1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN THCS sử dụng giáo án điện tử trong dạy học ngữ văn

27 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 884,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN THCS sử dụng giáo án điện tử trong dạy học ngữ văn SKKN THCS sử dụng giáo án điện tử trong dạy học ngữ văn SKKN THCS sử dụng giáo án điện tử trong dạy học ngữ văn SKKN THCS sử dụng giáo án điện tử trong dạy học ngữ văn SKKN THCS sử dụng giáo án điện tử trong dạy học ngữ văn SKKN THCS sử dụng giáo án điện tử trong dạy học ngữ văn SKKN THCS sử dụng giáo án điện tử trong dạy học ngữ văn

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN

Người thực hiện: Cao Thị Kim Dung

Chức vụ : Giáo viên

Chuyên môn: Tổ Văn- Sử

Việt Trì, tháng 3/ 2012

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

- Bước 1: Soạn giáo án ở chương trình Word

- Bước 2: Lựa chọn kiến thức trình chiếu

- Bước 3 : Lựa chọn tư liệu để đưa vào giáo án

- Bước 4: Thiết kế các Slide của giáo án

-Bước 5: Lên lớp

9 99101319

Trang 3

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 4

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

Thế hệ học sinh ngày nay, ngay từ khi chào đời, có vẻ như đã quen vớiviệc tiếp nhận thông tin dưới dạng hình ảnh, âm thanh nhiều hơn các thế hệtrước Do đó, việc dạy học bằng giáo án điện tử, dù là bộ môn khoa học tựnhiên hay khoa học xã hội nếu khai thác đúng thế mạnh của PowerPoint sẽgiúp học sinh tiếp thu bài học tốt hơn nhiều

Đặc biệt đối với bộ môn Ngữ văn, có người đã ví: “Văn học là nhân học” tức là học về con người, học làm người Môn Ngữ văn

không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức về văn chương mà cònmang một sứ mạng cao cả là bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách học sinh.Vậy mà thế hệ học sinh thời kỹ thuật số ngày nay lại rất thờ ơ với mônvăn Đối với một số em, Ngữ văn trở thành một môn học đáng chán,đáng ghét, thậm chí đáng sợ Tại sao lại như vậy? Theo tôi, có nhiềunguyên nhân trong đó có nguyên nhân lâu nay chúng ta đã đi theo lối

mòn là dạy học sinh “học để thi” chứ không phải “học để biết”, “học

để thực hành, “học để vân dụng vào cuộc sống” Do đó giờ văn trở nên khô cứng và áp đặt Hơn nữa chính người thầy cũng không còn

hứng thú với những bài giảng đã được đóng khung chi tiết đến từngphút một, lên lớp luôn lo âu về việc cháy giáo án, không kịp chươngtrình…Những nỗi lo ấy đã làm giảm đi năng lực sáng tạo của ngườithầy Việc thay đổi quan điểm dạy học không chạy theo thành tíchcùng với những đòi hỏi bức thiết phải đổi mới của xã hội dẫn đến mộtđiều tất yếu là phải đổi mới phương pháp dạy học Theo tôi người giáoviên Ngữ văn phải thay đổi phương pháp cũng giống như người đầu

Trang 5

bếp phải thay đổi cách chế biến “món ăn” sao cho hợp khẩu vị vớinhững học trò “suy dinh dưỡng” và “biếng ăn”, để chúng thưởng thứcvăn chương một cách vui vẻ và hào hứng Và với công nghệ thông tin,người thầy có thể chế tạo ra những món ăn hấp dẫn và bổ dưỡng, tức làgiờ học lý thú mà nếu chỉ sử dụng bảng đen phấn trắng thì khó mà thựchiện được Với các phương tiện dạy học hiện đại như máy tính, máychiếu và một số phần mềm tiện ích, người thầy có thể làm cho học tròquan tâm hơn đến môn văn mà không phải ép buộc chúng Phươngpháp dạy học mới với sự trợ giúp của Công nghệ thông tin (CNTT )thực sự đã mang đến cho giờ dạy và học Ngữ văn một không khí mới.

