Khi còn theo mẹ heo con đã quen với sự tiêu hóa và hấp thu sữa từ đó sẽ làm gia tăng dòng vi khuẩn có lợi Lactobacillus spp trong dạ dày và đường ruột.. Heo cai sữa, do thay đổi thức ăn
Trang 1KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG OXIDE KẼM TRONG VIỆC
KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG VÀ PHÒNG NGỪA
BỆNH TIÊU CHẢY Ở HEO SAU CAI SỮA
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN VĂN NAM
Lớp: DH06TY Ngành: Thú Y Niên khóa: 2006 - 2011
Tháng 08/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
NGUYỄN VĂN NAM
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG OXIDE KẼM TRONG VIỆC
KÍCH THÍCH SINH TRƯỞNG VÀ PHÒNG NGỪA
BỆNH TIÊU CHẢY Ở HEO SAU CAI SỮA
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y
Giáo viên hướng dẫn
ThS ĐỖ VẠN THỬ
Tháng 08/2011
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: Nguyễn Văn Nam
Tên đề tài: “đánh giá hiệu quả sử dụng oxide kẽm trong việc kích thích sinh trưởng và phòng ngừa bệnh tiêu chảy ở heo sau cai sữa”
Đã hoàn thành khóa luận theo đúng yêu cầu của Khoa Chăn Nuôi –Thú Y, bộ môn và yêu cầu của giáo viên hướng dẫn với các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa, ngày ………
Giáo viên hướng dẫn
ThS Đỗ Vạn Thử
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Với những tình cảm sâu sắc
Con luôn ghi ơn ba mẹ, người đã sinh thành và nuôi dạy con khôn lớn
Chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm Khoa Chăn Nuôi – Thú Y, cùng toàn thể quý thầy cô đã tận tình, giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho chúng em trong suốt quá trình học tập
Thầy Đỗ Vạn Thử đã hết lòng dạy bảo, hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Ban giám đốc trại heo Hưng Việt đã tạo điều kiện cho tôi thực tập tại trại
Cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên của trại, đã hết lòng giúp đỡ truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm thực tế và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Xin cám ơn
Tất cả người thân, bạn bè yêu thương, những người luôn chia sẻ, động viên và
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Nguyễn Văn Nam
Trang 5Trọng lượng bình quân lúc bắt đầu thí nghiệm ở lô TN là 8,08 kg/con và lô
ĐC là 8,09 kg/con Qua xử lý thống kê sự khác biệt là không có ý nghĩa về mặt thống
kê
Trọng lượng bình quân lúc kết thúc thí nghiệm ở lô TN là 20,82 kg/con và lô
ĐC là 20,75 kg/con Qua xử lý thống kê sự khác biệt là không có ý nghĩa về mặt thống
kê
Hệ số chuyển biến thức ăn của lô TN là 1,86 của lô ĐC là 1,88
Tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở lô TN là 4,97 % ở lô ĐC là 5,98 %
Tỷ lệ ngày con bệnh khác ở lô TN là 0,44 % ở lô ĐC là 0,71 %
Tỷ lệ nuôi sống hai lô đạt 98,95 %
Trang 6MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt khóa luận iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng và biểu đồ ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH 2
1.3 YÊU CẦU 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI HEO HƯNG VIỆT 3
2.1.1 Giới thiệu về trại heo Hưng Việt 3
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 3
2.1.3 Bố trí chuồng trại 4
2.1.4 Cơ cấu đàn và công tác giống heo 4
2.1.5 Chuồng trại 5
2.1.6 Thức ăn 6
2.1.7 Nước uống 7
2.1.8 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 7
2.1.9 Vệ sinh thú y 10
2.1.10 Bệnh và điều trị 11
Trang 72.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
2.2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của heo con 13
2.2.1.1 Sự phát triển về kích thước bộ máy tiêu hóa của heo con 13
2.2.1.2 Sự phát triển hệ thống enzyme tiêu hóa của heo con 14
2.2.1.3 Đặc điểm hấp thu qua thành ruột 18
2.2.2 Nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa và bệnh tiêu chảy ở heo con 18
2.2.2.1 Do vi khuẩn 19
2.2.2.2 Do virus 19
2.2.2.3 Do ký sinh trùng 19
2.2.2.4 Do nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật 19
2.2.3 Vài nét về nguyên tố vi lượng kẽm 20
2.2.3.1 Khái niệm 20
2.2.3.2 Hấp thu và chuyển hóa kẽm 20
2.2.4 Nhu cầu và nguồn cung cấp kẽm 23
2.2.4.1 Nhu cầu kẽm trong khẩu phần 23
2.2.4.2 Vai trò của kẽm 23
2.2.4.3 Dấu hiệu thiếu kẽm 24
2.2.4.4 Ngộ độc kẽm 26
2.2.4.5 Những đặc tính đặc biệt của oxid kẽm 26
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 30
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 30
3.1.1 Thời gian 30
3.1.2 Địa điểm 30
3.2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 30
3.2.1 Nội dung thí nghiệm 30
3.2.2 Đối tượng thí nghiệm 30
3.2.3 Phương pháp thí nghiệm 30
Trang 83.3 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 31
3.4 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 31
3.4.1 Chỉ tiêu về tăng trọng 31
3.4.2 Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn .31
3.4.3 Chỉ tiêu về sức sống 32
3.4.4 Hiệu quả kinh tế 32
3.5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 32
3.6 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 32
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM 33
4.1.1 Trọng lượng bình quân của heo thí nghiệm 33
4.1.2 Hệ số chuyển biến thức ăn 35
4.1.3 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy của heo thí nghiệm 38
4.1.4 Tỷ lệ ngày con bị bệnh khác của heo thí nghiệm 40
4.1.5 Tỷ lệ nuôi sống của heo thí nghiệm 41
4.1.6 Hiệu quả kinh tế của heo thí nghiệm 42
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 KẾT LUẬN 45
5.2 ĐỀ NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 52
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TN :Thí nghiệm
ĐC : Đối chứng
ARN : Acid ribonucleic
