Phát triển nông nghiệp Phát triển nông nghiệp là một tổng thể các biện pháp nhằm tăng sản phẩm nông nghiệp để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trên cơ sở khai thác các nguồn lực
Trang 1ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA NÔNG LÂM NGƯ
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LỘC NINH,
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚITỈNH QUẢNG BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Quảng Bình, năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA NÔNG - LÂM - NGƯ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ LỘC NINH, THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI,
TỈNH QUẢNG BÌNH
Họ tên sinh viên: Nguyễn Trường Sơn
Mã số sinh viên: DQB05140125 Chuyên ngành: Phát triển Nông thôn Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Thanh Thùy
Quảng Bình, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Em xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và mọi thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Đồng Hới, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Trường Sơn
Trang 4Qua đây, chúng em xin chân thành cảm ơn UBND xã Lộc Ninh hỗ trợ trong quá trình thu thập thông tin và điều tra
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian học tập ,cảm ơn các cán bộ giảng viên khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại Học Quảng Bình đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi thuận lợi cho chúng em hoàn thành bài khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 3
LỜI CẢM ƠN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC CÁC BẢNG 9
DANH MỤC CÁC HÌNH 10
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 11
Phần I MỞ ĐẦU 12
1.1 Lý do chọn đề tài 12
1.2 Mục đích nghiên cứu 13
1.3 Mục tiêu nghiêncứu 13
Phần II : NỘI DUNG 14
Chương I : TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 14
1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp xã Lộc Ninh 14
1.1 Đặc điểm tự nhiên 14
1.1.1 Vị trí địa lý 14
1.1.2 Khí hậu – thủyvăn 14
1.1.3 Các nguồn tài nguyên 15
1.2.Công tác hoạt động xã hội 16
1.3.Đặc điểm kinh tế 17
2 Một số vấn đề lý luận về phát triển nông nghiệp 17
2.1 Khái quát về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp 17
2.1.1.Một số khái niệm 17
2.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ở nước ta 18
2.1.2.1 Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt 18
2.1.2.2 Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau 19
2.1.2.3 Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi 19 2.1.2.4 Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao 19
2.1.3 Ý nghĩa của phát triển nông nghiệp trong nền kinh tế 21
2.2 Nội dung và tiêu chí phát triển nông nghiệp 23
2.2.1 Gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất nôngnghiệp 23
2.2.2.Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợplý 23
2.2.3.Gia tăng các yếu tố nguồn lực trong nôngnghiệp 23
2.2.4.Các hình thức liên kết kinh tế tiến bộ 24
Trang 62.2.5.Nông nghiệp có trình độ thâm canh cao 24
2.2.6 Gia tăng kết quả sản xuất nông nghiệp 24
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp 24
2.3.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (ĐKTN - TNTN) 24
2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội (KT - XH) 27
Chương II : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 30
2.2 Đối tượng nghiên cứu : 30
2.3 Nội dung nghiên cứu: 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu: 30
2.4.1 Thu thập thông tin, số liệumới 30
2.4.2.Phương pháp xử lý và phân tích thông tin, sốliệu 30
2.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu trong nghiêncứu 31
2.4.3.1 Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh thực trạng sản xuất nôngnghiệp 31
2.4.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển bền vững của sản xuất nôngnghiệp 32
Chương III : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Thực trạng PTNN ở xã Lộc Ninh 33
3.1.1 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp 33
3.1.2 Quy mô các nguồn lực trong nông nghiệp 33
3.1.3 Tình hình liên kết kinh tế trong nông nghiệp 33
3.1.4.Tình hình thâm canh trong nông nghiệp 34
3.1.5.Kết quả sản xuất nông nghiệp thời gian qua 35
3.1.6 Tình hình sử dụng đất đai tại các thôn 38
3.1.7 Famstay – Định hướng phát triển mới trong nền nông nghiệp hiện đại tại xã Lộc Ninh 39
3.2.Đánh giá chung về thực trạng phát triển nông nghiệp xã Lộc Ninh 42
3.2.1 Những mặt thành công 42
3.2.2 Những mặt hạn chế 42
3.2.3 Nguyên nhân của các hạn chế 43
3.3 Các giải pháp để phát triển nông nghiệp xã Lộc Ninh 43
3.3.1 Cơ sở cho việc xây dựng giải pháp 43
3.3.1.1 Quy hoạch phát triển kinh tế Xã Lộc Ninh 43
3.3.1.2 Các quan điểm định hướng khi xây dựng giải pháp 44
3.4 Các giải pháp cụ thể để phát triển nông nghiệp xã Lộc Ninh thời gian tới 44
3.4.1 Phát triển các cơ sở sản xuất nông nghiệp 44
3.4.2 Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp 49
3.4.3 Tăng cường các nguồn lực trong nông nghiệp 49
3.4.4 Áp dụng các mô hình liên kết kinh tế phù hợp 50
3.4.5 Tăng cường thâm canh trong nông nghiệp 50
Trang 73.4.6 Gia tăng kết quả sản xuất nông nghiệp 50
3.4.7 Phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn 51
3.4.8 Hoàn thiện một số chính sách liên quan 51
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
3.1 Kết luận 52
3.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 8PTNN Phát triển nông nghiệp
Trang 9Bảng 5 Tình hình SD đất nông nghiệp của xã Lộc Ninh năm 2010 38
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Hình 2 Chủ đầu tư farmsay “The paddy shark” anh Trần Quốc Dương
(ngồi bên trái người làm khóa luận) 40
Hình 3 Khách du lịch đang thu hoạch mướp đắng tại “The Paddy shark” 41
Hình 4 khách du lịch đang thu hoạch hoa tại “ The Paddy shark” 41
