Nhờ vào hoạt động của vi sinh vật mà thức ăn được lên men để tạo ra acid béo bay hơi, khí CO2, khí CH4, khí H2,… và một lượng lớn năng lượng dưới dạng ATP cần thiết cho sự sinh trưởng và
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR ƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
***************
ẢNH HƯỞNG VIỆC BỔ SUNG MUỐI NITRATE VÀ LƯU
CHUA LÊN TĂNG TRỌNG VÀ SẢN SINH KHÍ
Sinh viên th ực hiện : TRẦN ĐÌNH THANH
Niên khóa : 2007 – 2011
Tháng 08/2011
Trang 2i
ẢNH HƯỞNG VIỆC BỔ SUNG MUỐI NITRATE VÀ LƯU
CỦA BÊ ĐỰC LAI BRAHMAN
TR ẦN ĐÌNH THANH
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
Kỹ sư ngành Thức ăn
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS DƯƠNG NGUYÊN KHANG
Tháng 08/2011
Trang 3ii
Họ và tên sinh viên thực tập: Trần Đình Thanh
Tên luận văn “Ảnh hưởng việc bổ sung muối nitrate và lưu huỳnh kết hợp với ngọn
lá khoai mì khô, ủ chua lên tăng trọng và sản sinh khí của bê đực lai Brahman”
Đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý
kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi khóa ngày………
Giáo viên hướng dẫn
PGS.TS Dương Nguyên Khang
Trang 4iii
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp và chương trình Đại học, tôi xin bài tỏ lòng biết ơn chân thành
Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm TP HCM
Các Thầy, Cô Phòng Đào tạo
Các Thầy, Cô Khoa Chăn nuôi Thú y
Đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện cho tôi nâng cao kiến thức và phương pháp nghiên cứu khoa học
Ban Giám đốc và đội ngũ các cô, chú và anh em công nhân kỹ thuật Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi gia súc lớn, đã tạo điều kiện thuận lợi về
thời gian, kinh nghiệm, giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cám ơn PGS.TS Dương Nguyên Khang đã tận tình hướng dẫn
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Thành kính ghi ơn Ba Mẹ đã sinh thành, dưỡng dục cho con nên người và anh (chị) em luôn chia sẽ và động viên, tận tụy lo lắng cho tôi có được ngày hôm nay
Cám ơn tập thể lớp Thức Ăn 33 đã tận tình chia sẽ và động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tại trường
Trang 5iv
Thí nghiệm được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện Chăn nuôi gia súc lớn, thuộc xã Lai Hưng, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, thuộc Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, thời gian từ ngày 01/04/2011 đến 01 /06/2011, nhằm theo dõi khả năng tăng trọng, hiệu quả sử dụng thức ăn, sự sản sinh khí trên bê đực lai Brahman khi bổ sung muối nitrat và lưu huỳnh kết hợp với ngọn lá khoai mì khô, ủ chua Thí nghiệm được tiến hành trên 15 con bê đực lai Brahman chia làm 3 lô, tuổi từ 8 tháng đến 1 năm tuổi:
- Lô 1: Ăn khẩu phần của trại không bổ sung ngọn lá khoai mì (NLKM-0)
- Lô 2: Bổ sung lá khoai mì ủ chua (NLKM-U), lưu huỳnh và nitrate natri
- Lô 3: Bổ sung ngọn lá khoai mì khô (NLKM-K), lưu huỳnh và nitrate natri
Kết quả thí nghiệm sau 53 ngày đạt được tăng trọng toàn kì của lô 1, 2 và 3
lần lượt là 18,1; 19,8 và 20,4 kg Đối với chỉ tiêu tăng trọng bình quân (g/con/ngày)
của lô 1, 2 và 3 lần lượt là 341,51; 373,58 và 384,91 g Tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng trọng của lô 1, 2 và 3 lần lượt là 12,60; 11,94; 11,86 kg Lượng ăn vào của lô 1,
2 và 3 lần lượt là 4,32; 4,44 và 4,54 kg kg VCK/ngày Và sự khác biệt này không có
ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05).Trong thí nghiệm này thì ở lô 2 và 3 có tăng trọng toàn kì, tăng trọng bình quân (g/con/ngày) cao hơn so với lô đối chứng Tiêu tốn thức
ăn của lô 2 và lô 3 cung cao hơn so với lô đối chứng
Đối với sự sản sinh khí đã cho thấy bao gồm các loại khí sinh ra có ảnh hưởng đến môi trường như carbonic, methane và amonia; các loại khí sinh ra trong quá trình
biến dưỡng cung năng lượng như axít formic, axít acetic, axít propionic và axít butyric; các loại khí thuộc nhóm rượu như aceton và methyl ethyl keton; các loại khí
có mạch carbon dài như axít acrylic, axít methyl acetate, axít ethyl acetate và hexanoic; khí độc hydro cyanic (HCN), diễn ra trên bê đực lai Brahman thở ra được
đo bằng bằng máy đo khí gas Gasmet DX 4030
Kết quả cho thấy loại khí sinh ra ảnh hưởng đến môi trường như carbonic của
lô 1, 2 và 3 lần lượt là 988; 1109; và 787 ppm Khí methane của lô 1, 2 và 3 lần lượt
Trang 6Loại khí sinh ra trong quá trình biến dưỡng cung năng lượng như axít formic sinh ra của lô 1, 2 và 3 lần lượt là 0,12; 0,06 và 0,07 ppm Lượng khí axít acetic sinh
ra của lô 1, 2 và 3 lần lượt là 0,04; 0,02 và 0,04 ppm
Loại khí sản sinh ra thuộc nhóm rượu: lượng khí acetone của lô 1, 2 và 3 lần lượt là 0,20; 0,11 và 0,15 ppm Lượng khí methyl ethyl ketone ở lô 1, 2 và 3 lần lượt
là 0,31; 0,16 và 0,22 ppm
Loại khí sản sinh ra có mạch carbon dài: axít acrylic sinh ra của lô 1, 2 và 3
lần lượt là 0,25; 0,13 và 0,14 ppm Lượng khí ethyl acetate sinh ra của lô 1, 2 và 3 lần lượt là 0,15; 0,24 và 0,08 ppm Lượng khí hexanoic sinh ra của lô 1, 2 và 3 lần lượt là 0,26; 0,25 và 0,26 ppm
Loại khí độc hydro cyanic (HCN): lượng khí ethyl acetate sinh ra của lô 1, 2
và 3 lần lượt là 0,15; 0,24 và 0,08 ppm Sự sản sinh khí axít cyanic của lô 3 bổ sung
là thấp nhất
Trang 7vi
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý bình thường trên thú nhai lại 6
B ảng 2.2 Năng suất sắn trên thế giới 21
B ảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 30
B ảng 3.2 Tỉ lệ phần trăm (%) trong khẩu phần thí nghiệm (tính theo VCK) 31
B ảng 4.1 Thể hiện các chỉ tiêu theo dõi về tăng trọng và tiêu tốn thức ăn 31
B ảng 4.2 Lượng trung bình khí làm ô nhiễm môi trường 32
B ảng 4.3 Tỉ lệ khí methane và carbonic ở các khẩu phần của lô 1 và 2 33
B ảng 4.4 Tỉ lệ khí methane và carbonic ở các khẩu phần của lô 1 và 3 34
B ảng 4.5 Tỉ lệ khí methane và carbonic ở các khẩu phần của lô 2 và 3 34
B ảng 4.6 Lượng trung bình khí biến dưỡng 34
B ảng 4.7 Lượng trung bình khí sinh gas của nhóm rượu 35
B ảng 4.8 Lượng trung bình khí các axit béo mạch carbon dài 36
B ảng 4.9 Lượng trung bình khí axít cyanic sinh ra 36
Trang 8vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cấu tạo dạ dày kép của gia súc nhai lại 4
Hình 2.2 C ỏ sả lá lớn tại trại thí nghiệm 25
Hình 3.1 Bò Lai Brahman thí nghiệm nuôi tại trung tâm 29
Trang 9viii
Trang XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM TẠ iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG vi
Chương 1MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.1.2 Yêu cầu 2
Chương 2TỔNG QUAN 3
2.1 Sơ lược sinh lý tiêu hóa thú nhai lại 3
2.1.1 Đặc điểm tiêu hóa thú nhai lại 3
2.1.2 Đặc điểm dạ dày thú nhai lại 3
2.1.2.1 Hoạt động dạ cỏ 5
2.1.2.2 Môi trường dạ cỏ 6
2.2 Sơ lược về nguồn carbonhydrate trong thức ăn thú nhai lại 7
2.3 Hệ vi sinh vật dạ cỏ 7
2.3.1 Vi khuẩn (Vi khuẩn) 8
2.3.2 Nguyên sinh động vật 8
2.3.3 Nấm (Phycomycetous) 9
2.4 Tác động tương hổ của vi sinh vật trong dạ cỏ 10
Trang 10ix
2.4.1 Tác động tương hổ Vi khuẩn-Vi khuẩn 10
2.4.2 Tác động tương hổ Nguyên sinh động vật-Vi khuẩn 10
2.4.3 Tác động tương hổ Vi khuẩn-Nấm-Nguyên sinh động vật 11
2.5 Tiêu hoá một số chất ở dạ cỏ 12
2.5.1 Tiêu hoá cellulose 12
2.5.2 Tiêu hóa tinh bột 12
2.5.3 Tiêu hóa đường 13
2.5.4 Tiêu hoá lipid 14
2.5.5 Tiêu hoá đạm 14
2.5.6 Tiêu hóa ở ruột non 15
2.5.7 Tiêu hóa ở ruột già 15
2.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng ăn vào và tỉ lệ tiêu hóa 15
2.7 Sự hấp thu 17
2.7.1 Hấp thu acid béo bay hơi 17
2.7.2 Hấp thu glucose 17
2.7.3 Hấp thu ammonia – nitơ 17
2.8 Tóm lược lịch sử của ngành chăn nuôi bò thịt 18
2.9 Sản phẩm từ ngành chăn nuôi bò 18
2.10 Thực liệu dùng trong thí nghiệm 19
2.10.1 Rơm khô 19
2.10.2 Cây khoai mì 20
2.10.3 Cỏ sả lá lớn 22
2.11 Tóm lược một số công trình nghiên cứu trong nước 24
Chương 3NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 11x
3.1 Thời gian thực hiện 26
3.2 Địa điểm thực hiện 26
3.3 Đối tượng thí nghiệm 26
3.4 Nội dung nghiên cứu 27
3.5 Bố trí thí nghiệm 27
3.6 Điều kiện thí nghiệm 28
3.6.1 Chuồng trại 28
3.6.2 Thức ăn thí nghiệm 28
3.6.3 Dụng cụ thí nghiệm 28
3.6.4 Qui trình nuôi dưỡng và chăm sóc 29
3.7 Các chỉ tiêu theo dõi 29
3.7.1 Khả năng tăng trưởng 29
3.7.2 Tiêu tốn thức ăn 29
3.7.3 Các chỉ tiêu về sản sinh khí 29
3.8 Phương pháp xử lý số liệu 30
Chương 4KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên khả năng tăng trọng của giống bò lai Brahman 31
4.2 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm trên bò lai Brahman về khả năng sinh khí32 4.2.1 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm trên bò lai Brahman trên sự sản sinh nhóm khí làm ô nhiễm môi trường 32
4.2.2 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm trên bò lai Brahman lên khả năng sinh khí biến dưỡng 33
4.2.3 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm trên bò lai Brahman về khả năng sinh gas của nhóm rượu 35
Trang 12xi
4.2.4 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm trên bò lai Brahman về khả năng sinh khí
các axít béo mạch carbon dài 36
4.2.5 Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm trên bò lai Brahman lên khả năng sinh khí axít cyanic 36
Chương 5KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
PHỤ LỤC 38
Trang 13xii
ABBH : Axít béo bay hơi
ATP : Năng lượng
CP : Prôtêin thô
CO2 : Khí carbonic (carbon dioxide)
CH4 : Khí methane (mê tane)
DDGS : Dinh dưỡng gia súc
DF : Độ tự do (Dergree of Freedom)
FAO : Food and Agriculture Organization
HSCBTĂ : Hệ số chuyể biến thức ăn
HCN : Axít cyanhydric
KTS : Khoáng tổng số
NLKM : Ngọn lá khoai mì
NLKM-K : Ngọn lá khoai mì khô (bột lá khoai mì)
NLKM-U : Ngọn lá khoai mì ủ chua
SD : Độ lệch tiêu chuẩn (Standard deviation)
SS : Tổng bình phương (Sum of Square)
VCK : Vật chất khô
VSV : Vi sinh vật
X : Lượng trung bình
Trang 14chủng loài cộng thêm sự phát triển không ngừng của ngành công nghiệp thực phẩm chăn nuôi, đã đẩy mạnh phát triển ngành này Trong quá trình chú trọng về phát triển chăn nuôi việc tiêu cực cần phải đề cập đến đó là lượng khí thải ra môi trường,
với số lượng lớn thú nhai lai thì việc thải ra ngoài các loại khí làm ảnh hưởng đến môi trường là không nhỏ, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của chúng ta Như vậy song song với mặt tích cực phát triển ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp cần phải khắc phục mặt tiêu cực của nó đó là lượng khí thải ra môi trường ở thú nhai lại Khi bổ sung sodium nitrate có thể giảm tổng lượng khí sinh ra, giảm hàm lượng metan, và tăng sự tổng hợp đạm của vi sinh vật Tuy nhiên, khi sử dụng sodium nitrate vào khẩu phần vẫn còn một vài vấn đề còn hạn chế như lượng ăn vào còn thấp Vì vậy, cần bổ sung lưu huỳnh vào khẩu phần sẽ cải thiện được lượng ăn vào, tốc độ tăng trưởng, hệ số chuyển hóa thức ăn sẽ thấp