ADN : Acid deoxyribonucleic
IGF-1 :Insulin growth factor 1
FSH : Follicle stimulating hormon
GH : Growth hormon
PPm : Part per million
TĂ : Thức ăn
TLBQ : trọng lượng bình quân
ADG : Average daily again
ADFI : Average daily feed intake
TĂ HH : Thức ăn hỗn hợp
HBPD : Hậu bị phát dục
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ Bảng 2.1 Thành phần thực liệu các loại thức ăn của heo thịt giai đoạn 63 ngày tuổi đến
xuất chuồng 7
Bảng 2.2 Quy trình tiêm phòng của trại chăn nuôi Hưng Việt 12
Bảng 2.3 Kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa heo con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi 13
Biểu đồ 2.1 Hoạt tính amilase nước bọt theo tuổi ở heo con 14
Biểu đồ 2.2 Hoạt tính một số enzyme tiêu hóa heo con 16
Bảng 2.4 pH ở những đoạn khác nhau của ống tiêu hóa heo con sau cai sữa 17
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 31
Bảng 4.1 Trọng lượng bình quân của heo thí nghiệm 33
Bảng 4.2 Hệ số biến chuyển thức ăn 36
Bảng 4.3 Mức tăng trưởng của heo cai sữa trong khoảng trọng lượng 6 – 22kg 37
Bảng 4.4 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy .38
Bảng 4.5 Tỷ lệ ngày con bệnh khác 41
Bảng 4.6 Tỷ lệ nuôi sống của heo thí nghiệm 42
Bảng 4.7 Tổng chi phí thức ăn 43
Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế của heo thí nghiệm 43
Trang 11dễ mắc các bệnh tiêu hóa
Hiện nay, người chăn nuôi đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng và phát triển của heo con cũng như để phòng và trị bệnh tiêu chảy Việc bổ sung kháng sinh trong thức ăn trở nên phổ biến vì nó đáp ứng được các yêu cầu trên Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây thấy việc sử dụng thường xuyên kháng sinh trong thức ăn sẽ dẫn đến sự kháng thuốc, khi đó thì việc điều trị cũng như phòng ngừa dịch bệnh lại càng khó khăn hơn
Để có cơ sở cho việc phòng ngừa bệnh tiêu chảy ở heo con sau cai sữa và kích thích sinh trưởng nhằm làm tăng lợi nhuận cho nhà chăn nuôi Bên cạnh đó để tìm giải pháp thay thế kháng sinh sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, được sự phân công của khoa Chăn Nuôi – Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, bộ môn Cơ Thể Học - Ngoại Khoa, dưới sự hướng dẫn của ThS Đỗ Vạn Thử, chúng tôi tiến hành đề tài:
“ Đánh giá hiệu quả sử dụng oxide kẽm trong việc kích thích sinh trưởng và phòng ngừa bệnh tiêu chảy ở heo sau cai sữa”
Trang 12Theo dõi và thu thập số liệu để đánh giá một số chỉ tiêu trên heo con sau cai
sữa như: tăng trọng, tỷ lệ tiêu chảy, tỷ lệ bệnh khác, tỷ lệ nuôi sống, tiêu tốn thức ăn
và hiệu quả kinh tế
Trang 13Chương 2
2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI HEO HƯNG VIỆT
2.1.1 Giới thiệu về trại heo Hưng Việt
Trại chăn nuôi Hưng Việt là một doanh nghiệp tư nhân được thành lập vào ngày 11/06/1990 Qua 21 năm hình thành và phát triển, trại đã và đang từng bước hoàn thiện mô hình hoạt động, luôn ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm Mô hình sản xuất của trại là kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi Trại nằm trên đường Hùng Vương – khu phố 1 – phường Long Tâm – thị xã Bà Rịa – tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Trại được xây dựng trên vùng đất tương đối bằng phẳng và màu mỡ với tổng diện tích là 75 000 m2, trong đó:
Đường đi: 4 000 m2
.Nhà kho: 1 600 m2.Chuồng trại: 2 900 m2
.Nhà ở và văn phòng: 800 m2
.Phần còn lại là diện tích đất trồng trọt và một số công trình của trại
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại có tổng cộng 40 người phân theo trình độ gồm: 1 Thạc sĩ, 3 Đại học, 1 Trung cấp, còn lại là công nhân, bảo vệ và nhà bếp Trong đó, riêng tổ chăn nuôi heo
có 15 người gồm có:
Quản lý chung: 1 người
Nái nuôi con và heo con theo mẹ: 3 người
Heo con sau cai sữa: 2 người
Nái khô, chửa, nái hậu bị và đực làm việc: 3 người
Heo thịt: 6 người
Trang 14Mô hình hoạt động sản xuất của trại chăn nuôi Hưng Việt là chăn nuôi kết hợp trồng trọt Trại sử dụng toàn bộ chất thải chăn nuôi đã qua sử lý để phục vụ trồng trọt, giảm được nạn ô nhiễm môi trường và sản phẩm của trồng trọt lại được sử dụng lại phục vụ cho chăn nuôi
Chăn nuôi heo: phương hướng chính của trại là sản xuất heo thịt, toàn bộ heo con cai sữa được giữ lại, chuyển sang nuôi thịt Trại cung cấp heo thịt cho những lò
mổ địa phương và cho các vùng lân cận Ngoài ra trại còn cung cấp heo giống, tinh heo, cho các hộ chăn nuôi địa phương
Chăn nuôi bò: trại nuôi khoảng 12 bò sữa giống Holstein Friesian, bê cái sinh
ra được giữ lại làm giống, còn bê đực thì bán loại Sản phẩm sữa được sử dụng để nuôi bê, nuôi heo con và cung cấp cho quán bán các sản phẩm có sữa bò
Trồng trọt: chủ yếu trồng cỏ voi cung cấp cỏ để nuôi bò, bê Nếu cỏ dư sẽ được bán cho các hộ chăn nuôi trong vùng Ngoài ra, trại còn trồng các loại hoa màu ngắn ngày và trồng theo phương pháp luân canh như: ớt, rau muống Sản phẩm rau củ quả được cung cấp cho nhu cầu trong trại và bán ra bên ngoài
2.1.3 Bố trí chuồng trại
Diện tích chuồng trại chiếm 2 900 m2
, các dãy chuồng được bố trí như sau: Dãy A1 và B1 là chuồng nái đẻ và nuôi con
Dãy A2.1 và A2.2 là chuồng nuôi heo cai sữa
Dãy A3 và B3 là chuồng nuôi heo nái hậu bị, nái khô và nái mang thai Dãy A4 là chuồng nuôi heo đực làm việc
Dãy A5.1, A5.2, A6, B6, B2 nuôi heo thịt
2.1.4 Cơ cấu đàn và công tác giống heo
Theo ghi nhận ngày 10/03/2011, trại có tổng đàn 1824 con, cơ cấu đàn heo tại trại như sau:
Nái sinh sản: 226 con
Nái hậu bị: 76 con
Đực làm việc: 11 con
Heo con theo mẹ: 407 con
Trang 15Heo con cai sữa: 235 con
Heo thịt: 869 con
