Vì thế việc cung cấp rau xà lách sạch là một nhu cầu cấp bách hiện nay, với mô hình trồng thủy canh rau xà lách, chúng ta dễ dàng kiểm soát được những dư lượng chất hóa học trong rau và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*************
NGUYỄN HỒNG PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT TRỒNG XÀ LÁCH (Lactuca sativa)
BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỦY CANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Cảnh Quan Và Kỹ Thuật Hoa Viên
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
*************
NGUYỄN HỒNG PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT TRỒNG XÀ LÁCH (Lactuca
sativa) BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỦY CANH
Ngành: Cảnh Quan Và Kỹ Thuật Hoa Viên
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn: TH.S TRƯƠNG THỊ CẨM NHUNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này , tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tôi xin chân thành cảm ơn :
Cô Trương Thị Cẩm Nhung đã hướng dẫn tận tình chu đáo
Toàn thể thầy cô đã giảng dạy lớp DH07CH một cách tận tình chu đáo
Gia đình và tất cả bạn bè đặc biệt là các bạn sinh viên K33 bộ môn cảnh quan hoa viên trường đại học nông lâm Đã tạo điều kiện thuận lợi , giúp đỡ , và động viên
để tôi hoàn thành tốt đề tài này
Thành phố Hồ Chí Minh , tháng
07/2011 Nguyễn Hồng Phương
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu kỹ thuật trồng xà lách bằng phương pháp thủy canh “ , đề tài được thực hiện tại Cát Lái tỉnh Đồng Nai, thời gian thực hiện từ tháng 4/2011 đến đầu tháng 7/2011
Kết quả thu được:
- Mô hình ngâm rễ mang lại hiệu quả cao về khối lượng nhưng số lá lại ít
- Mô hình ngập rút định kỳ và màn mỏng dinh dưỡng tạo ra sản phẩm chất lượng cao và đồng tuy vốn đầu tư ban đầu khá cao
SUMMARY
Research topic : “Research on planting salad by hydroponics” from 4/2011
to 7/2011 in Cat Lai, Dong Nai province
Results after the completion of this thesis is:
- Water Culture model had high weight but low number of leaves
- Nutrient Film Technique model and ebb và flow system model had good quality but highr price
Trang 5MỤC LỤC
Trang tựa i Lời cảm ơn ii Tóm tắt luận văn iii
Summary iii Mục lục iv Danh sách các chữ viết tắt và các hình viii
Danh sách bảng và biểu đồ ix
2.1.Giới thiệu thủy canh 3
2.2 Một số hệ thống thủy canh căn bản 5
Trang 62.5 Giới thiệu tổng quan cây xà lách 12
2.5.1 Phân loại 12
2.5.3 Đặc điểm thực vật của cây xà lách 14
2.5.4 Đặc điểm sinh thái của cây xà lách 14
2.6 Giá trị của rau xà lách 16
2.6.2 Giá trị kinh tế 16 2.7 Tình hình sản xuất rau xà lách 17
2.8 Tình hình sản xuất rau sạch 17
2.9 Tiềm năng của phương pháp thủy canh trong thị trương sản xuất rau sạch 18
Chương 3: MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 19
3.2 Nội dung nghiên cứu 19
3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
3.5.2.3 Mô hình tưới nhỏ giọt 21
3.5.2.4 Mô hình màn mỏng dinh dưỡng 21
3.5.2.5 Mô hình ngập rút định kỳ 22
3.5.3 Phương pháp thực hiện 22
3.6 Chỉ tiêu theo dõi và đánh giá 23
3.7Xử lý số liệu 23
1 Kết quả đánh giá sự sinh trưởng của cây xà lách trong 5 mô hình thủy canh 24
Trang 74.1.1 Ảnh hưởng của các mô hình thủy canh đến số lượng lá của cây xà lách 24
4.1.2 Ảnh hưởng của các mô hình thủy canh đến chiều cao của cây xà lách 26