Hình 5 Một mô hình trồng rau thủy canh ở Đà Lạt 46
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Biểu đồ 1 Cơ cấu diện tích cây trồng tại xã năm 2017 34
Biểu đồ 2: Cơ cấu sản xuất các loại cây trồng năm 2017 34
:
Trang 12Phần I MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Ở bất cứ nước nào, dù là nước giàu hay nước nghèo nông nghiệp đều có vịtrí quan trọng Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho con người tồn tại Trong quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp cần được phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm của xã hội Vì thế, sự ổn định xã hội và mức an ninh
về lương thực và thực phẩm của xã hội phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp Lịch sử cho thấy, không có nền kinh tế nào đạt được tốc độ tăng trưởng bền vững và tăng dần thu nhập của người dân mà không ưu tiên phát triển nông nghiệp Mặc dù trong những năm gần đây, sự biến động chính trị trên thế giới đã làm thay đổi hình ảnh và vai trò của nông nghiệp và những người làm nghề nông, nhưng lĩnh vực này vẫn đóng vai trò chiến lược trong sự phát triển toàn cầu
Hiệnnay,nôngnghiệpởcácnướcđangpháttriểnphảiđốimặtvớimộtloạtcáctháchthức,trongđócósựgiatăngvềdânsố,biếnđổikhíhậu,cuộcchạyđuasửdụngnhiênliệusạch,quátrìnhđôthịhóa,sựkhanhiếmđấtnôngnghiệpvàlựclượng lao động thu hẹp… tất cả đều có những ảnh hưởng nhất định tới sựpháttriểnnông nghiệp Tuy nhiên, với những nước này,
hếtsứcquantrọng,làngànhchínhtạorathunhậpchongườidân.Hiệntheothốngkêước tính có khoảng 70% số người nghèo ở các nước đang phát triển sống ởkhuvựcnôngthônvàphụthuộcphầnlớnvàonôngnghiệp
Đốivớinhữngnướcđangpháttriểnnày,pháttriểnnôngnghiệpbềnvữngsẽ góp phầngiảmnghèođói,thúcđẩycải thiện thu nhập cho hộ gia đình và cộng đồng, nhất là đối với nhóm ngườinghèo
Thực tế những năm qua cho thấy, nông nghiệp Việt Nam vẫn luôn là khu vực yếu thế và dễ bị tổn thương nhất trước những tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, trước thiên tai và biến động thất thường của thị trường thế giới đứng trước những khó khăn
và thách thức đang đặt ra cho ngành nông nghiệp, đòi hỏi ngành nông nghiệp phải tự tìm lối ra cho chính mình để phát huy hết những thế mạnh và tiềm năng của ngành, hạn chế những thách thức và tận dụng những cơ hội cho sự phát triển bền vững ngành nông nghiệp trong tương lai
Lộc Ninh là xã, nằm ở phía Bắc thành phố Đồng Hới, với mật độ dân cư sinh sống cao nhưng thu nhập chủ yếu là từ nông nghiệp Những năm qua, xã luôn chú trọng đến PTNN và đã có những kết quả quan trọng, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, từng bước nâng cao dân trí, thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu Tuy nhiên, đến nay, nông nghiệp Xã Lộc Ninh vẫn chưa thực sự đảm bảo phát triển đúng hướng tiến bộ, chưa phát huy hết vai trò động lực to lớn thúc đẩy các ngành khác SXNN còn nhiều bất cập, cơ cấu sản xuất chưa hợp lý, giá trị SXNN còn thấp, các chính sách PTNN còn nhiều hạnchế
Trang 13Để tiếp tục nâng cao vai trò và thúc đẩy PTNN của xã, cần thiết phải nghiên cứu,
đề xuất các giải pháp có tính khoa học và thực tiễn cao Từ đó, việc chọn đề tài “Phát
triển nông nghiệp trên địa bàn Xã Lộc Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình” làm khóa luận là kịp thời đóng góp giải quyết những đòi hỏi thực tế đối với
nông nghiệp Xã Lộc Ninh, tỉnh Quảng Bình trong những nămtới
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đếnPTNN
- Phân tích thực trạng PTNN Xã Lộc Ninh
- Đề xuất giải pháp PTNN Xã Lộc Ninh thời giantới
Trang 14Phần II : NỘI DUNG Chương I : TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp xã Lộc Ninh
1.1.Đặc điểm tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
- Vị trí địa lý: Lộc Ninh là xã nằm ở phía Bắc thành phố Đồng Hới
- Địa hình: Phía Tây có vùng đồi núi, phía Bắc có sân “Bay Đồng Hới” cắt ngang Ở giữa là đồng bằng bị chia cắt bởi các sông sông hồ và bãi cát nội địa Vùng phíaven biển phía Đông có các đụn cát kéo dài
- Là một xã nằm vùng ven thành phố Đồng Hới Lộc Ninh được ưu tiên phát triển về sản xuất nông nghiệp dịch vụ Vì có tuyến đường Bắc Nam đi qua phù hợp cho giao thương buôn bán Và đây cũng là điểm đến về du lịch sinh thái nổi tiếng của thành phố đang rộ lên trong thời gian 2 năm trở lại đây
- Là một vùng đồi cao nên Lộc Ninh là xã ít khi bị xảy ra hiện tượng ngập lụt
1.1.2 Khí hậu – thủyvăn
a Khíhậu
Xã Lộc Ninh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10; mùa khô, lạnh từ tháng 11 đến tháng 5 nămsau
Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 24,460C Số giờ nắng trung bình khá dồi dào với 1.645 giờ Trung bình một ngày có 3 – 5 giờ nắng, tháng có giờ nắng cao nhất
là tháng 7 và tháng 10 (trung bình mỗi ngày có tới 7 giờnắng)
Lượng mưa trung bình năm vào khoảng 1.670 mm, lượng mưa năm ít nhấtlà 1.000 mm, lượng mưa năm nhiều nhất là 2.630 mm Song lượng mưa phân bố không đều trong năm, mùa mưa tập trung vào các tháng 7, 8 và 9 với lượng mưa chiếm 80 – 85% lượng mưa của cả năm, mùa này thường có những trận mưa kéo dài,kèmtheogióxoáyvàbão.Lượngbốchơitrungbìnhnămđạt650mm.độẩm không khí trung bình 84%
Có hai hướng gió chính là gió mùa đông nam thổi vào mùa hè và gió mùa đông bắc thổi vào mùa đông Hàng năm, xã Lộc Ninh nói riêng và thành phố Đồng Hới nói chung chịu ảnh hưởng trực tiếp của khoảng 5 – 7 cơn bão Bão thịnh hành từ tháng 7 đến tháng 10, tháng 8 bão xẩy ra nhiều nhất, bão thường trung với thời kỳ nước sông lên cao, đe dọa không chỉ sản xuất nông nghiệp mà cả đời sống nhândân.\
b Thủyvăn
Lộc Ninh có hệ thống các suối và nhiều đầm, hồ tự nhiên là nguồn dự trữ nước quan trọng vào mùa khô Hệ thống sông không chỉ là nguồn cung cấp nước tưới và nước sinh hoạt mà còn là nới tiếp nhận nguồn nước thải và tiêu nước khi vào mùa lũ đến