Giáo án điện tử chứa đựng công sức, trí tuệ, tình cảm, trách nhiệm,kinh nghiệm của người soạn càng lớn thì hiệu quả chất lượng giờ dạy càngcao Nếu chuẩn bị tốt khâu soạn bài, thầy cô sẽ tự tin và có thể cảm nhậnđược sự thành công của tiết dạy

Tuy nhiên hiện nay, không ít thầy cô lạm dụng CNTT trong soạn bài

và dạy học Giáo án được sao chép từ các nhà cung cấp dịch vụ trên mạng vàđược thầy cô sử dụng theo kiểu ‘‘mì ăn liền” Người dạy thao tác bằng máy

vi tính, thể hiện sự lạnh lùng vô cảm Học sinh phải chuyển từ nạn đọc - chépthành nạn nhìn - chép

Vậy làm thế nào để soạn và dạy một giờ Ngữ văn bằng giáo ánđiện tử sao cho hiệu quả, khoa học và hấp dẫn? Bằng kinh nghiệm củabản thân qua quá trình tích luỹ kiến thức và vận dụng thực tế, tôi chọn

viết SKKN “Sử dụng giáo án điện tử trong dạy học Ngữ văn” để

cùng trao đổi với đồng nghiệp

Trang 6

PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN.

Việc đưa công nghệ thông tin (ICT) vào trường học, được Bộ Giáodục & Đào tạo xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm từ năm học

2008 - 2009 và những năm tiếp theo Do đó, bên cạnh phương pháp soạn bài

và dạy học truyền thống có sự hỗ trợ đắc lực của phương tiện tin học Nhiềutrường và thầy cô giáo đã khai thác triệt để lợi thế này Không coi nhẹphương pháp soạn bài và dạy học truyền thống và cũng không lạm dụng lợithế của ICT, do đó đã tạo ra được những giờ dạy mang phong cách mới mẻ,hiện đại, hấp dẫn và hiệu quả

Công nghệ thông tin đang đem đến nhiều thay đổi cho xã hội nóichung và ngành giáo dục nói riêng Với sự hỗ trợ của các phương tiện

kỹ thuật hiện đại và những phần mềm tiện ích của Microsoft, việc dạy

và học trong nhà trường phổ thông đang dần chuyển sang giai đoạnmới Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, ưutiên phát triển giáo dục đặc biệt là để giáo viên và học sinh được tiếpcận với phương pháp dạy và học hiện đại Vì thế, từ năm học 2006-

2007, Bộ GD&ĐT ra quyết định yêu cầu các Sở GD&ĐT mua sắmthêm các thiết bị như máy tính, máy chiếu, tivi, đầu DVD…Tại cácHội nghị giao ban chỉ đạo, Bộ Giáo dục luôn khẳng định cho rằng, đây

là chủ trương nhằm tạo bước đột phá trong cuộc vận động chấm dứtgian lận trong thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục và lối truyền đạtthụ động “thầy đọc trò chép”

Trang 7

2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

Trong quá trình giảng dạy và đi dự giờ ở một số hội thi và cáctrường bạn, tôi nhận thấy nhiều những ưu điểm của việc áp dụngCNTT trong việc dạy và học Ngữ văn: Bài học trở nên sinh động, thuhút sự chú ý của học sinh do có nhiều minh họa sống động, cụ thể vớiphim, tranh, ảnh, khúc ngâm, bài hát hoặc các sơ đồ, bảng biểu giúp

hệ thống, khái quát hóa bài học… Giáo viên tiết kiệm được nhiều thờigian thuyết giảng, không quá vất vả khi giới thiệu, miêu tả, thể hiệnnhững chủ đề mới Từ đó học sinh dễ tiếp thu bài học Hơn nữa bài học

đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm trí học sinh (minh họa bài “Tứcnước vỡ bờ”; “Hai cây phong”; “ông đồ”; “Nhớ rừng” ) Giáo viênkhông còn độc diễn, thay vào đó học sinh được tiếp cận với nhiềunguồn tư liệu phong phú Bài học cũng được thiết kế linh hoạt theo đặc

trưng bộ môn hoặc nội dung bài học (ví dụ phần củng cố là một trò chơi ngôn ngữ) Nhờ đó giờ học không còn khô cứng và mang tính áp đặt, giáo điều (minh họa trò chơi ô chữ hoặc Bí mật sau bức tranh, Chiếc nón kì diệu…).

