XÁC NH ẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Họ tên sinh viên thực tập: NGUYỄN THỊ THUÝ NHUNG Tên luận văn: “Khảo sát các biểu hiện bất thường trên đường tiêu hóa c ủa chó đến khám và điều trị tạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THUÝ NHUNG Lớp: DH06TY
Ngành: Thú Y Niên khóa: 2006 – 2011
Tháng 08/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
NGUYỄN THỊ THUÝ NHUNG
TIÊU HÓA CỦA CHÓ ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI MỘT
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ thú y
Giáo viên hướng dẫn
ThS NGUYỄN THỊ THU NĂM
Tháng 08/ 2011
Trang 3XÁC NH ẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực tập: NGUYỄN THỊ THUÝ NHUNG
Tên luận văn: “Khảo sát các biểu hiện bất thường trên đường tiêu hóa
c ủa chó đến khám và điều trị tại Phòng Khám Thú Y thuộc tỉnh Bình Dương”
Đã hoàn thành khoá luận theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các
ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y
Ngày 25 tháng 08 năm 2011
Giáo viên hướng dẫn
Trang 4• Lòng biết ơn sâu sắc đến:
Thạc Sĩ Nguyễn Thị Thu Năm đã hết lòng chỉ dạy, động viên tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
• Chân thành cảm ơn
BSTY Phạm Quốc Phong cùng các anh chị đã và đang công tác tại phòng khám đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn và gởi lời chúc tốt đẹp đến toàn thể các bạn trong và ngoài lớp DH06TY các bạn đã cùng chia sẻ, đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài: “Khảo sát các biểu hiện bất thường trên đường tiêu hóa của chó
đến khám và điều trị tại một Phòng Khám Thú Y thuộc tỉnh Bình Dương”.
Trong thời gian thực tập từ 05/01/2011 đến 18/06/2011, chúng tôi tiến hành
tiếp nhận 1066 trường hợp chó đem đến khám và điều trị tại phòng khám Qua chẩn
đoán lâm sàng chúng tôi ghi nhận có 689 trường hợp chó biểu hiện bất thường trên đường tiêu hóa, chiếm tỷ lệ 64,63 %
Kết quả khảo sát trên 689 trường hợp chó có biểu hiện bất thường trên đường tiêu hóa chúng tôi ghi nhận được:
- Về nghi bệnh chúng tôi chia làm 8 nhóm nghi bệnh chính với tỷ lệ như sau:
nghi bệnh do Carré 14,08 %; nghi bệnh do Parvovirus 46,88 %; nghi bệnh do
Leptospira 1,31 %; nghi bệnh do vi khuẩn 24,24 %; nghi bệnh do ký sinh trùng 6,82
%; ngộ độc 1,31 %; táo bón 0,58 %; nghi bệnh do nguyên nhân khác 4,79 %
- Tần suất các biểu hiện: chỉ có ói 28,01 %; chỉ tiêu chảy 25,54 %; ói + tiêu chảy 45,86 %; táo bón 0,59 %
- Yếu tố tiêm phòng và tẩy giun: có tiêm phòng 16,25 %; không tiêm phòng 92,45 %; có tẩy giun 42,13 %; không tẩy giun 76,85 %
- Biểu hiện bệnh theo tuổi: dưới 1,5 tháng 59,14 %; từ 1,5 – 6 tháng 85,39 %;
từ 6 – 12 tháng 42,13 % và trên 12 tháng 42,13 %
- Biểu hiện bệnh theo giống: chó nội 72,74 % và chó ngoại 51,26 %
- Biểu hiện bệnh theo giới tính: chó đực 65,14 % và chó cái 64,18 %
- Hiệu quả điều trị: tỷ lệ chó khỏi bệnh có biểu hiện bất thường trên đường tiêu hóa là 64,73 % Trong đó: nghi do Carré 53,61 %; nghi do Parvovirus 58,51 %;
nghi do Leptospira 0 %; nghi do vi khuẩn 74,85 %; nghi do ký sinh trùng 95,74 %; ngộ độc 66,67 %; táo bón 100 %; nguyên nhân khác 75,76 %
Trang 6MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt luận văn iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt x
Danh sách các bảng xi
Danh sách các hình xii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Một số đặc điểm sinh lý của chó 3
2.1.1 Thân nhiệt 3
2.1.2 Nhịp thở 3
2.1.3 Nhịp tim 3
2.1.4 Tuổi thành thục sinh dục 3
2.1.5 Chu kỳ lên giống và thời gian mang thai 4
Trang 72.1.6 Số con trong một lứa 4
2.2 Các phương pháp cầm cột 4
2.2.1 Buộc mõm 4
2.2.2 Buộc chân để truyền dịch 5
2.2.3 Buộc chó trên bàn mổ 5
2.2.4 Túm gáy 6
2.2.5 Banh miệng 6
2.2.6 Vòng đeo cổ 7
2.3 Đặc điểm của ói mửa và tiêu chảy 7
2.3.1 Ói mửa 7
2.3.1.1 Ói mửa do phản xạ 8
2.3.1.2 Ói mửa do trung khu ói bị kích thích 8
2.3.2 Tiêu chảy 8
2.3.2.1 Số lượng phân 9
2.3.2.2 Độ cứng 9
2.3.2.3 Màu sắc 9
2.3.2.4 Mùi phân 9
2.3.2.5 Các nguyên nhân gây tiêu chảy 10
2.4 Một số bệnh tác động lên hệ tiêu hóa của chó 10
2.4.1 Bệnh Carré 10
2.4.1.1 Dịch tễ học và cách sinh bệnh 10
2.4.1.2 Triệu chứng và bệnh tích 11
2.4.1.3 Chẩn đoán 13
Trang 82.4.2 Bệnh do Parvovirus 14
2.4.2.1 Dịch tể học 14
2.4.2.2 Sinh bệnh học 15
2.4.2.3 Triệu chứng 15
2.4.2.4 Bệnh tích 16
2.4.2.5 Chẩn đoán 16
2.4.3 Bệnh do Leptospira 17
2.4.3.1 Triệu chứng 17
2.4.3.2 Bệnh tích 18
2.4.3.3 Chẩn đoán 18
2.4.4 Ký sinh trùng 19
2.4.4.1 Giun móc 19
2.4.4.2 Giun đũa 20
2.4.4.3 Giun tóc 21
2.4.4.4 Sán dây 22