Bên cạnh đó nền nông nghiệp đang phát triển, các nguồn phụ phẩm nông nghiệp rất đa dạng và phong phú nhưng chưa được tận dụng và khai thác đúng mức,
vì thế vẫn còn hạn chế thức ăn trong chăn nuôi Hiện nay việc sử dụng các phụ
phẩm nông nghiệp làm thức ăn nhằm nâng cao năng suất sản xuất của gia súc, cải thiện tăng trọng Tuy nhiên Các phụ phẩm nông nghiệp nói chung (rơm rạ, khoai lang, bắp, mía, cây họ đậu ) thường có hàm lượng xơ cao, tỉ lệ tiêu hoá thấp Trong các phụ phẩm nông nghiệp thì cây khoai mì là một nguồn cung cấp đạm rất tốt
Trang 152
Tại Việt Nam, cây khoai mì là cây lương thực đứng hàng thứ ba sau lúa Theo niên giám thống kê (2000), diện tích trồng khoai mì năm 1998 là 231600 ha,
diện tích nầy tăng lên nhiều ở năm 2000 là 300.000 ha, riêng tại các tỉnh phía Nam
có từ 140.000 - 170.000 ha Do đó phụ phẩm từ cây khoai mì là nguồn thức ăn dồi dào bổ sung cho chăn nuôi thú nhai lại trong mùa khô Lá mì có hàm lượng đạm khá cao khoảng 22% đạm thô (Dương Nguyên Khang và Hans Wiktorsson,1999), cùng với hợp phần tannin nguồn đạm này có thể thoát qua sự lên men tại dạ cỏ rất
tốt cho thú nhai lại trong khẩu phần cơ bản là rơm ủ urê Từ những vấn đề trên, để nâng cao hiệu quả, năng suất sản xuất của gia súc nhằm phát huy khả năng tăng
trọng rút ngắn thời gian nuôi, đặc biệt là trên thú nhai lại và góp phần phát triển chăn nuôi bền vững cùng với việc hạn chế lượng khí sản sinh ra trên thú nhai lại Chính vì điều đó, với sự phân công của khoa Chăn Nuôi Thú Y, dưới sự hướng dẫn
của PGS.TS Dương Nguyên Khang, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng việc
bổ sung muối nitrate và lưu huỳnh kết hợp với ngọn lá khoai mì khô, ủ chua lên tăng trọng và sản sinh khí của bê đực lai Brahman”
1.2 M ục đích yêu cầu
1.2.1 M ục đích
Khảo sát ảnh hưởng của việc bổ sung muối nitrat và lưu huỳnh kết hợp với
ngọn lá khoai mì khô, ủ chua lên tăng trọng và sản sinh khí trên bê đực lai Brahman
1.1.2 Yêu cầu
Ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm lên khả năng tăng trọng và sản sinh các loại khí trên thí nghiệm
Trang 163
Chương 2
2.1 Sơ lược sinh lý tiêu hóa thú nhai lại
2.1.1 Đặc điểm tiêu hóa thú nhai lại
Theo preston và Leng (1987), tuyến nước bọt: nước bọt ở trâu bò được phân
tiết và nuốt xuống dạ cỏ tương đối liên tục Nước bọt có tính kiềm nên có tác dụng trung hòa các sản phẩm axít sinh ra trong dạ cỏ, góp phần ổn định pH dạ cỏ Ngoài
ra nước bọt còn có tác dụng thấm ướt thức ăn, giúp cho quá trình nuốt và nhai lại dễ dàng Nước bọt còn cung cấp cho môi trường dạ cỏ các chất điện giải như Na+
, K+,
Ca++, Mg++ Đặc biệt trong nước bọt còn có urê và phosphor, có tác dụng điều hòa dinh dưỡng N và P cho nhu cầu vi sinh vật (VSV) dạ cỏ, đặc biệt là khi các nguyên
tố này bị thiếu trong khẩu phần
Điểm đặc biệt về sự tiêu hóa ở loài nhai lại là sự đóng góp của hệ vi sinh vật
sống tiềm sinh với cơ thể thú Nhờ vào hoạt động của vi sinh vật mà thức ăn được lên men để tạo ra acid béo bay hơi, khí CO2, khí CH4, khí H2,… và một lượng lớn
năng lượng dưới dạng ATP cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật
2.1.2 Đặc điểm dạ dày thú nhai lại
Dạ dày kép: Đường tiêu hóa của gia súc nhai lại được đặc trưng bởi hệ dạ dày kép gồm 4 túi, trong đó 3 túi trước (dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách) được gọi chung
là dạ dày trước, không có tuyến tiêu hóa riêng Túi thứ 4 là dạ múi khế hay còn gọi
là dạ dày thực, có hệ thống tuyến tiêu hoá phát triển mạnh Đối với gia súc non bú
sữa dạ cỏ và dạ tổ ong kém phát triển, sữa sau khi xuống qua thực quản được dẫn
trực tiếp xuống dạ lá sách và dạ múi khế qua rãnh thực quản Rãnh thực quản gồm
có đáy và hai mép Hai mép này khi khép lại sẽ tạo ra một cái ống để dẫn thức ăn
lỏng Khi bê bắt đầu ăn thức ăn cứng thì dạ tổ ong và dạ cỏ phát triển nhanh và đến
Trang 174
khi trưởng thành thì chiếm đến khoảng 85% tổng dung tích dạ dày Trong điều kiện bình thường ở gia súc trưởng thành rãnh thực quản không hoạt động nên cả thức ăn
và nước uống đều đi thẳng vào dạ cỏ và dạ tổ ong
Hình 2.1 Cấu tạo dạ dày kép của gia súc nhai lại
Dạ cỏ: là túi lớn nhất, chiếm hầu hết nữa trái của xoang bụng, từ cơ hoành đến xương chậu Dạ cỏ chiếm 85- 90% dung tích dạ dày, 75% dung tích đường tiêu hóa, có tác dụng tích trữ, nhào trộn và chuyển hóa thức ăn Dạ cỏ không có tuyến tiêu hóa mà niêm mạc có nhiều núm hình gai Sự tiêu hóa thức ăn trong đó là nhờ
hệ vi sinh vật (VSV) cộng sinh Dạ cỏ có môi trường thuận lợi cho VSV lên men
yếm khí: yếm khí nhiệt độ ổn định trong khoảng 38 - 42oC, pH từ 5,5 - 7,4 Có tới khoảng 50 - 80% các chất dinh dưỡng thức ăn được lên men ở dạ cỏ Sản phẩm lên men chính là các axít béo bay hơi (ABBH), sinh khối vi sinh vật và các khí thể (methan và carbonic) Phần lớn ABBH được hấp thu qua vách dạ cỏ trở thành nguồn năng lượng chính cho gia súc nhai lại Các khí thể được thải ra ngoài qua
phản xạ ợ hơi Trong dạ cỏ còn có sự tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin K Sinh khối vi sinh vật và các thành phần không lên men được chuyển xuống phần dưới của đường tiêu hóa
Dạ tổ ong: là túi nối liền với dạ cỏ, niêm mạc có cấu tạo giống như tổ ong
Dạ tổ ong có chức năng chính là đẩy các thức ăn rắn và các thức ăn chưa được nghiền nhỏ trở lại dạ cỏ, đồng thời đẩy các thức ăn dạng nước vào dạ lá sách Dạ tổ