4.1.3 Ảnh hưởng của các mô hình thủy canh đến trọng lượng của cây xà lách 38
4.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của 5 mô hình thủy canh
4.2.1 Chi phí lắp đặt cho các mô hình thí nghiệm
4.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình thí nghiệm
Trang 8Hình 2.3 : mô hình tưới nhỏ giọt 6
Hình 2.4 : mô hình màn mỏng dinh dưỡng 6 Hình 2.5 : mô hình ngập rút định kỳ 7
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: so sánh tổng quan giữa 5 mô hình 7 Bàng 2.2 :tình hình sản xuất thủy canh trên thế giới 11 Bảng 2.3: thành phần dinh dưỡng của rau xà lách 16
Bảng 4.1: Số lá trung bình của rau mỗi mô hình 24 Bảng 4.2: bảng phân tích anova về số lượng lá ở 5 mô hình 24
Bảng 4.3: chiều cao trung bình của rau mỗi mô hình 26
Bảng 4.4: Bảng anova về chiều cao ở 5 mô hình 26
Bảng 4.5: trọng lượng trung bình của rau trong các mô hình 28
Bảng 4.6: Bảng anova về khối lượng của rau trong 5 mô hình 29
Bảng 4.4: so sánh cụ thể 5 mô hình 30
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 : Số lượng lá trung bình của rau trong các mô hình 25
Biểu đồ 4.2:chiều cao trung bình của rau trong các mô hình 27
Trang 10Cho đến nay, các nhà khoa học đã làm rõ vai trò của rau xanh là nguồn cung cấp chủ yếu các vitamin (đặc biệt là các vitamin A,C…), các chất khoáng (canxi, phốt pho, sắt…) và các chất xơ cho cơ thể Ngoài ra, bên cạnh giá trị dinh dưỡng, rất nhiều loài rau có tính dược lý cao giúp ngăn ngừa và chữa trị các bệnh nan y và tăng sức đề kháng của cơ thể con người
Trong xu thế của một nền công nghiệp thâm canh, việc ứng dụng ồ ạt các sản phẩm hóa học không chọn lọc đã làm cho sản phẩm rau xanh và môi trường canh tác bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là rau xà lách
Chất lượng rau xà lách hiện nay không đảm bảo được về vệ sinh an toàn thực phẩm Vì lợi nhuận trước mắt mà đa số các nhà sản xuất rau hiện nay đã và đang
sử dụng rất nhiều hóa chất trên chính sản phẩm của họ, việc sử dụng quá bừa bãi các loại hóa chất dẫn đến việc tích tụ các thành phần hóa chất độc hại trên đất nguồn nước và nhiều nhất là trên các loại rau được đem ra thị trường tiêu thụ Việc đó ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng và nhiều di chứng để lại như
Trang 11ung thư, ảnh hưởng đến di truyền của thế hệ sau Vì thế việc cung cấp rau xà lách sạch là một nhu cầu cấp bách hiện nay, với mô hình trồng thủy canh rau xà lách, chúng ta dễ dàng kiểm soát được những dư lượng chất hóa học trong rau và đảm bảo rau được bảo vệ khỏi các tác nhân gây hại khác từ môi trường Việc áp dụng
mô hình trồng rau thủy canh vào thực tế còn gặp nhiều khó khăn do đây là công nghệ khá mới đối với nước ta và việc áp dụng mô hình này đòi hỏi một số kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế
Với mục đích phát triển công nghệ trồng rau xà lách sạch để đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng và tạo ra bước đột phá trong công nghệ sản xuất rau sạch, đề tài : ”Nghiên cứu kỹ thuật trồng xà lách bằng phương pháp thủy canh” được thực hiện để giải quyết những vấn đề đó
Những đóng góp của đề tài:
+Với người tiêu dùng:đây là nguồn rau sạch và an toàn đảm bảo sức khỏe cho cộng đồng
+Với các doanh nghiệp :đây là hướng đầu tư mới
+Với xã hội :đây là giải pháp cho vấn đề rau sạch
Trang 12Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Giới thiệu thủy canh