Trang 15đối với các vùng đồi gò Lộc Ninh là một phần của nguồn sinh thủy, với mạng lưới suối và kênh mương khá dày từ 1,2 – 1,5 km/km2 Chế độ thủy văn của các sông, suối chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ mưa hàng năm Vào mùa mưa nước từ các sông đổ về uy hiếp hệ thống đê điều của xã Mùa khô nước các sông cạn kiệt gây khó khăn cho việc cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp
1.1.3 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyênđất
Tài nguyên đất của xã Lộc Ninh có 15 loại đất chính, trong đó:
- Đất phù sa có diện tích phân bố ở hầu khắp trên địa bàn xã, nhưng tập trung chủ yếu ở các xã phía Nam xã Đất phù sa được hình thành do quá trình bồi lắng phù sa của các con sông, đã có sự phân hóa theo thời gian, không gian và đặc điểm hình thành Nhìn chung các vùng đất phù sa tương đối bằng phẳng, thành phần cơ giới đất
từ thịt trung bình đến thịt nặng, thành phần dinh dưỡng khá, hàm lượng mùn đạt 2 – 3%, đạm 0,15 – 0,20% Nhóm đất này thích hợp với nhiều loại câytrồng
- Đất bạc màu bao gồm 2 loại: đất bạc màu phát triển trên phù sa cũ có sản phẩm feralitic, đây là loại đất phổ biến nhất, chiếm 1/3 tổng diện tích tự nhiên của xã, phân bố ở các xã vùng đồi gò đất dốc tụ xen đồi núi bạc màu không có sản phẩm feralitic, là loại đất chỉ có ở Lộc Ninh, nằm xen kẽ các thung lũng hẹp với diện tích
800 ha Nhìn chung, các loại đất bạc màu có hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng thấp địa hình phần lớn đồi núi thấp và ruộng bậc thang với tầng canh tác mỏng
- Nhóm đất feralitic là nhóm đất đặc trưng của vùng đồi gò Lộc Ninh với 5 loại: đất feralitic vàng đỏ hoặc vàng phát triển trên đá sa thạch quăczit; đất feralitic vàng hoặc đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét aglit, silic hoặc gnai xen lẫn fecmatit; đất feralitic nâu vàng phát triển trên phù sa cổ; đất feralitic biến đổi do trồng lúa nước, đây
là các khu vực thuộc các cánh đồng lúa nằm xen kẽ trong vùng đồigò
- Diện tích còn lại là các loại đất khác với 543 ha chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên củaxã
b Tài nguyênnước
- Nguồn nước mặt: xã Lộc Ninh có trữ lượng nước mặt khá dồi dào, tuy nhiên nguồn nước mặt đang có nguy cơ ỗ nhiễm đe dọa khó khăn cho khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhândân
Hàng năm, riêng vùng đồi gò đã tiếp nhận trung bình 50 – 60 triệu m3
nước mưa, đây là lượng nước mưa nghèo, phân bố không đều trong năm Chính vì vậy, nước mặt của xã khai thác từ 3 nguồn chính: nước mưa được giữ lại bằng các hồ chứa, nước của các sông chảy qua xã
- Nguồn nước ngầm: xã nằm trong khu vực có nguồn nước ngầm khá dồi dào với trữ lượng khá lớn, chất lượng tốt có tầng bảo vệ chống ô nhiễm Vùng đồng bằng của
xã nước ngầm nông ở độ sâu 0,7 – 1,3 m vào mùa mưa, vào mùa khô có độ sâu 3,2 m Nước ngầm ổn định ở độ sâu 3,1 – 3,2 m với áp lực yếu không ảnh hưởng lớn đến các công trình xây dựng Vùng đồi gò của xã, mực nước ngầm có độ sâu từ 30 – 40 m với
Trang 16tầng chứa nước khoảng 4 – 20 m tùy theo các khu vực tăng từ Tây Bắc xuống đông Nam Chất lượng nước tốt, thuộc loại nước nhạt, nước mềm đến rất mềm hàm lượng sắt cao nên khi sử dụng phải có biện pháp xửlý
c Tài nguyênrừng
Toàn xã Lộc Ninh có 9,1 ha đất lâm nghiệp chủ yếu là rừng trồng phòng hộ và đặc dụng phân bố ở khu vực nui phía Bắc xã Theo kết quả kiểm kê hiện trạng sử dụng đất vùng đồi gò phục vụ cho điều chỉnh quy hoạch rừng Lộc Ninh
Rừng của Lộc Ninh chủ yếu là các loại cây như thông, bạch đàn, keo và các loại hỗn giao, trước đây ở một số khu vực đã trồng các cây rừng bản địa: lim xanh, bời lời nhớt, muồng, côm tầng, dung sạn… Hiện nay, tổng diện tích rừng là 3.596 ha, trong
đó rừng có trữ lượng là 3.181,7 ha, với tổng trữ lượng là 224.468,1 m3
d Tài nguyên khoángsản
Nguồn khoáng sản chủ yếu của xã là cát vàng ở các thôn phía Bắc xã Vàng sa khoáng ở thôn 13 (gần xã Quang Phú) phân bố dài 500 m bề rộng 30 – 50 m, kèm theo
là một vành đai thiếc sa khoáng bậc 1 có diện tích 2,2 km2 Ngoài ra còn có nhiều loại khoáng sản có giá trị là nguyên vật liệu xây dựng như thiếc, đá ong, cát xây dựng
1.2.Công tác hoạt động xã hội
a Công tác quản lý xây dựng
Có 23 trường hợp xây dựng nhà ở trong đó có 02 trường hợp chưa có giấy phép, UBND xã đã ra quyết định đình chỉ 01 trường hợp, đội QLTTĐT lập biên bản đình chỉ
01 trường hợp Hiện tại đang yêu cầu các gia đình này làm thủ tục xin cấp giấy phép xây dựng
Các công trình xây dựng của tập thể:
* Công trình do UBND xã làm chủ đầu tư
- Khởi công xây dựng đường giao thông quy mô nhỏ năm 2018 theo kế hoạch
- Đã nghiệm thu đưa vào sử dụng công trình 6 phòng chức năng trường tiểu học
cơ sở 2
* Các công trình do UBND thành phố chủ đầu tư:
- Công trình Sân Trường Tiểu học Lộc Ninh cơ sở 1
- Sửa chữa 160 m đường giao thông quy mô nhỏ năm 2018 theo kế hoạch
b Công tác quản lý trật tự đô thị
- Tổ chức quản lý trật tự đô thị hoạt động khá tích cực, nắm chắc các công trình xây dựng trên địa bàn, tham mưu cho UBND xử lý theo quy định Phối hợp với Ban công an xã, ban quản lý chợ để chấn chỉnh lại trật tự ở khu vực chợ Lộc Đại và triển khai lập lại trật tự vỉa hè dọc quốc lộ 1A
Công tác quản lý tài nguyên môi trường thường xuyên phối hợp với Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố kiểm tra việc khai thác đất san lấp để đảm bảo vệ sinh môi trường trong khi khai thác và vận chuyển đi
Các đoàn thể phối hợp với các Thôn làm tốt công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn và các khu vực công cộng đảm bảo đường thông, hè thoáng, văn minh đô thị trong dịp tết
Trang 17c Công tác quản lý đất đai