Các giống heo chính được nuôi tại trại là Yorkshire, Duroc, Landrace x Yorkshire, Pietrain x Duroc Trại có lập gia phả giống đầy đủ để thuận tiện cho công tác lai giống Trại không ngừng lỗ lực để tìm ra công thức lai phù hợp với điều kiện kinh tế của trại nhằm cung cấp sản phẩm có chất lượng cao để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng
2.1.5 Chuồng trại
Chuồng nái đẻ và nuôi con: Được thiết kế dạng chuồng kín, để đảm bảo nhu cầu sinh lý của heo con theo mẹ và heo mẹ Đồng thời lắp hệ thống phun sương ở đầu chuồng, và hệ thống quạt hút ở cuối chuồng nuôi để làm mát cho heo, giảm bớt khí độc ở chuồng nuôi ở mỗi ô chuồng có đèn sưởi ấm cho heo con Mỗi chuồng nái đẻ được phân chia làm hai dãy, mỗi dãy có 16 ô cho nái đẻ và nuôi con (chuồng được thiết kế dạng chuồng lồng, sàn sắt) với kích thước 2,2 x 1,85 m
Chuồng nái mang thai và nái khô: Được thiết kế dạng chuồng hở, chia làm 3 dãy đều nhau với mỗi dãy là 30 ô cá thể kích thước mỗi ô 2 m x 0,8 m và có sân chơi Mỗi dãy được lắp hệ thống quạt ở giữa và cuối chuồng, phun sương ở phía trên
Chuồng heo đực giống: Dạng chuồng hở, mái lợp ngói, được thiết kế với quạt lùa cùng hệ thống phun sương, 2 bên có thêm mái che chắn nắng để giảm bớt nhiệt
độ khi nắng chiếu trực tiếp vào chuồng, diện tích chuồng 4 m2/con, có sân chơi Mỗi ngăn đều có máng ăn và núm uống riêng biệt
Chuồng nuôi heo cai sữa: chuồng được thiết kế dạng nóc đôi, mái lợp ngói, chiều dài 60 m, rộng 12 m, được chia làm hai dãy có vách ngăn bằng tường cách biệt hoàn toàn, xung quanh chuồng và nóc chuồng được che bằng bạt kín Đầu chuồng có
hệ thống phun sương và cuối chuồng có hệ thống quạt hút để điều hòa nhiệt độ bên trong chuồng cho thích hợp Bên trong mỗi dãy có 11 ô, mỗi ô chuồng có kích thước
4 x 2,5 m, chiều cao 0,8 m, riêng ô cuối cùng dành cho heo cai sữa sớm, heo còi Lối
đi cặp máng ngoài có vách ngăn Ở đầu chuồng được lắp máng ăn bán tự động có lỗ điều chỉnh thức ăn rơi xuống Mỗi ô có 2 núm uống tự động đặt ở gần góc của ô
Trang 16chuồng, núm dưới cách sàn chuồng 0,2 m, núm trên cách 0,4 m, luôn đảm bảo nước sạch cho heo uống
Hình 2.1 Toàn cảnh khu chuồng bố trí thí nghiệm Chuồng heo thịt: Dạng chuồng sàn bằng đà xi măng, mái lợp tôn có lớp bạt cách nhiệt, chuồng kín, ở cuối dãy chuồng được lắp đặt hệ thống quạt hút Mỗi chuồng chia làm 2 dãy, sau mỗi ô chuồng có hồ nước tắm Mỗi dãy có 11 ô, mỗi ô nuôi 10 con Cuối chuồng có ô dành riêng cho heo bệnh Mỗi ô chuồng có 1 máng ăn
và 1 núm uống riêng biệt
2.1.6 Thức ăn
Phần lớn thức ăn của trại cho các loại heo được trại mua nguyên liệu về, tự trộn với thành phần thực liệu có thể thay đổi tùy mùa vụ và giá thành của từng loại nguyên liệu nhưng luôn luôn đảm bảo đầy đủ, cân bằng dưỡng chất cho heo
Nái nuôi con sử dụng cám số 6, nái khô và nái mang thai đến 21 ngày tuổi sử dụng cám số 10 Đối với heo thịt từ giai đoạn 63 ngày tuổi đến khi xuất chuồng sử dụng cám C, cám D, cám 6 và cám 7 Riêng thức ăn cho heo con theo mẹ và thức ăn heo con cai sữa giai đoạn đầu được mua từ công ty Cargill Heo con 7 – 10 ngày tuổi bắt đầu tập ăn bằng cám viên đỏ và vàng dành cho heo con tập ăn của công ty Cargill
Trang 17Bảng 2.1 Thành phần thực liệu các loại thức ăn của heo thịt giai đoạn 63 ngày
tuổi đến xuất chuồng
2.1.8 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
a Heo nái
Lượng thức ăn:
Nái trước khi sinh 1 tuần cho ăn mức từ 1,4 – 1,7 kg/ngày, ngày ăn 2 lần Sau khi sinh cho ăn hạn chế 5 ngày đầu, sau 5 ngày cho ăn tự do tùy theo khả năng của nái Trong giai đoạn này nái ăn nhiều nhất có thể đạt 6 kg/ngày, những ngày còn lại
Trang 18từ 2,5 – 3,8 kg/ngày Tuy nhiên, trong những ngày lên giống nái thường không ăn hoặc ăn rất ít Sau khi phối cho đến 21 ngày sau lượng thức ăn cho nái là 2,7 – 3 kg/ngày
Chăm sóc:
Nái khô và nái mang thai: tắm và xịt rửa chuồng 1 lần vào buổi sáng, buổi chiều được làm mát bằng hệ thống phun sương khi trời nóng, thường xuyên theo dõi nái cai sữa để kiểm tra sự lên giống và phối giống đúng lúc
Nái sắp sinh: được chuyển đến chuồng nái đẻ 1 tuần trước khi sinh, tắm rửa nái sạch sẽ, tắm nhiều lần trong ngày tùy thuộc nhiệt độ bên trong chuồng nuôi
Nái sinh và nuôi con: thường xuyên theo dõi nái lúc sinh đẻ để kịp thời can thiệp cho những ca đẻ khó Sau khi nái sinh xong tiêm 4 ml Oxytoxin (chứa 40 UI) để tống hết nhau ra ngoài, đếm số nhau, kiểm tra kỹ còn nhau hay không để tránh tình trạng sót nhau và con Tiêm kháng sinh Duphaben Strep B.P liều 1 ml/10 kg thể trọng
để ngăn ngừa sự nhiễm trùng tử cung, trong vòng 3 ngày nái được rửa tử cung ngày 2 lần bằng thuốc tím 0,1 %, theo dõi dịch hậu sản để kịp thời điều trị nếu nái có biểu hiện viêm nhiễm Bên cạnh đó, lượng thức ăn của nái cũng được theo dõi kỹ, đo thân nhiệt của những nái không ăn hoặc ăn ít
Nái sinh khó, sốt cao, yếu sức trong và sau khi đẻ được tiêm truyền Glucose
5 % có bổ sung Analgin, Vitamin C, Oxytetra hoặc Calcium B12, tiêm bắp Vimexysone Nái nuôi con không tắm, chỉ xịt rửa chuồng, máng ăn và làm mát khi heo con đã lớn nhưng hạn chế không làm ướt heo con
b Heo con theo mẹ
Thực hiện các thao tác lau nhớt ở miệng, nhúng bột Mistral, cắt rốn, bấm tai, bấm răng, cân trọng lượng sơ sinh và tách ghép bầy hợp lý
3 ngày: Tiêm Fe-dextran 100 mg với liều 2 ml/con
4 ngày: Uống Baycox 5 % ngừa cầu trùng gây tiêu chảy
7 ngày: Chích ADE lần một, liều từ 1 – 2 ml/con
7 – 10 ngày: Tuổi tập ăn cho heo con và thiến đực
Trước khi cai sữa 1 ngày chích ADE lần 2 liều 1 ml/con
Trang 19Trong thời gian này không tắm cho heo con Quan sát heo ngày 2 – 3 lần để phát hiện heo tiêu chảy và các bất thường khác