Trang 185
ong cũng giúp cho việc đẩy các miếng thức ăn lên miệng để nhai lại Sự lên men và
hấp thu các chất dinh dưỡng trong dạ tổ ong tương tự như dạ cỏ
Dạ lá sách: là túi thứ 3, niêm mạc được cấu tạo thành nhiều nếp gấp (giống như các tờ giấy của quyển sách) Dạ lá sách có nhiệm vụ chính là nghiền ép các tiểu
phần thức ăn, hấp thu nước, muối khoáng và các axít béo bay hơi trong dưỡng chất
Ruột: quá trình tiêu hóa và hấp thu ở ruột non của gia súc nhai lại cũng diễn
ra tương tự như gia súc dạ dày đơn nhờ các men tiêu hóa của dịch ruột, dịch tụy và
sự tham gia của dịch mật Trong ruột già có sự lên men vi sinh vật lần thứ hai Sự tiêu hóa ở ruột già có ý nghĩa đối với các thành phần xơ chưa được phân giải hết ở
dạ cỏ Các ABBH sinh ra trong ruột già được hấp thu và sử dụng, nhưng đạm VSV thì bị thải ra ngoài qua phân mà không được tiêu hóa
2.1.2.1 Ho ạt động dạ cỏ
Thức ăn sau khi được thú ăn vào sẽ đi vào dạ cỏ Tại đây thức ăn có kích thước nhỏ, nặng sẽ vào dạ tổ ong còn phần có kích thước lớn, nhẹ sẽ được làm nguyên liệu của quá trình nhai lại
Nhu động của dạ cỏ và dạ tổ ong được khơi mào bởi sự co thắt từng hồi hai pha của dạ tổ ong Lúc tiêu hóa, dạ tổ ong co bóp đẩy thức ăn lên trên túi nang lưng làm thấm ướt những tầng thức ăn nhẹ nổi lên dạ cỏ Kế đến, túi nang lưng sẽ co bóp
để đẩy thức ăn ra sau và xuống dưới dạ cỏ, sau đó túi nang bụng co bóp đẩy thức ăn
ra phía trước và lên trên rồi rơi xuống dạ tổ ong Lúc bấy giờ những thức ăn lỏng đi vào dạ lá sách, được lọc và đi vào dạ múi khế, phần thức ăn rắn sẽ được nhào trộn
tiếp
Chu kì mới được tiếp tục để thức ăn được nhào trộn giúp cho vi sinh vật tác động dễ dàng Trong quá trình tiêu hóa dạ cỏ co bóp với tần số 2 - 5 lần trong 2 phút,
Trang 196
đồng thời nước bọt được tiết liên tục theo thức ăn vào dạ cỏ Thời gian lưu lại của
thức ăn trong dạ cỏ từ 2 - 48 giờ nhưng đôi khi có những phần thức ăn còn lưu lại đến 3 - 4 ngày
+ Sự nhai lại: Là hiện tượng đưa thức ăn trong dạ cỏ dạ tổ ong lên miệng để được nhai nhuyễn, tẩm nước bọt rồi nuốt vào Nó diễn ra theo chu kì chậm chạp êm đềm
Thức ăn sau một thời gian lưu giữ trong dạ cỏ sẽ được ợ lên để nhai lại Trên
bò tổng thời gian nhai lại trong ngày là 6 - 10 giờ Được chia làm 10 - 15 lần, mỗi
lần nhai lại sẽ có nhiều đợt, 60 đợt/giờ (Trần Thị dân – Dương Nguyên Khang, 2007) Khẩu phần cơ bản là cỏ thì lượng vật chất khô thông qua nhai lại hai lần (Ulgatt, 1982), ở khẩu phần thức ăn nghiền hoặc thức ăn nghiền vo viên thì không
thấy hoặc ít khi nhai lại
+ Sự ợ hơi: Ợ hơi xảy ra do kết hợp co bóp dạ cỏ, co bóp cơ hô hấp trong lúc
nấp khí quản đóng và nhu động ngược thực quản Sự ợ hơi nhằm thải chất khí trong quá trình lên men tiêu hóa, trung bình mỗi giờ ợ hơi 17 - 20 lần
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu sinh lý bình thường trên thú nhai lại
Loài Tần số mạch đập
(lần/phút)
Tần số hô hấp (lần/phút)
Thân nhiệt (0C)
Số lần co thắt dạ cỏ (2 lần/phút)
Trang 207
- Các chất khí bao gồm: CO2 (60 - 70%), CH4 (25 - 35%), O2 (< 1%)
- PH của dịch dạ cỏ hằng định ở 6 – 7 Những acid tạo ra từ quá trình tiêu hóa chất xơ được trung hòa bởi nước bọt và ammonia-nitơ từ quá trình phân giải chất đạm
Những vi sinh vật chiếm một vị trí quan trọng để ổn định pH của dịch dạ cỏ Khi pH dạ cỏ thấp CO2 và CH4 tách ra khỏi dịch dạ cỏ, tích tụ ở nang lưng và loại thải ra ngoài qua sự ợ hơi Ngược lại, khi pH dịch dạ cỏ cao, tất cả sản phẩm được hấp thu và loại thải qua đường phổi (Preston và Leng, 1987)
2.2 Sơ lược về nguồn carbonhydrate trong thức ăn thú nhai lại
Carbonhydrate chính là cellulose, hemicellulose và pectin, đây là thành phần chính trong cấu tạo tế bào thực vật, khi liên kết với lignin làm thành tế bào cứng chắc và bảo vệ thành tế bào không bị phân hủy trong điều kiện yếm khí và hiếu khí Theo (Preston và Leng, 1987), lignin bị vi sinh vật phá vỡ hoàn toàn ở môi trường trong đất Khối lượng lignin là tác nhân chính hạn chế sử dụng các loại thực vật ở thú nhai lại do thời gian thức ăn lưu lại không đủ dài cho quá trình phân giải lignin của vi sinh vật trong dạ cỏ Khi một số loại cây cỏ nào đó chưa bị lignin hoá thì thú nhai lại có khả năng tiêu hoá được thông qua sự lên men của vi sinh vật Do đó mà thú sử dụng nhằm tạo ra các sản phẩm như thịt, da, sữa, lông,… nhờ vào:
- Khả năng tiêu hoá nguồn carbonhydrate
- Khả năng sử dụng nguồn nitơ phi đạm thông qua sự phát triển của hệ vi sinh vật
- Sử dụng hiệu quả nitơ khẩu phần khi đạm được bảo vệ không bị lên men ở dạ cỏ
- Sử dụng có hiệu quả lipid của khẩu phần cho sản xuất
Theo Preston và Leng (1987) việc lên men ở dạ cỏ có hai điều kiện bất lợi:
Thứ nhất lên men dạ cỏ phải tiêu hóa tốn 20% năng lượng trao đổi mất dưới dạng nhiệt năng, thứ hai đạm khi lên men sẽ mất đi nguồn acid amin không thay thế
2.3 H ệ vi sinh vật dạ cỏ
Hệ vi sinh vật dạ cỏ thú nhai lại rất phong phú về loài Nó thay đổi phụ thuộc vào thời điểm ăn, thành phần thức ăn và tình trạng lên men của thức ăn ở dạ cỏ
Trang 218
2.3.1 Vi khu ẩn (Vi khuẩn)
Tổng số vi khuẩn ở dạ cỏ từ 109đến 1010
tế bào/1g chất dịch dạ cỏ Vi khuẩn chiếm khối lượng lớn nhất trong vi sinh vật dạ cỏ, số lượng thay đổi theo loài cá thể, cách nuôi dưỡng, thời gian ăn, tuy nhiên vẫn còn phụ thuộc vào tổng số vi khuẩn ngoại sinh được thú ăn vào Vi khuẩn được chia thành các nhóm sau:
