập nhật được thông tin về các cơ chế, chính sách mới, đồng thời nắm được phương pháp luận và tư duy giải quyết vấn đề trong quá trình tổ chức thực hiện công tác quản lý KH&CN, góp phần đưa KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ sự nghiệp đổi mới đất nước
Thứ nhất, số lượng cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng Theo thống kê của Trường Quản lý KH&CN, trong giai đoạn 2010
Trang 32– 2015, bình quân mỗi năm hơn 15% cán bộ, công chức khối cơ quan bộ, ngành Trung ương được đi đào tạo và ở địa phương là gần 10%
Thứ hai, các lớp bồi dưỡng về quản lý KH&CN được mở ra với
nhiều hình thức Thời lượng học được điều chỉnh phù hợp với từng đối tượng Qua đó từng bước giúp cho công chức quản lý KH&CN có đủ điều kiện tham dự các khóa bồi dưỡng phát triển tốt kiến thức và kỹ năng theo mục tiêu bồi dưỡng
Thứ ba, chất lượng công tác bồi dưỡng được nâng cao:
Chương trình, nội dung các khóa học về quản lý KH&CN được chỉnh
lý, bổ sung theo hướng giảm phần lý luận, lý thuyết chung, tăng cường đào tạo kỹ năng thực thi, hướng tới đáp ứng yêu cầu xử lý công việc trong giai đoạn phát triển kinh tế và hội nhập như kỹ năng thu thập, xử lý thông tin để ra quyết định; kỹ năng dự báo, lập kế hoạch, xây dựng chương trình hành động;
kỹ năng xử lý tình huống; kỹ năng sử dụng các công cụ quản lý… Chương trình bồi dưỡng về quản lý KH&CN từng bước được thiết kế linh hoạt và phù hợp với từng vị trí, chức danh trên cơ sở yêu cầu của từng vị trí công việc
Phương pháp bồi dưỡng có nhiều điểm mới, được điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng Tăng khả năng lựa chọn chương trình học cho đối tượng học ở nhiều trình độ, tăng mức độ tương tác giữa người dạy và người học, đẩy mạnh thực hiện phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phát huy tính chủ động, buộc người học trực tiếp tham gia vào quá trình học Một số phương thức đào tạo mới như đào tạo trực tuyến cũng được nhà Trường đề xuất để thí điểm thực hiện
Đội ngũ giảng viên của Trường Quản lý KH&CN cũng không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng Đã thu hút và hình thành được đội ngũ giảng viên cơ hữu có kinh nghiệm giảng dạy bồi dưỡng cán bộ, công chức Bên cạnh đội ngũ giảng viên cơ hữu có sự tham gia tích cực của các giảng viên kiêm chức có kinh nghiệm thực tiễn (trong và ngoài Bộ KH&CN)
Trang 33về các lĩnh vực chuyên môn và công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng cho các lớp bồi dưỡng
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp lãnh đạo của Bộ KH&CN, của các Sở KH&CN địa phương về việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức quản lý KH&CN
Lãnh đạo và toàn thể đội ngũ cán bộ, giảng viên của Trường Quản lý KH&CN đều tâm huyết với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng và có quyết tâm cao đối với việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức quản lý KH&CN
Sự phối hợp chặt chẽ giữa Tường Quản lý KH&CN với các cơ quan chức năng và chuyên môn của Bộ KH&CN; với UBND các tỉnh, thành phố và các sở KH&CN địa phương đối với việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức quản lý KH&CN hiện nay
Để thực hiện tốt được chức năng nhiệm vụ của Trường, hoàn thành kế hoạch đào tạo hàng năm, Trường đã phải vận dụng mọi hình thức trong đó mời thỉnh giảng đối với những cán bộ, lãnh đạo cấp Vụ, Viện, các lãnh đạo
Sở có kiến thức chuyên môn sâu và có thời gian tham gia công tác thực tế để tham gia giảng dạy
Bên cạnh đó, Trường đã tạo điều kiện để cán bộ, giảng viên của Trường tham gia học tập nâng cao trình độ, từ năm 2011 đến nay đã cử 04 cán bộ giảng viên đào tạo Tiến sỹ, Thạc sỹ, bên cạnh đó cử cán bộ học tập nâng cao trình độ Lý luận chính trị 05 đảng viên Đặc biệt, trong giai đoạn từ 2016 -
2020, Trường sẽ đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo nguồn, trong đó chú trọng tới đào tạo Tiến sỹ, và Lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn và lý luận chính trị, đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ của Trường
