1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát thuật ngữ bưu chính viễn thông trong tiếng anh và cách chuyển dịch sang tiếng việt

210 223 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu hệ thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, quân sự, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, v.v… một c

Trang 1

i

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THIẾT

KHẢO SÁT THUẬT NGỮ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG TRONG TIẾNG ANH

VÀ CÁCH CHUYỂN DỊCH SANG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Phạm Hùng Việt

Hà Nội - 2018

Trang 2

ii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tư liệu và số liệu trong luận án là trung thực Đề tài nghiên cứu

và các kết quả chưa được ai công bố

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Thiết

Trang 3

i

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam 7

1.1.1.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới 7

1.1.2.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam 9

1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT trên thế giới và ở Việt Nam 11

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh 11

1.2.2.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT ở Việt Nam 12

2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 13

2.1 Một số vấn đề lí thuyết về thuật ngữ 13

2.1.1 Vị trí thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ 13

2.1.2 Quan niệm về thuật ngữ 14

2.1.3 Phân biệt thuật ngữ và một số đơn vị liên quan 18

2.1.4 Các tiêu chuẩn của thuật ngữ 21

2.2 Thuật ngữ và lí thuyết định danh 27

2.2.1 Khái niệm định danh 27

2.2.2 Lí thuyết định danh 27

2.2.3 Quá trình định danh 29

2.2.4 Nguyên lý định danh 29

2.3 Về hệ thống thuật ngữ BCVT 30

2.3.1 Về bưu chính 31

2.3.2 Về viễn thông 32

2.3.3 Về thuật ngữ bưu chính viễn thông 34

2.4 Lí thuyết dịch thuật và vấn đề dịch thuật ngữ 37

2.4.1 Khái quát về dịch thuật 37

2.4.2 Khái niệm tương đương trong dịch thuật 39

2.4.3 Các kiểu tương đương dịch thuật 41

2.4.4 Vấn đề dịch thuật ngữ 43

2.4.5 Quan hệ giữa nghiên cứu đối chiếu và chuyển dịch thuật ngữ 44

2.4.6 Dịch thuật ngữ BCVT Anh – Việt 45

2.5 Tiểu kết 46

Trang 4

ii

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

TIẾNG ANH 48

2.1.Thuật ngữ BCVT và các thành tố cấu tạo thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh 48

2.1.1 Xác định hệ thuật ngữ BCVT 48

2.1.2 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ BCVT 48

2.2 Đặc điểm của thuật ngữ BCVT tiếng Anh có cấu tạo là từ 51

2.2.1 Đặc điểm từ loại của thuật ngữ BCVT tiếng Anh là từ 52

2.2.2.Phân loại thuật ngữ BCVT tiếng Anh 53

2.2.3.Thuật ngữ BCVT tiếng Anh là từ ghép 56

2.3 Đặc điểm của thuật ngữ BCVT tiếng Anh có cấu tạo là ngữ 61

2.3.1 Số lượng thành tố cấu tạo thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh 61

2.3.2 Các thuật ngữ BCVT tiếng Anh là danh ngữ 62

2.3.2 Các thuật ngữ BCVT tiếng Anh là tính ngữ 65

2.3.4.Thuật ngữ BCVT tiếng Anh là từ tắt 69

2.4 Mô hình cấu tạo của hệ thuật ngữ BCVT tiếng Anh 72

2.4.1 Mô hình cấu tạo 1 72

2.4.2 Mô hình cấu tạo 2 73

2.4.3 Mô hình cấu tạo 3 73

2.4.4 Mô hình cấu tạo 4 74

2.4.5 Mô hình cấu tạo 5 75

2.4.6 Mô hình cấu tạo 6 76

2.4.7 Mô hình cấu tạo 7 77

2.4.8 Mô hình cấu tạo 8 78

2.4.9 Mô hình cấu tạo 9 79

2.5 Tiểu kết 80

Chương 3: PHƯƠNG THỨC HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA THUẬT NGỮ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG TIẾNG ANH 81

3.1.Phương thức hình thành thuật ngữ BCVT tiếng Anh 81

3.1.1 Phương thức thứ nhất: Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường 82

3.1.2 Phương thức thứ hai: Tạo thuật ngữ BCVT trên cơ sở ngữ liệu vốn có 85

3.1.3 Phương thức thứ ba: Tiếp nhận thuật ngữ BCVT nước ngoài 87

3.1.4 Phương thức thứ tư: Tiếp nhận thuật ngữ BCVT tiếng Anh từ các ngành khoa học khác 88

3.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ BCVT tiếng Anh 93

3.2.1 Nguyên tắc định danh 93

3.2.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ BCVT tiếng Anh xét theo kiểu ngữ nghĩa 93

Trang 5

iii

3.2.3 Đặc điểm định danh của thuật ngữ BCVT tiếng Anh xét theo kiểu cách thức biểu thị

96

3.3 Tiểu kết 113

Chương 4: CÁCH CHUYỂN DỊCH THUẬT NGỮ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG TIẾNG ANH SANG TIẾNG VIỆT 115

4.1 Các tiêu chí đảm bảo tương đương của sản phẩm dịch thuật 115

4.2 Đánh giá cách chuyển dịch thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng Việt 118

4.2.1 Phân tích tương đương dịch thuật thuật ngữ BCVT theo loại đơn vị cấu tạo thuật ngữ 118

4.2.2 Phân tích tương đương dịch thuật thuật ngữ BCVT theo số lượng đơn vị 123

4.3 Những thuận lợi và khó khăn trong dịch thuật ngữ BCVT từ tiếng Anh sang tiếng Việt 129

4.3.1 Thuận lợi 129

4.3.2 Khó khăn 130

4.4 Phương hướng và giải pháp chuẩn hoá dịch thuật ngữ BCVT từ tiếng Anh sang tiếng Việt 132

4.4.1 Phương hướng chuẩn hoá dịch thuật ngữ BCVT từ tiếng Anh sang tiếng Việt 132

4.4.2 Giải pháp chuẩn hoá dịch thuật ngữ BCVT từ tiếng Anh sang tiếng Việt 135

4.4.3 Ý kiến đề xuất về dịch thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng Việt 138

4.5 Tiểu kết 145

KẾT LUẬN 147

TÀI LIỆU THAM KHẢO 151

Trang 6

iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thuật ngữ BCVT tiếng Anh là từ 51

Bảng 2.2 Thuật ngữ BCVT tiếng Anh phân loại theo từ loại 52

Bảng 2.3 Thống kê từ loại của TNBCVT tiếng Anh là từ 60

Bảng 2.4 Thuật ngữ BCVT tiếng Anh là ngữ 61

Bảng 2.5 Thống kê từ loại của TN BCVT tiếng Anh là danh ngữ có 2 thành tố 63 Bảng 2.6 Thống kê từ loại của TN BCVT tiếng Anh là danh ngữ có 3 thành tố 64

Bảng 2.7 Thống kê các thuật ngữ BCVT tiếng Anh là tính ngữ có 2 thành tố 66

Bảng 2.8 Thống kê các thuật ngữ BCVT tiếng Anh là tính ngữ có 3 thành tố 66

Bảng 2.9 Thống kê các thuật ngữ BCVT tiếng Anh là động ngữ có 2 thành tố 67

Bảng 2.10 Thống kê các thuật ngữ BCVT tiếng Anh là động ngữ có 3 thành tố 67

Bảng 2.11 Thống kê các thuật ngữ BCVT tiếng Anh là động ngữ có bốn thành tố 68 Bảng 2.12 Phân loại TN BCVT tiếng Anh theo hình thức cấu tạo 72

Bảng 3.1 So sánh giữa nghĩa thông thường và nghĩa chuyên ngành 84

Bảng 3.2 Thuật ngữ BCVT tiếng Anh tiếp nhận từ các ngành khoa học khác 92

Bảng 3.3 Các kiểu quan hệ ngữ nghĩa là cơ sở tạo thành thuật ngữ mới trong BCVT 95

Bảng 3.4 Các thuật ngữ chỉ các "chủ thể hoạt động" trong BCVT 99

Bảng 3.5 Các thuật ngữ chỉ "các sự vật là đối tượng của quá trình hoạt động" xảy ra trong BCVT 101

Bảng 3.6 Các thuật ngữ chỉ các "hoạt động, quá trình" trong BCVT 102

Bảng 3.7 Các thuật ngữ chỉ các "hiện tượng xảy ra" trong BCVT 104

Bảng 3.8 Các thuật ngữ chỉ "các thiết bị" trong BCVT 106

Bảng 3.9 Các thuật ngữ chỉ "phương thức hoạt động" trong BCVT 108

Bảng 4.1 Kiểu tương đương 1//1 của thuật ngữ BCVT tiếng Anh và tiếng Việt 121

Bảng 4.2 Kiểu tương đương 1// >1 của thuật ngữ BCVT tiếng Anh và tiếng Việt 123 Bảng 4.3 Tỉ lệ tương đương theo số lượng đơn vị của thuật ngữ BCVT tiếng Anh và tiếng Việt 127

Trang 8

Từ thế kỷ 20 đến nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ, nhu cầu trong việc xây dựng, chuẩn hóa và thống nhất khái niệm khoa học đối với ngành thuật ngữ học cũng ngày càng tăng Điều này được minh chứng bằng việc đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu trên thế giới Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển của xã hội, bên cạnh việc tiếp tục thảo luận các vấn đề của thuật ngữ học lí thuyết, các nhà nghiên cứu cũng dành nhiều sự chú ý và quan tâm hơn cho các vấn đề thuộc thuật ngữ học ứng dụng

Ở Việt Nam, những năm gần đây, đã có nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu hệ thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, quân sự, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục, v.v… một cách toàn diện trên các phương diện như đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa, đặc điểm định danh, và đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ Trong xu hướng hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng, thực tiễn cho thấy thuật ngữ BCVT tiếng Anh được sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về hệ thuật ngữ BCVT tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt Do vậy, việc nghiên cứu thuật ngữ BCVT tiếng Anh là rất cần thiết

để giúp cho các kĩ sư, các giảng viên, các sinh viên, các giao dịch viên, các kĩ thuật viên, các nghiên cứu viên trong công tác nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực BCVT, đồng thời tiến tới xây dựng một hệ thống thuật ngữ BCVT tiếng Việt chuẩn, đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành BCVT trên con đường hội nhập quốc tế

Trang 9

2

Hiện nay, vấn đề thuật ngữ khoa học ở Việt Nam đang còn thiếu sự thống nhất giữa các quan điểm như: chuyển dịch thuật ngữ, đặt thuật ngữ mới, tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài dưới các hình thức khác nhau (chuyển dịch, phiên chuyển, để nguyên dạng) Hơn nữa, các tài liệu trong ngành BCVT chủ yếu được viết bằng tiếng Anh Qua thực tế giảng dạy môn tiếng Anh chuyên ngành BCVT cho sinh viên của Học viện Công nghệ BCVT và một số cơ sở đào tạo khác, chúng tôi nhận thấy tầm quan trọng của thuật ngữ BCVT thông đối với sinh viên đang theo học chuyên ngành này nói riêng và cho toàn xã hội nói chung Do đó việc khẳng định vị trí quan trọng của hệ thuật ngữ đã trở thành vấn đề thực sự cần kíp nên luận án đã đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm về cấu tạo, nội dung, ngữ nghĩa và cách chuyển dịch các thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng Việt Chỉ

ra được những đặc điểm, xu hướng phát triển và cách chuyển dịch sang tiếng Việt của hệ thuật ngữ này là góp phần vào việc xây dựng và chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ BCVT theo phương châm: khoa học, dân tộc, đại chúng và quốc tế Hiểu rõ về đặc điểm cấu tạo, nội dung ngữ nghĩa và hoạt động của thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh sẽ góp phần vào việc truyền bá kiến thức của ngành khoa học công nghệ này trong việc nâng cao hiểu biết của toàn xã hội cũng như đóng góp vào quá trình phát triển của đất nước