2.4.5 Bệnh do vi khuẩn 23
2.4.5.1 Bệnh viêm kết tràng do Salmonella 23
2.4.5.2 Bệnh do nhiễm Escherichia coli 23
2.4.6 Táo bón 24
2.4.7 Ngộ độc 24
2.5 Các liệu pháp điều trị 25
2.5.1 Điều trị theo nguyên nhân gây bệnh 25
2.5.2 Điều trị theo cơ chế sinh bệnh 26
Trang 92.5.3 Điều trị theo triệu chứng 26
2.5.4 Liệu pháp hỗ trợ 26
2.6 Một số công trình nghiên cứu bệnh có triệu chứng trên đường tiêu hóa 27 Chương 3 NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 28
3.1 Thời gian và địa điểm khảo sát 28
3.2 Đối tượng khảo sát 28
3.3 Dụng cụ khảo sát 28
3.4 Nội dung khảo sát 29
3.5 Phương pháp khảo sát 29
3.5.1 Lập bệnh án và khám lâm sàng 29
3.5.2 Chẩn đoán lâm sàng 30
3.5.3 Theo dõi cách điều trị và hiệu quả điều trị 31
3.6 Các chỉ tiêu khảo sát 31
3.7 Các công thức tính 32
3.8 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 33
4.1 Tỷ lệ chó có triệu chứng bất thường trên đường tiêu hóa 33
4.2 Phân loại theo các nhóm nghi bệnh thường gặp 34
4.3 Tần suất các biểu hiện bệnh thường gặp 41
4.3.1 Tần suất biểu hiện các dạng phân 42
4.3.2 Tần suất biểu hiện các dạng ói mửa 43
4.4 Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến biểu hiện bệnh đường tiêu hóa 44
4.4.1 Yếu tố tiêm phòng và tẩy giun định kỳ 44
Trang 104.4.2 Biểu hiện bệnh theo tuổi 45
4.4.3 Giống 46
4.4.4 Giới tính 47
4.5 Hiệu quả điều trị 48
Chương 4 KẾT LUẬN ĐỀ NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Đề nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 60
Trang 11CÁC TỪ VIẾT TẮT
ELISA: Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay MAT: Microscopic Agglutination Test
I.V (intravenous): tiêm tĩnh mạch
I.M (intramuscular): tiêm bắp
S.C (subcutaneous): tiêm dưới da
P.O : đường uống
Trang 12DANH SÁCH CÁC BẢNG
TRANG
Bảng 4.1 Tỷ lệ chó có triệu chứng bất thường trên đường tiêu hóa 33
Bảng 4.2 Phân loại theo nhóm nghi bệnh thường gặp 34
Bảng 4.3 Tần suất các biểu hiện bệnh thường gặp 41
Bảng 4.4 Tần suất biểu hiện các dạng phân 42
Bảng 4.5 Tần suất biểu hiện các dạng ói mửa 43
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của tiêm phòng và tẩy giun định kỳ lên biểu hiện bệnh 44
Bảng 4.7 Tỷ lệ chó bệnh trên đường tiêu hóa tính theo tuổi 45
Bảng 4.8 Tỷ lệ chó bệnh trên đường tiêu hóa tính theo giống 46
Bảng 4.9 Tỷ lệ chó bệnh trên đường tiêu hóa theo giới tính 47
Bảng 4.10 Hiệu quả điều trị bệnh trên đường tiêu hóa 48
Trang 13DANH SÁCH CÁC HÌNH
TRANG
Hình 2.1 Buộc chân để truyền dịch 5
Hình 2.2 Túm gáy 6
Hình 2.3 Banh miệng cho uống thuốc 6
Hình 2.4 Chó đeo vòng Elizabeth 7
Hình 4.1 Chó bị nổi mụn mủ ở bụng trong nghi bệnh do Carré 35
Hình 4.2 chó nghi bệnh Carré: sừng hoá gương mũi, có dấu hiệu thần kinh 36
Hình 4.3 Chó tiêu chảy ra máu trong nghi bệnh do Parvovirus 36
Hình 4.4 Hạch màng treo ruột xuất huyết, viêm cơ tim nghi do Parvovirus 37
Hình 4.5 Chó bị vàng niêm mạc nghi do Leptospira 38
Hình 4.6 Phân có lẫn dịch nhầy 38
Hình 4.7 Giun đũa trong ruột chó 39
Hình 4.8 Chó ủ rũ, ói do bị ngộ độc 40
Hình 4.9 Chó vừa ói vừa tiêu chảy ra máu 42
Hình 4.10 Ói ra nước lẫn thức ăn 44
Hình 4.11 Chó khoẻ sau khi điều trị bệnh nghi do Parvovirus 50
Trang 14Ở Việt Nam, ngày càng nhiều giống chó ngoại được nhập về nhằm đáp ứng thị hiếu của mọi người trong đó có những giống chó đắt tiền, quý hiếm do đó việc chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa dịch bệnh cũng được người chăn nuôi quan tâm, dù vậy nhưng dịch bệnh vẫn xảy ra trên những chú chó cưng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng của chúng
Có rất nhiều bệnh xảy ra trên chó, trong đó bệnh có triệu chứng trên đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao Những bệnh này là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong trên chó nuôi
Nhằm tìm hiểu tình hình bệnh cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh trên đường tiêu hóa để tìm ra phương thức phòng bệnh hiệu quả hơn Được sự chấp thuận của Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, Bộ môn Vi Sinh Truyền Nhiễm, dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Năm, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát các biểu hiện bất thường trên đường tiêu hóa của chó đến khám và điều trị tại một Phòng Khám Thú
Y thuộc tỉnh Bình Dương”
Trang 151.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Khảo sát bệnh ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa trên chó, giúp củng cố kiến thức trong thực tế, nâng cao kỹ năng chẩn đoán góp phần hỗ trợ cho công tác phòng và điều trị có hiệu quả hơn