Đã làm tốt công tác hướng dẫn cho các chủ sử dụng đất lập hồ sơ, làm thủ tục xin cấp giấy CNQSD đất, chuyển mục đích và một số thủ tục khác Thường xuyên phối hợp với các đồng chí trưởng thôn kiểm tra việc sử dụng đất, để phát hiện các trường hợp sử dụng đất không đúng mục đích, lấn chiếm, xây dựng trái phép kịp thời xử lý theo quy định của pháp luật
Trong quý I đã tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ cho 78 trường hợp liên quan đến các thủ tục về đất đai
d Văn hóa xã hội
-Công tác tuyên truyền, đã được UBND xã chỉ đạo thực hiện tốt để kịp thời thông tin cho nhân dân được biết về một số chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và các quy định của địa phương Đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong dịp tết nguyên đán, kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
1.3.Đặc điểm kinh tế
a Tăng trưởng kinh tế
* Kinh tế
- Kinh tế đang phát triển tốt, đời sống nhân dân ổn định
* Công tác thu, chi ngân sách
- Thu ngân sách: UBND đã xây dựng kế hoạch thu ngân sách xã năm 2018 để phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận, ngành có liên quan, các thôn, các đoàn thể phối hợp tổ chức thực hiện Chỉ đạo bộ phận chuyên môn, ủy nhiệm thu, Hội đồng tư vấn thuế tham mưu để tăng cường công tác quản lý thu trên địa bàn nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, giảm thất thu UBND đang thực hiện việc kê khai bổ sung thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Quý I thu ngân sách ước đạt: 2 tỷ đồng, đạt 15% dự toán năm
2018
- Chi ngân sách: Trên cơ sở dự toán đã phê duyệt, UBND đã thực hiện các khoản chi phục vụ cho các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và các tổ chức đoàn thể hoạt động, tập trung cho các khoản chi phục vụ hoạt động mừng Đảng, mừng xuân Thực hiện tiết kiệm ngân sách, giảm các khoản chi không cần thiết, đến nay chi ngân sách đã thực hiện: 1.703.764.000 đồng đạt 13% DT
2 Một số vấn đề lý luận về phát triển nông nghiệp
2.1 Khái quát về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp
2.1.1.Một số khái niệm
a Nông nghiệp
- Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất
đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản
Trang 18- Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức
độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất
từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi [5]
b Phát triển nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp là một tổng thể các biện pháp nhằm tăng sản phẩm nông nghiệp để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trên cơ sở khai thác các nguồn lực trong nông nghiệp một cách hợp lý và từng bước nâng cao hiệu quả của sản xuất
2.1.2 Đặc điểm của sản xuất nôngnghiệp ở nước ta
2.1.2.1 Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp,
phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt
Đặc biệt trên cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất
Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp cần phải chú ý các vấn đề kinh tế - kỹ thuật sau đây:
- Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông - lâm - thuỷ sản trên phạm vi
cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp
- Việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng
- Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từng khu vực nhất định
Trang 192.1.2.2 Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau
Trong công nghiệp, giao thông v.v… đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông v.v… để con người điều khiến các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động
- Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thê, theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruống đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm
2.1.2.3 Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi
Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vọng Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo
ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng
và từng địa phương
2.1.2.4 Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao
Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt tiqt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tính thời
vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng – loại cây xanh có vai trò cực
kỳ to lớn là sinh vật có khả năng hấp thu và tàng trữ nguồn năng lượng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành chất hữu cơ, tạo nguồn thức ăn cơ bản cho con người và vật nuôi Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân Tạo hoá đã
Trang 20cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng, ôn độ, độ
ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp chất lượng Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu v.v… Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư – kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nồng nhàn
- Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp nêu trên, nông nghiệp nước ta còn có những đặc điểm riêng cần chú ý đó là:
a Nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát triển tư
bản chủ nghĩa
Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp nước ta khi chuyển lên xây dựng, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới Đến nay nhiều nước có nền kinh tế phát triển, nông nghiệp
đã đạt trình độ sản xuất hàng hoá cao, nhiều khâu công việc được thực hiện bằng máy móc, một số loại cây con chủ yếu được thực hiện cơ giới hoá tổng hợp hoặc tự động hoá Năng suất ruộng đất và năng suất lao động đạt trình độ cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tỷ lệ dân số và lao động nông nghiệp giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối Đời sống người dân nông nghiệp và nông thôn được nâng cao ngày càng xích gần với thành thị