1.2 Sự cần thiết phải khảo sát các thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh

Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành BCVT là sự phát triển của

hệ thống thuật ngữ BCVT Đó là hệ thống các từ hay tổ hợp từ cố định mang ý

nghĩa định danh cho một khái niệm khoa học của ngành BCVT, bao gồm tên gọi các sự vật hiện tượng, các hành động trạng thái và các thuộc tính của chúng

Tuy nhiên, theo sự khảo sát ban đầu, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng cũng như chuyển dịch thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng Việt còn chưa được thống nhất, khoa học Có một số thuật ngữ BCVT có trong tiếng Anh mà chưa

có trong tiếng Việt Ví dụ: bus topology (tạm dịch là cấu hình bus), oriented protocol (tạm dịch là giao thức hướng byte), v.v…

byte-Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát thuật ngữ BCVT tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt” cho công trình luận án của mình

Trang 10

3

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống thuật ngữ BCVT tiếng Anh

và tiếng Việt, tức là các thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực BCVT bao gồm: hoạt động BCVT, chủ đề BCVT và các dịch vụ liên quan Nhiều thuật ngữ trong số này đã được thu thập trong các từ điển song ngữ Anh - Việt ngành BCVT

Tên riêng của các cơ quan, tổ chức làm các dịch vụ BCVT, tên các nhân vật lịch sử liên quan đến BCVT không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của thuật ngữ BCVT tiếng Anh và cách chuyển dịch thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng Việt

2.3 Ngữ liệu nghiên cứu

Tài liệu nghiên cứu luận án là các thuật ngữ rút từ Từ điển giải nghĩa thuật ngữ viễn thông Anh – Việt do nhà xuất bản (Nxb) Bưu điện phát hành năm

2003, do tác giả Lê Thanh Dũng biên soạn, gồm gần 10.000 thuật ngữ

Ngoài ra, các thuật ngữ còn được thu thập từ những tài liệu BCVT bằng tiếng Anh và tiếng Việt

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu của luận án nhằm làm sáng tỏ đặc trưng về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ thống thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh Trên cơ sở đó luận án đề xuất phương hướng chuyển dịch hệ thống thuật ngữ này sang tiếng Việt Nghiên cứu của luận án còn nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học môn tiếng Anh chuyên ngành tại

Học viện Công nghệ BCVT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

a Hệ thống hóa các quan điểm lý luận về thuật ngữ khoa học trên thế giới

và ở Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu;

b Phân tích, đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh;

c Xác định các loại mô hình kết hợp các thành tố để tạo thành thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh;

Trang 11

4

d Tìm hiểu đặc điểm định danh của thuật ngữ BCVT ngôn ngữ Anh về các mặt: những con đường hình thành, kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của thuật ngữ BCVT;

e Nghiên cứu các phương thức chuyển dịch thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng Việt

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án này sử dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu phổ biến của ngôn ngữ học sau đây:

4.1 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được sử dụng để miêu tả đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh cũng như các vấn đề liên quan đến việc chuyển dịch thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng Việt Trong phương pháp miêu tả, luận án có sử dụng các thủ pháp sau:

Thủ pháp này được áp dụng để phân tích cấu tạo thành ngữ theo thành

tố trực tiếp nhằm xác định các yếu tố tạo nên thuật ngữ Từ đó tìm ra các nguyên tắc cơ sở tạo thành thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh, xác định các mô hình

và các quy tắc cấu tạo thuật ngữ BCVT

Thủ pháp này được sử dụng để tìm hiểu số lượng, tần số xuất hiện, tỉ lệ phần trăm của các phương thức tạo thành thuật ngữ, các mô hình định danh thuật ngữ Các kết quả thống kê sẽ được tổng hợp lại dưới hình thức của bảng biểu giúp hình dung rõ nét hơn các nét đặc trưng cơ bản về cấu tạo, cấu trúc ngôn ngữ của thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh

4.2 Phương pháp nghiên cứu đối chiếu - dịch thuật

Phương pháp dịch được sử dụng để xem xét cách thức dịch các đơn vị ngôn ngữ nói chung từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, để từ đó đi đến các nhận xét, đề xuất về cách thức chuyển dịch thuật ngữ BCVT từ tiếng Anh sang tiếng Việt

5 Cái mới của luận án

Thực tế, việc nghiên cứu thuật ngữ nói chung đã có bề dày lịch sử, đặc biệt ở trên thế giới Đồng thời việc ứng dụng những thành tựu của lí thuyết thuật ngữ vào việc nghiên cứu hệ thống thuật ngữ của một ngành khoa học cụ thể cho

Trang 12

5

đến nay cũng không còn mới ở Việt Nam Tuy nhiên, việc vận dụng các thành tựu

lí luận chung về thuật ngữ để khảo sát hệ thống thuật ngữ BCVT tiếng Anh một cách chuyên sâu và toàn diện từ góc độ ngôn ngữ học thì đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam Vì vậy có thể coi đây là cái mới của luận án

Luận án làm rõ đặc điểm thuật ngữ BCVT tiếng Anh trên cả bình diện cấu trúc hình thức và nội dung ngữ nghĩa Luận án đã áp dụng một số cơ sở lí luận vào trong quá trình nghiên cứu là tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ BCVT tiếng Anh Từ đó luận án tiến hành đánh giá dịch thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng Việt nhằm chuẩn hóa hệ thuật ngữ BCVT tiếng Việt

Luận án đã làm sáng tỏ các đặc điểm về cấu trúc hình thức của thuật ngữ BCVT tiếng Anh trên nhiều phương diện như số lượng thành tố cấu tạo, phương thức cấu tạo, Đặc biệt luận án đã đưa ra các mô hình cấu tạo cơ bản thuật ngữ BCVT tiếng Anh và các đặc trưng dùng làm cơ sở định danh

về thuật ngữ học và lý luận về chuẩn hóa ngôn ngữ nói chung, chuẩn hóa thuật ngữ nói riêng, từ đó có thể góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng bộ luật ngôn ngữ ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa

6.2 Về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án:

- Cho phép đề xuất được các biện pháp, phương hướng cấu tạo các thuật ngữ BCVT trong tiếng Việt hiện nay cho nhất quán;

- Là cơ sở để biên soạn từ điển thuật ngữ BCVT tiếng Việt phục vụ cho

sự phát triển ngành BCVT nước ta;

Trang 13

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án bao

gồm 4 chương, với bố cục như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT,

hệ thống hóa một số vấn đề lí luận chung về thuật ngữ và một số vấn đề liên quan đến thuật ngữ BCVT để làm cơ sở cho toàn bộ nghiên cứu Ngoài ra, lí thuyết dịch, các quan điểm về dịch thuật và các phương pháp dịch thuật ngữ cũng được nêu ra làm cơ sở cho việc chuyển dịch các thuật ngữ BCVT tiếng

Anh sang tiếng Việt

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ BCVT tiếng Anh Đây là chương

luận án tìm hiểu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ BCVT tiếng Anh trên các phương diện: số lượng thành tố cấu tạo, quan hệ ngữ pháp, đặc điểm từ loại Từ

đó tìm ra các mô hình cấu tạo cơ bản

Chương 3: Phương thức hình thành và đặc điểm định danh của thuật ngữ BCVT tiếng Anh Chương này, ngoài việc tập trung tìm hiểu về các

phương thức hình thành, nguyên lí định danh và các phương thức định danh thuật ngữ BCVT tiếng Anh, luận án còn tiến hành khảo sát đặc điểm định danh dựa trên hai phương diện cơ bản là các phạm trù và các đặc trưng được chọn Từ

đó tìm ra các mô hình định danh cho thuật ngữ BCVT tiếng Anh

Chương 4: Cách chuyển dịch thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng việt Trong chương này, trên cơ sở lí thuyết dịch, luận án tiến hành khảo sát,

đánh giá về tương đương dịch thuật các thuật ngữ BCVT và lấy đó làm cơ sở đề xuất chuyển dịch thuật ngữ BCVT tiếng Anh sang tiếng Việt nhằm góp phần chuẩn hóa hệ thuật ngữ BCVT tiếng Việt

Trang 14

7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới

Có thế thấy rằng từ thế kỷ thứ XVIII, các nghiên cứu về thuật ngữ đã bắt đầu manh nha với nội dung chính là tạo lập, xây dựng và sơ khai xác định các nguyên tắc cho một số hệ thuật ngữ đặc biệt Một số tác giả được cho là những người tiên phong trong công tác nghiên cứu thuật ngữ như CarlvonLinne’ (1736); Beckmann (1780); Lavoisier, G.de Morveau, M Berthelottot và A.F.de Fourcoy (1789), và William Wehwell (1840)

Đến đầu thế kỷ XX, khoa học thuật ngữ mới thực sự được hình thành, việc nghiên cứu thuật ngữ mới có được định hướng khoa học và được công nhận là một hoạt động khoa học quan trọng về mặt xã hội Nổi bật là ba trường phái sau:

Áo, Xô Viết và Cộng hòa Séc

Cả ba trường phái này đều có chung một quan điểm, đó là: nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học; xem thuật ngữ như là một phương diện diễn đạt và giao tiếp Vì thế cả ba trường phái đã hình thành cơ sở lý thuyết về thuật ngữ và những nguyên lí mang tính phương pháp, chi phối những ứng dụng của nó

Từ những năm 30 của thế kỉ XX, cả thế giới có hai trung tâm nghiên cứu thuật ngữ học lớn, tiến hành các hoạt động chỉnh lí các thuật ngữ hiện có và xây dựng các thuật ngữ mới Trung tâm thứ nhất đặt tại Áo và trung tâm thứ hai đặt tại Liên Xô Sau này, các nhà khoa học ở Canada cũng bắt đầu quan tâm đến các nghiên cứu về thuật ngữ học

Các nhà khoa học Xô Viết đã đưa ra những quan điểm về nghiên cứu thuật ngữ Các lí thuyết và hoạt động thực tiễn về thuật ngữ thời kì này gắn với tên tuổi của các nhà nghiên cứu như D.S Lotte, E.K Drezen và sau đó như A.A Reformatski, G.O Vinokur Chính những nhà khoa học này đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự hình thành bộ môn thuật ngữ học ở Liên Xô trước đây Nhiều nhà thuật ngữ học đã cho rằng Liên Xô chính là cái nôi ra đời của bộ môn thuật

Trang 15

Giai đoạn từ những năm 1970 đến những năm 1990, thuật ngữ học chính thức trở thành một ngành khoa học độc lập Thời kì này, ở Liên Xô có rất nhiều các chuyên khảo về thuật ngữ được công bố, các luận án tiến sĩ về thuật ngữ được bảo vệ, các từ điển thuật ngữ chuyên ngành được xuất bản Đây cũng là thời kì đón nhận nhiều đóng góp trong công tác nghiên cứu thuật ngữ của các nhà khoa học như L.I Borisova, L.N Beljaeva, A.S.Gerd, B.N Galovin, S.V Grinev, A.V Superanskaja, N.V Vasilieva, V.V [77, tr.13-14]

Như vậy, có thể nói rằng hiện nay có nhiều ngôn ngữ đã có hệ thống thuật ngữ phát triển ở một mức độ nhất định, mạnh nhất trong số đó phải kể đến những nước phát triển như: Nga, Anh, Pháp, Đức, Italia Trong những năm cuối của thế

kỉ XX, việc nghiên cứu thuật ngữ ở một số nước đang phát triển cũng được các nhà khoa học quan tâm hơn [39]

Đối với những ngôn ngữ có hệ thống thuật ngữ đang phát triển, việc phân định rõ ràng các khái niệm và các tên gọi đã có không quan trọng bằng việc xây dựng toàn bộ hệ thống các tên gọi thuộc một chuyên ngành nhất định Nếu như một quốc gia chưa có hệ thuật ngữ khoa học trong hệ thống ngôn ngữ, thì các nhà nghiên cứu buộc phải sử dụng một ngôn ngữ khác có hệ thuật ngữ đã được nghiên cứu và biên soạn Trong đa số các trường hợp, tiếng Anh thường là lựa chọn đầu tiên được các nhà khoa học sử dụng như là một ngôn ngữ nước ngoài