Trang 17Tuổi thành thục được xác định bởi lần lên giống đầu tiên, tùy theo giống mà chó có tuổi thành thục không giống nhau (thường xuất hiện sớm ở những giống chó
có tầm vóc nhỏ và muộn hơn ở những giống chó có tầm vóc lớn) Ngoài ra tuổi thành thục còn thay đổi theo mức dinh dưỡng, yếu tố di truyền, khí hậu và nhiều yếu tố khác
2.1.5 Chu kỳ lên giống và thời gian mang thai
Tùy theo tuổi, giống, chế độ dinh dưỡng mà chó có chu kỳ lên giống khác nhau Chó bắt đầu lên giống vào khoảng 6 đến 8 tháng tuổi, trung bình mỗi năm lên
giống 2 lần
Thời gian động dục trung bình 12 - 21 ngày, thời điểm phối giống tốt nhất là ngày thứ 9 đến ngày thứ 13 kể từ khi có dấu hiệu đầu tiên
Thời gian mang thai từ 57 - 63 ngày
Trên chó thường có hiện tượng mang thai giả
2.1.6 Số con trong một lứa
Trang 18Đối với những chó có mõm ngắn, để giảm sự chèn ép của vòng cột ngang qua mũi, người ta thực hiện như sau: sau khi đã buộc mõm xong như vừa mô tả ở trên, chúng ta dùng phần cuối của sợi dây đưa xuống vòng dây trên mũi rồi cột nút với sợi dây còn lại
2.2.2 Buộc chân để truyền dịch
Hình 2.1 Buộc chân để truyền dịch Dùng một vòng dây cột vào cổ chân trước của chó đầu kia cột cố định vào bàn Có thể dùng để truyền dịch hoặc tiêm tĩnh mạch
Buộc chó nằm ngửa: áp dụng cho phẫu thuật: mổ bụng, thiến, cắt bỏ nhũ tuyến,…
Buộc chó nằm nghiêng một bên: giải phẫu tai, mắt, thận, ngực, lách,… Buộc chó nằm sấp: áp dụng trong phẫu thuật đầu, vùng hậu môn, vùng âm
Trang 192.2.4 Túm gáy
Dùng tay túm lấy hai tai cùng phần da sau gáy Phương pháp này giúp ta khống chế những con chó hung dữ, khó tính giúp dễ dàng khám và điều trị bệnh Có thể dùng để cho chó lớn uống thuốc
Hình 2.2 Túm gáy
2.2.5 Banh miệng
Hình 2.3 Banh miệng cho uống thuốc Đối với những con chó con có thể dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ bóp chặt phần da hai bên hàm chó để banh miệng với mục đích cho chó uống thuốc
Dụng cụ banh miệng được áp dụng trong trường hợp để khám vùng miệng hoặc gắp xương trong trường hợp chó bị hóc xương Thông thường chó hay kháng
Trang 20cự khi mở miệng ra để đưa dụng cụ banh miệng vào Vì thế việc dùng thuốc an thần hoặc thuốc mê là điều cần thiết Trong trường hợp không có dụng cụ banh miệng, chúng ta có thể dùng cây ben lớn để thay thế hoặc dùng hai vòng dây cột vào hàm trên và hàm dưới rồi kéo mạnh về hai phía để mở miệng thú ra
2.2.6 Vòng đeo cổ
Hình 2.4 Chó đeo vòng Elizabeth Vòng đeo cổ được áp dụng để ngăn ngừa chó liếm vào lông hoặc vết thương trên cơ thể, nhất là khi mắc những bệnh cần bôi thuốc lên da Vòng Elizabeth được
cố định bằng cách cột chặt vào vòng cổ Có thể làm bằng tấm bìa cứng, ở giữa cắt một vòng tròn bằng với kích thước của cổ chó Buộc dây vòng quanh một chân trước và cố định hai vòng dây trên tấm bìa
2.3 Đặc điểm của ói mửa và tiêu chảy
Trang 212.3.1.1 Ói mửa do phản xạ
Do ngoại vật kích thích vào vòm khẩu cái, cuống lưỡi, ở hầu hoặc do dạ dày
bị chướng hơi, viêm loét hay ký sinh trùng kích thích ói, ruột biến vị, viêm màng bụng, bệnh ở tử cung cũng có thể gây ói
2.3.1.2 Ói mửa do trung khu ói bị kích thích
Gặp trong các bệnh: viêm hành tủy, viêm màng não, u não, độc tố vi trùng trong các bệnh truyền nhiễm hay trúng độc khác
Đặc điểm: sau khi ói hết thức ăn trong dạ dày thì vẫn tiếp tục ói khô
Dựa vào số lần ói mửa, thời điểm xuất hiện, tính chất, mùi và thành phần dịch ói mà có thể đoán được tác nhân gây bệnh:
+ Nếu ói một lần thú vẫn ăn bình thường và sau đó không nôn nữa là do thú
ăn quá nhiều, ngoại vật kích thích lên vòm khẩu cái, cuống lưỡi, hầu,…
+ Ói vài lần trong ngày là do những nguyên nhân gây kích thích lâu (các bệnh gây trúng độc)
+ Sau khi ăn mà ói ngay thường là do các bệnh về dạ dày
+ Sau khi ăn một thời gian mới ói có thể là do bệnh tắc ruột Nếu ruột non bị tắc thì dịch ói kiềm tính Dịch ói lẫn máu thì do dạ dày xuất huyết, loét dạ dày,… Ruột non bị tắc thì dịch ói lẫn máu, màu vàng hay màu đục Ruột già bị tắc thì dịch
ói lẫn phân, mùi thối (Nguyễn Văn Phát, 2006)
2.3.2 Tiêu chảy
Tiêu chảy là hiện tượng đi tiêu nhiều lần, trong phân chứa nhiều nước do ruột tăng cường nhu động và tiết dịch, xảy ra nhanh và thú khó kiểm soát được Quan sát số lượng phân, độ cứng, màu sắc, mùi phân có thể đoán được các tác nhân gây tiêu chảy
Trang 222.3.2.1 Số lượng phân
Nhiều hay ít tùy thuộc vào số lượng thức ăn, loại thức ăn, chất lượng thức
ăn, yếu tố gây bệnh Thông thường khi thú tiêu chảy thì lượng phân nhiều, gia súc
bị bón thì phân khô, lượng ít, nếu ruột bị tắc gia súc không đi ngoài Trong hầu hết các bệnh sốt cao đều gây bón, lượng phân ít