- Trong khi đó, nông nghiệp nước ta với điểm xuất phát còn rất thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động còn thấp v.v… Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, khẳng định phát triển nền nông nghiệp nhiều thành phần và hộ nông dân được xác định là đơn vị tự chủ, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, nhất là
về sản lượng lương thực Sản xuất lương thực chẳng những trang trải được nhu cầu trong nước, có dự trữ mà còn dư thừa để xuất khẩu Bên cạnh đó một số sản phẩm khác cung phát triển khá, như cà phê, cao su, chè, hạt điều v.v… đã và đang là nguồn xuất khẩu quan trọng Nông nghiệp nước ta đang chuyển từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá Nhiều vùng của đất nước đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
và nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp tăng sản phẩm phi nông nghiệp
- Để đưa nền kinh tế nông nghiệp nước ta phát triển trình độ sản xuất hàng hoá cao, cần thiết phải bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn Khẩn trương xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho nông nghiệp và hệ thống kết
Trang 21cấu hạ tầng ở nông thôn phù hợp Bổ sung, hoàn thiện và đổi mới hệ thống chính sách kinh tế nông nghiệp, nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất, tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển hàng hoá Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học –
kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh cho nông nghiệp và nông thôn
b Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tính chất
ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp: trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển
Đặc điểm này đem lại cho nông nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng có những khó khăn rất lớn trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp
Thời tiết, khí hậu của nước ta có những thuận lợi rất cơ bản Đó là hàng năm có lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt rất phong phú cho sản xuất và đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào (cường độ, ánh sáng, nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C v.v…), tập đoàn cây trồng và vật nuôi phong phú, đa dạng Nhờ những thuận lợi cơ bản đó mà ta có thể gieo trồng và thu hoạch quanh năm, với nhiều cây trồng và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao, như cây công nghiệp lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, điều kiện thời tiết – khí hậu nước ta cũng có nhiều khó khăn lớn, như: mưa nhiều và lượng mưa thường tập trung vào ba tháng trong năm gây lũ lụt, ngập úng Nắn nhiều thường gây nền khô hạn, có nhiều vùng thiếu cả nước cho người, vật nuôi sử dụng Khí hạy ẩm ướt, sâu bệnh, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan gây ra những tổn thất lớn đối với mùa màng
Trong quá trình đưa nông nghiệp nước ta lên sản xuất hàng hoá, chúng ta tìm kiếm mọi cách để phát huy những thuận lợi cơ bản nêu trên và hạn chế những khó khăn do điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên gây ra, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển nhanh chóng và vững chắc.[6]
2.1.3.Ý nghĩa của phát triển nông nghiệp trong nền kinh tế
- Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản cuả các nước này khá lớn và không ngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Điều đó do tác động của các nhân tố: sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người
Trang 22Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh
tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lương thực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn
- Cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị
Nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị
Khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường…
Khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuếnông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong
đó thuế có vị trí rất quan trọng
- Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ
Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới
- Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu
Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản Tuy nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và đô thị
Gần đây một số nước đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông lâm thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước
- Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên: đất
Trang 23đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh … làm ô nhiễm đất và nguồn nước Quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng… vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường.[7]
2.2 Nội dung và tiêu chí phát triển nông nghiệp
2.2.1 Gia tăng số lượng các cơ sở sản xuất nôngnghiệp
Số lượng các cơ sở SXNN năm sau cao hơn năm trước được biểu hiện trong các hình thức tổ chức sản xuất gồm: kinh tế trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp,…
Các tiêu chí về gia tăng số lượng các cơ sở SXNN: Số lượng các cơ sở sản xuất qua các năm (tổng số và từng loại); Tốc độ tăng và mức tăng của các cơ sở sản xuất
2.2.2.Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợplý
Cơ cấu SXNN hợp lý là cơ cấu giữa các ngành của nông nghiệp mà các thành phần của nó có tác dụng phát huy tốt các tiềm năng của sản xuất và đáp ứng yêu cầu thị trường, xã hội
Các tiêu chí cơ bản đánh giá chuyển dịch cơ cấu SXNN: GTSX và tỷ trọng GTSX của các ngành, các bộ phận trong kinh tế nông nghiệp; Giá trị tăng thêm và tỷ trọng giá trị tăng thêm của các ngành, các bộ phận trong kinh tế nông nghiệp
2.2.3.Gia tăng các yếu tố nguồn lực trong nôngnghiệp
a Lao động trong nôngnghiệp
Trong SXNN, con người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra của cải Hoạt động của con người có tác động thúc đẩy hay kìm hãm quá trình phát triển SXNN Do đó, cần phải gia tăng nguồn nhân lực trong nông nghiệp cả về số lượng lẫn chất lượng