Đó là bởi vì hệ thống các khái niệm khoa học cần phải có tính hệ thống về phương diện ngôn ngữ, đó là: cấu tạo cùng kiểu để biểu thị các hiện tượng tương

tự nhau, chỉ ra những đồng phụ thuộc hay tôn ti các khái niệm bằng các phương tiện ngôn ngữ được phép Đây là công việc lâu dài, tỉ mỉ, đòi hỏi phải có những nghiên cứu thận trọng, những thói quen và kinh nghiệm đáng kể Tiếng Anh chính là ngôn ngữ hội tụ đủ những yếu tố này [39]

Trang 16

9

Trước hết, chúng tôi xin điểm lại tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Liên

Xô trước đây Do Liên Xô là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, trong đó có

cả những ngôn ngữ đã có hệ thuật ngữ phát triển và còn có cả những ngôn ngữ chưa xây dựng được các hệ thuật ngữ, nên đặc điểm của hoạt động nghiên cứu thuật ngữ ở Liên Xô cũng có những nét riêng biệt Các ngôn ngữ riêng lẻ của các dân tộc ở Liên Xô trước đây có những phạm vi hành chức khác nhau Có những ngôn ngữ chỉ được sử dụng để giao tiếp trong gia đình; có những ngôn ngữ chỉ được sử dụng để giảng dạy và học tập ở các lớp tiểu học trong nhà trường; có một loạt ngôn ngữ được dùng để giảng dạy trong nhà trường theo chương trình đầy đủ của bậc trung học; ngôn ngữ của các nước cộng hòa liên bang lại được dùng để giảng dạy đại học, để xây dựng và phát triển một số ngành khoa học và

để xuất bản sách, báo khoa học [39]

Các ngôn ngữ của tất cả các dân tộc thuộc Liên Xô trước đây đã trở thành

là đối tượng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, văn học, sử học, các nhà hoạt động văn hóa Tuy nhiên, các hệ thuật ngữ của tất cả các lĩnh vực tri thức ở từng nước cộng hòa thành viên không hẳn được tạo bằng ngôn ngữ của dân tộc ở nước cộng hòa đó Tiếng Nga chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong số các ngôn ngữ đã có hệ thuật ngữ rất phát triển ở Liên Xô trước đây, đó là ngôn ngữ giao tiếp giữa các dân tộc ở Liên Xô và là ngôn ngữ giao tiếp quốc tế của các chuyên gia ở tất cả các nước cộng hòa [39]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam

Ở Việt nam, đầu thế kỉ XX, nhưng phải từ những năm 30 trở đi thì các nghiên cứu về thuật ngữ mới thực sự được ghi nhận Hoàng Xuân Hãn được coi là người đầu tiên đặt nền móng cho nghiên cứu thuật ngữ ở nước ta với tác phẩm

“Danh từ khoa học”, gồm 6000 danh từ, mô tả những khái niệm khoa học tự nhiên dựa trên bản tiếng Pháp Ông là người đầu tiên tổng kết ba phương thức xây dựng thuật ngữ, đó là dựa vào từ ngữ thông thường, mượn từ tiếng Hán và phiên âm từ các tiếng Ấn – Âu, đồng thời ông cũng đề ra 8 yêu cầu đối với việc xây dựng thuật ngữ khoa học mới Đây là từ điển đối dịch Pháp – Việt đầu tiên ở Việt Nam

về một ngành khoa học tự nhiên [Hoàng Xuân Hãn, 1942]

Vào những năm 1978 và 1979, có tới 4 hội nghị khoa học về chuẩn mực hóa chính tả và thuật ngữ đã được tổ chức với sự tham gia của rất nhiều nhà khoa học, chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: xác định khái niệm thuật ngữ;

Trang 17

10

tiêu chuẩn của thuật ngữ; phương thức xây dựng thuật ngữ; vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài, … Nhiều ý kiến của các tác giả như Lê Khả Kế, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Như Ý, … đã được đăng tải trên tạp chí Ngôn ngữ thời kì này Sau đó, Hoàng Văn Hành (1983) khái quát về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt trong một số bài báo nghiên cứu của ông Vũ Quang Hào (1991)

là người đặt vấn đề nghiên cứu chuyên sâu về hệ thuật ngữ của một ngành tương

đối hoàn chỉnh, đó là: Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt

Gần đây, một số công trình có giá trị về mặt lí luận và thực tiễn trong lĩnh vực thuật ngữ như Lê Quang Thiêm với “Sự phát triển thuật ngữ tiếng Việt theo định hướng văn hóa (từ 1907 – 2005)”, Nguyễn Đức Tồn (2012) với “Nghiên cứu khảo sát thuật ngữ tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng luật ngôn ngữ ở Việt Nam” Tháng 11 năm 2008, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam đã tổ chức hội thảo “Thuật ngữ tiếng Việt trong đổi mới và hội nhập” Đã có 10 báo cáo khoa học, tham luận được trình bày trong hội thảo Năm 2009 – 2010, chương trình khoa học cấp Bộ của Viện Khoa học xã hội Việt Nam do PGS TS Phạm Hùng Việt làm chủ nhiệm “Một số vấn đề cơ bản về cơ sở lí luận và phương pháp biện soạn các loại từ điển và bách khoa thư Việt Nam” được triển khai, trong đó có nội dung về biên soạn từ điển thuật ngữ và chuyên ngành Ngoài ra, Hà Quang

Năng (2012) đã cho ra mắt chuyên khảo Thuật ngữ học – Những vấn đề lí luận

và thực tiễn Đây là một tài liệu có nhiều đóng góp vào công việc nghiên cứu về

lí luận thuật ngữ ở Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế hội nhập hiện nay, Nguyễn Văn

Khang với một số bài báo mang tính thời sự: Nghiên cứu về vấn đề xử lý từ ngữ

nước ngoài trong tiếng Việt hiện nay, nhằm chuẩn hóa thuật ngữ trong tiếng Việt

[Nguyễn Văn Khang 2000-2005]

Bên cạnh các bài viết, công trình nghiên cứu, các hội thảo về thuật ngữ, trong thời gian gần đây còn có khá nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, lấy đề tài nghiên cứu về thuật ngữ làm đề tài cho luận văn, luận án của mình Có thể dẫn ra một số luận án tiến sĩ nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt trong một số

ngành khoa học như: Mai Thị Loan (2011), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật

ngữ luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt; Vũ Thị Thu Huyền (2013), Thuật ngữ khoa học kỹ thuật xây dựng trong tiếng Việt; Quách Thị Gấm (2014), Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt; Ngô Phi Hùng (2014), Nghiên cứu các phương thức

Trang 18

11

cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt trên tư liệu thuật ngữ Toán -

Cơ - Tin học - Vật lí), … Các luận án nghiên cứu về đối chiếu so sánh và đối

dịch thuật ngữ tiếng nước ngoài với tiếng Việt, theo khảo sát của chúng tôi, có

những luận án sau: Nguyễn Thị Bích Hà (2000), Thuật ngữ kinh tế thương mại

trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại; Vương Thị thu Minh (2006), Khảo sát thuật ngữ y học trong tiếng Anh và cách dịch chuyển sang tiếng Việt; Lê Thanh

Hà (2014), Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt – Anh

Về lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, theo hiểu biết của chúng

tôi, mới chỉ có luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), Khảo sát hệ

thuật ngữ tin học Viễn thông tiếng Việt Đây là công trình nghiên cứu về đặc

điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ tin học – viễn thông trong tiếng Việt Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về thuật ngữ BCVT Chính vì vậy, chúng tôi chọn thuật ngữ BCVT tiếng Anh làm đối tượng nghiên cứu cho luận

án này, với mong muốn bước đầu đi sâu nghiên cứu thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh về đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh,và sau đó là cách chuyển dịch

hệ thuật ngữ này sang tiếng Việt

Như vậy, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về lí thuyết thuật ngữ nói chung cũng như về hệ thuật ngữ cụ thể của một số chuyên ngành Điều này chứng tỏ đây là một lĩnh vực thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trong thời gian qua Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, với sự phát triển của các ngành khoa học, kĩ thuật, văn hóa, nghệ thuật, Việt Nam mở rộng quan hệ hợp tác, giao lưu với các nước khác trên thế giới, cho nên việc tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu thuật ngữ là một nhu cầu tất yếu cần được đặt ra

1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh

Việc nghiên cứu thuật ngữ BCVT trong tiếng Anh chủ yếu được tiến hành theo các hướng sau:

- Tìm hiểu lịch sử thuật ngữ BCVT

- Sử dụng các yếu tố gốc Latinh và gốc Ấn - Âu trong thuật ngữ BCVT

- Phân tích các thành tố cấu tạo thuật ngữ, hình vị kết hợp, phụ tố, cấu tạo từ,

từ phái sinh bao gồm cả phân tích ngữ nghĩa các thuật ngữ BCVT

- Các phương pháp tạo ra thuật ngữ

Trang 19

12

Kết quả nghiên cứu đã dẫn tới các cuốn từ điển, giáo trình, tài liệu về chuyên ngành BCVT, có thể kể ra một số công trình như:

- Understanding Telecommunications, Anders O., Ericsson Telecom,

Telia and Student literature, 1998

- The Internet book, Doughlas E C., Prentice Hall, 1995

- Communications Standard Dictionary, Martin H W International

Thompson Publishing Inc, 1999

- Desktop Encyclopedia of Telecommunications, Nathan, J.M.,

McGraw-Hill Inc, 1998

- The Focal Illustrated Dictionary of Telecommunications Xerxes M., Fridoon

M.,, Reed Education and Professional Publishing Limited, 1999

- Illustrated Telecom Dictionary, Jade C., second edition,

McGraw-Hill Inc, 1998

- Vocabulaire, Universal Postal Union, Union postale universelle, Bern, 2003

- English for Telecommunication Industry, Jeremy Comfort, OUP, 1986

1.2.2.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ BCVT ở Việt Nam

BCVT là một ngành khoa học công nghệ xuất hiện ở nước ta chưa lâu, nhưng lại đang có những bước phát triển vượt bậc, ngành BCVT đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu những yêu cầu cấp thiết, cần phải có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về khoa học BCVT nói chung cũng như về hệ thuật ngữ BCVT, về sách công cụ tra cứu cho ngành nói riêng Nhu cầu thì cao, nhưng trên thực tế, trong phạm vi sách công cụ tra cứu và công trình nghiên cứu về thuật ngữ BCVT ở Việt Nam, chỉ có thể kể ra được một số công trình sau:

- Năm 1997, Ban từ điển, Nxb Khoa học và kĩ thuật xuất bản cuốn “Từ

điển Điện tử - Tin học – Truyền thông Anh – Việt”

- Năm 2002, Nxb Khoa học và Kỹ thuật xuất bản cuốn “Từ điển Tin học

Điện tử Viễn thông”

- Năm 2005, Nxb Bưu điện đã xuất bản cuốn “Từ điển thuật ngữ Viễn

thông Anh – Việt”, do TS Phùng Văn Vận làm chủ biên

- Năm 2003, Nxb Bưu điện xuất bản cuốn “Từ điển giải nghĩa thuật ngữ

viễn thông Anh – Việt”, do Lê Thanh Dũng làm chủ biên

- Năm 2003, Nxb Bưu điện đã xuất bản cuốn “Từ điển viết tắt Điện tử -

Viễn thông - Tin học Anh – Việt”, do nhiều tác giả biên soạn

Trang 20

13

- Năm 1998, Nxb Bưu điện đã xuất bản cuốn “Tiếng Anh dành cho giao

dịch viên bưu điện”, do Nguyễn Thượng Thái làm chủ biên

Gần đây có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Thanh (2005) “Khảo sát

hệ thuật ngữ tin học Viễn thông tiếng Việt” Đây là một luận án có nhiều đóng

góp, tuy nhiên đây là một nghiên cứu về thuật ngữ chuyên ngành Tin học - Viễn thông hơn nữa lại là thuật ngữ tiếng Việt, không đề cập đến thuật ngữ bưu chính,