2.3.2.2 Độ cứng
Do chất lượng thức ăn, tỷ lệ nước và chức năng tiêu hóa quyết định: phân nhão hơn bình thường là do nhu động ruột tăng, lượng nước trong phân nhiều, phân khô và cứng hơn bình thường do nhu động ruột giảm: bón, liệt ruột, viêm ruột cata mãn tính
2.3.2.3 Màu sắc
Màu sắc phân phụ thuộc vào thức ăn, tuổi gia súc…
+ Phân có lẫn máu đỏ tươi: do đoạn ruột già chảy máu
+ Phân có lẫn máu đỏ thẫm: do đoạn ruột non chảy máu
+ Phân bón thì màu đen hơn bình thường
Ngoài ra, còn có dạng phân có lẫn niêm mạc đường tiêu hóa do niêm mạc bị bong tróc, viêm, tổn thương,… Một số thuốc chữa bệnh có thể làm thay đổi màu phân
2.3.2.4 Mùi phân
Phân loài ăn thịt mùi thối hơn loài ăn cỏ
Phân lỏng thối là triệu chứng viêm ruột nặng
Các chất lạ trong phân như niêm dịch, màng giả mủ máu… là dấu hiệu bệnh
có thể do loét hay ổ mủ ở thành niêm mạc ruột gây ra
Trang 232.3.2.5 Các nguyên nhân gây tiêu chảy
Thay đổi thức ăn, môi trường sống đột ngột: cai sữa, đổi chỗ ở,…
Do vi sinh vật: bệnh Carré, Parvovirus, Leptospira, Salmonella, Escherichia
coli,…
Nơi ở kém vệ sinh: chuồng dơ, thả rong chó đi bới rác, thức ăn bẩn,…
Thức ăn kém phẩm chất: ôi thiu, lên men, thức ăn có chứa chất độc,
2.4 Một số bệnh tác động lên hệ tiêu hóa của chó
2.4.1 Bệnh Carré
Theo Trần Thanh Phong (1996), Carré là một bệnh lây lan và gây chết với tử
số cao trên thú ăn thịt đặc biệt là loài chó nhất là chó non, đây là bệnh truyền nhiễm gây ra do virus thuộc họ Paramyxoviridae, giống Morbillivirus
Trên chó non , bệnh thường lây lan rất mạnh với các biểu hiện sốt hai pha , viêm phổi, viêm ruột, nổi những nốt mụn mủ ở vùng da ít lông,… thường xuất hiện triệu chứng t hần kinh ở giai đoạn cuối Bệnh sẽ trầm trọng hơn khi có sự kế phát
các vi khuẩn ký sinh ở niêm mạc đường hô hấp, tiêu hóa,
2.4.1.1 Dịch tễ học và cách sinh bệnh
Dịch tễ học
Loài thú mắc bệnh : tất cả giống chó đều cảm thụ Trong tự nhiên, bệnh hầu
hết xảy ra ở chó 2 – 12 tháng tuổi, đặc biệt mẫn cảm là chó 3 - 4 tháng tuổi Có lẽ
do được miễn dịch thụ động qua sữa đầu nên những chó con đang bú sữa mẹ ít mắc
bệnh hơn
Theo Nguyễn Như Pho (2003), bệnh thường xảy ra ở chó 3 - 4 tháng tuổi với
thể cấp tính hay bán cấp tính Ở chó lớn hơn 2 năm tuổi virus gây thể viêm não
Chất chứa căn bệnh : chó bệnh bài thải virus qua dịch tiết ở mũi , nước mắt,
nước bọt, nước tiểu, phân,
Trang 24+ Thông thường vào ngày thứ bảy sau khi cảm nhiễm , virus được chó bệnh
thải ra ngoài cơ thể (Trần Thanh Phong, 1996)
+ Trên chó mắc bệnh , virus có thể tiếp tục bài thải trong vòng 90 ngày (Nguyễn Như Pho, 2003)
- Đường xâm nhập : chủ yếu qua đường hô hấp dưới dạng những giọt khí dung hay giọt nước nhỏ Ngoài ra, mầm bệnh còn xâm nhập qua đường tiêu hóa
Theo Trần Thanh Phong (1996), việc truyền bệnh qua nhau thai đã được ghi nhận
- Phương thức lây lan
+ Trực tiếp: thường xảy ra qua đường khí dung
+ Gián tiếp: qua thức ăn, nước uống, phân, nước tiểu, nhưng hiếm khi xảy
ra vì virus không bền ở môi trường bên ngoài
Sinh bệnh học
Sau khi xâm nhiễm bằng đường k hí dung, virus sẽ nhân lên đầu tiên t rong đại thực bào, những tế bào lympho của đường hô hấp và những hạch bạch huyết vệ tinh
Sau 6 - 9 ngày cảm nhiễm , virus vào máu tấn công đến cơ quan lympho (lách, hung tuyến, hạch bạch huy ết, tủy xương) rồi đến cơ quan khác và những tế bào biểu mô
Trong 10 ngày sau khi cảm nhiễm, nếu kháng thể trung hòa được sản xuất thì biểu hiện lâm sàng sẽ không rõ ràng và virus sẽ ít phân tán trong cơ quan thú Nếu không có kháng thể, virus sẽ xâm lấn tất cả cơ quan , nhất là não, gây ra những biểu hiện lâm sàng và gây chết
2.4.1.2 Triệu chứng và bệnh tích
+Triệu chứng
Cơn sốt thường xảy ra sau 3 - 6 ngày sau khi nhiễm bệnh, với những triệu
Trang 25sau đặc dần rồi có mủ),… Ngay lúc này, bạch cầu bắt đầu giảm, đặc biệt là bạch cầu lympho Những dấu hiệu này có thể không được chú ý trong bệnh Carré
Thể cấp tính: biểu hiện sốt hai pha:
âm rale ướt, khóe mũi có lẫn cả máu cùng với biểu hiện viêm phổi,…), xáo trộn tiêu hóa (đi phân lỏng, tanh, có thể lẫn máu hoặc niêm mạc ruột bị bong tróc ) hoặc những biểu hiện viêm não (co giật, bại liệt), nổi những mụn mủ ở da , sừng hóa gan bàn chân và biểu mô của gương mũi cũng bị tương tự (Trần Thanh Phong, 1996)
Thể bán cấp tính
Có biểu hiện hô hấp và tiêu h óa có thể thầ m lặng thường kéo dài 2 - 3 tuần, trước khi xuất hiện những biểu hiện thần kinh , thường xuất hiện trên những chó có chứng sừng hóa da gan bàn chân (Trần Thanh Phong, 1996) Triệu chứng thần kinh, bao gồm: chó liệt, loạng choạng, đi không định hướng, rên la, sùi bọt mép, nhai giả,