Thủy canh thường được định nghĩa như là "Trồng cây trong nước" Tuy nhiên do có rất nhiều môi trường tổng hợp được sử dụng để trồng cây nên có thể mở rộng định nghĩa thủy canh là " trồng cây không sử dụng đất"
Từ nhiều thế kỷ trước ở vùng Amazon, Babylon, Ai Cập, Trung Quốc và Ấn Độ, người xưa đã biết sử dụng phân bón hòa tan để trồng dưa chuột, dưa hấu và nhiều loại rau củ khác Sau đó các nhà sinh lý thực vật bắt đầu trồng cây trên môi trường dung dịch dinh dưỡng đặc biệt để thí nghiệm và gọi là "nuôi cấy dinh dưỡng" Năm 1929, William F GoGGoricke đã thành công trong việc trồng cây cà chua trong dịch dinh dưỡng Ông gọi hệ thống mới này là "thủy canh" ("Hydroponic" - theo tiếng Hy Lạp, hydros là 'nước" và ponos là "làm việc") Từ đó, thủy canh được ứng dụng và phát triển rộng rãi, và mở rộng thành các phương pháp trồng cây trên môi trường rắn trơ sử dụng dung dịch dinh dưỡng
*Ưu điểm của kỹ thuật thủy canh:
- Không cần đất, chỉ cần không gian để đặt hộp dụng cụ trồng, do vậy có thể triển khai ở những vùng đất cằn cỗi như hải đảo, vùng núi xa xôi cũng như tại gia đình sân thượng, balcon
- Không phải làm đất, không có cỏ dại, không cần tưới
- Trồng được nhiều vụ, có thể trồng trái vụ,
Trang 13- Không phải sử dụng thuốc trừ sâu bệnh và các hóa chất độc hại khác
Năng suất cao vì có thể trồng liên tục
- Sản phẩm hoàn toàn sạch đồng nhất Giàu dinh dưỡng và tươi ngon
Không tích lũy chất độc, không gây ô nhiễm môi trường
- Không đòi hỏi lao động nặng nhọc, người già trẻ em đều ó thể tham gia hiệu quả
*Nhược điểm của kỹ thuật thủy canh:
- Vốn đầu tư ban đầu cao do chí phí về trang thiết bị Tuy nhiên, chi phí này không phải là cao so với những chi phí phải trả để diệt sâu bệnh và côn trùng, thuê nhân công Hơn nữa các máy móc thiết bị được tái sử dụng nhiều lần nên chỉ tốn chi phí đầu tư cho ban đầu
- Đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao để sản xuất có hiệu quả Điều này gây trở ngại cho việc đưa phương pháp thủy canh mở rộng đại trà Trong quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng, thực vật làm thay đổi độ pH trong dung dịch thủy canh Do đó, cần phải điều chỉnh pH mồi ngày Giá trị
pH tối thích từ khoảng 5,8 - 6,5 giá trị pH càng chênh lệch khỏi khoảng này thì mức độ ảnh hưởng không tốt lên hệ thống thủy canh càng lớn
- Ngoài ra, những yếu tố thay đổi đột ngột môi trường cũng như việc cung cấp chất dinh dưỡng hay tưới nước không đúng có thể gây ra những triệu chứng rối loạn sinh lý ở cây
Trang 142.2 Một số hệ thống thủy canh căn bản
2.2.1 Mô hình ngâm rễ : (MH1)
Cây được trồng trong chậu chứa các giá thể trơ có đục lỗ để rễ có thể phát triển
ra bên ngoài chậu và để trong một chậu lớn hơn chứa dung dịch dinh dưỡng Chậu giá thể chứa cây ngập trong dung dịch khoảng 2-3 cm, một số rễ của cây được ngâm trong dung dịch còn một số khác lại nằm trong giá thể tiếp xúc với không khí nhiều hơn
Hình 2.1: mô hình ngâm rễ
2.2.2 Mô hình mao dẫn : (MH2)
Với mô hình này, có hai loại chậu được sử dụng Cây được trồng trong các chậu chứa giá thể, dung dịch dinh dưỡng chứa từ một chậu chứa bên dưới được mao dẫn lên tới chậu chứa cây ở trên thông qua dây dẫn (có thể bằng bông gòn, tim đèn hay dây dù)
Hình 2.2: mô hình mao dẫn
Trang 152.2.3 Mô hình nhỏ giọt (MH3) :
Với mô hình này, nước và dinh dưỡng được tưới nhỏ giọt định kỳ vào chậu
và có thể thu hồi lại lượng nước thừa từ chậu chảy ra