Như vậy, nhìn chung việc nghiên cứu thuật ngữ BCVT ở Việt Nam từ trước đến nay, xét về cả lí luận và thực tiễn còn chưa được quan tâm thích đáng

mà mới chỉ là những khảo sát bước đầu có tính chất định hướng, chưa toàn diện

và chuyên sâu

2 CƠ SỞ LÍ LUẬN

2.1 Một số vấn đề lí thuyết về thuật ngữ

2.1.1 Vị trí thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ

Thuật ngữ là những từ ngữ đặc biệt chủ yếu do con người tạo ra một cách

có ý thức, là sản phẩm của lao động trí tuệ bởi vì thuật ngữ ra đời cùng với sự

lao động sáng tạo của đội ngữ trí thức “Thuật ngữ không chỉ hiểu đơn giản là từ

và ngữ chuyên môn dùng trong khoa học kĩ thuật, công nghệ, dịch vụ mà đó là

hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học, là tri thức khoa học công nghệ, là trí tuệ dân tộc và nhân loại được chung đúc qua hình thức ngôn ngữ” [97, tr.8]

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ

và đội ngũ trí thức, thuật ngữ ngày càng được quan tâm và các nghiên cứu về thuật ngữ học ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Thuật ngữ hiện nay được nhìn nhận không phải chỉ là một lớp từ giống lớp từ địa phương,

từ nghề nghiệp… như quan niệm trước kia, bởi vì so với các lớp từ này, thuật ngữ là bộ phận từ vựng rất lớn trong hệ thống ngôn ngữ Theo tổng kết của một

số nhà nghiên cứu, hầu hết các từ ngữ mới xuất hiện trong từ điển đều là thuật ngữ Chẳng hạn, theo thống kê của nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc Sokhora.X., có

đến 90% từ mới thuộc hệ thống thuật ngữ khoa học và kĩ thuật [50, tr.1] Tương tự

như vậy, Budagov R.A (1976) nhận định “Số lượng thuật ngữ trong mỗi ngành

khoa học đang phát triển quả thật không phải từng ngày mà là từng giờ” [5, tr.44]

Chính vì sự phát triển mạnh mẽ đó mà thuật ngữ hiện nay rất được các nhà khoa học quan tâm và trở thành đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học, một ngành khoa học đã được công nhận ở trên thế giới Mặc dù hiện nay còn có

Trang 21

ngữ học ứng dụng Trong đó, đối tượng của thuật ngữ học là thuật ngữ với các

lớp, loại khác nhau và hệ thống thuật ngữ hiểu theo nghĩa rộng” [68, tr.23] Theo Leichik (1986), trong thực tế thuật ngữ có thể được hình thành theo tự phát, tự nhiên hoặc được tạo ra một cách có ý thức Thuật ngữ được hình thành theo con đường tự phát thường phản ánh không hoàn toàn đầy đủ, chi tiết và hệ thống các khái niệm chuyên ngành [68, tr.23]

2.1.2 Quan niệm về thuật ngữ

Cho đến nay hầu hết mỗi nhà nghiên cứu tiếp cận thuật ngữ từ nhiều góc nhìn khác nhau, vì vậy cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ Chẳng

thuật ngữ; năm 1977 trong một cuốn sách của mình, Danilenko V.P đưa ra 19

định nghĩa, ông còn nói rằng vẫn chưa hết và còn có thể kể thêm nữa [91, tr.5]

Thậm chí Reformatxki A.A khẳng định có thể viết hẳn một cuốn sách về vấn đề thế nào là thuật ngữ [44, tr.100] Lí do của điều này Superanskaja (2007) cho rằng, vì vào thời điểm đó bộ môn thuật ngữ học chưa hình thành và vì thuật ngữ

là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau nên mỗi ngành khoa học thường nhấn mạnh một đặc điểm, hoặc có những cách tiếp cận khác nhau với thuật ngữ

Dưới đây chúng tôi đề cập đến hai trường phái chính, đó là trường phái định nghĩa thuật ngữ theo quan niệm truyền thống và trường phái định nghĩa thuật ngữ theo quan niệm mới

2.1.2.1 Thuật ngữ theo quan niệm truyền thống từ góc độ ngôn ngữ học)

Quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu theo quan niệm truyền thống có thể tổng kết thành ba xu hướng chính sau:

a Thuật ngữ được định nghĩa trong sự phân biệt với từ thông thường

Một số nhà nghiên cứu nước ngoài, khi định nghĩa thuật ngữ, đã quan tâm

tới việc chỉ ra sự khác biệt giữa thuật ngữ với từ thông thường Kuz'kin N.P

(1962) cho rằng: "Nếu như từ thông thường, từ phi chuyên môn tương ứng với

đối tượng thông dụng, thì từ của vốn thuật ngữ lại tương ứng với đối tượng

Trang 22

15

chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến" [36,

tr.10] Tương tự, Moiseev A.I (1970) khẳng định: "Chính biên giới giữa thuật

ngữ và phi thuật ngữ không nằm giữa các loại từ và cụm từ khác nhau mà nằm

trong nội bộ mỗi từ và cụm từ định danh" [36, tr.10] Kapanadze L.A cũng nhấn mạnh:"Thuật ngữ không gọi tên khái niệm như từ thông thường mà là khái niệm được gán cho nó dường như là gắn kèm theo nó cùng với định nghĩa" [24, tr.4]

b Thuật ngữ được định nghĩa gắn với chức năng

Bên cạnh đó, khá nhiều nhà nghiên cứu khi định nghĩa thuật ngữ lại chú ý

đến chức năng mà thuật ngữ đảm nhiệm Vinokur G.O (1939) khẳng định

"Thuật ngữ - đấy không phải là những từ đặc biệt, mà chỉ là những từ có chức

năng đặc biệt” và đó là “chức năng gọi tên” [51, tr.4] Đồng thời, ông cho rằng

bất cứ từ nào cũng được cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ Quan niệm của Vinokur G.O cho thấy nền tảng của thuật ngữ chính là ngôn ngữ, cụ thể là các đơn vị từ vựng Tương tự như vậy, Vinôgrađốp V.V (1947) còn chỉ rõ thuật ngữ

không chỉ có chức năng gọi tên mà còn có chức năng định nghĩa: “Trước hết từ

thực hiện chức năng định danh, nghĩa là hoặc nó là phương tiện biểu thị, lúc đó

nó chỉ là một kí hiệu đơn giản, hoặc nó là phương tiện của định nghĩa logich, lúc đó

nó là thuật ngữ khoa học” [36, tr.14] Ngoài ra, Gerd A.X (1968) trong định nghĩa

của mình cũng nhấn mạnh chức năng định nghĩa của thuật ngữ:"Thuật ngữ là một

đơn vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa" [92, tr.19]

c Thuật ngữ được định nghĩa gắn với khái niệm

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Thuật ngữ là từ hay cụm từ cố định

được dùng trong các chuyên ngành để biểu thị chính xác các khái niệm và các đối tượng thuộc chuyên ngành” [Từ điển bách khoa Việt Nam 4, Nxb Từ điển

bách khoa, Hà nội 2005]

Phần lớn các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước khi định nghĩa thuật ngữ

đã tập trung đến việc xác định thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm Ở Việt

Nam, Nguyễn Văn Tu (1960), Đỗ Hữu Châu (1962) là những nhà ngôn ngữ học đầu tiên đưa ra định nghĩa về thuật ngữ Trong đó các tác giả chỉ rõ thuật ngữ không

chỉ biểu thị khái niệm khoa học mà thuật ngữ còn chỉ tên cả sự vật, hiện tượng khoa

học Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác ([31], [43], [53], [64], [100]…) cũng đưa

ra các định nghĩa về thuật ngữ Tuy nhiên, nhìn chung các định nghĩa đều nhấn

Trang 23

16

mạnh đến tính chính xác của khái niệm và đối tượng chuyên môn mà thuật ngữ biểu thị: "Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và

cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các khái niệm và các đối tượng thuộc lĩnh

vực chuyên môn của con người" [31, tr.270]

Ở nước ngoài, một số nhà ngôn ngữ học Nga khi đưa ra định nghĩa cũng nhấn mạnh đến khái niệm và đối tượng chuyên môn mà thuật ngữ biểu thị Chẳng

hạn, Akhmanova O.S (1966) định nghĩa: "Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn

ngữ chuyên môn ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kĩ thuật, v.v ) được sáng tạo ra

được tiếp nhận, được vay mượn.v.v ) để biểu hiện các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn" [106, tr.474]

Những năm gần đây, ở Việt Nam, khi bàn về vấn đề thuật ngữ nói chung hoặc trong các công trình nghiên cứu về thuật ngữ thuộc một số các chuyên ngành cụ thể, hầu hết các nhà nghiên cứu cũng đều đưa ra định nghĩa thuật ngữ,

hoặc chấp nhận quan điểm định nghĩa thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm và đối tượng chuyên môn mà thuật ngữ biểu thị ([36], [48], [66], [73],

[93], [107]…)

2.1.2.2 Thuật ngữ theo quan niệm mới từ góc độ của thuật ngữ học)

Ngày nay, thuật ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học, một ngành khoa học đã được công nhận ở trên thế giới Các nhà nghiên cứu theo quan điểm thuật ngữ học xác định: đối tượng của thuật ngữ học không chỉ là thuật ngữ như là đơn vị từ vựng có mục đích chuyên biệt, mà là hệ thống thuật ngữ, vốn nghĩa không hoàn toàn là một phạm trù ngôn ngữ học Chính vì vậy, khái niệm thuật ngữ được xác định theo quan điểm của thuật ngữ học rất được chú ý Trong số này, định nghĩa thuật ngữ do Leitchik mang tính toàn diện nhất:

“Thuật ngữ là một sản phẩm kết hợp đa tầng, gồm tầng nền là ngôn ngữ tự nhiên

và tầng thượng thuộc về logic Trong đó, tầng thượng superstratum) ở trên và tầng nền substratum) ở dưới, bao bọc hạt nhân thuật ngữ, gồm cấu trúc hình thức, cấu trúc chức năng, cấu trúc khái niệm chuyên ngành Ba cấu trúc này tác động qua lại với tầng nền ngôn ngữ và tầng thượng logic” [68, tr.23]

Nói về tầng nền là ngôn ngữ tự nhiên, Leichik chỉ rõ, xét về mặt ngôn ngữ

học, thuật ngữ là từ hay tổ hợp từ của một ngôn ngữ tự nhiên nào đó [68, tr.25]

Tương tự, nói về vai trò của tầng nền ngôn ngữ tự nhiên, Superanskaja cho rằng,

vì thuật ngữ là ở dạng đơn vị từ vựng, đơn vị ngôn ngữ, cho nên có thể khẳng

Trang 24

17

định đơn vị từ vựng của ngôn ngữ tự nhiên là tầng nền ngôn ngữ tự nhiên của thuật ngữ Thuật ngữ được phát triển từ đơn vị từ vựng của một ngôn ngữ tự nhiên nhất định Từ quan niệm đó, Superanskaja cũng đi đến kết luận rằng, thuật ngữ là một đơn vị từ vựng tam cấp phức tạp của một ngôn ngữ dùng cho những mục đích chuyên biệt nhất định Tác giả khẳng định, với quan niệm như trên về các phương diện ngôn ngữ của thuật ngữ chúng ta mới có thể giải quyết được nhiều vấn đề về phương pháp luận của thuật ngữ, trước hết là vấn đề truyền thống về bản chất ngôn ngữ của thuật ngữ, hay vấn đề đặc thù của thuật ngữ… Bởi vì, nếu chỉ đứng trong khuôn khổ thuần túy của ngôn ngữ học thì không thể phát lộ ra các nét đặc trưng, cơ bản của thuật ngữ phân biệt với các đơn vị từ vựng khác, vốn thường tập hợp dưới tên gọi phi thuật ngữ [91, tr.9]