Trong 5 năm giai đoạn 2011 - 2016, Trường đã triển khai được 150 lớp đào tạo, bồi dưỡng các loại với hơn 14.000 lượt người tham dự là cán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ KH&CN, cán bộ quản lý KH&CN các địa
Trang 34phương và viên chức KH&CN các bộ ngành trong cả nước với các nội dung
cụ thể như sau:
Đào tạo, bồi dưỡng cho CBCC của Bộ Khoa học và Công nghệ:
Trong 5 năm, Trường Quản lý KH&CN đã phối hợp với các cơ sở đào tạo và trực tiếp tổ chức 40 khóa học cho 1.949 lượt cán bộ, công chức thuộc
Bộ KH&CN tham dự
Lý luận chính trị: Nhằm trang bị trình độ lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định cho các chức danh cán bộ, ngạch công chức và chức danh lãnh đạo quản lý, Từ năm 2014 – 2015, Trường Quản lý KH&CN đã phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ cử 38 người là cán bộ lãnh đạo các đơn vị trong Bộ tham gia các lớp Lý luận chính trị cao cấp tại Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Hàng năm, Trường Quản lý KH&CN cũng phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ cử các cán bộ quản lý tham dự các khóa Bồi dưỡng QLNN chương trình chuyên viên cao cấp với 41 người tham dự trong 5 năm qua
Khi Bộ Nội vụ cho phép các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuộc các
bộ, ngành trực tiếp tổ chức các lớp Bồi dưỡng chương trình chuyên viên chính và chuyên viên, mặc dù còn khó khăn về đội ngũ giảng viên nhưng Trường Quản lý KH&CN cũng đã cố gắng mỗi năm tổ chức 01 khóa Bồi dưỡng kiến thức QLNN chương trình chuyên viên chính và 01 lớp Bồi dưỡng chương trình chuyên viên Trong năm đã tổ chức cho 259 công chức tham gia Bồi dưỡng chương trình chuyên viên chính và 126 công chức tham gia lớp Bồi dưỡng chương trình chuyên viên
Được sự quan tâm của lãnh đạo Bộ KH&CN, trong các năm 2011,
2012 và năm 2013 đã giao cho Trường tổ chức các lớp Bồi dưỡng tiếng anh chuyên ngành KH&CN và được đánh giá đã góp phần nâng cao năng lực ngoại ngữ cho công chức quản lý KH&CN Trong 3 năm đã phối hợp tổ chức được 8 lớp với 172 lượt người tham dự và đạt trình độ B2
Trang 35Sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại kinh tế thế giới WTO năm 2007, Trường Quản lý KH&CN đã chủ động phối hợp với Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) tổ chức các lớp tuyên truyền, phổ biến về Hội nhập kinh tế quốc tế Trong 5 năm đến nay, Nhà trường đã tổ chức được 3 khóa Bồi dưỡng kiến thức hội nhập về KH&CN cho 239 lượt người tham dự Ngoài ra, trong các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ ngành nói chung, Nhà trường cũng đã lồng ghép các nội dung về Hội nhập kinh tế quốc tế và các hoạt động KH&CN trong bối cảnh Hội nhập
Để có thể nâng cao năng lực, nghiệp vụ quản lý KH&CN cho đội ngũ công chức mới tuyển dụng vào các cơ quan hành chính của Bộ KH&CN, Trường Quản lý KH&CN đã chủ động xây dựng chương trình, biện soạn tài liệu học tập với hơn 500 trang và được lãnh đạo Bộ KH&CN phê duyệt chương trình Trong 5 năm, Trường đã tổ chức được 3 khóa Bồi dưỡng kiến thức QLNN về KH&CN (tiền công vụ) với 164 cán bộ, công chức tham dự
Thực hiện Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn lãnh đạo cấp phòng và tương đương, Trường Quản lý KH&CN đã tổ chức 4 lớp Bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo cấp phòng cho 326 lượt cán bộ, công chức cấp phòng cá đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN
Hàng năm, Trường cũng tổ chức từ 1 – 2 lớp Bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành quản lý KH&CN cho 425 lượt người tham dự, đáp ứng yêu cầu cập nhật bổ sung kiến thức chuyên môn nghiệp vụ hàng năm
Ngoài các lớp nói trên, Trường còn tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng cho đội ngũ công chức như: Kỹ năng làm việc nhóm (40 người tham dự); Kỹ năng Quản trị thời gian (80 người tham dự) và Văn hóa công sở (40 người tham dự)
Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ viên chức KH&CN
Ngoài các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức nói trên, Trường Quản lý KH&CN còn có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ
Trang 36viên chức chuyên ngành KH&CN của các bộ ngành từ Trung ương đến địa phương Từ năm 2001, Trường Quản lý KH&CN đã tổ chức được 59 khóa Bồi dưỡng kiến thức Kinh tế - Kỹ thuật chuyên ngành KH&CN với trên 6.000 lượt viên chức tham dự
Trong năm 2011 và năm 2012, Trường đã tổ chức 9 khóa với 905 lượt viên chức tham dự để đủ điều kiện thi nâng ngạch lên nghiên cứu viên chính và kỹ sư chính ngành KH&CN Khi Luật Viên chức được ban hành,
Bộ KH&CN đã giao cho Trường Quản lý KH&CN xây dựng chương trình Bồi dưỡng nghiên cứu viên các hạng và chương trình Bồi dưỡng kỹ sư các hạng để tạo điều kiện cho các viên chức đủ điều kiện thi nâng hạng Quí IV năm 2016, Trường Quản lý KH&CN đã triển khai các chương trình Bồi dưỡng viên chức nói trên sau khi được Bộ Nội vụ và Bộ KH&CN phê duyệt, ban hành
Đào tạo, bồi dưỡng CCVC quản lý KH&CN ở địa phương
Thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến và bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý KH&CN cho cán bộ ở địa phương cấp tỉnh và cấp huyện, Trường Quản lý KH&CN đã cố gắng triển khai tại các địa phương khắp các vùng miền từ miền núi đến đồng bằng và các thành phố lớp Trong 5 năm từ 2011 -
2016, Nhà trường đã tổ chức được 91 lớp tập huấn, bồi dưỡng cho 10.714 lượt người tham dự Nội dung chủ yếu tập trung vào phổ biến các văn bản mới về KH&CN, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý KH&CN chuyên ngành ở địa phương và cấp huyện, Bồi dưỡng các nghiệp vụ quản lý của ngành như quản
lý hoạt động KH&CN, sở hữu trí tuệ, TCĐLCL quản lý an toàn bức xạ, thanh tra chuyên ngành KH&CN, quản lý công nghệ… Với năng lực còn khó khăn
về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên nhưng Trường đã huy động được đội ngũ cộng tác viên hiện đang làm quản lý tại các cơ quan QLNN để phối hợp thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đúng kế hoạch và chất lượng góp phần nâng cao năng lực đội ngũ công chức quản lý KH&CN ở địa
Trang 37phương được đánh giá cao, đảm bảo 100% đội ngũ công chức quản lý KH&CN cấp tỉnh và cấp huyện được đào tạo, bồi dưỡng hàng năm Với nguồn kinh phí hạn hẹp, ước tính chi phí đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành khoảng 1.000.000 đồng/suất đầu tư đã đem lại hiệu quả đáng ghi nhận
Ngoài ra, Trường còn triển khai được 5 lớp đào tạo, bồi dưỡng các ngạch Kiểm soát viên chất lượng sản phẩm hàng hóa với 202 lượt người tham dự; Phối hợp với Vụ KHCN các ngành KT-KT tổ chức 03 lớp Bồi dưỡng kiến thức An toàn sinh học phòng thí nghiệm cho 120 viên chức phòng thí nghiệm biến đổi gen
Để thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức ở tất
cả các nội dung, chương trình, Bộ KH&CN đã phân bổ kinh phí đầu năm trên
cơ sở kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng của đơn vị đảm bảo đúng theo quy định của Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21/9/2010 của Bộ Tài chính về việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Trong 5 năm từ 2011 - 2016, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức của Bộ KH&CN đã đạt được kết quả tốt, cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo Cao cấp Lý luận chính trị, duy trì các lớp bồi dưỡng kiến thức quản
lý nhà nước ngạch chuyên viên, chuyên viên chính và cử cán bộ lãnh đạo tham dự bồi dưỡng kiến thức quản lý ngạch chuyên viên cao cấp theo quy định; chủ động mở các lớp bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức;
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đã chú trọng đến lực lượng cán bộ chủ chốt, chú ý bồi dưỡng những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, …
để đáp ứng công việc hiện tại và tiếp cận những công việc sắp được thực hiện trong thời gian đến
Trang 38Sau mỗi khóa đào tạo, bồi dưỡng, kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp cụ của cán bộ, công chức được nâng cao rõ rệt, hoạt động có hiệu quả hơn đáp ứng nhu cầu cải cách nền hành chính, xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức có bản lĩnh vững vàng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn
Hầu hết các cơ quan, đơn vị, địa phương đã tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích, hỗ trợ về vật chất tinh thần cán bộ, công chức, viên chức đủ điều kiện học tập nâng cao trình độ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; bố trí
sử dụng hợp lý sau đào tạo, bồi dưỡng đã giúp CBCCVC yên tâm công tác
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được quan tâm thực hiện nhằm không ngừng trang bị và nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị, quản lý, điều hành và kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức của Bộ KH&CN nói riêng và của ngành KH&CN nói chung góp phần xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
* Thuận lợi
Văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính ban hành kịp thời và khá đầy đủ, tạo điều kiện cho cơ sở đào tạo triển khai thực hiện;
Sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Bộ KH&CN và sự phối hợp chặt chẽ của Vụ Tổ chức cán bộ và các Vụ chức năng tham gia trong quá trình thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
Nhận thức về việc đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức tại các đơn
vị, địa phương ngày càng được nâng lên; thể hiện rõ ở số lượng đăng ký học tham gia các lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức, viên chức ngày càng nhiều và sự động viên, khuyến khích, tạo điều kiện học tập của lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương;
Trang 39Do có sự chủ động trong xây dựng kế hoạch từ đầu năm, cùng với việc nắm số lượng đăng ký, theo dõi tình hình, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc đào tạo, bồi dưỡng nên việc triệu tập học viên đi học, đi bồi dưỡng luôn đúng thời gian quy định, đảm bảo về chất lượng nội dung chương trình và thời gian đào tạo; học viên sắp xếp được công việc chuyên môn để học tập và đạt kết quả khá tốt;
Việc phân cấp đào tạo, Chương trình bồi dưỡng Chuyên viên chính, chương trình chuyên viên và Bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng được thực hiện tại Trường Quản lý KH&CN đã tạo ra nhiều thuận lợi và cơ hội học tập cho cán bộ, công chức, viên chức trong điều kiện vừa làm, vừa học
2.2 Thực trạng các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực quản lý KH&CN
2.2.1 Tổng quan kết quả đào tạo nhân lực quản lý KH&CN
Theo Quyết định số 352/QĐ-BKHCN ngày 06/3/2014 của Bộ trưởng
Bộ KH&CN
Bên cạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng do Trường Quản lý KH&CN được giao thực hiện từ nguồn kinh phí Vì sự nghiệp KH&CN, các đơn vị khác trực thuộc Bộ KH&CN có chức năng quản lý nhà nước theo lĩnh vực được giao (Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng; Cục Sở hữu trí tuệ, Cục Năng lượng nguyên tử; Cục An toàn bức xạ và hạt nhân; Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp KH&CN; Thanh tra Bộ) được đào tạo, bồi dưỡng và cấp chứng chỉ hành nghề cho đội ngũ cán bộ, viên chức đang làm việc tại các đơn vị đặc thù có liên quan
Từ khi thành lập đến nay, Trường luôn được giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cho Bộ KH&CN là các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, cụ thể như sau:
Đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn về chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng về quản lý KH&CN
Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức quản lý KH&CN địa phương
Trang 40Từ khi được thành lập năm 1996, theo kế hoạch hàng năm, Trường được Lãnh đạo Bộ xem xét, cấp kinh phí từ nguồn sự nghiệp KH&CN để mở lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, kỹ năng quản lý KH&CN cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý KH&CN tại địa phương, nhằm thúc đẩy sự phát triển KH&CN
Theo kế hoạch hàng năm được phê duyệt, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý KH&CN tại địa phương là chức năng thường xuyên của Trường Các khóa đào tạo, bồi dưỡng của Trường phần nào đáp ứng được những khó khăn, vướng mắc của đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình làm việc