b Đất đai được sử dụng trong nôngnghiệp
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình sản xuất Nếu sử dụng hợp lý thị ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn, cho nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị diện tích canh tác
c Vốn trong nôngnghiệp
Vốn là yếu tố đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất Trong điều kiện năng suất lao động không đổi, thì việc gia tăng vốn vào quá trình sản xuất sẽ làm tăng thêm sản lượng và ngược lại
d Công nghệ sản xuất trong nông nghiệp
Công nghệ là tập hợp những hiểu biết về các phương thức và phương pháp hướng vào cải tạo tự nhiên, phục vụ nhu cầu con người Nhờ những kiến thức về nông học, chăn nuôi mà những công nghệ tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất, chế biến làm cho nông nghiệp phát triển và phục vụ con người tốt hơn
Trang 24e Tiêu chí đánh giá gia tăng các yếu tố nguồn lực
Lao động và chất lượng lao động qua các năm; diện tích và tình hình sử dụng đất; năng suất ruộng đất qua các năm; tổng số vốn đầu tư và mức đầu tư trên diện tích;
số lượng và giá trị, mức tăng, tốc độ tăng của cơ sở vật chất; giống mới và tỷ lệ diện tích giống mới…
2.2.4.Các hình thức liên kết kinh tế tiến bộ
Liên kết kinh tế trong nông nghiệp là sự hợp tác của các đối tác trên chuỗi giá trị
để đưa nông sản từ sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm tìm kiếm những cơ hội đem lại lợi nhuận từ sự liên kết này
Quá trình liên kết kinh tế sẽ đưa đến tích tụ ruộng đất, vốn liếng, hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh và quá trình này cũng tạo ra các trang trại lớn có khả năng hội nhập dọc trên chuỗi cung cấp Quá trình này làm cho nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với cơ chế thị trường
các hộ SXNN đối với sở hữu tư liệu sản xuất và sản phẩm sản xuất ra;tăng khả năng cạnh tranh của nông sản sản xuất ra như chí phí, mẫu mã, an toàn thực phẩm… và đáp ứng nhu cầu thị trường; bền vững và đảm bảo phân chia lợi ích phù hợp giữa các đối tác, đặc biệt đối với nông hộ
2.2.5.Nông nghiệp có trình độ thâm canh cao
Bản chất kinh tế của thâm canh trong nông nghiệp là đầu tư thêm vốn và lao động trên đơn vị diện tích nhằm thu nhiều sản phẩm trên đơn vị canh tác với chi phí thấp nhất Thâm canh đạt đến trình độ cao nhờ áp dụng các tiến bộ của khoa học và công nghệ vào SXNN như cơ giới hóa, thủy lợi, công nghệ sinh học
Các tiêu chí để đánh giá trình độ thâm canh: Tổng số vốn cố định trên đơn vị diện tích; Tỷ lệ diện tích được tưới tiêu; Tỷ lệ diện tích được cày bừa, gieo trồng, bón phân, làm cỏ, bảo vệ thực vật, thu hoạch… bằng máy; Tỷ lệ điện khí hoá…
2.2.6 Gia tăng kết quả sản xuất nông nghiệp
Gia tăng kết quả SXNN là việc gia tăng số lượng sản phẩm và giá trị sản phẩm cũng như sản phẩm hàng hóa và giá trị sản phẩm hàng hóa của nông nghiệp được sản xuất qua các năm và yêu cầu năm sau phải tăng cao hơn so với năm trước
mức tăng và tốc độ tăng của sản lượng qua các năm; Đóng góp cho ngân sách Nhà nước; Thu nhập, mức tăng, tốc độ tăng thu nhập của người lao động…
2.3.Nhân tố ảnh hưởng đến phán triển nông nghiệp
2.3.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (ĐKTN - TNTN)
Trang 25Nước ta có 2 nhóm đất chính (feralit và đất phù sa) Tuỳ theo các nhân tố, điều kiện hình thành và sự tác động của con người mà các loại đất trên có sự phân hoá khác nhau
▪ Đất miền núi, chủ yếu là đất feralit Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới-ẩm-gió
mùa, phần lớn vùng đồi núi của nước ta là đất feralit, lượng khoáng nguyên thấp, hàm lượng mùn không cao, đất chua và có màu đỏ, hoặc đỏ-vàng của ôxyt sắt thích hợp với
cây công nghiệp Ngoài ra, còn có một số loại đất khác: Đất xám phù sa cổ (rìa ĐB
sông Hồng và nhiều nhất ở Đông Nam Bộ) Đất này thích hợp với cây CN và cây ăn quả Đất đen (macgalit) phát triển trên đá ba zơ (đá ba dan, đá vôi), thường gặp ở thung lũng đá vôi (nhiều nhất ở miền Bắc), diện tích tuy không lớn nhưng rất thích
hợp với các cây CN có giá trị (quế, chè, thuốc lá, ) Tốt nhất trong các loại đất đồi
núi nước ta làđất ba dan ( 2,0 triệu ha), tập trung ở Tây Nguyên, một phần Đông Nam
Bộ và có một vệt từ Phủ Quì (Nghệ An) kéo dài đến Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ (Quảng Trị), loại đất này rất thuận lợi cho cây CN (cao su, cà phê ) qui mô lớn
▪ Đất ở đồng bằng, quan trọng nhất là đất phù sa 3,40 triệu ha (9,5% diện tích cả
nước), đây là loại đất tốt, hàm lượng dinh dưỡng cao, có độ pH trung tính, rất thích
hợp cho trồng lúa Ngoài ra, ở các vùng đồng bằng còn có các loại đất khác như đất
chua mặn, đất mặn, ven biển, đất cát, đất glây hoá trong các vùng trũng, đất lầy thụt than bùn, loại đất này ít có giá trị đối với sản xuất nông nghiệp và việc cải tạo cần nhiều vốn đầu tư
▪ Thực trạng của việc sử dụng đất hiện nay: Qúa trình khai thác lãnh thổ cho đến
nay (2008) chúng ta mới đưa vào sử dụng 80,0% diện tích đất tự nhiên (trong đó 28,45% là đất nông nghiệp) Vốn đất thuận lợi cho trồng lúa hầu như đã khai thác hết,
để tận dụng tiếm năng của tự nhiên ở ĐB sông Hồng nhân dân đã tìm mọi biện pháp
để tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất bằng cách thâm canh và đầu tư lao động sống
để nâng cao năng suất Phần lớn đất nông nghiệp được trồng cây hàng năm, có thể luân canh - tăng vụ với lúa (như lúa - đay, lúa - thuốc lá); phần còn lại chủ yếu trồng cây lâu năm, nhiều nhất là Tây Nguyên, Đ.Nam Bộ trên vùng đất bazan
Vốn đất và khả năng mở rộng lại có sự khác nhau giữa các vùng lãnh thổ Năm