co giật run rẩy và hôn mê, sau một thời gian ngắn thì chết
Một con chó có thể có tất cả các triệu chứng trên hay một vài trong số đó Quá trình bệnh có thể ngắn 10 ngày nhưng cũng có thể kéo dài vài tuần hay vài tháng Sự hồi phục thường xảy ra rất chậm
+Bệnh tích
Bệnh tích đại thể
Không có bệnh tích đại thể mang tính chất chỉ thị bệnh (Trần Thanh Phong, 1996) Sự teo hung tuyến thường thấy khi khám tử Mõm và gan bàn chân có thể sừng hóa.Tùy theo mức độ phụ nhiễm vi trùng , có thể thấy viêm phế quản - phổi, viêm ruột, mụn mủ ở da,
Trang 26Bệnh tích vi thể
Mô bạch huyết bị hoại tử Có thể thấy thể vùi trong tế bào chấ t bắt màu eosinophile (đôi khi trong nhân ) ở bàng quang, bể thận, tế bào biểu mô đường hô hấp, ruột và não
Viêm não tủy khô ng mủ, thoái hóa neurone, tăng sinh tế bào thần kinh đệm (gliosis), thoái hóa myeline (demyelineation), thể vùi trong nhân gặp ở tế bào thần kinh đệm Sự thoái hóa myeline ở vùng cầu não là đặc trưng của bệnh (Lê Anh Phụng, 1998)
+ Chẩn đoán phân biệt
Bệnh do Parvovirus: gây viêm dạ dày – ruột xuất huyết, viêm cơ tim trên chó non, tỷ lệ chết cao
Bệnh do Leptospira: viêm dạ dày – ruột chảy máu, viêm loét miệng và
thường xuất huyết ở chó lớn, vàng da và niêm mạc
Bệnh viêm gan truyền nhiễm: gan sưng to dễ vỡ, đục giác mạc
Bệnh viêm ruột do Coronavirus: chó có những biểu hiện viêm dạ dày – ruột nhưng ở mức độ thấp hơn, phân màu xanh, bệnh phát triển chậm và tỷ lệ chết rất
thấp
Trang 27+Ch ẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Trong phòng thí nghiệm, việc chẩn đoán nhờ vào kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang trực tiếp với kháng nguyên chuyên biệt từ máu, tế bào thần kinh Phân lập virus rất hiếm Chẩn đoán bằng huyết thanh học thì cho kết quả không cao Hiện nay trên thị thường đã có test kiểm tra nhanh virus Carré (CDV Ag)
2.4.2 Bệnh do Parvovirus
Là bệnh truyền nhiễm do virus thuộc họ Parvoviridae, giống Parvovirus type
2 gây nên với đặc điểm là tiêu chảy phân lẫn máu, giảm thiểu số lượng bạch cầu, gây chết hàng loạt chó con Bệnh xảy ra trên mọi lứa tuổi, bệnh thường biểu hiện
nặng nhất trên chó con từ 6 tuần đến 6 tháng, chó lớn không chết nhiều nhưng là nguồn chứa virus Parvovirus tồn tại rất lâu trong môi trường
Theo Nguyễn Như Pho (2003), bệnh thường gây chết trên chó con, tỷ lệ chết
có thể thay đổi từ 50 - 100 %
2.4.2.1 Dịch tể học
Bệnh thường biểu hiện trên chó con 6 tuần - 6 tháng tuổi Trong những tuần
lễ đầu của đời sống, miễn dịch từ mẹ truyền qua sữa đầu giúp thú được bảo vệ Những kháng thể này sẽ giảm hết trong khoảng 6 - 10 tuần tuổi, lúc này chó con sẽ trở nên dễ cảm thụ với bệnh nhất (Trần Thanh Phong, 1996)
Nguồn bệnh: thú bệnh và phân là nguồn virus căn bản nhất
Loài nhạy cảm: chỉ lây nhiễm họ chó
Đường xâm nhập: phổ biến qua đường miệng, thức ăn, nước uống,
Phương thức lây lan:
Trực tiếp: từ chó này sang chó khác
Gián tiếp: do tiếp xúc với môi trường vấy nhiễm phân thú bệnh
Trang 282.4.2.2 Sinh bệnh học
Đầu tiên, virus nhân lên trong những mô lympho vùng hầu họng và vào máu gây virus huyết trong khoảng từ ngày thứ 3 đến thứ 5 sau khi cảm nhiễm Theo tuần hoàn, virus đến nhiều mô và cơ quan Virus nhân lên trong những tế bào lympho và
tế bào tủy xương dẫn đến giảm thiểu số lượng bạch cầu, hậu quả làm suy giảm miễn dịch Virus nhân lên trong tế bào ruột dẫn đến hoại tử biểu mô ruột, viêm ruột, giảm hấp thu, tiêu chảy rồi chết (Trần Thanh Phong, 1996)
2.4.2.3 Triệu chứng
Theo Trần Thanh Phong (1996), bệnh có những đặc điểm sau:
Thể đường ruột
Thời gian nung bệnh 3 - 5 ngày và chấm dứt bằng triệu chứng ngủ lịm hay
liệt nhược đôi khi kết hợp với ói mửa Chó ói mửa, biếng ăn, suy nhược, mất nước nghiêm trọng, ói thường khá dữ dội và kéo dài, sau 24 - 48 giờ thú có biểu hiện tiêu
chảy Phân lúc đầu xám hay vàng sau đó kèm theo máu với mùi hôi tanh đặc trưng, đôi khi có sốt xảy ra
Sự phát triển của bệnh có thể diễn biến theo nhiều dạng khác nhau như chó đột ngột phát bệnh và chết trong vài giờ, chết sau 2 ngày với biểu hiện suy sụp trước đó, chết sau 5 - 6 ngày với sự giảm máu, tiêu chảy và phụ nhiễm vi trùng Ở chó trưởng thành thể thầm lặng không biểu hiện triệu chứng
Th ể viêm cơ tim
Thường gặp trên chó 4 - 8 tuần tuổi, biểu hiện chủ yếu là suy tim, chó thiếu máu nặng, niêm mạc nhợt nhạt hay thâm tím, gan và túi mật sưng chết nhanh, chó con còn bú có biểu hiện thở khó, rên rỉ và kiệt sức, sự chết đến trong vài giờ, vài ngày