c Heo con cai sữa đến 63 ngày tuổi
Thức ăn cho heo con cai sữa đến 63 ngày tuổi:
3 ngày đầu: pha trộn với tỷ lệ 2 cám đỏ : 1 cám vàng
4 – 5 ngày: pha trộn với tỷ lệ 1 cám đỏ : 1 cám vàng
6 – 7 ngày: pha trộn với tỷ lệ 1 cám đỏ : 2 cám vàng
Heo được theo dõi hằng ngày để kịp thời phát hiện và can thiệp khi heo bệnh Những loại thuốc được dùng như: Ampi-Colistin, Duphaben Strep B.P, Penicilline, Streptomycine,
d Heo đực giống
Mỗi ngày cho ăn 2 lần vào 7 giờ sáng và lúc 5 giờ chiều Lấy tinh theo chu kỳ
2 – 3 lần/tuần tùy vào tình trạng sức khỏe của heo.Đực giống được tắm rửa sạch và làm mát khi trời nắng nóng
đ Heo thịt giai đoạn 63 ngày tuổi đến xuất chuồng
Đối với heo nhỏ: khi mới nhập qua nuôi heo thịt thì trong vòng 1 tuần đầu khi thời tiết lạnh nên hạn chế tắm heo, chỉ vệ sinh máng ăn và nền chuồng
Đối với heo lớn: mỗi ngày vệ sinh nền chuồng và máng ăn lúc 7 giờ sáng, tắm heo và
vệ sinh chuồng trại lúc 10 giờ sáng hoặc 14 giờ chiều tùy theo lịch làm việc của công nhân
Trang 20Thức ăn cho heo thịt:
Khi mới xuống ăn cám C (2 ngày) rồi pha với cám D theo các tỷ lệ: 3 cám C :
1 cám D (2 ngày), 2 cám C : 1 cám D (2 ngày), 1 cám C : 1 cám D (2 ngày), 2 cám D : 1 cám C (2 ngày), 3 cám D : 1 cám C (2 ngày), rồi chuyển sang cám
D cho ăn đến khi heo được 3,5 tuần
Sau đó pha cám D với cám số 6 theo các tỷ lệ: 3 cám D : 1 cám 6 (2 ngày), 2 cám D : 1 cám 6 (2 ngày), 1 cám D : 1 cám 6 (2 ngày), 2 cám 6 : 1 cám D (2 ngày), 3 cám 6 : 1 cám D (2 ngày), rồi chuyển sang cám 6 cho ăn đến khi heo được 7,5 tuần
Tiếp tục pha cám 6 với cám 7 theo các tỷ lệ: 3 cám 6 : 1 cám 7 (2 ngày), 2 cám
6 : 1 cám 7 (2 ngày), 1 cám 6 : 1 cám 7 (2 ngày), 2 cám 7 : 1 cám 6 (2 ngày), 3 cám 7 : 1 cám 6 (2 ngày), đến giai đoạn này thì chuyển qua ăn cám 7 đến khi xuất chuồng
2.1.9 Vệ sinh thú y
Chuồng trại
Bố trí hố sát trùng chân, nước sát trùng tay ở cổng ra vào và ở đầu mỗi chuồng, thuốc sát trùng được thay đổi mỗi ngày
Phun thuốc sát trùng xe vào trại mua bán heo, bò, cung cấp nguyên liệu thức
ăn Sau mỗi đợt bán, chuyển heo chuồng trại được vệ sinh bằng xà phòng và phun xịt
kỹ bằng vòi nước cao áp Sau đó phun thuốc sát trùng Farm Fluid hoặc Benkocid 1 lần/ngày trong 2 ngày và để trống chuồng 1 tuần trước khi nhận heo mới Ngoài ra, các dụng cụ trong chuồng cũng được rửa sạch, ngâm thuốc sát trùng và phơi khô
Quét dọn xung quanh, nạo vét cống rãnh, đường mương thoát nước định kỳ vào đầu mỗi tháng
Công nhân và khách tham quan
Công nhân được khám sức khỏe định kỳ và mang trang bị bảo hộ lao động: quần, áo, ủng, không đi qua lại giữa các chuồng
Trang 21Khách tham quan trước khi vào cổng phải đi qua hố sát trùng chân và có thau nước để sát trùng tay Khách tham quan phải mặc áo blouse và mang ủng mới được vào khu vực chăn nuôi
Các loại thuốc sát trùng thông dụng: Farm Fluid, Benkocid, vôi, với nồng độ tùy thuộc hướng dẫn của từng loại thuốc và có sự luân phiên thay đổi thuốc thường xuyên để tránh sự đề kháng của mầm bệnh
2.1.10 Bệnh và điều trị
Heo được theo dõi hằng ngày để kịp thời phát hiện và có biện pháp can thiệp nếu có cá thể nào bệnh Việc điều trị bệnh cho heo do bộ phận thú y của trại trực tiếp thực hiện
Các loại thuốc thường được sử dụng để điều trị bệnh như: Ampi-Colistin, Duphaben Strep B.P, Tyamulin, Oxytetra, Tylo D.C Fort, Multibio,
Thuốc sát trùng vết thương: xanh Methylen 0,5 %, cồn Iod
Thuốc giảm đau hạ sốt – kháng viêm: Analgin-C, MD-Dexa
Vitamin: vitamin C, ADE,
2.1.11 Quy trình tiêm phòng
Trang 22Bảng 2.2 Quy trình tiêm phòng của trại chăn nuôi Hưng Việt
Bệnh Quy trình tiêm phòng của trại
+ Nọc, nái: 2 lần/năm vào tháng 3 và tháng 9
+ Heo con cai sữa: 2 lần lúc 35 – 37 ngày tuổi và 65 – 68 ngày tuổi
Dịch tả
+ HBPD: 1 lần sau khi chọn làm giống
+ Nái sinh sản: 2 lần/năm sau khi đẻ 7 ngày và tiêm nhắc lại sau khi đẻ 7 ngày lứa sau
+ Heo con cai sữa: 1 lần lúc 42 – 47 ngày tuổi
(Nguồn: Phòng kỹ thuật trại Hưng Việt)
Trang 232.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.2.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của heo con
2.2.1.1 Sự phát triển về kích thước bộ máy tiêu hóa của heo con
Theo Trần Cừ và ctv (1985), bộ máy tiêu hóa ở heo con phát triển rất nhanh Heo sơ sinh, dung tích dạ dày nhỏ, đến 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần, ở 20 ngày tuổi thì sức chứa của dạ dày đạt 200 ml và đến 2 tháng tuổi có thể chứa 2 lít Ở ngày đầu dung tích ruột non khoảng 100 ml, 20 ngày sau đã tăng 7 lần và đến tháng thứ 3 đạt được 6 lít Ruột già ở heo sơ sinh có dung tích 40 – 50 ml, 20 ngày tăng lên 100 ml
và sau đó tăng rất nhanh cả về trọng lượng đến chiều dài ruột
Bộ máy tiêu hóa của heo con trong những ngày còn theo mẹ chưa phát triển hoàn toàn Lúc này heo chỉ nhận được nguồn dinh dưỡng duy nhất là sữa mẹ, một loại thức ăn giàu dinh dưỡng và rất dễ tiêu hóa Khi chuyển qua giai đoạn sau cai sữa, nguồn thức ăn cho heo con thay đổi đáng kể về thành phần chất lượng và dinh dưỡng Để thích nghi với những thay đổi, bộ máy tiêu hóa của heo con phải trải qua quá trình phát triển nhanh về kích thước, dung tích và hoạt động sinh lý để có thể tiêu hóa, sử dụng nhiều chất dinh dưỡng hơn Sự phát triển nhanh về kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa được ghi nhận trong bảng sau:
Bảng 2.3 Kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa heo con từ sơ sinh đến 70
Dung tích (ml)
Chiều dài (m)
Dung tích (ml)