- Vi khuẩn phân giải cellulose: là vi khuẩn quan trọng nhất cho sự tiêu hoá bao gồm các loại như: Bacteriodes sucinogens, Rumiobacter parvum, Rumiococcus
fluvefaciens
- Vi khuẩn phân giải tinh bột: loại vi khuẩn này phát triển nhiều khi thú ăn thức ăn
hạt, cỏ tươi hoặc thức ăn tinh như: Selemonase, Streptococcus bovis
- Vi khuẩn phân giải đường: Các vi khuẩn thuộc loài Lachnospira multiparus,
Selenomonas ruminantium đều có khả năng sử dụng tốt cacbonhydrat hòa tan
-Vi khuẩn sử dụng các axít hữu cơ: Những loài sử dụng lactic là Veillonella
gazogenes, veillonella alacalescens, Peptostreptococcus elsdenii, Propioni bacterium và Selemonas lactilytica
-Vi khuẩn phân giải đạm: Trong số những loài vi khuẩn sinh amoniac thì Peptostreptococcus và Clostridium có khả năng lớn nhất
- Vi khuẩn tạo khí CH4: Các loài vi khuẩn của nhóm này là Methano bacterium,
Methano ruminantium và Methano forminicum
2.3.2 Nguyên sinh động vật
Preston và Leng (1987), đã mô tả khá chi tiết về nguyên sinh động vật khi ông nghiên cứu về chất chứa ở dạ cỏ của loài gia súc có sừng Cũng như các loại vi sinh vật khác, nguyên sinh động vật cũng theo thức ăn vào dạ cỏ, chúng phát triển
rất nhanh 4 - 5 thế hệ trong một ngày Vì vậy, số lượng chúng biến đổi rất lớn tùy thuộc vào cách nuôi dưỡng, khẩu phần cho ăn Khi khẩu phần chứa nhiều xơ thì số lượng nguyên sinh động vật thấp < 105
Trang 229
hoặc khẩu phần chủ yếu là xơ Trái lại loài Holotrichs có mặt trong khẩu phần nhiều
xơ, đường hoà tan, đồng cỏ tươi non Đó là loại thức ăn có kết hợp giữa carbohydrate hoà tan và không hoà tan
Nguyên sinh động vật có kích thước lớn, cử động nhanh nên xé và nhào trộn
thức ăn dễ dàng Chúng có khả năng dự trữ glucid, sau đó nhả glucid từ từ nên giúp
sự lên men ở dạ cỏ không quá nhanh Tuy nhiên, chúng ăn các vi khuẩn làm giảm tỉ
lệ acid amin tiêu hoá của vi khuẩn, từ đó làm giảm khả năng tiêu hoá Trong đường tiêu hóa gia súc, ngoài dạ cỏ nguyên sinh động vật còn tập trung khá đông đúc ở dạ
lá sách Tuy nhiên, chúng chiếm số lượng ít hơn, thông thường chiếm khoảng 25 -
40 % so với số lượng nguyên sinh động vật trong dạ cỏ
2.3.3 Nấm (Phycomycetous)
Nấm yếm khí của dịch dạ cỏ đã được phân lập và nuôi cấy trong những năm gần gần đây, chúng hiện diện hầu hết ở các loài động vật ăn cỏ Nấm là loài vi sinh vật đầu tiên xâm nhập và tiêu hoá thành phần cấu trúc thực vật, bắt đầu từ bên trong
tế bào thực vật và làm giảm độ bền của cấu trúc này do vậy làm tăng sự phá vỡ các mãnh thức ăn trong quá trình nhai lại
Chức năng của nấm trong dạ cỏ là:
Mọc chồi phá vỡ cấu trúc thành tế bào thực vật, làm giảm độ bền chặt của
cấu trúc này, góp phần làm tăng sự phá vỡ các mảnh thức ăn trong quá trình nhai lại
Sự phá vỡ nầy tạo điều kiện cho vi khuẩn bám vào cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải xenluloza Mặt khác, nấm cũng tiết ra các loại men tiêu hóa xơ Phức
hợp men tiêu hóa xơ của nấm dễ hòa tan hơn của men của vi khuẩn Chính vì thế
nấm có khả năng tấn công các tiểu phần thức ăn cứng hơn và lên men chúng với tốc
độ nhanh hơn so với vi khuẩn (Preston và Leng, 1987), một vài loại nấm có thể phá
vỡ những lignin hoà tan và phức hợp hemixenluloza - lignin, nhưng không phân
huỷ được lignin
Trang 2310
2.4 Tác động tương hỗ của vi sinh vật trong dạ cỏ
Tập đoàn vi sinh vật dạ cỏ thay đổi theo loài, cá thể, thời gian sau khi cho ăn Tuy nhiên, chúng cũng có những liên hệ cộng sinh quan trọng tác động lên nhiều quá trình tiêu hóa thức ăn của loài nhai lại
2.4.1 Tác động tương hỗ Vi khuẩn-Vi khuẩn
Vi sinh vật dạ cỏ, cả thức ăn và ở biểu mô dạ cỏ Vi khuẩn đều kết hợp với vi sinh vật khác với chức năng như “kết giao” trong quá trình tiêu hóa Loài này phát triển trên sản phẩm trao đổi chất cuối cùng của loài kia Cũng như có mối quan hệ
hữu cơ giữa vi sịnh vật sản sinh hydro và vi sinh vật sử dụng hydro Ngay trong dạ
cỏ cũng có những mối quan hệ rất chặc chẽ giữa các loài Vi khuẩn phụ thuộc vào
sản phẩm đơn giản giải phóng của mỗi loài vì lợi ích qua lại giữa chúng Đây là mối quan hệ có lợi nhưng ít được tính đến mà chủ yếu người ta mới đề cập nhiều đến ức
chế việc sản sinh khí metan (CH4)
Giữa các nhóm vi khuẩn khác nhau cũng có sự cạnh tranh lẫn nhau về điều
kiện sinh tồn:
Khi ăn khẩu phần ăn giàu tinh bột nhưng nghèo đạm thì số lượng phân giải cellulose sẽ giảm và do đó tiểu lệ tiêu hóa xơ thấp hơn
Tương tác tiêu cực giữa vi khuẩn phân giải bột đường và vi khuẩn phân giải
xơ còn liên quan đến pH trong dịch dạ cỏ
Quá trình phân giải chất xơ của khẩu phần diễn ra trong dạ cỏ có hiệu quả cao nhất khi pH dịch dạ cỏ > 6,2; ngược lại, quá trình phân giải tinh bột trong dạ cỏ
có hiệu quả cao nhất khi pH < 6,0 Tỷ lệ thức ăn tinh quá cao trong khẩu phần sẽ làm cho axít béo bay hơi sản sinh ra nhanh làm giảm pH dịch dạ cỏ và do đó sẽ ức
chế hoạt động của vi khuẩn phân giải xơ Vì thế khi trong khẩu phần có quá nhiều
bột đường thì khả năng tiêu hóa và thu nhận thức ăn xơ sẽ bị giảm sút
2.4.2 Tác động tương hỗ Nguyên sinh động vật-Vi khuẩn
Sự tác động tương hổ đáng kể giữa nguyên sinh động vật và vi khuẩn Nguyên sinh động vật ăn và tiêu hoá vi khuẩn, loại ra xác trôi nổi trong dịch dạ cỏ (Preston và Leng, 1987) Chính vì vậy mà làm giảm lượng vi khuẩn bám vào mẫu