Mặt khác dạy trên giáo án điện tử, giáo viên dễ bổ sung, sửachữa, thay đổi cấu trúc bài dạy một cách linh hoạt; phương tiện khôngđòi hỏi nhiều, chỉ cần 1 máy tính, một máy chiếu và màn ảnh rộng,quan trọng nhất là khâu soạn giáo án

Tuy nhiên, việc giảng dạy giáo án điện tử đối với môn Ngữ văn,đặc biệt là phần Đọc hiểu văn bản, tôi nhận thấy khá nhiều bất cập:

Trang 8

* Thứ nhất: Văn chương hấp dẫn người đọc bởi tính hình tượng,

tính gợi hình gợi cảm của nó Điều này đòi hỏi người giáo viên phảithuyết giảng làm sao để học sinh cảm nhận cái hay cái đẹp của nghệthuật ngôn từ, nắm bắt được giá trị hình tượng…Trong khi đó, khi sửdụng giáo án điện tử, nhiều giáo viên hầu như bị phụ thuộc hoàn toànvào màn hình máy tính, chăm chú thực hiện những thao tác đơn giảnđến mức đơn điệu là : Click chuột – diễn giải – Click chuột… Học sinhcắm cúi ghi chép vì sợ thầy chuyển sang trang khác Cuối cùng dẫnđến một tiết dạy rời rạc, xơ cứng, học sinh không cảm nhận được nétđẹp của văn bản

* Thứ hai: Đưa tranh ảnh minh họa trực quan là một phương

pháp tích cực trong mỗi giờ giảng văn Tuy nhiên ở một số giờ dạy, cógiáo viên sử dụng hình ảnh trực quan một cách tùy tiện, dày đặc khiến

học sinh bị phân tán sự chú ý, nhàm chán (có giáo viên khi dạy bài

Nhớ rừng đã sử dụng hơn 10 hình ảnh về con hổ khiến cho học sinh

chỉ tập trung chờ xem ảnh và cười, bình phẩm mà quên chú ý đến nội dung bài giảng) Mặt khác hình tượng trong tác phẩm văn chương vừa

mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượng, do vậy, thể hiện hìnhtượng bằng một bức ảnh trực quan cụ thể sẽ làm giảm đi giá trị củahình tượng trong nhận thức người học, hạn chế sự liên tưởng, tưởngtượng phong phú của học sinh Điều này sẽ làm cho các tác phẩm vănchương mất đi cái hay, cái đẹp đặc trưng của chúng

Trang 9

*Thứ ba: Giáo án điện tử giáo viên biên soạn thường không có

sự phân định rạch ròi giữa nội dung giảng và nội dung học sinh cần ghichép Giáo viên cứ “chiếu” kiến thức ngồn ngộn lên màn hình màkhông có quy ước nào để học sinh nắm bắt kiến thức Điều đó dẫn đếntình trạng học sinh ghi chép mải miết mà không sao ghi kịp, ghi ý phụ

mà bỏ mất ý chính là chuyện thường gặp Ngoài ra, một số giáo viêncòn sử dụng các hiệu ứng cho chữ “nhảy múa” khiến học sinh khôngtập trung học mà cứ lo xem chữ

*Thứ tư: Soạn giáo án điện tử cho 1 tiết dạy cần nhiều thời gian,

đòi hỏi giáo viên kĩ năng sử dụng vi tính và có một nguồn tư liệu

phong phú (có giáo viên tâm sự, để có một tiết dạy 45 phút thường phải chuẩn bị giáo án ít nhất là 1 tuần mới xong) Chính vì vậy một số

giáo viên tỏ ra ngại và không hứng thú với việc soạn và giảng bằnggiáo án điện tử

Trong quá trình giảng dạy của bản thân, tôi đã cố gắng soạn,giảng bằng giáo án điện tử, đặc biệt là với những giờ Đọc hiểu văn bản

và thực sự hứng thú với những tiết dạy này Qua thực tế soạn, giảng tôi

đã rút ra một số kinh nghiệm nhỏ, xin được mạnh dạn trao đổi cùngcác bạn đồng nghiệp về việc soạn, giảng Ngữ văn bằng giáo án điện tử

3 CÁC BIỆN PHÁP MỚI ĐÃ THỰC HIỆN ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Khi soạn giảng 1 tiết dạy bằng giáo án điện tử, tôi thường thựchiện bằng các bước sau:

*Bước 1: Soạn giáo án ở chương trình Word.