Những chó còn sống có thể bất thường về tiếng gõ của tim, suy tim, thể kết
hợp viêm cơ tim - ruột thường thấy ở chó 6 - 16 tuần tuổi, chó vừa bị suy tim vừa tiêu chảy nặng thường chết sau 24 giờ nhiễm
Trang 292.4.2.4 B ệnh tích
Bệnh tích đại thể
Ruột nở rộng, xung huyết hay xuất huyết, trống rỗng, thường tá tràng bị hư
hại nhất, thành ruột non mỏng, bên trong chứa đầy máu và niêm mạc ruột do bong tróc ra
Niêm mạc dạ dày bị xung huyết toàn bộ, gan sưng, túi mật căng, lách có
dạng không đồng nhất và hạch màng treo ruột triển dưỡng, thủy thủng hay xuất huyết
Thể viêm cơ tim thường thấy thủy thủng ở phổi
B ệnh tích vi thể
Hoại tử và tiêu hủy những tế bào lympho trong những mảng peyer, hạch
bạch huyết, màng treo ruột và những hạt bạch cầu ở lách
Tim bị viêm, thủy thũng hóa sợi, có thể có thể vùi base trong nhân của sợi cơ tim
Hoại tử tế bào mô của tuyến Lieberkuln và sự bào mòn hoàn toàn những nhung mao ruột
2.4.2.5 Chẩn đoán
Ch ẩn đoán lâm sàng
Chủ yếu dựa vào triệu chứng sau: viêm dạ dày - ruột có xuất huyết trên chó
từ 6 tuần đến 6 tháng tuổi với đặc điểm là ói mửa, đi kèm với sốt nhưng không cao,
giảm bạch cầu, viêm ruột cấp tính, tiêu chảy lẫn máu tươi có mùi tanh rất đặc trưng
Ch ẩn đoán phân biệt
Viêm ruột do virus Carré: sốt cao trong nhiều ngày (400
C), viêm phổi, viêm
ruột, nổi mụn mủ ở vùng da ít lông, mõm và gan bàn chân sừng hóa, giai đoạn cuối
có triệu chứng thần kinh
Viêm ruột do Coronavirus: bệnh lây lan nhanh nhưng phát triển rất chậm, tỷ
lệ chết thấp, chó không sốt, số lượng bạch cầu không giảm
Trang 30Viêm ruột do vi khuẩn: Campylobacter, Salmonella, xoắn khuẩn Leptospira
hay tiêu chảy do trúng độc có nguồn gốc từ thức ăn
lệ chết có thể đến 60 – 90 % (Trần Thanh Phong, 1996)
2.4.3.1 Tri ệu chứng
Thời gian nung bệnh 5- 15 ngày
Thể cấp tính: bại huyết phát triển nhanh sau vài giờ nhiễm, sốt cao và suy
nhược nặng nề, có thể chia làm hai thể:
Thể thương hàn: chó có biểu hiện xuất huyết trầm trọng, viêm kết mạc mắt
với xuất huyết điểm ở niêm mạc và ói ra máu Do niêm mạc bị lở loét nên thú thở
có mùi hôi, mất nước rất nhanh và chết trong vòng 2 – 4 ngày cùng với sự hạ thấp thân nhiệt
Th ể hoàng đản: chó bệnh có biểu hiện viêm kết mạc mắt, hoàng đản, nước
tiểu sậm màu, khó thở tăng dần cùng với kém ăn, ói mửa,…Vào giai đoạn cuối, chó
có sự tăng cao nhiệt độ, khó thở, hơi thở hôi, tiêu chảy, đôi khi xuất huyết và những
biểu hiện viêm não trước khi hấp hối
Trang 31Thể bán cấp tính và mãn tính: thể này tương ứng với sự phát triển hội
chứng urê huyết, hậu quả của viêm thận với biểu hiện đa niệu, khát nước rất nhiều cùng với ói mửa, tiêu chảy Sau một thời gian hôn mê chó sẽ chết
Viêm thận kẻ hay viêm thận mãn tính
Trên chó urê huyết có thể thấy vết lở ở miệng và lưỡi
Ch ẩn đoán phân biệt
Trong trường hợp hoàng đản cần chẩn đoán phân biệt với viêm gan truyền nhiễm, ký sinh trùng đường máu, trúng độc do độc tố nấm mốc hay độc chất
Trong trường hợp xáo trộn tiêu hoá, ói mửa, phân có máu cần phân biệt với bệnh Carré, bệnh do Parvovirus
Trang 322.4.4 Ký sinh trùng
2.4.4.1 Giun móc
Theo Lê Hữu Khương và Lương Văn Huấn (1996), ở Việt Nam tỷ lệ nhiễm
giun móc ở chó khá cao, nhất là Ancylostoma Chó ở Bắc Bộ nhiễm giun móc
Ancylostoma 75,8 % (Houdemer, 1938)
Theo Đỗ Hài (1972), tỷ lệ chó nhiễm Ancylostoma 83,3 %, những chó nuôi tại Thành Phố Hồ Chí Minh nhiễm Ancylostoma là 91,17 % (Lương Văn Huấn và
Trần Thanh Hằng, 1989) Chó từ 2 - 6 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất và giảm
dần theo lứa tuổi
Triệu chứng và tác hại
Thể quá cấp: thường xuất hiện trên chó con vài tuần (ngày thứ 15) sau khi sinh Tuần đầu thấy chó vẫn khỏe, nhưng tuần thứ 2 chó đột ngột bệnh, thiếu máu
nặng và chết nhanh Xét nghiệm phân không có trứng
Thể cấp: biểu hiện thiếu máu, gầy yếu, chết kéo dài, xét nghiệm thấy trứng
giun trong phân
Thể mãn: chó có khả năng tái tạo bù đắp lượng máu bị mất, thể trạng chung
bình thường, xét nghiệm phân có trứng giun
Thể thứ phát: xuất hiện dấu hiệu của bệnh tim mạch do tình trạng thiếu máu
kéo dài, lâu dần khả năng tái tạo máu không bù đắp nổi lượng máu bị thất thoát
Chẩn đoán
Dựa vào các triệu chứng thiếu máu và chó thường chết nhanh để chẩn đoán Cần xét nghiệm phân tìm trứng theo phương pháp phù nổi Trứng của giun móc
Ancylostoma giống trứng của Uncinaria nhưng nhỏ hơn Ở chó con khi triệu chứng
đã xuất hiện vẫn không thấy trứng giun móc trong phân Ở chó 7 - 12 tháng tuổi khi kiểm tra phân nếu có khoảng 500 trứng/1 gam phân sẽ tương đương có 10 giun