Trang 24chứng này Nguyên sinh động vật sản sinh ra nhiều thể axít đối với vài loại khẩu
phần Đối với khẩu phần nhiều đuờng (như cho ăn mía) thì khối lượng nguyên sinh động vật lớn hơn nhiều so với vi khuẩn
2.4.3 Tác động tương hỗ Vi khuẩn-Nấm-Nguyên sinh động vật
Trong dạ cỏ, cả nguyên sinh động vật, nấm và vi khuẩn kỵ khí tương tác nhau để phá vỡ cacbonhydrat từ xenluloza và hemixenluloza Vi khuẩn kỵ khí là tác nhân chính lên men cacbonhydrat của vách tế bào thực vật Có mối quan hệ chặt
chẽ giữa nấm và các loài vi sinh vật trong dạ cỏ Nấm là sinh vật đầu tiên xâm nhập thành tế bào thực vật, sau đó sự lên men của vi khuẩn bắt đầu và tiếp tục Một thí nghiệm của Bauchop (1980) về tiêu hóa xơ chứng minh nếu có nhiều nguyên sinh động vật thì tốc độ sinh trưởng của nấm tăng
Khi thêm cỏ xanh chất lượng cao vào khẩu phần ăn chủ yếu là thức ăn thô khô sẽ làm lượng nguyên sinh động vật tăng để dự trữ cacbonhydrat cho chúng, làm
số bào tử nấm trên rơm trong dạ cỏ tăng theo nhanh chóng, kích thích sự tăng khối lượng vi khuẩn Vì thế, tăng một ít cỏ xanh chất lượng cao làm tăng mức tiêu hóa
của rơm hay cỏ khô khó tiêu (Manuel, 1992)
Tuy nhiên khi cho gia úc nhai lại ăn bổ sung nhiều thức ăn tinh đến 60% trong khẩu phần cơ bản là thức ăn thô, sẽ làm giảm lượng thức ăn thô ăn vào, hậu
quả là làm cho số lượng nguyên sinh động vật phát trỉên mạnh Tập đoàn nguyên sinh động vật tăng trong dạ cỏ thường làm giảm năng suất của con vật do tích trữ nhiều cacbonhydrat và làm giảm axít amin trong sản phẩm tiêu hóa được hấp thu do
bị nguyên sinh động vật sử dụng Quan trọng hơn, số lượng nguyên sinh động vật quá nhiều sẽ làm giảm sinh khối vi khuẩn và nấm trong dạ cỏ của con vật ăn thức ăn
thô, đưa đến việc giảm hiệu suất sử dụng xơ
Trang 2512
2.5 Tiêu hoá m ột số chất ở dạ cỏ
2.5.1 Tiêu hoá cellulose
Cơ thể động vật không tổng hợp được enzym có thể tiêu hóa chất xơ Sự tiêu hóa nhờ vào tác động của vi sinh vật phân giải chất xơ Các nguyên sinh động vật phá vỡ màng tế bào thực vật trước tiên, vi khuẩn là những cơ thể chính tạo sự lên men glucid Nấm yếm khí đôi khi cũng chiếm một vị trí quan trọng (Preston và Leng, 1987) Khoảng 80% cellulose và hemicellulose được phân giải bởi nguyên sinh động vật và lên men dưới tác động của vi khuẩn
Theo Lewy và Halliwell, sự phân giải chất xơ xảy ra ttheo 3 giai đoạn:
Cellulose dépolymérase đoạn ngắn β-glucosidase cellobiose cellobiase glucose + ABBH
∗ Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phân giải chất xơ:
Hệ số sử dụng chất xơ ở những thực vật non đặc biệt cao hơn những thực vật già do hàm lượng lignin cao
Theo những nghiên cứu của Leng và ctv (1984),khoảng 12,8% chất xơ phân
giải 2 giờ sau khi ăn và 30,8% trong 6 giờ tiếp theo và 3,6% trong 12 giờ cuối cùng
Sự tiêu hóa chất xơ giảm khi thú tiếp nhận glucid dễ hòa tan (tinh bột, rỉ đường) bởi vì các vi sinh vật sẽ tham gia vào quá trình phân giải tinh bột và nó cạnh tranh với vi sinh vật phân giải chất xơ Ngoài ra nó còn tạo ra acid lactic làm giảm
pH và ức chế hoạt động của vi sinh vật phân giải chất xơ
Để cho vi khuẩn sinh trưởng và nhân lên phân giải chất xơ, cần phải tối thiểu 5% đạm trong khẩu phần Nếu tỷ lệ đạm cao, tốc độ phân giải chất xơ sẽ cao Mặt khác, khi lượng đạm quá cao thì hiệu suất tiêu hóa sẽ giảm do sự tạo ammoniac
2.5.2 Tiêu hóa tinh b ột
Thú nhai lại ăn khẩu phần chứa tinh bột và đường sẽ thúc đẩy sự hoạt động
của vi sinh vật hữu hiệu, chúng sử dụng tinh bột đó vào cơ chế biến thành năng
lượng hoạt động, vi khuẩn và nguyên sinh động vật phân giải tinh bột thành
polysaccharide, glycogen và amylopectin, những đường đa này được lên men và tạo thành acid béo bay hơi
Trang 2613
Sự lên men dần dần amylopectin có ý nghĩa ngăn ngừa sự lên men quá mạnh hình thành quá nhiều thể khí dẫn tới chướng hơi khi thú ăn nhiều thức ăn xanh, thức
ăn non vào dạ cỏ, sự gia tăng tinh bột trong khẩu phần làm tăng rõ rệt độ acid trong
dạ cỏ và làm tăng ti lệ acid propionic
Sự tiêu hóa tinh bột trong dạ cỏ nhờ vào hoạt động của vi sinh vật dạ cỏ chủ
yếu là Streptococcus bovis và Clostridium butiriticum Hai loại vi khuẩn này phân
tiết α-amylase và β-amylase phân giải tinh bột thành maltose Maltose tiếp tục biến đổi thành glucose dưới tác động của maltase Phần lớn glucose được vi khuẩn sử
dụng để tạo ra acid béo bay hơi, khí mêtan, carbonic… một phần nhỏ glucose được
hấp thu qua thành dạ cỏ Phần lớn glucid được phân giải tạo thành đường đơn, ABBH và ATP theo sơ đồ sau:
Polysaccharide Hexomonophosphate Acetyl Co.A
A acetic + ATP
A propionic + ATP
A butyric + ATP
2.5.3 Tiêu hóa đường
Các đường dễ tan như disaccharic, monosaccharic một phần được tạo thành
do sự phân giải cellulose và hemicellulose, một phần lấy từ thức ăn Những đường đơn này lên men sẽ biến thành acid béo bay hơi và acid lactic, khi cho thức ăn nhiều đường hòa tan vào khẩu phần dễ gây trúng độc cho thú vì lượng acid lactic sinh ra nhiều Do đó chỉ cung cấp một lượng vừa đủ để cung năng lượng cho vi sinh vật
Trang 2714
do đó cho thú ăn khẩu phần giảm xơ, lượng thức ăn hỗn hợp cao làm giảm acid acetic dẫn đến kết quả giảm béo sữa
Acid propionic được hấp thu từ dạ cỏ được biến đổi thành glucose ở gan,
một số nhỏ được biến dưỡng thành acid lactic ở biểu bì dạ cỏ Acid propionic là tiền
chất cho glucose tổng hợp ở gan Acid butyric được biến dưỡng phần lớn ở biểu bì