Ngoài ra, một số tác giả nước ngoài khác cũng đưa ra những quan điểm

về thuật ngữ như sau: Silvia Pavel & Diane Nolet cho rằng “Thuật ngữ là tập

hợp các từ chuyên môn thuộc về một ngành khoa học, một nghệ thuật, một tác giả, hoặc một thực thể đặc biệt, ví dụ như thuật ngữ của ngành y hoặc thuật ngữ của các chuyên gia máy tính.” Các tác giả trên cũng quan niệm rằng “Thuật ngữ học là chuyên ngành ngôn ngữ dành riêng cho việc nghiên cứu cụ thể về các khái niệm và tên gọi sử dụng trong ngôn ngữ chuyên ngành” [148, tr.19;23]

Theo Tatiana (2017), “Thuật ngữ là các từ đơn, từ ghép, hoặc các cụm từ

có nghĩa cụ thể trong các ngữ cảnh chuyên biệt Những nét nghĩa đặc biệt này

có thể không giống với nét nghĩa của cùng một từ trong các ngữ cảnh khác và trong các tình huống xã hội thông thường.” [150, tr.42]

Manuel, S.M (2015), lại quan niệm “Thuật ngữ học liên quan đến nhiều

ngành khoa học khác như triết học, nhận thức luận, tâm lý học, ngôn ngữ học, từ điển học và khoa học máy tính Nó liên quan chặt chẽ đến triết học và nhận thức luận trong đó nó có những lý thuyết về kiến thức được cấu trúc như thế nào, sự trình bày các khái niệm khoa học và sự truyền đạt các định nghĩa.” [134]

Như vậy, định nghĩa thuật ngữ theo quan niệm của thuật ngữ học giúp chúng ta có một cái nhìn bao quát, toàn diện về bản chất của thuật ngữ Thuật ngữ không chỉ là phạm trù của ngôn ngữ học mà nó còn là phạm trù của logic học và khoa học liên ngành Còn định nghĩa thuật ngữ theo quan niệm truyền thống lại giúp chúng ta có một cái nhìn cụ thể về thuật ngữ: về hình thức, thuật

Trang 25

18

ngữ là những từ và cụm từ; về nội dung, thuật ngữ biểu thị các khái niệm hoặc đối tượng chuyên môn

Quan niệm của luận án: Luận án này là công trình nghiên theo hướng tiếp

cận từ đặc điểm cấu trúc hệ thống của thuật ngữ BCVT, nghĩa là chủ yếu xem xét thuật ngữ BCVT trên phương diện ngôn ngữ học, cho nên luận án vẫn hiểu thuật ngữ theo quan niệm truyền thống (từ góc độ của ngôn ngữ học) là chính:

Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện một khái niệm hoặc một đối tượng trong phạm

vi một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn

Đây là định nghĩa mà Nguyễn Đức Tồn nêu ra và phân tích khá kĩ trong

công trình Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt 2010) và cũng được trích đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ số 12/ 2010, trang 4 Vì vậy, chúng tôi sẽ lấy định

nghĩa thuật ngữ trên làm cơ sở nghiên cứu của luận án, đồng thời coi đây như là tiêu

chí để xác định thuật ngữ trong sự phân biệt với các đơn vị liên quan [106]

Mặc dù đi sâu vào phương diện ngôn ngữ của thuật ngữ BCVT, nhưng ở chừng mực nào đó, luận án vẫn cố gắng tiếp cận thuật ngữ BCVT như là một bộ phận của thuật ngữ học, nghĩa là nhìn nhận thuật ngữ BCVT trong mối quan hệ liên ngành để từ đó đưa ra được một số nhận xét làm nổi bật thêm các đặc điểm của thuật ngữ BCVT

2.1.3 Phân biệt thuật ngữ và một số đơn vị liên quan

Trang 26

hiện tượng cụ thể trong một ngành khoa học nhất định

Ứng dụng sự phân biệt này vào trong lĩnh vực BCVT, chúng tôi nhận thấy

các từ như máy điện thoại, cáp… là thuật ngữ, còn các từ chỉ tên các loại máy

điện thoại,các loại cáp như: máy điện thoại di động, máy điện thoại bàn, cáp quang, cáp đồng… lại thuộc về danh pháp

Tuy nhiên, theo Hà Quang Năng, giữa thuật ngữ và danh pháp có điểm giống nhau duy nhất đó là “tính độc lập của danh pháp và của thuật ngữ khỏi ngữ cảnh và tính chất trung hòa về tu từ của chúng, tính mục đích rõ ràng trong

sử dụng, tính bền vững và khả năng tái hiện trong lời nói” [74, tr.3] Superanskaja còn cho rằng, thực ra, giữa thuật ngữ và danh pháp không có ranh giới tuyệt đối, hai lớp từ vựng này có thể tác động qua lại lẫn nhau: danh pháp, trong những trường hợp nhất định, có thể chuyển thành thuật ngữ khi nó rơi vào

trong hệ thống từ vựng khác [91, tr.7]

2.1.3.2 Thuật ngữ và từ thông thường

Hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng trong ngôn ngữ có một sự đối

lập lưỡng phân giữa thuật ngữ và phi thuật ngữ ([12], [14], [31], [50], [86]…)

Trước hết, về bản chất khái niệm của hai đơn vị này rất khác nhau So

với từ thông thường, thuật ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng nội hàm sâu hơn và được biểu thị một cách logic chặt chẽ hơn [14, tr.261-262] Điều này cũng có nghĩa là "Nghĩa biểu vật của thuật ngữ trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng có thực trong thực tế của ngành kĩ thuật tương ứng Và ý nghĩa biểu niệm của thuật ngữ cũng là những khái niệm về các sự vật hiện tượng này đúng như chúng tồn

tại trong tư duy” [12, tr.241] Vì vậy, mặc dù cả hai đơn vị này đều có chức năng

định danh, nhưng định danh ở từ thông thường chỉ là gọi tên sự vật, còn ở thuật ngữ là gọi tên khái niệm

Vì vai trò của thuật ngữ là định nghĩa một cách logic khái niệm, chứa đựng nội dung thuần lí trí, nên thuật ngữ không mang tính biểu cảm, biểu thị sự đánh giá chủ quan của con người; không có đồng nghĩa, trái nghĩa và các biến thể phong cách chức năng như từ ngữ thông thường

Trang 27

20

Về mặt sử dụng, Teresa [153, tr.136] cho rằng, những người sử dụng từ

thông thường đều là những người nói ngôn ngữ, còn những người sử dụng thuật ngữ là những nhà chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể Từ thông thường được

sử dụng trong những tình huống khác nhau, trong khi việc sử dụng thuật ngữ thuộc một lĩnh vực chuyên ngành lại chỉ được giới hạn trong lĩnh vực chuyên ngành đó Thuật ngữ thường được sử dụng để nói về những chủ đề chuyên môn, còn từ thông thường được sử dụng để nói về bất kì chủ đề nào trong cuộc sống

hàng ngày, để diễn đạt cảm xúc, …

Tuy nhiên, trong một số trường hợp thuật ngữ có thể trở thành từ thông thường và từ thông thường có thể được thuật ngữ hóa ([31], [53]…) Trong lĩnh vực BCVT, chúng tôi nhận thấy một số từ thông thường đã đi vào hệ thống thuật

ngữ BCVT như thư, báo, chuyển, gửi,… Ngược lại, cũng có những thuật ngữ

BCVT đã đi vào ngôn ngữ toàn dân và ngày càng trở lên quen thuộc với đời

sống hàng ngày như thông tin, gọi điện thoại, điện thoại viên, giao dịch, cước

phí…

2.1.3.3 Thuật ngữ và từ nghề nghiệp

Từ nghề nghiệp thường được các nhà nghiên cứu quan niệm đó là các đơn

vị từ vựng được sử dụng giữa những người cùng làm trong một ngành nghề cụ

thể tại một làng nghề hay một vùng cư dân nào đó, và đó là các nghề thủ công

như nghề gốm sứ, nghề dệt, nghề mộc, nghề giấy… Có thể nhận thấy một số điểm tương đồng và khác biệt của lớp từ này so với thuật ngữ như sau:

Thứ nhất, về mặt nội dung, từ nghề nghiệp và thuật ngữ đều là những tên

gọi duy nhất của hiện tượng trong thực tế, đồng thời, cả thuật ngữ và từ nghề nghiệp đều có thể chuyển hóa thành từ thông thường khi những khái niệm của chúng được sử dụng phổ biến trong xã hội và làm giàu thêm vốn từ vựng chung của dân tộc [31, tr 303] Về điểm này, Đỗ Hữu Châu cũng cho rằng, thuật ngữ

và từ nghề nghiệp đều có đặc tính cơ bản là ý nghĩa biểu vật trùng với sự vật hiện tượng thực có trong ngành nghề và ý nghĩa biểu niệm đồng nhất với các khái niệm về sự vật, hiện tượng đó [12, tr.253]

Thứ hai, xét về mặt sử dụng, từ nghề nghiệp cũng giống như thuật ngữ là

lớp từ được sử dụng hạn chế, chúng chỉ được dùng nhiều trong một ngành nghề nhất định [31, tr.303]

Trang 28

21

Tuy nhiên, không giống như thuật ngữ, vì từ nghề nghiệp gắn liền với những hoạt động sản xuất hoặc ngành nghề cụ thể một cách trực tiếp, cho nên từ nghề nghiệp thường mang tính cụ thể, gợi hình ảnh cao Vì vậy, từ nghề nghiệp còn được dùng cả trong phong cách của ngôn ngữ văn học, nghệ thuật Đặc biệt các nhà nghiên cứu đều cho rằng mức độ khái quát về ý nghĩa biểu niệm của chúng thấp hơn các thuật ngữ khoa học “Thuật ngữ chuyên môn gồm thuật ngữ thuộc những ngành khác nhau trong khoa học, các thuật ngữ - định nghĩa, xác định ra khái niệm, nghĩa của những thuật ngữ này không mang bất cứ thành tố xúc cảm và biểu cảm nào Từ nghề nghiệp là những hiện thực của các ngành sản xuất khác nhau, của các nghề thủ công v.v…có thể mang sắc thái xúc cảm và

biểu cảm” [85, tr.132-133] Bên cạnh đó, Kapanadze (1965) chỉ ra một đặc điểm

khác biệt khá quan trọng của từ nghề nghiệp so với thuật ngữ đó là từ nghề nghiệp “không bao giờ tạo thành một hệ thống khép kín, đó là những đơn vị rời rạc không liên kết với nhau” [50, tr.14& 92]

Ngoài những điểm tương đồng và khác biệt trên, giữa thuật ngữ và từ nghề nghiệp đôi khi còn diễn ra sự xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau Từ nghề nghiệp, trong quá trình tồn tại và phát triển, có thể chuyển hóa thành thuật ngữ khi các ngành nghề thủ công đó được công nghiệp hóa, hiện đại hóa và trở thành ngành khoa học Bên cạnh đó, các ngành nghề thủ công đang tồn tại song hành cùng với các ngành công nghiệp tương ứng cũng có thể tiếp nhận các thuật ngữ khoa học trở thành từ nghề nghiệp để hiện đại hóa cho và làm phong phú thêm cho ngành nghề của mình

2.1.4 Các tiêu chuẩn của thuật ngữ

Việc xây dựng, thống nhất thuật ngữ khoa học liên quan chặt chẽ tới việc xác định các tiêu chuẩn của thuật ngữ Vì vậy, đây là một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu rất quan tâm