Trang 10

Khi soạn giáo án ở chương trình Word cần soạn đầy đủ các bướclên lớp, đặc biệt chú ý đến 4 hoạt động cơ bản:

HĐ1 Tổ chức- Kiểm tra bài cũ

HĐ2 Bài mới

HĐ3 Luyện tập

HĐ4 Củng cố – Hướng dẫn về nhà

Hiện nay, nhiều giáo viên dạy ngữ văn THCS đã sử dụng giáo

án vi tính soạn trên chương trình Word Điều đó rất thuận lợi vì khisoạn giáo án điện tử chúng ta chỉ cần một vài thao tác cắt, dán là cóthể chuyển tòan bộ nội dung cơ bản của bài soạn trong chương trìnhWord sang chương trình Power Point mà lại tiết kiệm được khá nhiềuthời gian so với việc soạn trực tiếp trên chương trình Power Point

*Bước 2: Lựa chọn kiến thức trình chiếu.

Đây là bước rất quan trọng Nhiều giáo viên, đặc biệt là nhữnggiáo viên mới bắt đầu soạn giảng với Power Point còn lúng túng ởbước này Để thực hiện tốt người giáo viên phải nắm được chuẩn kiếnthức kĩ năng, nắm vững kiến thức trọng tâm của bài, không tham kiếnthức, không ham trình chiếu Chỉ đưa trình chiếu những kiến thức, nộidung học sinh cần ghi nhớ, cần viết vở, không đưa trình chiếu phầnthuyết giảng của giáo viên Nếu kiến thức đưa ra trình chiếu khôngđược lựa chọn sẽ dễ bị đẩy vào 2 tình huống :

1- Kiến thức đưa quá nhiều, học sinh khó theo dõi, khó ghi chép

sẽ dẫn đến mệt mỏi…

Trang 11

2- Kiến thức đưa quá sơ sài, học sinh không nắm được bài.

Vì thế, giáo viên cần biết chắt lọc và tinh giản kiến thức cầntrình bày trên các Slide, đảm bảo nội dung cô đọng nhưng vẫn đầy đủ ýcủa bài học

*Bước 3 : Lựa chọn tư liệu để đưa vào giáo án.

Các tư liệu được lựa chọn để đưa vào giáo án thường là :

1- Dạng hình ảnh:

- Tác giả

- Tác phẩm, hình ảnh minh họa cho tác phẩm

- Các đoạn phim, video clip

Ví dụ: Trong chương trình Ngữ văn lớp 8, tôi đã sưu tầm và sử dụng một sốnhững tư liệu về hình ảnh như:

- Các tác gi :ả:

HỒNG

PHAN CHÂUCHINH

Trang 12

TỐ HỮU THẾ LỮ NAM CAO NGÔ TẤT TỐ

AIMATOP TRẦN QUỐC TUẤN NGUYỄN TRÃI TƯỢNG LÝ CÔNG UẨN

- Các tác ph m:ẩm:

Trang 13

Minh họa cho

Minh họa cho “Trong lòng mẹ”

Minh họa cho

Hai cây phong

Bìa tác phẩm

Bản án chế

độ thực dân Pháp

Cảnh bắt lính của bọn thực dân Pháp

Ngoài ra còn rất nhiều những hình ảnh khác nữa

- Các đoạn phim, video clip: đoạn phim trích trong “Làng Vũ Đại”

cảnh lão Hạc sang nhà ông giáo và cảnh lão Hạc chết; đoạn video minh họa

cho tác phẩm Hai cây phong

Trang 14

Internet Để có một hệ thống tư liệu phong phú, giáo viên phải có ý thứccập nhật, sưu tầm thường xuyên Tuy nhiên, chúng ta không nên lạmdụng, phải biết chắt lọc, lựa chọn những tư liệu đắt nhất, hiệu quả nhất

có tác dụng tốt tới học sinh, nếu không sẽ làm loãng bài giảng, học sinhmải xem hình ảnh mà quên mất bài giảng

*Bước 4: Thiết kế các Slide của giáo án

1- Lựa chọn số lượng Slide cho mỗi bài dạy.

Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy 1 giờ giảng văn thườngkhông nên sử dụng quá 12 – 15 slide

- Kiểm tra bài cũ : 1 slide

- Giới thiệu bài mới : 1 slide ( tiết số , tên văn bản, tên tác giả)

- Bài mới: 7- 10 slide ( số slide phụ thuộc và nội dung bài giảng )

- Củng cố – luyện tập: 2 slide ( tùy thuộc vào số lượng câu hỏi và bài tập mà giáo viên đưa ra)

- Hướng dẫn về nhà: 1 slide

2- Xây dựng bố cục cho mỗi slide.