dạ cỏ, sản phẩm cuối cùng của biến dưỡng là ketones p-lydroxy butyrate, aceto acetate và aceto ketone được sử dụng tổng hợp acid béo ở mô tuyến vú, mô mỡ dự
trữ cho cơ thể
Cường độ hình thành các acid béo bay hơi khá nhanh và mạnh, một ngày đêm ở dạ cỏ bò có thể hình thành khoảng 4 lít acid béo bay hơi, sự hấp thu acid béo bay hơi này bắt đầu từ 15 - 18 phút sau khi ăn và kéo dài 4 - 6 giờ
2.5.4 Tiêu hoá lipid
Nhìn chung, hàm lượng lipid trong khẩu phần của loài nhai lại ở các nước đang phát triển thông thường dưới 3% đối rơm lúa (Nguyễn Nghi và Vũ Văn Độ, 1995) Các acid béo chủ yếu là acid 18 C không bảo hòa như acid linoleic (53%), acid linolenic (13%), acid oleic (10%) và acid palmitic (15%) Các vi sinh vật trong
dạ cỏ trộn từng phần trong dịch dạ cỏ và chuyển hóa chúng thành acid stearic 18 C bão hòa sẽ được tiêu hóa ở ruột non
2.5.5 Tiêu hoá đạm
Tất cả các chất đạm của thức ăn chịu sự tác động của vi sinh vật dạ cỏ, phần đạm không phân giải trong dạ cỏ sẽ được ở phần thấp của dạ dày trước và thủy phân thành acid amin dưới tác động của enzym Tỷ lệ đạm phân giải cũng như đạm phi đạm cấu tạo nên urê nội sinh tuần hoàn trở lại, các loại đạm phi đạm có nguồn gốc
tự nhiên hay công nhiệp rất nhạy cảm dưới sự tác động của vi sinh vật và phân giải thành những phân tử đạm dễ sử dụng: peptid, acid amin và đặc biệt là ammonia – nitơ Trong điều kiện sinh lý bình thường, phần lớn những phân tử này sẽ được tổng
hợp dưới dạng đạm của vi khuẩn
Những đạm không hòa tan hoặc trong thành phần liên kết chặt chẽ với cầu nối disulfure hoặc liên kết với tannin có xu hương tránh sự lên ở dạ cỏ nhưng được hấp
Trang 2815
thu ở ruột non (Satter và Slyter, 1974) Phần ammonia – nitơ có độc tính sẽ được
hấp thu và giải độc ở gan tạo thành urê nội sinh sẽ được phân tiết qua nước bọt hay vách dạ cỏ Những đạm vi khuẩn sẽ được tiêu hóa ở phần thấp của dạ cỏ như những đạm không phân giải
2.5.6 Tiêu hóa ở ruột non
Thức ăn đến ruột non chịu tác động phối hợp bởi các men và các chất xúc tác tiêu hóa trong dịch tụy và dịch mật Đường đôi và đường đa chuyển thành đường đơn để hấp thu Các hạt mỡ lớn bị thủy phân ở ruột, dưới tác động của lipase tạo thành glycerol và acid béo tự do Các polypeptol cao phân tử, các peptid khi xuống
ruột non sẽ được hệ thống enzyme của dịch tụy và dịch ruột phân giải thành acid amin được ruột hấp thu
2.5.7 Tiêu hóa ở ruột già
Phần dưỡng chất không được hấp thu từ ruột non được chuyển xuống manh tràng Hoạt động tiêu hóa ở ruột già chủ yếu là do men từ ruột non theo dưỡng chất chuyển xuống, ở đây luôn xảy hai hiện tượng lên men và thối rữa
Hiện tượng lên men: do những vi sinh vật hữu hiệu tác động lên cellulose và
bột còn lại tạo thành những acid béo bay hơi và những thể khí Những acid béo bay hơi này được hấp thu phần lớn qua thành ruột già vào máu đến gan như khi xảy ra ở
dạ cỏ, những thể khí được tống ra ngoài qua hậu môn
Hiện tượng thối rữa: là do những vi sinh vật thối rữa tác động lên những protid còn lại phân giải nó thành những sản phẩm có mùi thối và độc Phần lớn
những chất này được hấp thu vào máu và được khử độc tại gan rồi thải ra ngoài qua nước tiểu, phần còn lại thải ra ngoài theo phân
Khi thức ăn đến đoạn cuối ruột già nước được hấp thu mạnh, chất bả còn lại hình thành phân để thải ra ngoài
2.6 Nh ững yếu tố ảnh hưởng đến lượng ăn vào và tỉ lệ tiêu hóa
Lượng thức ăn ăn vào cơ thể là một nhân tố quyết định năng suất của vật nuôi Lượng thức ăn ăn vào càng cao thì sẽ thu nhận được nhiều các chất dinh dưỡng như năng lượng, đạm, vitamin, khoáng…
Trang 2916
Tập tính ăn uống và sự lựa chọn thức ăn của gia súc nhai lại: gia súc nhai lại thường sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau, trong đó có một số loại gia súc lúc đầu không ưa thích, chúng chọn thức ăn rất kỹ và chỉ thích ăn một loại thức ăn hợp
khẩu vị Gia súc nhai lại thường thích cỏ tươi và thức ăn tinh
Ảnh hưởng của các yếu tố thức ăn:
+ Mùi thức ăn là yếu tố quan trọng nhất
+ Cắt, thái ngắn làm tăng lượng ăn vào
+ Cỏ càng già thì lượng vật chất khô có thể ăn vào càng giảm và tỉ lệ tiêu hóa cũng giảm
+ Hàm lượng nước cao trong thức ăn làm giảm lượng vật chất khô ăn vào, khi phơi héo làm tăng lượng ăn vào
+ Hàm lượng đạm thô trong cỏ
+ Hàm lượng các acid béo hay hơi cũng ảnh hưởng rất lớn đến lượng ăn vào
của thú, khi acetat đột ngột tăng nhanh như tiêm truyền vào ven, thì tổng hợp
mỡ sử dụng rất nhiều năng lượng dẫn đến tăng nhiệt thú ăn ít
+ Cỏ càng già hàm lượng xơ càng tăng, lượng vật chất khô có thể thu nhận càng giảm do lượng vật chất khô thoát qua thấp
+ Tỉ lệ thân/lá: lượng lá có thể thu nhận cao hơn 48% lượng thân
+ Loài cỏ: ở cùng một tỉ lệ tiêu hóa, loài nhai lại ăn vào một lượng cỏ họ đậu cao hơn cỏ hòa thảo, do tốc độ thoát qua của cỏ họ đậu nhanh hơn cỏ hòa
thảo
Các yếu tố liên quan đến gia súc:
+ Tất cả những khác biệt về giống loài, tuổi, đặc tính của từng cá thể, trạng thái sinh lý đều làm thay đổi lượng ăn vào và tỉ lệ tiêu hóa thức ăn
Nhiệt độ môi trường: thú sống trong môi trường thích hợp, khi nhiệt độ tăng cao thì lượng ăn vào giảm, và tỉ lệ tiêu hóa cũng giảm
Thành phần và tính chất vật lí của thức ăn cũng làm thay đổi lượng ăn vào và
tỉ lệ tiêu hóa
Trang 3017
Thời gian, số lần ăn, lượng nước uống đều làm thay đổi lượng ăn vào của thú
và tỉ lệ tiêu hóa thức ăn
2.7 S ự hấp thu
2.7.1 H ấp thu acid béo bay hơi