Trang 24Qua Bảng 2.3 ta nhận thấy, kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa của heo con chỉ phát triển mạnh ở giai đoạn từ 20 – 70 ngày tuổi, giai đoạn từ sơ sinh đến 20 ngày tuổi kém phát triển Do đó khả năng hoạt động của bộ máy tiêu hóa heo con trong giai đoạn này còn kém nên khi heo con chuyển qua thức ăn hỗn hợp sẽ rất dễ gây bệnh đường ruột, nhất là tiêu chảy
2.2.1.2 Sự phát triển hệ thống enzyme tiêu hóa của heo con
Sự phát triển bộ máy tiêu hóa heo con ngoài việc phát triển về kích thước, dung tích, trọng lượng còn gắn liền với sự phát triển ngày càng hoàn chỉnh sự phân tiết HCl ở dịch vị và hệ thống enzyme tiêu hóa để có thể tiêu hóa hữu hiệu thức ăn cung cấp
Một số kết quả nghiên cứu cho rằng, đối với heo con tách mẹ sớm thì hoạt tính amilase nước bọt cao nhất ở ngày thứ 14, còn heo con theo mẹ thì hoạt tính này phải đến ngày 21 mới có hiệu quả cao (Đào Trọng Đạt, 1995)
Biểu đồ 2.1 Hoạt tính amilase nước bọt theo tuổi ở heo con (Catron, Baker
Trang 25Heo con mới sinh, sự phân tiết các enzyme tiêu hóa ở dạ dày và ruột rất kém, chỉ đủ sức tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản, dễ tiêu như sữa mẹ (Nguyễn Như Pho, 2001) Trong dạ dày, độ acide của dạ dày liên quan chặt chẽ đến sự tiêu hóa sữa của heo con Ở heo sơ sinh khả năng tiết HCl rất ít, chỉ đủ để hoạt hóa enzyme pepsinogen thành pepsin Do pepsin hoạt động yếu, sự ngưng kết sữa nhờ vào chymosin nên sự tiêu hóa protein nhờ vào enzyme trypsin của tuyến tụy Mặt khác, heo con trước một tháng tuổi trong dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do, vì lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhầy, đây là hiện tượng “thiếu HCl” trong dịch vị nên vi sinh vật gây bệnh có điều kiện phát triển từ đó gây ra bệnh đường dạ dày – ruột ở heo con mà điển hình là bệnh tiêu chảy phân trắng ở heo con (A V Kvasnhaxki, trích dẫn bởi Trần Cừ, 1972)
Heo con giống như những gia súc non khác, tiêu hóa dạ dày chỉ là mới bắt đầu, ruột non mới là nơi tiêu hóa chủ yếu Quá trình tiêu hóa ở ruột non rất phức tạp
vì dịch tụy, dịch mật và dịch ruột đều đổ vào đây Trong 2 tuần đầu, heo con sử dụng rất ít hoặc không sử dụng được glucid do thiếu enzyme amilase của tuyến tụy
và maltase của ruột Amilase của tuyến nước bọt nhiều nhất vào lúc 2 – 3 tuần tuổi
và sau đó giảm 50 % Hoạt tính amilase của tuyến tụy lúc đầu kém, sau đó mạnh từ
3 – 5 tuần tuổi, do đó thời kỳ này là một thời điểm thuận lợi cho heo con cai sữa Ở heo 2 tuần tuổi đầu, enzyme maltase có hoạt tính thấp, sau đó tăng theo tuổi và đạt tối đa ở 4 – 5 tuần tuổi, còn saccharase chỉ có sau 2 tuần tuổi Hoạt tính lipase tuy từ lúc mới sinh đến 1 tháng tuổi rất cao, sau đó giảm dần theo tuổi rõ rệt Trước 20 ngày tuổi cho đến 1 tháng tuổi dạ dày heo con hầu như không tiêu hóa được protein thực vật Hoạt tính của enzyme lactase cũng giảm dần qua các lứa tuổi nên đây là một trở ngại cho việc sử dụng một chế độ ăn có nhiều enzyme lactase sau một lứa tuổi nhất định Ở heo 1 tháng tuổi, lượng dịch tiêu hóa do các tuyến tiêu hóa chính (nước bọt, dạ dày, dịch tụy và dịch mật) tiết trong một ngày đêm khoảng 1,2 – 1,7 lít Lượng dịch tiêu hóa một ngày đêm cũng tăng đáng kể nếu tăng thêm thức ăn thô xanh vào khẩu phần (Trần Cừ và Nguyễn Khắc Khôi, 1985)
Trang 26Biểu đồ 2.2 Hoạt tính một số enzyme tiêu hóa heo con (trích dẫn tài liệu của
Công Ty dinh dưỡng Á Châu ANT, Dr Nupark)
Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1995), heo mới sinh không có sự sản sinh acid trong dạ dày Điều đó làm cho các globulin miễn dịch trong sữa đầu cũng như vi khuẩn đi qua dạ dày vào ruột một cách dễ dàng Khi còn theo mẹ heo con đã quen với sự tiêu hóa và hấp thu sữa từ đó sẽ làm gia tăng dòng vi khuẩn có lợi
Lactobacillus spp trong dạ dày và đường ruột Nhóm vi khuẩn này sử dụng đường lactose trong sữa để sản sinh acid lactic, là nguyên nhân giảm pH trong dạ dày Sự acid hóa này nhằm thúc đẩy quá trình tiêu hóa, ngăn chặn sự phát triển của các loại
vi sinh vật có hại cho heo con
Heo cai sữa, do thay đổi thức ăn mới khó tiêu hóa hơn sẽ làm tăng pH của đường tiêu hóa, nhóm vi khuẩn có lợi sẽ nhanh chóng giảm số lượng và sau đó là sự sinh sôi và phát triển của các dòng vi khuẩn có hại khác trong đường ruột Nếu những vi khuẩn có hại này có cơ hội thuận lợi, chúng sẽ tăng nhanh về số lượng, lấn
áp các nhóm vi khuẩn có lợi và gây nên hiện tượng loạn khuẩn đường tiêu hóa, từ
đó gây tiêu chảy và các bệnh khác và cuối cùng là ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng của heo con
Bảng 2.4 pH ở những đoạn khác nhau của ống tiêu hóa heo con sau cai sữa
Trang 27Sự thay đổi pH làm cho heo con trở nên nhạy cảm với các tác nhân tác động đến nó, pH trong ống tiêu hóa ở những ngày đầu sau cai sữa thấp, sau đó tăng lên nhiều vào các ngày tiếp theo, đó là do sự thay đổi thức ăn từ sữa mẹ sang thức ăn dặm, điều này rất bất lợi cho đường tiêu hóa vì không những ảnh hưởng đến sự phân tiết của các enzyme tiêu hóa mà còn tạo cơ hội cho vi sinh vật gây bệnh phát triển gây rối loạn tiêu hóa
Theo Hampson và Kidder (1986), màng nhày ruột non có những thay đổi khi heo được cai sữa ở 3 – 4 tuần tuổi So với trước khi cai sữa, nhung mao ngắn đi 75
% trong vòng 24 giờ và tình trạng ngắn này vẫn tiếp tục nhưng giảm dần cho đến ngày thứ 5 sau cai sữa Việc giảm chiều dài của nhung mao và hình dạng chưa trưởng thành của quần thể tế bào ruột do tốc độ thay thế nhanh nên đây cũng là một
trong những nguyên nhân heo con dễ bị tiêu chảy và tăng nhạy cảm với bệnh E coli
trong giai đoạn sai sữa (Trần Thị Dân, 2003)