Hình 2.3 : mô hình tưới nhỏ giọt
2.2.4 Mô hình màn mỏng dinh dưỡng (MH4) :
Với mô hình này, dung dịch dinh dưỡng chảy qua các kênh có độ dốc tạo ra một lớp mỏng dinh dưỡng trong kênh và tiếp xúc trực tiếp với rễ cây để cung cấp dinh dưỡng
Hình 2.4 : mô hình màn mỏng dinh dưỡng
Trang 162.2.5 Mô hình ngập rút định kỳ (MH5) :
Là mô hình mà bộ rễ được ngập và không được ngập theo những thời gian
khác nhau trong ngày, tỷ lệ thời gian ngập và không ngập khác nhau giữa
Chất dinh dưỡng đi vào giá thể thông qua dây dẫn
Chất dinh dưỡng đi vào giá thể thông qua cách tưới nhỏ giọt
Chất dinh dưỡng tạo thành dòng chảy mỏng chảy qua rễ cây
Dung dịch dinh dưỡng được bơm vào và rút ra theo đúng chu kỳ
Trang 172.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc trồng cây thủy canh
2.3.1 Giá thể
Người ta đã sử dụng nhiều cơ chất khác nhau trong nuôi trồng thủy canh Tuy nhiên một trong số những đòi hỏi đầu tiên của việc nghiên cứu đó là rễ cây phải dễ dàng tách ra khỏi môi trường Than bùn, perlite và vermiculite là những cơ chất tốt, nhưng rễ thường đâm sâu vào trong môi trường nên sẽ gặp khó khăn trong việc nghiên cứu hình thái, kích thước của rễ
Đối với môi trường cát, ta dễ dàng lấy rễ ra nhưng rễ phát triển trong cát thường ngắn và ốm hơn vì cát chặt hơn Cây phát triển trong cát thường ít tốt hơn trong các cơ chất khác, có lẽ vì sự phát triển của rễ kém hơn Trong nhiều năm qua, người ta thường dùng đất nung (hay còn gọi là turface, profil, arcillite) để nghiên cứu thủy canh vì loại nó ra khỏi rễ rất dễ Tuy nhiên đất nung có hai bất lợi:
Không có tính trơ về mặt hóa học Những loại đất nung khác nhau cho ra những lượng dinh dưỡng khoáng khác nhau và điều này làm cho kết quả nghiên cứu không còn chính xác Có thể dùng dung dịch dinh dưỡng để rửa bỏ những chất không mong muốn nhưng tốn kém
Đất nung có kích cỡ không giống nhau và khả năng hấp thu nước tùy thuộc vào kích thước, cho nên tính đồng nhất không giống nhau
Gần đây, một loại sản phẩm mới được đóng ép gọi là isolite Vùng biển Nhật Bản là nơi có nhiều loại này – nó trộn với đất sét 5% (đóng vai trò như chất kết dính) Ngoài ra trong thành phần của nó còn có SiO2 (dioxid silic) SiO2 có tính trơ cao về
Trang 18Một số giá thể hữu cơ được sử dụng :
Than bùn: Đây là chất tốt nhất trong các giá thể hữu cơ có khả năng giữ nước và các chất dinh dưỡng cao hơn các loại giá thể hữu cơ khác Than bùn có chứa nhiều khoáng như: N, P, K, Ca, Mg và một số nguyên tố vi lượng, trong đó có silic.Thông thường trong nuôi trồng thủy canh, than bùn được dùng để nuôi trồng các loại cây cho quả như: cà chua, dưa leo, ớt tây, dâu tây Than bùn cần thanh trùng trước khi sử dụng
Mùn cưa : Mùn cưa, cát và hỗn hợp hai loại vật liệu đó đã được dùng có kết quả để sản xuất dưa chuột Một hỗn hợp có khoảng 25% cát có lợi là phân bố độ ẩm đồng đều hơn khi dùng riêng mùn cưa
Vỏ cây, xơ dừa Đây là loại vật liệu tương đối rẻ tiền, có khả năng dễ phân hủy
do vi sinh vật nhiều Phần lớn các nghiên cứu dùng vỏ cây hoặc xơ dừa cần phải cho dòng nước chảy chậm để lôi cuốn các hợp chất tanin có trong vỏ cây và xơ dừa
Tóm lại việc trồng cây trong giá thể trơ và trên giá thể tự nhiên mang lại một số thuận lợi như điều chỉnh được dinh dưỡng của cây trồng, giảm bớt yêu cầu về lao động, dễ tưới nước, cải thiện năng suất, sản xuất ra các loại rau quả chất lượng cao