Trang 33trong ruột Nếu có 8000 trứng/1 gam phân tương đương với 400 giun (Lê Hữu Khương, 2008)
Phòng trị
Ivermectin liều 0,1 - 0,4 mg/kg tiêm dưới da cho chó
Pyrantel 5mg/kg cho ăn uống
Febendazole 50mg/kg P cho ăn uống
Chó con 1 tuần đến 6 tuần tuổi, dùng các thuốc xổ giun mỗi tuần 1 lần Chó 6-12 tuần xổ giun 2 tuần 1 lần Chó trên 3 - 4 tháng xổ 1 lần Chó mẹ xổ 2 lần vào ngày mang thai thứ 14 và sau khi sinh 1 tuần
Có thể dùng febendazole liều 50 mg/kg thể trọng liên tục 3 tuần trước khi sinh đến 2 ngày sau khi sinh để ngăn ngừa giun móc và cả giun đũa cho chó con và chó mẹ (Lê Hữu Khương, 2008)
Chăm sóc nuôi dưỡng chó mèo chu đáo để nâng cao sức đề kháng Nếu thấy chó mèo gầy ốm, thiếu máu cần kiểm tra phân hoặc cho chó mèo uống các loại thuốc trên để tẩy giun móc cho chó mèo Xung quanh nhà nên phát quang các bụi cây để cho có ánh nắng trực tiếp nhằm diệt trứng và ấu trùng
2.4.4.2 Giun đũa
Trên chó thường bị nhiễm hai loài giun đũa: Toxocara canis và Toxascaris
leonina Cả hai loài này đều ký sinh ở ruột non của chó và thú ăn thịt khác Theo Lương Văn Huấn và Trần Thanh Hằng (1990), tỷ lệ nhiễm của chó tại Thành Phố
Hồ Chí Minh đối với Toxocara canis là 11,76 %, nhiễm Toxascaris leonina 5,88 %
Bệnh gây tác hại chủ yếu ở chó nhỏ từ 20 ngày tuổi đến 2 – 3 tháng tuổi
Triệu chứng
Chậm tăng trưởng, thân gầy còm, lông xơ xác, kém ăn, suy nhược, thiếu máu, bụng to, ngứa ở bụng và mặt trong đùi Nôn mửa, tiêu chảy, rên rỉ do đau
Trang 34bụng, có khi thải giun ra ngoài theo nôn hay qua phân, phân màu trắng xám, thối khắm Rối loạn thần kinh và còi xương
Menbendazole: cho ăn hoặc uống với liều 60 – 100 mg/kgP
Fenbendazole: cho ăn hoặc uống với liều 50 mg/kgP trong 3 ngày liên tiếp Exotral (niclosamide + levamisole): 1 viên/5 kg thể trọng
2.4.4.3 Giun tóc
Theo Lê Hữu Khương và Lương Văn Huấn (1996) chó chủ yếu nhiễm hai
loài Trichocephalus vulpis và Trichocephalus georgicus
Triệu chứng
Khi nhiễm nhẹ triệu chứng không rõ Khi nhiễm nặng chó gầy còm, thiếu
máu, phân có lẫn máu, tiêu chảy Độc tố do Trichocephalus tiết ra làm cho nhung
mao và các tế bào biểu mô mất đi tính cấu tạo và bị phân hủy
Bệnh tích
Ruột già manh tràng có nhiều giun tóc bám vào Giun cắm sâu vào niêm mạc ruột gây loét to bằng hạt đậu xanh Khi nhiễm nặng manh tràng ruột già bị xuất huyết màu hồng đỏ hoặc hồng sậm
Trang 35Chẩn đoán
Dựa vào triệu chứng lâm sàng, tìm trứng giun bằng phương pháp phù nổi
Điều trị
Menbendazole: cho ăn hoặc uống với liều 60 – 100 mg/kgP
Fenbendazole: cho ăn hoặc uống với liều 50 mg/kgP
Exotral (niclosamide + levamisole): 1 viên/5 kg thể trọng
Niclosamide cho uống hoặc cho ăn liều 50 mg/kg
Praziquantel: cho uống với liều 2,5 - 5 mg/kgP
Exotral (niclosamide và levamisole): cho uống với liều 1 viên/5kgP
Trang 362.4.5 Bệnh do vi khuẩn
Theo Quinn P.J và cộng tác viên (1998), đây là bệnh rất dễ xảy ra trên chó và
thường do một lượng lớn nội độc tố của E.coli, độc tố đường ruột của Clostridium,
Salmonella spp, Campylobacter jejuni,…
Nuôi cấy định danh vi khuẩn Làm mô bệnh học trên sinh thiết đoạn tá tràng
2.4.5.2 Bệnh do nhiễm Escherichia coli
Bệnh gây ra do trực khuẩn gram âm thuộc họ Enterrobacteriaceae, giống
Escherichia, loài Escherichia coli (thường được viết tắt là E.coli), là một trong
những loài vi khuẩn chính ký sinh trong ruột người và động vật, nhiều nhất ở ruột già
Trang 37Chống ói bằng atropin sulfate 0,25mg/10kgP/ngày Sử dụng thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày - ruột: Actapulgite, Phosphalugel,…Nếu chó ói, tiêu chảy lẫn nhiều máu có thể dùng Vitamin K với liều 250mg/con, tiêm bắp
Dùng thuốc trợ lực và tăng cường sức đề kháng: Hematopan B12, vitamin nhóm B, vitamin C,…
Truyền dịch để chống mất nước, cung cấp chất điện giải và năng lượng bằng Lactated ringer, Glucose 5 %, cho chó uống thêm dung dịch Oresol ở nhà Đồng thời phải có chế độ chăm sóc tốt như: giữ ấm, cho ăn thức ăn dễ tiêu, có ít chất béo
Chẩn đoán: Chó biếng ăn, gầy yếu, khám qua trực tràng, sờ nắn vùng bụng
thấy phân rất cứng Chụp X-Quang cũng có thể thấy được
Điều trị: uống parafin, thụt rữa trực tràng, cho ăn khẩu phần giàu chất xơ 2.4.7 Ngộ độc
Thú bị ngộ độc là do tiếp xúc hoặc ăn phải những chất độc có trong thức ăn như thuốc diệt cỏ, thuốc diệt côn trùng, diệt ký sinh trùng hoặc ăn phải thức ăn có tẩm độc… Trong thực tế khảo sát của chúng tôi chỉ ghi nhận chó có biểu hiện các triệu chứng sau: nhịp hô hấp tăng, thở gấp, khó thở, chảy bọt mép, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, co giật, bại liệt, tròng mắt đảo liên tục hay đờ đẫn, mất ý thức, hôn