2008, cả nước có trên 33,0 triệu ha đất tự nhiên; sử dụng vào SXNN 9,42 triệu ha (28,45%), đất lâm nghiệp 14,8 triệu ha (44,74 %), đất chuyên dùng và thổ cư 407,0 nghìn ha (6,56%), đất chưa sử dụng 6,7 triệu ha (20,24%) Như vậy đất chưa sử dụng còn lớn, nhưng việc mở rộng diện tích lại rất khó khăn, chủ yếu là đất dốc, thiếu nước, xói mòn và thoái hoá; Đất đồng bằng chưa sử dụng còn rất ít, chủ yếu là đất phèn, đất mặn, đất ngập úng đòi hỏi phải đầu tư lớn Hiện nay, đất nông nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa) sử dụng vào mục đích khác như công nghiệp, GT, đô thị ngày càng nhiều Theo dự báo trong vòng 10 năm tới, đất nông nghiệp có thể mất đi mỗi năm ~ 2,8 vạn
ha (trong đó đất trồng lúa ~ 1,0 vạn ha) Điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nông nghiệp
Trang 26- Khí hậu nước ta lại có sự phân hoá đa dạng theo chiều Bắc - Nam, theo mùa và
theo độ cao Ở miền Bắc có khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa với một mùa Đông lạnh Ở vùng núi cao có sương giá và rét đậm Ở miền Nam khí hậu nhiệt đới điển hình với một mùa khô và mùa mưa Ở miền Trung là nơi giao thoa khí hậu giữa 2 miền Nam-Bắc
▪ Ảnh hưởng của khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp
- Trước hết là việc cung cấp lượng bức xạ lớn, nguồn ánh sáng dồi dào, nguồn
nhiệt phong phú cho cây trồng phát triển quanh năm và cho năng suất cao Độ ẩm không khí cao, lượng mưa dồi dào cho phép cây trồng có sức tái sinh mạnh mẽ, thúc đẩy nở hoa, kết trái Cũng trong điều kiện nóng - ẩm còn giúp cho cây ngắn ngày tăng thêm từ 1 đến 2 vụ/năm; đối với cây dài ngày có thể khai thác được nhiều đợt, nhiều lứa/năm Do các đặc trưng của khí hậu nước ta, đã tạo điều kiện để bố trí một tập đoàn cây trồng - vật nuôi đa dạng bao gồm cả nhiệt đới, cận nhiệt và ôn đới với hệ sinh thái phát triển bền vững (ở vùng núi cao 1.500m, khí hậu mát mẻ cho phép phát triển tập đoàn cây trồng-vật nuôi cận nhiệt và ôn đới; ở miền Bắc có mùa Đông lạnh là tiền đề
để phát triển cây vụ đông)
- Ở mỗi vùng khí hậu lại có sự tác động khác nhau đến sản xuất nông nghiệp: Lãnh thổ trải dài 15 vĩ độ trong vùng nội chí tuyến BBC, hẹp ngang, lượng
phân bố bức xạ và nhiệt - ẩm sẽ khác nhau (cả về thời gian và không gian giữa các
vùng lãnh thổ), mối quan hệ giữa các khối khí cũng vậy Vì vậy: Ở phía bắc đèo Hải
Vân, tính chất chí tuyến được tăng cường thêm bởi các khối khí lạnh-khô vào mùa
Đông (mỗi năm ~20 đợt) Biên độ nhiệt TB chênh lệch tới 110C, còn giữa cực trị nhiệt (tối thiểu và tối cao) lên tới 400C Sự nhiễu loạn về thời tiết đã tạo cho nửa phần phía Bắc nước ta một hệ sinh thái cực đoan giữa 2 mùa nóng-lạnh Ở đây thích hợp hơn cả
là các cây ngắn ngày và cây ngày ngắn; đối với cây dài ngày và cây lâu năm, nên chọn cây có biên độ sinh thái rộng của vùng cận nhiệt (chè, hồi ) thì mới cho năng suất
cao Ở phía nam đèo Hải Vân: nền sinh thái ổn định hơn về thời tiết, về nhịp điệu mùa
cũng như nền nhiệt-ẩm, điều này cho phép nền nông nghiệp có tính chất ổn định hơn
Sự phân hoá cây trồng ở đây chỉ đơn thuần là phân theo loại đất từ cây hàng năm đến cây lâu năm Tuy nhiên, còn có sự khác biệt về thời tiết ở sườn Tây (giữa Tây Bắc – phía Bắc, giữa Tây Nguyên – phía Nam) trên diện tích 26% lãnh thổ lại có ý nghĩa đáng kể trong việc điều khiển thời vụ đối với cây ngắn ngày và lựa chọn cây dài ngày
Ví dụ, ở Đông Nam Bộ có một mùa khô sâu sắc tương phản với một mùa mưa cường
độ cao là điều cần quan tâm đối với cây trồng lấy mủ
Trang 27▪ Trở ngại của khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa: Tính chất biến động và sự phân
hoá về khí hậu đã dẫn đến các tai biến thiên nhiên như bão, lũ, khô hạn trong những năm gần đây lại có chiều hướng gia tăng Độ ẩm không khí lớn cũng là điều kiện để sâu bệnh lây lan, phát triển
c Nguồn nước
+ Nước trên mặt: Nằm trong vùng nhiệt đới, vì vậy nước ta có nguồn nước khá
dồi dào Nhưng các hệ thống sông lớn đều bắt nguồn từ nước ngoài: S.Hồng từ Trung Quốc; S.Mã, S.Cả từ Lào; S.Cửu Long từ Mianma, nếu như ở thượng nguồn việc sử dụng không hợp lý sẽ nằm ngoài tầm kiểm soát của nước ta Lượng mưa TB năm khá lớn càng làm cho nguồn nước trên các sông của Việt Nam thêm phong phú Đối với
sản xuất nông nghiệp, nước rất cần thiết, ông cha ta đã khẳng định “Nhất nước, nhì
chỉ cần khai thác 10-15% trữ lượng nước là đủ cho nhu cầu sản xuất và đời sống Mạng lưới sông ngòi phân bố rộng khắp và khá dày đặc, các hệ thống sông lớn lại bao phủ toàn bộ các vùng nông nghiệp trù phú Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sông ngòi còn cung cấp lượng phù sa lớn Trong phạm vi cả nước, dòng chảy cát bùn là 300 - 400 triệu tấn/năm (hệ thống S.Hồng 130 triệu tấn; S.Cửu Long
100 triệu tấn) Về mùa lũ, lượng phù sa trên S.Hồng (tại Sơn Tây) đã lên tới 3.500 gr/cm3, mùa cạn 500 gr/cm3 Lượng cát bùn lớn đã khiến cho các đồng bằng châu thổ lấn ra biển hàng năm từ vài chục tới hàng trăm mét
+ Nước ngầm: cũng rất phong phú, mặc dù chưa thăm dò đánh giá đầy đủ Trữ
lượng đã thăm dò khoảng 3,3 tỉ m3 Nước ngầm tập trung ở các phức hệ rời bở (ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long); Trong phức hệ trầm tích cácbônat (ở Đông Bắc, Tây Nguyên và BTBộ) Trong phức hệ phun trào ba dan (ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ), đã được khai thác phục vụ cho tưới tiêu và sinh hoạt
+ Hạn chế: Tài nguyên nước phong phú, nhưng phân bố không đều cả về thời
gian và không gian Vào mùa lũ, lượng nước chiếm tới 70 - 80%, mùa kiệt chỉ 20 - 30% tổng lượng nước Đây là một khó khăn rất lớn đối với nền nông nghiệp, để hạn chế việc thiếu và dư thừa nước phải xây dựng các công trình thuỷ lợi để chủ động tưới
- tiêu nước Ngoài ra, chất lượng nước ở một số sông, hồ nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng Ở các khu vực ven biển, nước mặn có chiều hướng lấn sâu vào đất liền (ở S.Hồng lấn sâu tới 20 km; S.Thái Bình 40 km; S.Tiền 50 km; S.Hậu 40 km) Điều này lại càng khó khăn hơn đối với ĐB sông Cửu Long vào mùa khô.[8]