Sự chuyển đổi enzyme từ khi sơ sinh đến 8 tuần tuổi, sự thay đổi hình thái nhung mao trong ruột, toàn bộ vùng hấp thu và tiêu hóa ở ruột non bị giảm thấp: protein huyết tương, oxide kẽm và đường lactose có trong thức ăn tập ăn được cho rằng có tác dụng tốt trong việc ngăn chặn hoặc làm giảm tình trạng giảm trọng ở heo cai sữa (John, J.Mc Glone và Anna K Johnson, 2002, dẫn liệu từ Phạm Ngọc Minh Thư)
Tóm lại: Bộ máy tiêu hóa heo con phát triển chưa hoàn chỉnh về kích thước
và hệ thống men tiêu hóa, đồng thời rất dễ bị stress do điều kiện ngoại cảnh, do đó
việc cai sữa phải tiến hành từ từ, thức ăn tập ăn phải thơm ngon (tốt nhất là giống mùi sữa mẹ), đầy đủ thành phần dinh dưỡng, dễ tiêu hóa
2.2.1.3 Đặc điểm hấp thu qua thành ruột
Theo Laskowski và ctv (1957), Hedbom (1958), trong sữa đầu có chất ức chế trypsin do đó globulin trong sữa đầu không được trypsin tiêu hóa và bảo vệ protein
khỏi bị phân hủy (trích dẫn bởi Vũ Duy Giảng và ctv, 1971), điều này giúp xảy ra quá trình hấp thu kháng thể từ sữa mẹ và những tiểu phần protein khác bằng con
Trang 28đường vận chuyển chọn lọc chủ động hoặc bằng cách ẩm bào Chính vì thế mà chỉ vài giờ sau khi sinh, nồng độ kháng thể trong máu heo con tăng từ 3,5 – 7 %
Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu mà không nguy hiểm cho heo con
vì thời gian này heo con chưa hình thành kháng thể (Trần Cừ và ctv, 1985)
Ở sữa đầu, ngoài những dưỡng chất thiết yếu, còn chứa một lượng kháng thể (γ-globulin) khá cao, loại kháng thể này chủ yếu là IgG Tuy nhiên, vi sinh vật có
hại trong đường tiêu hóa thường hiện diện trên bề mặt màng nhày ruột, đó là nơi IgG hiếm xuất hiện và hoạt động không hữu hiệu Khi sữa đầu ngưng sản xuất, hàm lượng IgG giảm nhanh, IgA được thay thế để trở thành loại kháng thể chính trong
sữa thường Kháng thể IgA trong sữa đề kháng với enzyme tiêu hóa nên ít bị hủy bởi đường ruột, do đó chúng tồn tại để bảo vệ niêm mạc ruột, chống lại sự tấn công
của vi sinh vật có hại trong đường tiêu hóa của heo con (Trần Thị Dân, 2003)
Ở heo sơ sinh khả năng hấp thu kháng thể trong sữa đầu chỉ xảy ra trong vòng 36 – 48 giờ sau khi sinh Cơ chế này giúp cho đường ruột của heo sơ sinh giới
hạn hấp thu những chất gây bệnh Nếu heo con bú đủ và hấp thu tốt kháng thể thì hiệu giá kháng thể trong máu của heo sơ sinh gần bằng hiệu giá kháng thể trong máu heo mẹ ở 24 giờ sau khi sinh (Trần Thị Dân, 2003)
2.2.2 Nguyên nhân gây r ối loạn tiêu hóa và bệnh tiêu chảy ở heo con
Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1995), nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy của heo con là do nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, chủ yếu là do vi khuẩn E coli, Salmonella,
ký sinh trùng đường tiêu hóa, trúng độc các loại hóa chất, thời tiết khí hậu bất lợi, thay đổi thức ăn đột ngột hay do chăn nuôi không đúng kỹ thuật
2.2.2.1 Do vi khu ẩn
Khi bất cứ một tác nhân gây stress nào đó tác động đến hệ vi sinh vật đường tiêu hóa sẽ gây ảnh hưởng tới sự cân đối của quần thể vi khuẩn cư trú có sẵn trong đường tiêu hóa, đều có thể tạo thuận lợi cho những loài vi khuẩn bất lợi phát triển, chúng sẽ tăng nhanh về số lượng, lấn áp các nhóm vi khuẩn có lợi và gây hiện tượng loạn khuẩn đường ruột là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh đường tiêu hóa
Trang 29Theo Cù Hữu Phú (1999), nguyên nhân gây tiêu chảy ở heo con chủ yếu là
do vi khuẩn E coli chiếm tỷ lệ 85,71 % (trích dẫn từ Trương Lăng, 2005)
2.2.2.2 Do virus
Người ta cũng chứng minh được virus là một tác nhân gây tiêu chảy, thường thấy là Rotavirus, Coronavirus…
Tiêu chảy do bệnh viêm dạ dày – ruột truyền nhiễm
Theo woods và ctv (1996), bệnh viêm dạ dày – ruột truyền nhiễm có tỷ lệ chết cao nhất ở heo con dưới 1 tuần tuổi Tiêu chảy thường bắt đầu 16 – 30 giờ sau khi heo con tiếp xúc với virus Dấu hiệu ban đầu là heo con nôn mửa sau đó tiêu
chảy rất nhanh, heo bị mất nước, tai cụp, lông xù, heo gầy sút nhanh và chết sau vài ngày
Bệnh viêm dạ dày – ruột truyền nhiễm do ARN virus, thuộc nhóm Coronavirus gây ra Virus có vỏ bọc dễ bị phá hủy bởi các chất sát trùng nhưng chúng có khả năng kháng acid
2.2.2.3 Do ký sinh trùng
Tác động thông qua việc tranh chấp chất dinh dưỡng với ký chủ, tiết độc tố, làm giảm sức đề kháng và làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, tạo điều kiện cho các tác nhân khác tấn công gây bệnh
2.2.2.4 Do nuôi dưỡng không đúng kỹ thuật
Thay đổi nhiệt độ: theo Straw và ctv (1996), nhiệt độ lạnh hay biến động nhiệt độ lớn trong ngày đều có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây bệnh tiêu chảy của heo, khi nhiệt độ môi trường thấp sẽ làm giảm nhiệt độ cơ thể và làm
giảm khả năng thực bào các tác nhân lây nhiễm
Stress: các stress như cai sữa, nhốt lẫn với heo lạ có khả năng ngăn chặn
chức năng của hệ thống miễn dịch Một số stress khác nhau làm tăng mức cortisol
và các hormone khác trong hệ tuần hoàn của heo Cortisol hoạt động làm giảm sức
đề kháng miễn dịch đối với các tác nhân lạ Cai sữa làm giảm đột ngột kháng thể
thụ động cung cấp từ sữa và cùng với các stress khác sẽ làm tăng sự mẫn cảm của heo con với các bệnh đường ruột sau cai sữa (Straw và ctv, 1996)
Trang 30Vệ sinh chuồng trại không hợp lý cũng là nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở heo con sau cai sữa
2.2.3 Vài nét về nguyên tố vi lượng kẽm
2.2.3.2 H ấp thu và chuyển hóa kẽm
a Sự phân bố kẽm trong cơ thể
Kẽm được phân bố trong tất cả các mô bào của cơ thể, nhưng tập trung cao
nhất trong gan, xương, thận, mắt, da, tóc và lông Ngoài ra còn tập trung nhiều ở tuyến tụy, tuyến yên và trong các tuyến sinh dục