mê, bất tỉnh, tim mạch nhanh mạnh nhưng càng về sau càng chậm và yếu
Ngoài ra còn thấy chó có biểu hiện: tăng thân nhiệt hay giảm thân nhiệt run
cơ Đồng tử dãn hoặc co, niêm mạc tím tái Hôn mê và chết nếu triệu chứng đã quá nặng
Trang 38Chẩn đoán
Chó biểu hiện triệu chứng rất đa dạng, tùy vào loại chất độc mà thú tiếp xúc hay nuốt phải, ói mửa, trào nhiều nước bọt, tiêu chảy, có thể co giật, co giãn đồng tử quá mức, khó thở, thú bị tím tái, hôn mê rồi chết
Chỉ xảy ra trên những cá thể tiếp xúc hay ăn phải chất độc, những con cùng đàn thì vẫn bình thường
Cách giải độc
Loại bỏ chất độc bằng cách gây nôn: than hoạt tính, thuốc xổ Na2SO4, MgSO4 với liều 0,5 mg/kgP (một liều duy nhất) đồng thời tiến hành súc rửa dạ dày
Tăng cường giải độc gan bằng Hematopan B12
Hỗ trợ tuần hoàn (Camphorate 20 %), giảm đau (analgin), chống co giật (Prozil, promethazine),…
Dùng furosemide thúc đẩy thải chất độc ra ngoài qua nước tiểu với liều 4mg/kgP
Truyền dịch tĩnh mạch: Lactated ringer, Glucose 5 % hay tiêm Glucose 30
%
Sử dụng các chất giải độc đặc biệt khi xác định chính xác chất gây độc
Sau khi thú bình phục, cần tăng sức đề kháng, trợ lực bằng các vitamin C, vitamin nhóm B và cho ăn thức ăn dễ tiêu, đầy đủ chất dinh dưỡng
2.5 C ác liệu pháp điều trị
2.5.1 Điều trị theo nguyên nhân gây bệnh
Là cách điều trị bệnh trực tiếp, tác động vào chính tác nhân gây bệnh Liệu pháp này cho hiệu quả cao nhưng cần xác định đúng nguyên nhân gây bệnh
Ví dụ: nghi bệnh do giun sán, điều trị bằng cách cho uống Exotral
Trang 392.5.2 Điều trị theo cơ chế sinh bệnh
Từ khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể đến khi gây thành bệnh, quá trình
này trải qua nhiều giai đoạn Việc điều trị theo cơ chế sinh bệnh là dùng các biện pháp điều trị để cắt đứt cơn bệnh ở một khâu nào đó nhằm ngăn chặn hậu quả kế tiếp xảy ra
Ví dụ: Trong điều trị giun tim diệt ấu trùng L1 và L3 bằng:
Levamisole: 10mg/kg tiêm dưới da 7 - 14 ngày
Ivermectin liều 0,1 - 0,4 mg/kg tiêm dưới da cho chó
2.5.3 Điều trị theo triệu chứng
Là cách điều trị dựa trên biểu hiện lâm sàng, nhìn thấy ở ca bệnh nhưng không xác định chính xác tác nhân gây bệnh Đây là cách điều trị phổ biến trong thú
y, nhằm ngăn chặn các triệu chứng nghiêm trọng có khả năng đe dọa đến tính mạng của thú bệnh
Ví dụ: trong nghi bệnh do Parvovirus, Carré:
Chống ói bằng Primeran, Atropin 1ml/10kg thể trọng, SC hoặc IM
Cầm tiêu chảy bằng Smecta 1gói/10kg thể trọng, PO
2.5.4 Liệu pháp hỗ trợ
Đây là liệu pháp hết sức quan trọng trong công tác điều trị bệnh, đặc biệt là trong các bệnh do virus gây ra nhằm nâng cao sức đề kháng Thực hiện tốt liệu pháp này là phải đảm bảo giữ cho thú ở nơi ấm áp và có độ thông thoáng thích hợp, cho thú ăn những thức ăn mềm, dễ tiêu, cung cấp đầy đủ vitamin và chất dinh dưỡng,
ngon miệng nhằm nâng cao sức đề kháng cho thú bệnh
Trong thực tế, để điều trị một cách hiệu quả các bệnh cần phải phối hợp nhiều liệu pháp điều trị cùng một lúc Do đó, người làm công tác điều trị cần phải nắm vững kiến thức chuyên môn, cách sử dụng các loại thuốc và phối hợp thuốc với
Trang 40nhau để tránh gây mất tác dụng của thuốc, quá trình điều trị được nhanh chóng và
hiệu quả, giá thành điều trị giảm
2.6 Một số công trình nghiên cứu bệnh có triệu chứng trên đường tiêu hóa
- Tô Thị Thiện Toàn (2005) khảo sát 3451 chó tại Chi cục Thú y Thành Phố
Hồ Chí Minh cho biết có 1065 con có triệu chứng bệnh trên đường tiêu hóa chiếm
tỷ lệ 30,86 %
- Nguyễn Khắc Trí (2006) khảo sát 668 chó tại Bệnh Xá Thú y Trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh ghi nhận chó có dấu hiệu bệnh trên đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ 57,49 %
- Lê Thanh Tuyền (2008) khảo sát 2304 chó tại trạm thú y Quận Tân Bình
Thành Phố Hồ Chí Minh thì chó có triệu chứng bệnh trên đường tiêu hóa là 47,82
%, tỷ lệ điều trị khỏi là 62,55 %
- Bùi Thị Bích Phương (2010) khảo sát 987 con chó tại Phòng Khám Thú Y K-9 Quận 7 Tp HCM trong đó 451 con có dấu hiệu bệnh trên đường tiêu hóa chiếm
tỷ lệ 45,69 %, tỷ lệ điều trị khỏi là 68,25 %
- Lê Hùng Tráng (2010) khảo sát 1393 chó tại Trạm Thú Y Quận 8, Tp HCM
có 616 con có triệu chứng bệnh trên đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ 44,22 %, tỷ lệ điều trị khỏi là 74,68 %
- Đoàn Đức Thế (2010) khảo sát 742 con chó tại Trạm Thú Y Quận Tân Bình, Tp HCM ghi nhận chó có triệu chứng bệnh trên đường tiêu hoá chiếm 35,31
%, tỷ lệ điều trị khỏi bệnh là 80,15 %