2.3.2 Chậu trồng cây
Chậu trồng cây phải có nhiều lỗ xung quanh, đáp ứng được nhu cầu thoát nước của cây và độ thoáng khí cần thiết để cây sinh trưởng và phát triển bình thường
2.3.3 Nước và dung dịch dinh dưỡng
Dung dịch dinh dưỡng : Trong hệ thống thủy canh, tất cả các thành phần dinh dưỡng cần thiết được cung cấp cho cây ở dạng dung dịch, chứa muối khoáng và phân bón tan trong nước
Phương pháp thủy canh cho phép người canh tác kiểm soát các thành phần cần thiết bằng cách điều chỉnh hay thay đổi dung dịch dinh dưỡng cho phù hợp với
Trang 19từng giai đoạn tăng trưởng của cây và cung cấp chúng với một lượng cân bằng Các chất dinh dưỡng hiện diện ở dạng ion trong dung dịch thủy canh, cây trồng không cần phải tìm kiếm hay cạnh tranh với các sinh vật khác như khi trồng trong đất Do
đó, việc tối ưu hoá điều kiện dinh dưỡng của hệ thống thủy canh cũng dễ hơn nhiều
so với trong đất
Dung dịch dinh dưỡng dùng cho dung dịch thủy canh phải đáp ứng được những điều kiện sau:
Độ pH: Giá trị pH tối thích nằm trong khoảng 5,8 – 6,5 Giá trị pH càng lệch
ra khỏi khoảng này thì càng có ảnh hưởng tiêu cực lên hệ thống thủy canh, pH trên 7,5 sẽ làm giảm khả năng hấp thu sắt và có thể xảy ra hiện tượng úa vàng thân, pH dưới 6,0 sẽ làm giảm mạnh khả năng hòa tan acid phosphoric, ion calcium và mangan Có thể sử dụng các chất đệm hoá học để giữ ổn định giá trị pH
Độ dẫn điện: Giá trị độ dẫn điện (EC) tốt nhất là trong khoảng 1,5 – 2,5 dS/m Giá trị EC cao hơn sẽ ngăn cản sự hấp thu chất dinh dưỡng, EC thấp sẽ ảnh hưởng đến sức sống và năng suất cây Khi cây hấp thu chất dinh dưỡng và nước từ dung dịch, tổng nồng độ muối và EC đều thay đổi
Tính dung hợp của các thành phần trong dung dịch dinh dưỡng: Tránh những
loại công thức pha chế dung dịch có chứa nhiều tạp chất như cát, đất sét, hay bùn; cũng cần phải tránh các công thức pha chế có chứa các muối không hòa tan hoặc hòa tan kém, hay có chứa các chất tương tác với nhau tạo ra chất không tan
2.3.4 Không khí –Ánh sáng-Nhiệt độ
Trang 20Ánh sáng ảnh hưởng mạnh đến sự hút chất dinh dưỡng và nhiều chức năng quang trọng khác của cây như quang hợp, hô hấp, trao đổi nước …
Tuy nhiên đối với xà lách ánh sáng quá mạnh có thể làm khô héo cây dẫn đến làm chết cây
Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự hòa tan các chất trong dung dịch, tác động mạnh
mẽ vào quá trình sinh lý của cây
2.4 Những kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
2.4.1 Tình hình sản xuất thủy canh ở nước ngoài
Bàng 2.2:tình hình sản xuất thủy canh trên thế giới Tên nước Năm Diện tích Cây trồng
Trung Quốc 1999 120 Cà chua, dưa leo, dưa tây, rau diếp
Đài Loan 1999 35 Rau diếp
Hà Lan 2001 3500 Cà chua, dưa leo, ớt, hoa cắt cành, cà tím, đậu,
rau diếp Tây Ban Nha 2001 4000 Dưa leo, ớt, rau diếp
Pháp 1996 1000 Dưa leo, ớt, cà chua, hoa cắt cành
Đức 1996 650 Hoa cắt cành, rau tây, cà chua
New Zealand 2001 550 Ớt, dưa chili, dưa leo, dâu tây,
Anh 1998 392 Hoa hồng, cà chua, dâu tây
Úc 1996 500 Cà chua, dưa leo, ớt, hoa
Nam Phi 1996 420 Cà chua, dưa leo, rau diếp
Mỹ 1999 400 Cà chua, dưa leo, rau diếp
Hy lạp 1999 60 Cà chua, dưa leo, rau diếp, ớt
Cannada 2001 1574 Cà chua, dưa leo, rau diếp
Trang 21Nông trại Eurofresh ở Willcox Arizana, Mỹ, đã bán được 56.250 tấn cà chua vào năm 2005 và 90.000 tấn cà chua vào năm 2007, nông trại Eurofresh có diện tích 127,2 ha và nó chiếm 1/3 diện tích trồng cây thủy canh trong nhà kính ở mỹ