Kẽm là một thành phần của nhiều enzyme và phân bố kẽm trong mô liên quan mạnh mẽ đến hệ thống enzyme phân bố trong mô đó như khi có nhiều kẽm trong xương thì nồng độ alkaline phosphate trong xương cũng cao Nồng độ kẽm
tập trung cao trong tuyến tụy có lẽ liên quan đến sự hiện diện của kẽm trong enzyme tiêu hóa và cả hormon insulin, hormon này được tiết ra từ tuyến tụy
b Sự hấp thu kẽm
• Vị trí hấp thu
Kẽm được hấp thu chủ yếu ở dạ dày múi khế và ruột non từ tá tràng, không tràng đến cả hồi tràng (trong đó hấp thu nhiều nhất là tại không tràng) Chỉ có một lượng ít được hấp thu ở dạ dày và đại tràng
• Các yếu tố trong lòng ống
Trong quá trình tiêu hóa các enzyme tiêu hóa giải phóng kẽm tự do từ các
phức hợp của thức ăn hay các phối tử (ligand) của phần kẽm nội sinh Từ đó kẽm tự
do lại được gắn kết với các phối tử ngoại sinh và nội sinh khác nhau như amino acid, phosphate và các acid hữu cơ khác Trong histidin và cysteine là 2 amino acid
Trang 31phối tử ưa thích nhất của kẽm, một số nghiên cứu cho thấy phức hợp Zn-histidin hấp thu hiệu quả hơn 30 – 40 % so với sulphate-Zn
pH trong lòng ruột không ảnh hưởng đến sự thu nhận kẽm Sự có mặt của các ion kim loại hóa trị hai như sắt có thể cạnh tranh với kẽm trong việc gắn kết vào
tế bào niêm mạc Canxi làm tăng bài tiết kẽm và do đó làm giảm tỷ lệ hấp thu kẽm Ngoài ra, một số thay đổi về sinh lý và tình trạng bệnh lý như nhịn đói, có thai, nhiễm khuẩn… cũng làm thay đổi sự hấp thu kẽm (Nguyễn Xuân Ninh, 2005)
• Các y ếu tố tế bào
Sự thu nạp kẽm vào tế bào niêm mạc ruột theo hai cơ chế: khuyếch tán và qua trung gian chất chuyên chở Khi nồng độ kẽm trong lòng ruột thấp, thì cơ chế qua trung gian chất chuyên chở là ưu thế, cơ chế này không đòi hỏi năng lượng khi khẩu phần ăn có nhiều kẽm thì cơ chế khuyếch tán chiếm ưu thế
Sự sử dụng kẽm trong tế bào thay đổi, kẽm gian bào thì được tế bào sử dụng, trở nên gắn chặt với metallothionine và giữ bên trong tế bào hoặc đi xuyên qua tế bào Quá trình đi xuyên qua tế bào gây ra sự chuyển vận kẽm vào lòng ruột hoặc vào hệ thống tuần hoàn Kẽm bị kẹt lại trong tế bào cuối cùng sẽ bị mất vào phân theo chu kỳ đổi mới bình thường của tế bào biểu bì ruột
Kẽm được phóng thích vào mao mạch màng treo ruột, rồi được tĩnh mạch
cửa chuyên chở về gan (trích dẫn từ Trần Thị Thanh Tâm, 2004)
• S ự điều hòa hằng định nội mô của kẽm
Sự điều hòa hằng định nội mô của kẽm liên quan đến sự cân bằng giữa hấp thu kẽm từ thức ăn và chế độ nội sinh kẽm Kẽm được hấp thu dưới dạng ion Zn2+
Ruột non (đặc biệt là tá tràng và không tràng) là cơ quan chính để duy trì cân bằng kẽm, vì đó là nơi kẽm được hấp thu, đào thải lớn nhất Nguồn gốc kẽm nội sinh có
thể là hỗn hợp dịch tiết từ tụy và tế bào ruột
Kẽm trong thức ăn là yếu tố điều hòa lớn nhất với hấp thu kẽm Khẩu phần
ăn có hàm lượng kẽm thấp làm sự hấp thu kẽm tăng lên Trong thức ăn kẽm được
hấp thu từ 20 – 30 %, sự hấp thu kẽm giảm đi nếu trong khẩu phần có nhiều chất
xơ, phytate, phosphate nhưng lại tăng nếu trong khẩu phần có nhiều acid amin và
Trang 32peptide Ngoài ra nồng độ canxi trong khẩu phần ăn quá cao gây giảm hấp thu kẽm (Good H.F và ctv, 1993, dẫn liệu từ Trần Thị Thanh Tâm, 2004) Metalloenzym có
một vai trò quan trọng trong điều hòa kẽm huyết tương thông qua cơ chế giữ cân
bằng thể dịch nhằm đáp ứng với hàm lượng kẽm khác nhau trong thức ăn (Nguyễn Xuân Ninh, 2005)
Theo Võ Văn Ninh (2003), nhiều yếu tố liên quan đến sự hấp thu kẽm như:
chất đồng, acid phytic, cadimium, cobalt, EDTA (ethylene diamine tetracetic acid), histidin, calcium Đặc biệt là sự hiện diện của các chất kết nối phân tử nhỏ như histidine và cystine trong thức ăn như đậu nành và bắp làm gia tăng sự hấp thu kẽm
• S ự vận chuyển và dự trữ kẽm
Sau khi được hấp thu tại ruột non, kẽm vào máu tuần hoàn, 2/3 lượng kẽm được gắn vào albumin huyết thanh và đây là dạng vận chuyển chủ yếu tới mô, 1/3 lượng kẽm còn lại được gắn với α2 macroglobulin, một phần với haptoglobulin, tranferin và ceruloplasmin Chỉ có 2 % kẽm siêu lọc gắn với acid amine (histidine
hoặc glutamin), trong cơ thể chỉ có 1 % kẽm trong máu tuần hoàn còn 99 % trong các mô Không có cơ quan dự trữ kẽm trong cơ thể nên khi có stress nhân tố kẽm bị thay đổi: kẽm ở xương và ở cơ tới gan để tới nơi cần như vết thương, ổ nhiễm khuẩn và mô tân tạo Do vậy định lượng kẽm khi cơ thể đang có stress không chính xác (Hambidge K M., 1985, trích dẫn bởi Hoàng Thị Thanh, 1999)
Theo Tôn Thất Sơn (2005), chuyển hóa kẽm trong cơ thể bị điều hòa bởi tuyến giáp trạng Glucocorticoid là nguyên nhân làm tích lũy kẽm trong gan và gia tăng lượng kẽm trong huyết tương Tuy nhiên, những hormone làm gia tăng dịch chuyển kẽm trong mô chưa được biết rõ
• Bài tiết kẽm
Kẽm được bài tiết chủ yếu qua phân Kẽm trong phân bao gồm kẽm không
hấp thu từ thức ăn và kẽm trong dịch tiết nội sinh Hầu hết phần kẽm nội sinh đều được tái hấp thu ở không tràng Duy trì vòng tuần hoàn kẽm – tụy – ruột nguyên
vẹn rất quan trọng để duy trì lượng kẽm cơ thể Ở loài nhai lại kẽm được bài tiết qua thành dạ cỏ và đoạn trên ruột non (Lê Văn Thọ và ctv, 1992)
Trang 33Mặt khác, kẽm được bài tiết theo nước tiểu mỗi ngày Lượng kẽm mất qua nước tiểu chỉ thay đổi khi khẩu phần ăn thiếu hoặc dư kẽm quá nhiều Glucagon có
thể điều hòa sự tái hấp thu kẽm tại ống lượn xa của thận Các tình trạng dị hóa như
phẫu thuật lớn, chấn thương hay nhịn đói dài ngày thì sẽ làm tăng lượng kẽm bài tiết qua nước tiểu đáng kể
2.2.4 Nhu cầu và nguồn cung cấp kẽm
2.2.4.1 Nhu cầu kẽm trong khẩu phần