Về các đặc điểm của thuật ngữ cho đến nay vẫn còn khá nhiều tranh luận

ở cả trong và ngoài nước Các nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây như Corsunôp

và Xumburôva, Culêbakin V.X và Cơlomôvitxki, Reformatxki đã nêu và nhấn mạnh đến tính chính xác, tính ngắn, gọn tính hệ thống và tính đơn nghĩa của thuật ngữ, coi đấy là những đặc điểm tiêu biểu của thuật ngữ

Theo Lê Khả Kế: “Thuật ngữ vừa phải khoa học, nghĩa là chính xác và có

hệ thống, vừa phải có tính dân tộc và đại chúng, phải đặt sao cho ngắn gọn, dễ

Trang 29

22

đọc, dễ hiểu, dễ nhớ.” [57, tr.114] Nguyễn Thiện Giáp [31, tr.45] còn chỉ thêm một đặc điểm của thuật ngữ là tính quốc tế bên cạnh các tính chính xác, tính hệ thống Như vậy, số lượng các đặc điểm thuật ngữ mà các nhà nghiên cứu trong nước nêu ra lên đến 8 đặc điểm: tính chính xác, tính đơn nghĩa, tính ngắn gọn, tính kết cấu chặt chẽ, tính hệ thống, tính quốc tế, tính dân tộc, và tính đại chúng Theo Nguyễn Đức Tồn [111, tr.345], trong tám phẩm chất trên có những tiêu chuẩn mang nội dung trùng lặp nhau hoặc bao chứa lẫn nhau, có những tiêu chuẩn chỉ là thứ yếu Theo quan điểm của Nguyễn Đức Tồn, hai tiêu chuẩn chính quan trọng cần có của thuật ngữ, đó là các thuộc tính bản thể của thuật ngữ, gồm tính khoa học và tính quốc tế

Có thể thấy, các nhà nghiên cứu đưa ra khá nhiều tiêu chuẩn cho thuật

ngữ Nhưng có thể khái quát chúng lại thành các tiêu chuẩn chính: tính khoa học,

tính quốc tế, tính dân tộc Trong đó, tính khoa học được tất cả các nhà nghiên

cứu từ trước đến nay coi đó là tiêu chuẩn quan trọng bậc nhất Còn các tiêu

chuẩn tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng không được các nhà nghiên cứu

chú trọng như nhau Nhìn chung, quan niệm của các nhà nghiên thời kì đầu

(những năm 60-70), ngoài tính khoa học họ rất quan tâm đến tính dân tộc và tính đại chúng, còn tính quốc tế thì chưa được chú ý và ít được đề cập đến

Trong giai đoạn hiện nay, hầu như tất cả các nhà nghiên cứu đều khẳng định,

tính quốc tế là một trong những phẩm chất bắt buộc của thuật ngữ, bên cạnh tính khoa học Tuy nhiên, tính dân tộc và tính đại chúng thì lại không được chú

ý nhiều

Chúng tôi đồng ý với quan điểm của một số tác giả như Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985), Nguyễn Đức Tồn (2010)… cho rằng, ở đây cần phân biệt những tiêu chuẩn với tư cách là những đặc trưng phân biệt thuật ngữ với những lớp từ vựng khác và những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ Cụ

thể, tính khoa học và tính quốc tế là những đặc trưng riêng mà thuật ngữ ở bất kì

Trang 30

23

Tính chính xác được tất cả các nhà khoa học trong và ngoài nước từ trước đến nay thừa nhận là một yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với thuật ngữ Tính chính xác đòi hỏi phải biểu hiện đúng khái niệm một cách rõ ràng, không gây hiểu lầm sai lệch Lotte quan niệm, “một thuật ngữ chính xác nếu thuật ngữ đó

chứa đựng những đặc trưng bản chất của khái niệm do nó biểu đạt” [63, tr.3]

Tương tự, Lê Khả Kế cũng chỉ rõ “lí tưởng nhất là thuật ngữ phản ánh được đặc

trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm” [53, tr.33]

Tính chính xác đòi hỏi thuật ngữ phải có tính một nghĩa, tức là trong cùng một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn mỗi khái niệm chỉ có một thuật ngữ, không có hiện tượng đồng nghĩa Nói cách khác, mỗi thuật ngữ chỉ biểu đạt một khái niệm Về vấn đề này, Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh, trong thực tế,

“có những thuật ngữ gọi tên khái niệm đúng, có những thuật ngữ gọi tên khái niệm sai lầm Điều quan trọng là ở chỗ các thuật ngữ phải biểu thị cho đúng các khái niệm (đúng hoặc sai) mà chúng gọi tên Một thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói ra, viết ra, người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái

niệm khoa học (đúng hoặc sai) ứng với nó mà thôi” [12, tr.243]

Như vậy, để đảm bảo tính đơn nghĩa của thuật ngữ đòi hỏi phải loại bỏ hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa trong hệ thống thuật ngữ của cùng một ngành khoa học

Trong hệ thống BCVT, hầu hết các thuật ngữ đều đảm bảo tính chính xác: mỗi khái niệm chỉ có một thuật ngữ Tuy nhiên, theo thống kê của chúng tôi vẫn còn khoảng gần 8% thuật ngữ đồng nghĩa Các thuật ngữ này rất cần được chuẩn hóa để đảm bảo tính chính xác của thuật ngữ

b Tính hệ thống

Tính hệ thống cũng là một tiêu chuẩn cần thiết đối với thuật ngữ “Mỗi ngành khoa học đều có một hệ thống các khái niệm được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ, trong đó mỗi thuật ngữ bao giờ cũng là yếu tố của hệ thống thuật ngữ và chiếm một vị trí trong hệ thống thuật ngữ nhất định nào đó” [31, tr.312] Trong khoa học, hệ thống khái niệm được thể hiện ở chỗ “các khái niệm được tổ chức thành hệ thống, có tầng, có lớp, có bậc hẳn hoi, có khái niệm hạt nhân làm trung tâm tập hợp nhiều khái niệm khác thành từng trường khái niệm, thành từng nhóm, từng cụm Mỗi trường khái niệm có thể là một hệ thống con Mỗi hệ thống nhỏ có một khái niệm hạt nhân” [63, tr.5-6]

Trang 31

24

Có thể thấy rằng, hầu hết các tác giả đều cho rằng tính hệ thống của thuật ngữ cần phải được chú ý trên cả hai mặt, đó là hệ thống khái niệm (mặt nội

dung) và hệ thống kí hiệu (mặt hình thức) Lưu Vân Lăng [63, tr.5- 6] là người

phân tích khá kĩ tính hệ thống của thuật ngữ Theo ông, khi xây dựng hệ thống thuật ngữ, cần phải xác định được hệ thống khái niệm trước khi đặt hệ thống kí hiệu cho chúng Thậm chí trong nhiều trường hợp, nội dung khái niệm phải đặt lên hàng đầu Vì vậy, khi đặt thuật ngữ không thể tách rời từng khái niệm riêng

lẻ mà phải xác định vị trí của thuật ngữ đó trong toàn bộ hệ thống khái niệm

Tính hệ thống về kí hiệu thường được thể hiện ở mối quan hệ liên tưởng (nghĩa là thay thế theo trục dọc) và ở mối quan hệ ngữ đoạn (nghĩa là nối tiếp theo trục ngang) của các tín hiệu ngôn ngữ Để đảm bảo được hệ thống về mặt kí hiệu, cần phải dựa vào thế đối lập giữa các tín hiệu trong hệ thống Bởi vì mỗi thuật ngữ có một giá trị nhất định về nội dung, chính là do sự đối lập tín hiệu này

với tín hiệu khác trong cùng một hệ thống [63, tr.6] Kết quả là, nhờ vào tính hệ

thống chúng ta thấy được khả năng phái sinh của thuật ngữ là rất lớn

Trong hệ thống thuật ngữ BCVT, hầu hết các thuật ngữ được phân cấp thành các tầng bậc, các nhóm lớn nhỏ khác nhau tạo thành các “trường” thuật ngữ mang tính hệ thống rõ nét Trong đó, có rất nhiều thuật ngữ xuất hiện với tần

số cao, giữ vai trò quan trọng trong cấu tạo hệ thống thuật ngữ và biểu thị tri

thức thiết yếu về ngành này Chẳng hạn, đó là các thuật ngữ như: cáp,chuyển

mạch, ghép kênh, tần số,bưu phẩm, bưu kiện,v.v…

c Tính ngắn gọn

Các nhà Việt ngữ học cho rằng, tính chính xác về mặt ngữ nghĩa của thuật

ngữ còn đòi hỏi về mặt hình thức của thuật ngữ phải ngắn gọn, chặt chẽ

Nghĩa là, các yếu tố hợp thành phải phù hợp tối đa với khái niệm được biểu thị,

không có yếu tố dư thừa dễ gây hiểu lầm dù sự hiện diện của các yếu tố này làm

cho thuật ngữ có vẻ phù hợp với các quy luật cấu tạo của ngôn ngữ hơn [12,

tr.244], [100, tr.65] Quan điểm của các nhà khoa học trên hoàn toàn phù hợp với

quan điểm của các nhà nghiên cứu Nga: “Tính ngắn gọn của thuật ngữ cần được hiểu là, trong thành phần cấu tạo thuật ngữ, chỉ cần chứa một số lượng đặc trưng tối thiểu cần thiết, nhưng vẫn đủ để đồng nhất hóa và khu biệt hóa các khái niệm

được phản ánh bằng thuật ngữ đó” [4, tr.331-224] Đây cũng là điều hoàn toàn

phù hợp với nguyên tắc định danh thuật ngữ, đó là chỉ lựa chọn những đặc trưng

Trang 32

25

đủ để khu biệt sự vật, khái niệm này với các sự vật, khái niệm khác chứ không thể đưa tất cả các đặc trưng của đối tượng cần định danh vào bên trong tên gọi của nó Xét ở khía cạnh này, tính ngắn gọn không mâu thuẫn với tính chính xác của thuật ngữ Mặt khác, tính ngắn gọn của thuật ngữ cũng rất phù hợp với quy

luật tiết kiệm trong ngôn ngữ

Liên quan đến tính ngắn gọn của thuật ngữ, một số nhà nghiên cứu còn đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể về số lượng yếu tố cấu tạo thuật ngữ Chẳng hạn, Reformatxki cho rằng, đối với thuật ngữ là từ ghép hay cụm từ chỉ có thể gồm hai, ba hoặc tối đa là bốn yếu tố bởi vì nếu thuật ngữ quá dài sẽ không được chấp

2.1.4.2 Tính quốc tế

Theo các nhà khoa học, tính quốc tế là một yêu cầu tất yếu bởi vì thuật ngữ là những từ, ngữ biểu thị các khái niệm mà khái niệm khoa học được coi là thành tựu chung của trí tuệ, tri thức nhân loại Nhưng khi biểu thị những khái niệm khoa học chung đó, mỗi dân tộc sử dụng các yếu tố và phương thức cấu tạo

từ vốn có trong mỗi ngôn ngữ khác nhau Vì vậy, có thể nói rằng thuật ngữ vừa mang tính quốc tế vừa mang tính dân tộc Tính quốc tế thực ra không hề mâu thuẫn ,với tính dân tộc bởi vì khi nói đến tính quốc tế là người ta nhấn mạnh đến mặt nội dung của thuật ngữ, còn nói đến tính dân tộc là người ta chú ý đến mặt hình thức của thuật ngữ

Đi vào cụ thể, tính quốc tế về mặt nội dung của thuật ngữ thường được nhấn mạnh ở hai khía cạnh Thứ nhất, các khái niệm của thuật ngữ mặc dù được thể hiện bằng các ngôn ngữ khác nhau nhưng những người hoạt động trong cùng một lĩnh vực chuyên môn ở các nước, các dân tộc khác nhau đều hiểu nội hàm

Trang 33

26

của các khái niệm chuyên môn đó giống nhau [106, tr.207] Thứ hai, cùng một

sự vật hiện tượng hay khái niệm khoa học nhưng các ngôn ngữ khác nhau cùng

chọn một đặc trưng nào đó để làm cơ sở định danh cho việc đặt thuật ngữ [36]