Acid béo bay hơi được hấp thu bằng cách khuếch tán qua thành dạ cỏ, khoảng 25% thì được hấp thu ở ruột non Chúng vào máu đến gan, một phần được
giữ lại ở gan để oxy hóa cung cấp năng lượng cho trâu bò hoạt động, phần khác được chuyển đến mô bào, nhất là mô mỡ và mô tuyến sữa để tạo thành mỡ sữa và
mỡ dự trữ cho cơ thể Sự hấp thu acid béo bay hơi bắt đầu từ 10 - 15 phút sau khi ăn vào kéo dài từ 4 - 6 giờ đồng hồ
2.7.2 H ấp thu glucose
Lượng glucose tạo ra trong quá trình phân giải tinh bột, đường hòa tan,… được sử dụng trong quá trình lên men Một phần nhỏ glucose được hấp thu vào máu Glucose hấp thu được sử dụng trong quá trình trao đổi ở một số mô đặc biệt như:
hồng cầu, não và một số ít đi vào máu
2.7.3 H ấp thu ammonia – nitơ
Để tối ưu hóa quá trình tiêu hóa rơm cỏ, điều ưu tiên tuyệt đối là đảm bảo cho dạ cỏ đủ lượng ammonia cần thiết cho sự sinh trưởng của vi khuẩn Satter và Slyter (1974) cho rằng tối thiểu phải 50 - 80mg ammonia - nitơ/lít dịch dạ cỏ để cho
vi sinh vật phát triển tối đa Mặt khác, lượng ammonia - nitơ tối thiểu trong dạ cỏ để trâu bò tự nguyện ăn rơm cỏ kém tiêu hóa có hàm lượng đạm thấp là khoảng 200
mg N/l, mặc dù độ tiêu hóa rơm cỏ đã được tối ưu hóa ở mức 100 mg N/l (Leng và ctv, 1984) Ammonia sản sinh ra có hai con đường ưu tiên là: tổng hợp đạm vi sinh
vật và hấp thu vào máu Lượng ammonia đi về phần thấp của ống tiêu hóa và qua sự
ợ hơi là không đáng kể (Leng và ctv, 1984), sự hấp thu ammonia sẽ bị giảm lại bởi
sự thiếu hụt thức ăn, đặc biệt là sườn carbon và nguồn năng lượng cần thiết cho hệ
vi sinh vật dạ cỏ có thể dùng ammonia Leng và ctv, (1984),nhận thấy nồng độ ammonia trong dạ cỏ ở mức 95mg N/100 ml là thú có biểu hiện ngộ độc với pH
dịch dạ cỏ ở mức 7,4
Trang 3118
2.8 Tóm lược lịch sử của ngành chăn nuôi bò thịt
Từ ngàn xưa, với cuộc sống săn bắt hái lượm, con người đã tìm cách hái được nhiều hoa quả và bắt được nhiều thú hoang dã Khi đàn bò bị săn đuổi, những con bê yếu, bò già bị bắt, nhưng với số lượng nhiều, một số con được dự trữ lại Ngoài những con chết cũng có những con sống sót để sản sinh ra đời con Chúng
trở thành của cải của con người gọi là đàn gia súc
Theo nhiều tài liệu thì bò bắt đầu thuần hóa từ 8000 -7000 năm trước công nguyên Ấn Độ và Trung Quốc là những vùng thuần hóa gia súc sớm nhất Nhưng Anh là nước đi đầu về cải tạo giống, việc này đã đem lại kết quả tốt đẹp với sự xuất
hiện của những bò đực đen như: Aberdeen Angus, Welsh Black, bò đỏ như: Hereford, đặc biệt là giống bò Shorthorn chiếm ưu thế vào cuối thế kỉ XIX
Nữa sau thế kỉ XIX, kỹ thuật trồng cỏ có tiến bộ, với các giống cỏ mới, đồng
cỏ được bón phân tưới nước đã dẫn đến kỷ thuật nuôi bò phát triển
Một sự chuyển biến trong ngành chăn nuôi bò thịt của nước Anh là việc chuyển từ thức ăn truyền thống với cỏ cho ăn tự do và thức ăn tinh hạn chế sang
khẩu phần thức ăn hoàn chỉnh với 50% cỏ khô và 50% đại mạch Hệ thống nuôi bò
thịt đã dựa vào sức mạnh của thức ăn tinh để rút ngắn thời gian nuôi và đạt tăng
trọng cao
Hiện nay, nhiều nước, nhiều vùng lãnh thổ đã có những trang trại, nông trường, tập đoàn chuyên kinh doanh ngành nuôi bò thịt, với những phương tiện chăn nuôi hiện đại, đồng cỏ rộng lớn, kỷ thuật cao để phát triển mạnh đàn bò, đủ
sản phẩm cung cấp cho tiêu dùng
2.9 S ản phẩm từ ngành chăn nuôi bò
Ở nhiều nơi trên thế giới, ngành chăn nuôi bò đã xuất hiện từ lâu với nhiều
mục đích khác nhau như cung cấp sức kéo, cày bừa, kéo xe,….hoặc là lấy phân
phục vụ trồng trọt
Phân bò là loại phân hữu cơ có giá trị và khối lượng đáng kể Nguồn phân này có vai trò lớn trong việc cải tạo và duy trì độ phì nhiêu của đất, cải thiện cấu
Trang 32nhọc Sữa là loại thực phẩm cao cấp và sự hoàn chỉnh về dinh dưỡng của chúng và
rất dễ tiêu hóa.Thịt được xếp vào loại thit đỏ có giá trị dinh dưỡng cao Ngành chăn nuôi trâu bò thịt ít cạnh tranh với các loại ngủ cốc với người Do vậy trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi bò thịt trên thế giới phát triển nhanh chóng
2.10 Th ực liệu dùng trong thí nghiệm
2.10.1 Rơm khô
Rơm là phụ phẩm của cây lúa sau khi thu hoạch hạt Nó là nguồn dinh dưỡng quan trọng cho gia súc nhai lại ở các nước nhiệt đới Tuy nhiên việc sử dụng chưa được khai thác đúng mức Yếu tố giới hạn việc sử dụng là do độ tiêu hóa thấp cũng như thành phần dinh dưỡng của nó còn thiếu nhiều chất (glucide dể lên men, đạm, khoáng, vitamin …)
Nếu chỉ cho ăn một mình rơm lúa thì gia súc chỉ ăn được một số lượng nhỏ Rơm lúa rất giàu Kali hòa tan nhưng thiếu canxi (Ca) có khả năng hấp thu Gia súc được nuôi dưỡng bằng rơm lúa là chính thì cần phải bổ sung thêm canxi (Ca) dễ tiêu
Rơm lúa có thành phần lignin thấp (6 - 7%) nhưng thành phần Silic cao (12 - 16%), so với các loại phế phẩm cây trồng khác (thường có khoảng 10 - 12 % Silic) Thành phần Silic cao là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ tiêu hóa kém, phần thân lúa được tiêu hóa nhiều hơn lá
Ở nước ta có khối lượng rất lớn nhưng tỷ lệ sử dụng trong chăn nuôi trâu bò còn rất khiêm tốn, rơm sử dụng như một nguồn thức ăn chính để nuôi trâu bò cày kéo, sinh sản Rơm còn là nguồn xơ rất tốt để phối hợp với thức ăn nhuyễn, những
thức ăn bổ sung đắt tiền khác trong chăn nuôi bò sữa và vỗ béo bò thịt…
Rơm sử dụng trong thí nghiệm là rơm lúa ngắn ngày
B ảng 2.2 Thành phần hóa học của rơm lúa