Năm 2010 tại tiểu bang Kent, Anh công trình xây dựng Thanet Earth đã được hoàn thành gồm tổ hợp khổng lồ gồm 7 nhà kính trồng rau trên diện tích 91 ha.Đó là thành công của sự hợp tác giữa Anh và Hà Lan, công trình cung cấp 2,5 triệu trái cà chua và 700.000 quả dưa chuột mỗi tuần, tốc độ sinh trưởng của cây tăng từ 2-4 lần
2.4.2 Tình hình sản xuất rau thủy canh ở trong nước
Lê Đình Lương (1993) phối hợp với viện nghiên cứu và phát triển Hồng Kông (R&D Hồng kông) đã tiến hành nghiên cứu tòan diện các khía cạnh khoa học
kỹ thuật và kinh tế xã hội cho việc chuyển giao công nghệ và phát triển thủy canh tại Việt Nam
Đến tháng 10/1995 mạng lưới nghiên cứu và triển khai được phát triển ở Hà Nội, Tp.Hcm, Côn Đảo, sở khoa học công nghệ ở một số tỉnh thành Công ty Gold Garden& Gino, nhóm sinh viên Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Tp HCM với phương pháp thủy canh vài loại rau xanh thông dụng, cải xanh, cải ngọt, xà lách…phân viện công nghệ sau thu hoạch Viện sinh học nhiệt đới cũng nghiên cứu và sản xuất Nội dung chủ yếu là:
Thiết kế và phối hợp sản xuất thử các vật liệu dùng trồng thủy canh
Nghiên cứu trồng các loại cây khác nhau, cấy truyền từ nuôi cấy mô vào hệ thống thủy canh trước khi đưa vào đất một số cây ăn quả khó trồng trực tiếp vào đất
Trang 22Từ tháng 9 năm 2006, phương pháp trồng rau thuỷ canh được thử nghiệm tại Phân viện Sinh học Đà Lạt Hệ thống thuỷ canh này không cần công chăm sóc bởi
hệ thống tự cung cấp nước tưới, chế độ dinh dưỡng cho cây rau hoàn toàn tự động Sau khi trồng thành công rau xà lách bằng phương pháp thuỷ canh, Phân viện Sinh học Đà Lạt tiếp tục trồng khoai tây và cũng cho kết quả tốt
Nguyễn Trung Dũng, Võ Thị Bạch Mai ( 2005) đã tiến hành trồng thí nghiệm cây mai địa thảo bằng phương pháp thủy canh trong 3 môi trường dinh dưỡng MS, Knudson C và Alan Copper, kết quả cho thấy sau 2 tháng, cây tiếp tục sinh trưởng
và phát triển, ra nhiều nhánh mới và ra hoa đều đặn
2.5 Giới thiệu tổng quan cây xà lách
Trang 232.5.3 Đặc điểm thực vật của cây xà lách
Rễ:hệ rễ cọc, ăn nông trên bề mặt đất, ăn rộng 20-30cm, ăn sâu 25cm, vì vậy
cây không chịu được ngập úng, lớp đất bề mặt cần độ tơi xốp và giàu dinh dưỡng để
rễ cây hoạt động tốt
Thân: có loại thân ngắn như xà lách cuộn, có loại thân thẳng dài như rau diếp Lá: có nhiều lớp, có loại xanh đậm, có loại xanh nhạt, loại màu tím, xoăn,
loại cuộn có lá trong màu trắng ăn mềm ngon hơn lá ngoài
Hoa: chum hoa dạng đầu, chứa số lượng lớn các loại hoa nhỏ kết chặt với
nhau trên một đế hoa Hoa có 5 đài, 5 nhụy và 2 lá noãn, hoa tự thụ, hạt phấn và lá noãn có độ hữu thụ cao Hoa nở từ lúc có ánh sáng mặt trời đến trưa, thụ phấn tốt nhất là từ 9-10 giờ sáng
Quả: loại quả bế, hạt không có phôi nhũ
Thời kỳ cây con: Hạt xà lách cần thời gian ngủ nghỉ Muốn phá ngủ nghỉ cho hạt xà lách nảy mầm, trước khi gieo cần để hạt trong tối nơi có nhiệt độ từ 4-6 độ C trong 3-5 ngày
Thời kỳ sinh trưởng thân lá:giai đoạn này thân không phát triển nhiều và nhanh bằng các lớp lá xếp dầy đặc trên bề mặt phẳng
Thời kỳ phát triển hoa: nhánh hoa được phát triển từ đỉnh bắp, một số giống cuộn chặt cần bổ phần đỉnh bắp để chồi hoa trổ ra ngoài Hoa chỉ nở 1-2 giờ, hoàn toàn tự thụ phấn trước khi nở
2.5.4 Đặc điểm sinh thái của cây xà lách