Như vậy, xét về nội dung của thuật ngữ thì rõ ràng tính quốc tế là một đặc trưng quan trọng, là một tính chất cơ bản của thuật ngữ bởi vì chúng biểu hiện những khái niệm chung cho toàn nhân loại, trong khi các lớp từ ngữ khác chỉ mang đặc trưng của dân tộc

2.1.4.3.Tính dân tộc

Khi nói đến tính dân tộc của thuật ngữ là nói đến mặt hình thức của thuật ngữ Thuật ngữ ở bất kì quốc gia nào trước hết vẫn phải là một bộ phận ngôn ngữ của dân tộc, vì vậy thuật ngữ phải mang những đặc điểm cơ bản của ngôn

ngữ dân tộc Theo Lê Khả Kế, “tính dân tộc được thể hiện ở nhiều mặt: từ vựng

(yếu tố cấu tạo thuật ngữ thường là những yếu tố thuần Việt hoặc đã được Việt

hóa), ngữ pháp (trật tự ghép các yếu tố tạo nên thuật ngữ theo cú pháp tiếng Việt), ngữ âm và chữ viết: phù hợp với đặc điểm tiếng nói, chữ viết của dân tộc

như dễ hiểu, dễ viết, dễ đọc” [53, tr.103]

Tuy nhiên, cũng theo Lê Khả Kế, thực tế cho thấy “tính dân tộc của thuật ngữ có thể đạt được đối với bộ phận thuật ngữ được tạo ra trên cơ sở chất liệu tiếng Việt và đó thường là các thuật ngữ khoa học xã hội Nhưng còn một bộ phận không nhỏ các thuật ngữ của một số ngành khoa học tự nhiên phải phiên

âm từ các ngôn ngữ Ấn Âu hầu như không thể đòi hỏi được tính dân tộc Vì vậy, đòi hỏi thuật ngữ phải có hình thức dân tộc là không thể thực hiện được một cách đầy đủ đối với toàn bộ hệ thống thuật ngữ” [53, tr.103]

Theo chúng tôi, thực ra ở chừng mực nào đó, phiên âm vẫn thể hiện được tính dân tộc Khi phiên âm các thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt, chúng ta chỉ vay mượn một phần hình thức ngôn ngữ bởi vì thực chất chúng ta vẫn dùng

hệ thống chữ viết của chính tiếng Việt, và sau đó biến đổi một phần hình thức ngữ âm nhằm phù hợp với ngôn ngữ tiếng Việt để ghi lại cách phát âm của nhũng thuật ngữ nước ngoài Cho nên, trừ con đường giữ nguyên dạng, còn dịch nghĩa, phiên âm hay chuyển tự thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt đều ít nhiều thể hiện được tính dân tộc thông qua việc thể hiện bằng ngôn ngữ tiếng Việt và tuân theo quy luật ngữ âm cũng như chữ viết của tiếng Việt

Trang 34

27

2.2 Thuật ngữ và lí thuyết định danh

2.2.1 Khái niệm định danh

Theo cách hiểu thông thường, định danh là đặt tên gọi cho một sự vật,

hiện tượng [83, tr.517] Nhờ có tên gọi mà chúng ta phân biệt được sự vật này

với sự vật khác , hiện tượng này với hiện tượng khác một cách dễ dàng Trong các từ điển chuyên ngành và dưới góc nhìn của các nhà nghiên cứu, định danh được hiểu với nghĩa rộng và sâu hơn Chẳng hạn, trong từ điển chuyên ngành, định danh là “sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở hình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới các dạng từ, cụm từ, ngữ cú và câu” [115, tr.89]

Tương tự, Kolshansky quan niệm: “định danh là gắn cho một ký hiệu ngôn ngữ một khái niệm-biểu hiện phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật- các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn ngữ” [Dẫn theo 36, tr.21] Hà Quang Năng cho rằng định danh gắn liền với quá trình nhận thức: “Quá trình gọi tên liên hệ chặt chẽ với quá trình nhận thức có cơ sở dựa trên sự dối chiếu so sánh giữa các dối tượng và quan niệm về chúng để nhằm phát hiện các đặc tính và đặc điểm

chung cũng như riêng của chúng” [77, tr.10]

2.2.2 Lí thuyết định danh

Trong lí luận ngôn ngữ học, thuật ngữ “định danh” được hiểu theo nhiều

nghĩa khác nhau Theo trường phái ngôn ngữ học Praha thì “Từ, theo quan điểm

chức năng, là kết quả của hoạt động định danh ngôn ngữ, … Nhờ hoạt động đang gọi tên, ngôn ngữ phân chia thực tế không kể là thực tế bên trong hay bên ngoài, cụ thể hay trừu tượng) thành những yếu tố được xác định bởi ngôn ngữ”

[80, tr.100] Theo Nguyễn Đức Tồn thì “Định danh là gán cho một ngôn ngữ

một khái niệm – biểu niệm phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật – các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu

tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” [95, tr.34] Nói một cách ngắn gọn, định danh

là cách đặt tên cho một sự vật, một hiện tượng Khi định danh một sự vật, một hiện tượng, tính chất hay một quá trình v.v…, con người, với tư cách là chủ thể định danh, tiến hành quan sát, tìm hiểu kĩ càng, vạch ra một bộ những đặc trưng

Trang 35

28

nào đó trong nó Nhưng để định danh, người ta chỉ chọn những đặc trưng tiêu biểu, dễ khu biệt với đối tượng, tính chất hay qua trình khác v.v… và đặc trưng này đã có tên gọi trong ngôn ngữ Như vậy, người ta đã dựa vào đặc trưng bản chất để định danh Đặc trưng bản chất là đặc trưng chỉ sự vật thuộc một loài và phân biệt các sự vật của loài này với các sự vật của loài khác Nguyễn Đức Tồn

gọi hành vi này là hành vi phân loại, tác giả cho rằng, “trong ngôn ngữ tự nhiên,

quá trình gọi tên là tất yếu gắn với hành vi phân loại Nếu cần phải biểu thị một đối tượng X nào đó mà trong ngôn ngữ chưa có tên gọi, thì trên cơ sở các đặc trưng đã được tách ra trong đối tượng này, nó được quy vào khái niệm A hoặc B

mà trong ngôn ngữ đã có cách biểu thị riêng cho chúng và nhận tên gọi tương ứng” [95, tr.35]

Trong trường hợp, khi định danh các đối tượng có chung những thuộc tính căn bản nào đó trong tính chất của mình, chỉ khác nhau ở thuộc tính không căn bản, người ta sẽ không chọn đặc trưng căn bản được nữa mà phải chọn đến loại đặc trưng không căn bản, nhưng có giá trị khu biệt, để làm cơ sở cho tên gọi

Thực tế cho thấy, các ngôn ngữ khác nhau thường đặt tên gọi cho sự vật, hiện tượng theo những cách khác nhau Không phải chỉ có danh từ mới có chức năng định danh mà động từ, tính từ, trạng từ cũng là những tên gọi của các thuộc tính, các quá trình và các biểu hiện của các thuộc tính, quá trình Khi định danh các đối tượng, khái niệm thuộc một chuyên ngành khoa học người ta phải nêu ra các đặc trưng bản chất của đối tượng hay khái niệm cần định danh, mà đặc trưng bản chất này thì ai cũng nhận thấy và dễ dàng sao phỏng Chính vì thế, chúng ta mới thường thấy có hiện tượng các thuật ngữ của một lĩnh vực chuyên môn trong các ngôn ngữ khác nhau thường có hình thái giống nhau Có thể coi đây là mặt biểu hiện thứ hai (tính quốc tế) của thật ngữ mà chưa được chỉ ra và quan tâm đến một cách đầy đủ [36, tr.34]

Ngôn ngữ còn thiếu hàng triệu tên gọi để định danh hàng triệu sự vật, hiện tượng, nhưng không phải có sự vật, hiện tượng nào là có ngay nhu cầu đặt tên cho chúng Khi nào sự vật đó, hiện tượng đó trở thành cần thiết trong sinh hoạt

xã hội, lặp đi lặp lại, “thỏa mãn được nhu cầu của con người”, phân biệt được với sự vật khác và trở thành hiển nhiên thì nhu cầu phải được gọi tên mới nảy sinh Khi đã có tên gọi, sự vật đó trở thành sự vật được nhận thức, có ranh giới,

Trang 36

đầu ấy” [Dẫn theo 36, tr.21-22]

Như vậy, quá trình định danh một sự vật, tính chất hay quá trình gồm hai

bước: quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt Nếu một trong hai bước

này mà có “biến thể” thì một vật, hay một quá trình, … sẽ mang những tên gọi khác nhau Xưa nay, có tồn tại các quan niệm khác nhau khi bàn về vấn đề cần phải lựa chọn đặc trưng nào để định danh khách thể Một trong những quan niệm thì cho rằng để định danh một đối tượng nào đó, thường người ta chỉ lựa chọn đặc trưng nào đó trong số các đặc trưng bản chất và quan trọng hơn [63, tr.32]

2.2.4 Nguyên lý định danh

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, từ trước đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về định danh L.Phoi-ơ-bắc quan niệm định danh là tên gọi dựa vào đặc trưng tiêu biểu của đối tượng, sự vật: “Tên gọi là cái gì? Một phù hiệu dùng để phân biệt, một dấu hiệu mà tôi đem làm thành đặc trưng của đối tượng, làm thành cái tiêu biểu cho đối tượng, để hình dung đối tượng trong tính chỉnh thể của nó” [103, tr.21]

Theo Nguyễn Như Ý, “định danh trong ngôn ngữ trước hết là quá trình tự tạo từ ngữ trong một ngôn ngữ để gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm tồn tại

Trang 37

vi vật chất và tinh thần, nhờ đó, các đơn vị ngôn ngữ, tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn ngữ” [103, tr.1]

Trong quá trình nghiên cứu về đặc điểm định danh sự vật, V.G.Gak đã đưa ra các nguyên tắc định danh, đó chính là gắn quá trình gọi tên với hành vi

phân loại “Nếu như cần phải biểu thị một đối tượng “X” nào đó mà trong ngôn

ngữ chưa có tên gọi, thì trên cơ sở các đặc trưng đã được tách ra trong đối tượng này, nó được quy vào khái niệm “A” hoặc “B” mà trong ngôn ngữ đã

có cách biểu thị riêng cho chúng và nhận tên gọi tương ứng Nhưng đồng thời cũng diễn ra sự “lắp ráp” bản thân các từ vào hiện thực: khi thì người ta bỏ

đi một cái gì đó khỏi sự hiểu biết ban đầu của mình, khi thì, ngược lại, người

ta lại bổ sung thêm một cái gì đó vào sự hiểu biết đầu tiên ấy” [103, tr.21]

Nguyễn Đức Tồn đã đưa ra ví dụ sau để minh họa cho luận điểm lí thuyết này: Để đặt tên loài cây cỡ nhỏ, thân có gai, lá kép có răng, hoa mày hồng, có hương thơm, quá trình định danh diễn ra như sau: trước hết, dựa vào các đặc trưng đã được tách ra như trên, người Việt quy nó vào khái niệm đã có tên gọi trong ngôn ngữ là “hoa”, và chọn cả đặc trưng màu sắc “đập vào mắt” cũng đã

có tên gọi là “hồng” rồi ghép lại thành tên gọi “hoa hồng” Nhưng về sau, người

ta thấy màu sắc của loài cây này không chỉ có màu hồng, mà còn có thể là màu trắng hay màu đỏ thẫm như nhung, v.v Tên gọi ban đầu là hoa hồng được bổ

sung hoặc bỏ bớt đi cái gì đó (chẳng hạn như màu trắng, v.v ) và hoa hồng đã hình thành tên gọi chung cho một loại hoa, nên có những tên gọi mới, ví dụ: hoa

hồng bạch, hoa hồng nhung, v.v Như vậy, quá trình định danh một sự vật, tính

chất hay quá trình gồm hai bước là quy loại khái niệm của đối tượng được định danh và chọn đặc trưng khu biệt để định danh [105, tr.33-34]