Nhu cầu kẽm của heo phụ thuộc vào lượng Mg, K, Cu, muối ăn và vitamin D trong khẩu phần Khi ước tính nhu cầu, phải biết loại kẽm dễ tiêu hóa như vậy mới
hiệu quả: kẽm trong muối sulphate, carbonate, chlorid và bụi kẽm hấp thu 100 %, oxide kẽm hấp thu kém 50 – 80 % (Lê Hồng Mận và ctv, 2003)
Theo NRC (1988), nhu cầu kẽm của heo tính theo thức ăn khô không khí như sau: nhu cầu 50 ppm, mức dung nạp 1000 ppm, độ độc 4000 ppm (dẫn liệu từ Bùi Đức Lũng và ctv, 1995)
2.2.4.2 Vai trò c ủa kẽm
Kẽm là một thành phần của nhiều enzyme nguyên kim loại metalloenzyme như: phosphatase, alkaline phosphatase, carboxyl-peptidase, carboxyanhhydrase, aminpeptidase, glutamin dehydrogenase… Kẽm cũng liên quan tới hoạt động tuyến tụy với sự tổng hợp insulin (Dương Thanh Liêm và ctv, 2002) Kẽm tham gia chuyển hóa một số vitamin nhất là vitamin A và ức chế histaminase Ngoài ra, kẽm được xem là chất xúc tác không thể thiếu được ARN – polymeraza và đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp gen, cho sự sao chép ADN có sẵn để tế bào nhân lên, kẽm còn can thiệp vào khả năng thể hiện của gen và quá trình tổng hợp protein, cũng như trong chuyển hóa của acid béo không no tạo ra màng tế bào Mặt khác kẽm có liên quan đến hệ thống miễn dịch, kẽm cần cho cấu trúc và hoạt động
của chất thymulin do tuyến ức tiết ra, tuyến này kích thích sự phát triển của tế bào lympho T, cũng như giữ cân bằng điện giải và còn là vai trò quan trọng trong biến dưỡng protein, carbonhydrate và lipid
Trang 34Kẽm đóng vai trò lớn trong hoạt động sinh dục và sinh sản của gia súc, kẽm giúp tăng cường tổng hợp FSH, testosteron và đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp, cấu trúc, bài tiết nhiều hormon khác: insulin, hormon tăng trưởng, NGF (yếu tố tăng trưởng của dây thần kinh), thymulin, gestinin…Kẽm còn ảnh hưởng lên hoạt tính của hormon prolactin điều khiển quá trình tiết sữa và các hormon sinh dục foliculin và prolamin Kẽm chứa một lượng khá cao trong tinh
dịch
Những công trình gần đây cho thấy vai trò quan trọng của kẽm trong cấu trúc
và hoạt động của các tác nhân cơ bản trong việc ngăn ngừa ung thư, cũng như ngăn
chặn sự sinh sản của tế bào bất thường, các tế bào mà ADN của chúng bị hư hỏng bởi những gốc tự do và chất ô nhiễm Ngoài ra, kẽm là một chất chống oxy hóa
nhằm chống lại tổn thương của mô như trong các trường hợp nhiễm trùng và nhiễm các chất độc như aflatoxin (Lan Phương, 2001)
2.2.4.3 Dấu hiệu thiếu kẽm
Dấu hiệu đầu tiên của sự thiếu kẽm là nhiều giai đoạn enzyme của quá trình tổng hợp protein bị ngăn trở Sự tổng hợp ADN bị ngăn trở dẫn đến ngăn trở phân chia tế bào Tuy nhiên, thiếu kẽm lại hoạt hóa Rnaza, sự tổng hợp ARN thông tin bị
chậm lại trong khi đó ARN đã được tổng hợp lại bị thoái hóa do những hoạt động của Rnaza tăng lên (Underwood, 1997, dẫn liệu từ Bùi Đức Lũng và ctv, 1995)
Thiếu kẽm làm chậm sự tạo thành của xương và liên quan đến việc giảm sự phân chia và sự sinh sản của sụn đầu xương Alkaline phosphate trong xương giảm, mật độ xương cũng giảm và thành phần kẽm trong xương và gan giảm Thiếu kẽm làm giảm sự trao đổi canxi của xương, nên kẽm cần cho sự chuyển hóa bình thường
của canxi (Hurley et.al, 1969, trích dẫn từ Đúc Lũng và ctv, 1995)
Thiếu kẽm có những tổn thương da rất điển hình: rụng lông, viêm loét Sự hóa dày hoặc tăng sự sừng hóa tế bào biểu mô thường xảy ra như bệnh parakeratosis trên heo Chuột sợ hãi và run chân, lông xơ xác và giảm lông khi thiếu kẽm, còn trên cừu có những thay đổi khác thường trên lông và sừng, giảm mọc lông và viêm
Trang 35da thường xảy ra trên gà Ngoài ra, ở bò, hươu, nai…cũng bị hóa sừng (Pond W.G
và ctv)
Khẩu phần thiếu kẽm làm chậm sự lành vết thương Pories et Al Strain (1970),
chứng minh ở người rằng kẽm đóng vai trò xúc tác cho sự di cư, tăng sinh và thành thục của biểu bì, phục hồi dần vết thương ở da Thiếu kẽm thì quá trình di cư của
biểu mô tái tạo ngừng hay giảm mạnh (Bùi Đúc Lũng và ctv, 1995)
Theo Apgar (1985), thiếu kẽm ảnh hưởng tới việc sinh sản trên con thú Sự sản sinh tinh trùng và phát triển cơ quan giới tính sơ cấp của con đực và tất cả các giai đoạn sinh sản của con cái từ động dục đến đẻ, tiết sữa có thể bị ảnh hưởng xấu khi thiếu kẽm (Bùi Đúc Lũng và ctv, 1995)
Mawson và ctv (1953), cho biết chuột bị thiếu kẽm dịch hoàn, phó dịch hoàn , tiền liệt tuyến và tuyến yên chậm phát triển, thượng bì ống sinh tinh teo lại, còn trên chuột cái thì rối loạn động dục khi thiếu kẽm nghiêm trọng Gà thiếu kẽm thì
giảm tỷ lệ nở và tăng tỷ lệ chết phôi, còn heo nuôi bằng khẩu phần thiếu kẽm thì
giảm số con trên một ổ và hàm lượng kẽm trong mô của con non giảm xuống, nhưng không có sự phát triển bất thường của thai và tập tính của mẹ (Bùi Đúc Lũng
và ctv, 1995)
Chandra và ctv (1985), giải thích vai trò của kẽm với tổ chức lympho như sau: thiếu kẽm sẽ làm giảm quá trình nhân đôi tế bào, do đó giảm số lượng tế bào lympho, giảm yếu tố cảm ứng tuyến ức trong hyết thanh, tăng nồng độ cortisol tự do trong huyết thanh, giảm sự di chuyển của lymphocyte trong tổ chức và tới các cơ quan tương ứng Ngoài ra, hậu quả thiếu kẽm sẽ làm teo các tổ chức lympho như lách, tuyến ức và các hạch lympho (trích dẫn từ Nguyễn Thanh Danh, 2002)
2.2.4.4 Ngộ độc kẽm
Phạm vi an toàn rộng lớn tồn tại giữa số lượng kẽm cần lấy vào và số lượng
kẽm sản xuất ra chất độc Độc tính của kẽm phụ thuộc vào nguồn kẽm, mức ăn, thời gian ăn và hàm lượng các khoáng khác có trong khẩu phần
Dấu hiệu ngộ độc kẽm đã được Puls R (1988) nêu lên như sau:
Chậm phát triển, viêm ruột, viêm khớp, xuất huyết nội