2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội (KT - XH)
a Nguồn lao động
Trong điều kiện nền kinh tế còn chậm phát triển, LLLĐ nước ta vẫn tập trung nhiều trong khu vực nông nghiệp và mức độ tập trung sẽ còn cao hơn nữa khi các ngành kinh tế khác chỉ thu hút lao động trong các đô thị và lao động có trình độ chuyên môn – kĩ thuật Trong nông nghiệp, tình trạng phân công lao động diễn ra chậm chạp, mặc dù trong những năm gần đây lao động trong nông nghiệp có chiều
Trang 28hướng giảm về tỉ trọng, nhưng vẫn còn cao Số dân nước ta đông, gia tăng còn lớn Vì vậy, nguồn lao động rất dồi dào và thường xuyên được bổ sung (3%/năm), chất lượng cũng đã được nâng hơn Tuy chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới, song nó vẫn được coi là nhân tố quan trọng để phát triển nông nghiệp cả theo chiều rộng (khai hoang mở rộng diện tích) và theo chiều sâu (thâm canh) Nguồn lao động đông cũng là một khó khăn cho nông nghiệp, số lao động hàng năm tăng với nhịp độ nhanh, phần lớn lại là lao động phổ thông, kĩ thuật thấp đã làm nóng thêm tình hình việc làm ở khu vực này Mặt khác, nguồn lao động sử dụng chưa hợp lý; phân bố cũng không đều giữa các ngành và các vùng (tập trung quá đông ở 2 đồng bằng) và chủ yếu lại ở trong ngành trồng trọt
Từ sau đổi mới (đặc biệt từ đầu thập kỷ 90), trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn có nhiều thay đổi, bắt nguồn từ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Cụ thể
là sự ra đời của các hoạt động kinh doanh mới như nuôi gia cầm gia súc theo hướng chuyên môn hóa; nuôi trồng đặc sản gắn với nhu cầu thị trường; trồng cây ăn quả, cây thực phẩm, cây cảnh; Sự hình thành các dịch vụ nông nghiệp và nông thôn như cung ứng phân bón, giống cây - con, bảo vệ cây trồng, vật nuôi, vận tải nông sản và nhiều dịch vụ khác Sự khôi phục các ngành nghề thủ công truyền thống sau một thời bị mai một.v.v Các hoạt động trên đã góp phần làm thay đổi cơ cấu sử dụng lao động nông nghiệp, đã xuất hiện nhiều lao động phi nông nghiệp, tỉ trọng lao động phi nông nghiệp tăng dần từ vùng ven đô thị đến vùng thuần nông
Về trình độ tiếp thu kĩ thuật, thì LLLĐ (nhất là lao động trẻ) trong nông nghiệp
có đủ sức đón nhận các chương trình khuyến nông, có kinh nghiệm thâm canh trong SXNN Như vậy, nguồn lao động với tính chất 2 mặt của nó đã tạo ra cả những thuận lợi và KK đối với SXNN
b Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất, kỹ thuật (CSHT, CSVC - KT)
Về CSVC-KT bước đầu đã được hình thành và hoàn thiện Một trong nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là thuỷ lợi hoá Vấn đề tưới - tiêu về cơ bản đã được giải quyết ở các vùng đồng bằng Hệ thống đồng ruộng đã được cải tạo đảm bảo cho việc thâm canh, cơ giới hoá Công tác phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng - vật nuôi được triển khai có thể nhanh chóng dập tắt các nguồn gây bệnh Các loại giống mới cho năng suất cao đã dần dần thay thế các giống cũ Bước vào thời kỳ CNH’- HĐH’, nền nông nghiệp được tăng cường đáng kể (nhất là về thuỷ lợi, điện, phân bón, vật tư nông nghiệp, cơ giới hoá) Vào giữa thập kỷ 1990, trên 90% diện tích lúa được tưới bằng các công trình thuỷ nông lớn, phần lớn các vùng nông thôn đã có điện Một bộ phận diện tích được cơ giới hoá Nhiều tiến bộ của khoa học – kĩ thuật được đưa vào sản xuất tạo ra bước chuyển biến mới về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nông nghiệp
Về CSHT và dịch vụ nông thôn cũng có nhiều tiến bộ Nếu xét theo từng vùng, thì ở vùng núi của Trung du – miền núi phía Bắc và Tây Nguyên một số chỉ tiêu thấp hơn các vùng khác, đặc biệt là chỉ tiêu về điện và giáo dục Trung học cơ sở Ở ĐB
Trang 29sông Hồng các chỉ tiêu đều đạt ở mức cao và đồng đều, vì đây là khu vực được khai thác sớm nhất, có trình độ phát triển tốt Ở ĐB sông Cửu Long vào loại thấp (do sự thuận lợi và cả khó khăn về giao thông đường sông, kênh rạch tại địa bàn này) Ở miền Trung, CSHT nông thôn còn yếu, trong khi những tuyến liên hệ cơ bản (quốc lộ, phủ sóng truyền thông ) đều do TW trợ giúp.[9]
c Đường lối chính sách
Là một nước nông nghiệp, vì thế từ lâu nông nghiệp được Đảng và Nhà nước coi
là mặt trận hàng đầu Từ ĐH VI (12/1986) với đường lối đổi mới toàn diện đã khắc phục những sai lầm của công cuộc cải tạo XHCN trong nông nghiệp trước đó và đưa ngành này lên một bước phát triển mới (khoán 10) Hộ nông dân được coi là đơn vị kinh tế tự chủ; được giao quyền sử dụng đất lâu dài; được tự do trao đổi hàng hoá, mua bán vật tư, sản phẩm theo cơ chế thị trường Kết quả là sức sản xuất được giải phóng, đã khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng sẵn có Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, ở nông thôn lại có thêm kinh tế hộ nông dân; nhiều hình thức hợp tác mới
tự nguyện, sinh động đã tạo nên nền kinh tế đa dạng về sở hữu, đan xen liên kết với nhau, đồng thời cạnh tranh lẫn nhau để cùng phát triển theo qui luật khách quan của kinh tế thị trường Vấn đề việc làm cũng đã được cải thiện, đó là do thắng lợi của công cuộc đổi mới, SXNN tăng lên rõ rệt; tình trạng thiếu đói cơ bản đã được xoá bỏ, đã tạo thêm việc làm cho người lao động (thời kỳ 1991-1995 đã tạo việc làm cho 4,6 triệu người) Chương trình 327 và 773 của Nhà nước sử dụng 1.700 tỉ đồng và thu hút 48 vạn LĐ nông nghiệp, khoảng 80% việc làm mới được tạo ra từ N-L-N, điều đó có ý nghĩa to lớn trong việc cải thiện đời sống cư dân nông thôn
Ngoài ra, thị trường tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài nước được mở rộng Những tiến bộ của khoa học – kĩ thuật trong nông nghiệp được áp dụng rộng rãi tạo thành một hệ thống thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế vào loại quan trọng hàng đầu này