2.3 Về hệ thống thuật ngữ BCVT

BCVT bao gồm bưu chính và viễn thông Bưu chính là bộ phận thuộc ngành bưu điện phụ trách việc chuyển thư từ, báo chí, tiền bạc, bưu kiện Bưu

Trang 38

31

chính ban đầu là tải nội dung thông tin qua các phương tiện như bì thư, ấn phẩm… Theo sự phát triển của ngành bưu chính, bưu chính ngày càng được mở rộng ra bao gồm cả việc chuyển bưu phẩm, bưu kiện hàng hóa thông qua các phương tiện vận chuyển bằng sức người, động vật và máy móc khác…

Viễn thông là nói về sự liên lạc với những nơi xa Viễn thông miêu tả một cách tổng quát tất cả các hình thức trao đổi thông tin qua một khoảng cách nhất định mà không phải chuyên chở những thông tin này đi một cách cụ thể (thí dụ

như thư) Các tín hiệu nhìn thấy được đã sử dụng trong thế kỷ 18 như hệ thống

biểu hiện các chữ cái bằng cách đặt tay, hay hai lá cờ theo một vị trí nhất định (semaphore), hay máy quang báo (heliogragh) là một dụng cụ truyền tin bằng cách phản chiếu ánh mặt trời

Theo nghĩa hẹp hơn, ngày nay viễn thông được hiểu như là cách thức trao đổi dữ liệu thông qua kỹ thuật điện, điện tử và các công nghệ hiện đại khác Các chuyên ngành viễn thông đầu tiên theo nghĩa này là điện báo và điện thoại Ngày nay các thiết bị viễn thông là một thành phần cơ bản của hệ thống hạ tầng

2.3.1 Về bưu chính

Một số tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về bưu chính như sau:

Theo Dương Hải Hà “Bưu chính là hình thức truyền tải thông tin mà tính

chất của nó là hàng ngày tiếp xúc với mọi tầng lớp trong xã hội với nhiệm vụ nhận gửi, chuyển phát thư từ, báo chí hàng hoá, tiền bạc của người sử dụng dịch vụ” [14, tr.4]

Theo Pháp lệnh BCVT “Bưu chính là bộ phận thuộc ngành bưu điện, đảm

nhiệm việc chuyển thư từ, báo chí, kiện hàng, v.v…thông qua mạng lưới bưu chính công cộng” [160]

Bưu chính được chia thành bưu chính truyền thống và bưu chính hiện đại:

Bưu chính truyền thống là việc nhận chuyển phát các loại văn bản gốc viết

tay hoặc đánh máy, bưu phẩm, bưu kiện chuyển tiền do khách hàng ký gửi Bưu chính truyền thống bao gồm: chuyển phát hàng hoá (bưu phẩm, bưu kiện); chuyển tiền; phát hành báo chí; tem chơi và các sản phẩm từ tem chơi [14]

Bưu chính hiện đại có sự kết hợp lai ghép và hỗ trợ của công nghệ viễn thông, tin học, bao gồm: kho vận, cung ứng hàng hoá, vận tải, phân phối, giao phát, truy cập dịch vụ công cộng, quản lý hệ thống đánh địa chỉ, bưu phẩm lai ghép, quản lý các kênh thanh toán, quản lý các khoản giao dịch

Trang 39

32

nhỏ, môi giới Bưu chính cũng có thể được phân loại theo lĩnh vực kinh doanh như sau: bưu chính phổ thông (thư thường, bưu ảnh, ấn phẩm, gói nhỏ), bưu chính ưu tiên (phát nhanh, ấn phẩm quảng cáo), các loại hình chuyển phát nhanh (EMS, phát trong ngày); bưu phẩm lai ghép Datapost (là

kiểu lai ghép giữa bưu chính truyền thống và tin học, viễn thông)

Ngày nay, các dịch vụ truyền đa tin tức bưu chính truyền thống bị cạnh tranh bởi điện thoại, Internet, do vậy có xu hướng suy giảm Các hình thức chuyển phát nhanh tin tức còn có nhiều cơ hội phát triển và mang lại nguồn thu quan trọng cho bưu chính Tuy nhiên vấn đề đặt ra là phải đảm bảo đúng thời gian quy định cũng như tính an toàn tuyệt đối của loại dịch vụ cao cấp này

Muốn nâng cao khả năng cạnh tranh, bưu chính cũng phải ứng dụng chính những công nghệ hiện đại đang cạnh tranh như tin học, viễn thông, đặc biệt là Internet để tạo ra các dịch vụ mới có khả năng đáp ứng nhu cầu cao của khách hàng

2.3.2 Về viễn thông

Thuật ngữ “viễn thông” (télécommunication) xuất phát từ gốc từ

communication (liên lạc) với tiền tố télé (từ xa) Edouard Estaurinie, người Pháp,

là người đưa thuật ngữ này vào năm 1904 Thời đó, từ télécommunication được dùng để chỉ chung cho telegraph và telephone, trong tiếng Anh nó được viết là

telecommunication hay còn được gọi tắt là telecom Thuật ngữ viễn thông được

dùng để chỉ tập hợp các thiết bị, các giao thức để truyền thông tin từ nơi này đến nơi khác

Theo Nguyễn Văn Đát: “Viễn thông bao gồm những vấn đề liên quan đến

việc truyền thông tin trao đổi hay quảng bá thông tin) giữa các đối tượng qua một khoảng cách, nghĩa là bao gồm bất kì hoạt động nào liên quan tới việc phát/ nhận tin tức âm thanh, hình ảnh, chữ viết, dữ liệu v.v…) qua các phương tiện truyền thông hữu tuyến như đường dây kim loại, cáp quang hoặc vô tuyến hoặc các hệ thống điện từ khác)” [23, tr.34]

Theo Pháp lệnh BCVT: “Viễn thông là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số

liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông” [160]

Theo quy định tại điều 37 – Nghị định số 109/CP, viễn thông được hiểu là

“việc truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát,

Trang 40

vệ tinh; giai đoạn thứ ba là giai đoạn phát triển đặc trưng của các mạng dữ liệu

và công nghệ chuyển mạch gói; giai đoạn thứ tư xuất hiện cùng vấn đề liên kết mạng truyền thông Các thành phần cơ bản của một hệ thống viễn thông bao gồm: một máy phát (transmitter) ở nguồn (source), máy phát sẽ lấy thông tin (information) và chuyển đổi nó thành tín hiệu (signal) để có thể truyền được Tín hiệu sẽ được truyền trên một kênh truyền (channel/ medium), một máy thu (receiver) sẽ được đặt ở đích đến (sink) để thu nhận tín hiệu truyền từ nguồn và chuyển đổi tín hiệu ngược lại thành thông tin

Thực tế, viễn thông đã tồn tại từ rất xa xưa Sơ khai nhất có thể kể đến việc liên lạc bằng cách đốt lửa cho bốc khói lên để báo động giặc đến Hoặc dùng tiếng kèn, trống, chuông, ám hiệu, … để báo hiệu những mối nguy hiểm đang đến gần Tiếp theo là sự ra đời của telegraph, rồi đến telephone Và ngày nay thì có vô số loại hình viễn thông khác nhau, như Internet, hệ thống điện thoại

di động, vệ tinh, bluetooth, … Trong bất cứ hệ thống viễn thông nào cũng đều

có sự tham gia của các thành phần cơ bản kể trên

Nhiệm vụ của viễn thông là làm thế nào để truyền thông tin nhanh, chính xác, chất lượng cao, bảo mật tốt, và dĩ nhiên là đáp ứng nhu cầu truyền thông của con người Do đó có thể nói ngành viễn thông bao gồm tất cả các lĩnh vực nhằm góp phần vào việc thực hiện và cải tiến quá trình truyền thông

Viễn thông chiếm phần chủ đạo trong truyền thông Truyền thông là việc truyền thông tin từ một điểm tới một điểm khác, gồm có truyền thông cơ học (bưu chính) và truyền thông điện (viễn thông) Viễn thông gồm hai hình thức, đó

là: đơn hướng và song hướng Đơn hướng bao gồm: truyền thanh và truyền hình

Song hướng bao gồm: điện báo, điện tín, điện thoại, truyền dữ liệu, thư điện tử, truyền hình hội nghị, Internet

Ngày đăng: 13/06/2018, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Từ điển Hán Việt, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1992
2. Lê Hoài Ân (2005), “Tương đương dịch thuật và tương đương thuật ngữ”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (2), tr. 3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương đương dịch thuật và tương đương thuật ngữ”, "Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Lê Hoài Ân
Năm: 2005
3. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
4. Belakhov L.Ju (1976), Những vấn đề tiêu chuẩn hoá Nhà nước về thuật ngữ, Như Ý dịch, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tiêu chuẩn hoá Nhà nước về thuật ngữ
Tác giả: Belakhov L.Ju
Năm: 1976
5. Budagov R.A. (1978), Thuật ngữ học và kí hiệu học, Tuấn Tài dịch, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ học và kí hiệu học
Tác giả: Budagov R.A
Năm: 1978
6. Nguyễn Thạc Cát (1980), Về vấn đề thuật ngữ khoa học gốc Ấn – Âu, Ngôn ngữ, số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề thuật ngữ khoa học gốc Ấn – Âu
Tác giả: Nguyễn Thạc Cát
Năm: 1980
7. Vũ Ngọc Cân (2007), “Tiếng Latin và ảnh hưởng của nó đối với các ngôn ngữ trên thế giới”, Tạp chí KHNN số 11 (6/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Latin và ảnh hưởng của nó đối với các ngôn ngữ trên thế giới
Tác giả: Vũ Ngọc Cân
Năm: 2007
8. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt tiếng – từ ghép – đoản ngữ), Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt tiếng – từ ghép – đoản ngữ)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1998
9. Nguyễn Tài Cẩn (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb. ĐHQGHN
Năm: 1999
10. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Từ hội học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
11. Đỗ Hữu Châu (1980), “Mấy vấn đề tổng quát trong việc chuẩn mực hoá và giữu gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ vựng – ngữ nghĩa”, Ngôn ngữ, (3), tr.52-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề tổng quát trong việc chuẩn mực hoá và giữu gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ vựng – ngữ nghĩa”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1980
12. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1981
13. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học học Từ vựng, Nxb Đại học và THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học học Từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học và THCN
Năm: 1987
14. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1990), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1990
15. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 1997
16. Cosunop G.G, Xumburôva X.I (1968), Công tác thuật ngữ, nguyên lí và phương pháp, Matxcơva, Tài liệu dịch của Viện ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thuật ngữ, nguyên lí và phương pháp
Tác giả: Cosunop G.G, Xumburôva X.I
Năm: 1968
17. Nguyễn Hồng Cổn (2001) – “Vấn đề tương đương trong dịch thuật”, Tạp chí Ngôn Ngữ, số 11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tương đương trong dịch thuật”, Tạp chí "Ngôn Ngữ
18. Danilenko V.P (1978), Về biến thể ngắn của thuật ngữ: vấn đề đồng nghĩa trong thuật ngữ, Lê Xuân Thại dịch, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về biến thể ngắn của thuật ngữ: vấn đề đồng nghĩa trong thuật ngữ
Tác giả: Danilenko V.P
Năm: 1978
19. Hồng Dân (1979), Tham luận về chuẩn hoá thuật ngữ khoa học, Ngôn ngữ, số 3+4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận về chuẩn hoá thuật ngữ khoa học
Tác giả: Hồng Dân
Năm: 1979
20. Lê Thanh Dũng (2003), Từ điển giải nghĩa thuật ngữ viễn thông Anh – Việt, Nhà xuất bản Bưu điện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải nghĩa thuật ngữ viễn thông Anh – Việt
Tác giả: Lê Thanh Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Bưu điện
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w