Với những slide thực hiện bước kiểm tra bài cũ và giới thiệu bài mới,hướng dẫn học bài về nhà thì bố cục linh hoạt theo nội dung từng bài

Với những slide thực hiện bước giảng dạy bài mới, tôi thường xâydựng bố cục như sau:

- Trên mỗi slide là 1 dòng tít cố định gồm các nội dung: Tiết dạy-Tên văn

bản – Tên tác giả Dòng tít cố định này, mỗi khi lật sang một slie mới đều

có sẵn, giáo viên không phải thực hiện thao tác chiếu

Trang 15

Ví dụ:

Dòng tít cố định

TiÕt 21-22 V¨n b¶n C« BÐ B¸n Diªm An®ecxen

- Phần trọng tâm của slide chia làm 2 cột, giống như bảng đen ta vẫnthường làm Bên trái là bảng tĩnh, bên phải là bảng động

+ Bên bảng tĩnh, ta đưa những đề mục chính của bài học như:

Bảng tĩnh

TiÕt 21-22 V¨n b¶n C« BÐ B¸n Diªm An®ecxen

I – Giíi thiÖu chung

1- T¸c gi¶

2- t¸c phÈm

II T×m hiÓu ®o¹n trÝch

1.§äc – Tãm t¾t 2- Chó thÝch 3- Bè côc 4- Ph©n tÝch

a- Hßan c¶nh cña c« bÐ b¸n diªm:

b- Méng t­ ëng vµ thùc t¹i c- C¸i chÕt cña c« bÐ b¸n diªm

Trang 16

+ Bên bảng động, lần lượt trình chiếu những nội dung, kiến thức

mà trong quá trình giảng dạy, tiếp cận tác phẩm, giáo viên và học sinh

cùng khám phá (những nội dung trình chiếu được lựa chọn, chắt lọc,

- Sèng chui róc trong 1 xã tèi t¨m

- Lu«n bÞ bè m¾ng nhiÕc, chöi rña.

- Ph¶i ®i b¸n diªm kiÕm sèng

Trang 17

Nên thống nhất kiểu chữ, cỡ chữ, màu chữ ở những đề mục,những nội dung có cùng một vị trí, vai trò, nhiệm vụ…Ví dụ:

- Những đề mục lớn của bài như:

I- GIỚI THIỆU CHUNG

II- ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN

chữ khác hẳn với những màu chữ, kiểu chữ đã chọn ở trên, học sinh dễkhắc sâu kiến thức

Trang 18

- Chọn phông nền nên chọn màu hài hòa nhưng phải làm nổi bậtmàu chữ đã sử dụng ở slide, không nên chọn màu nền quá tối như màuđen, màu ghi, nâu, xám hoặc màu quá chói như màu đỏ, màutím Cũng không nên chọn mỗi slide một màu nền khác nhau, điều đókéo theo màu chữ ở mỗi slide cũng phải thay đối khiến cho học sinhkhó theo dõi, khó nhớ kiến thức vì vậy màu nền nên thống nhất ở tất

cả các slide của 1 bài giảng

- Mỗi lớp học trung bình có từ 35- 40 học sinh, trong khi đó cáctiết dạy GAĐT thường tắt bớt đèn , đóng bớt cửa sổ hay kéo rèm hạnchế ánh sáng trời để ảnh trên màn chiếu rõ hơn Như vậy , học sinhngồi cuối lớp hay những học sinh mắt kém sẽ khó khăn khi quan sáthình ảnh, chữ viết trên màn chiếu Do đó, để học sinh ghi chép đượcbài học, giáo viên khi soạn giáo án trên Power Point cần chú ý một sốnguyên tắc về hình thức sau:

- Về màu sắc của nền hình: Cần tuân thủ nghuyên tắc tương phản(contrast), chỉ nên sử dụng màu chữ sậm (đe, xanh đậm, đỏ đậm ) trênnền trắng hay nền màu sáng Ngược lại, khi dùng màu nền sậm thì nên

sử dụng chữ có màu sáng hay trắng Tôi thường dùng dùng màu tươngphản dễ nhìn như: đen- trắng, đen- vàng, trắng- đỏ, trắng- xanh

- Về phông chữ: Nên dùng các phông chữ đậm, rõ và gọn (Aria,Tahoma, Times New Roman ) hạn chế dùng các phông chữ có đuôi(VNI- timer ) dễ mất nét khi trình chiếu

Ngày đăng: 13/06/2018, 14:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w