1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỨNGBỆNH CỦA HỘI CHỨNG M.M.A TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ TÌNH TRẠNG TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ TẠI XÍ NGHIỆP HEO GIỐNG CẤP I

69 352 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 470,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, những chứng/bệnh thường gặp trên nái sau khi sinh như viêm vú, viêm tử cung, mất sữa có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của nái, làm giảm số lứa đẻ trong năm thậm chí

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y

***************

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỨNG/BỆNH CỦA HỘI CHỨNG M.M.A TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ TÌNH TRẠNG TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO

MẸ TẠI XÍ NGHIỆP HEO GIỐNG CẤP I

Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ THU ĐÔNG

Tháng 08/2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y

***************

NGUYỄN THỊ THU ĐÔNG

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỨNG/BỆNH CỦA HỘI CHỨNG M.M.A TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ TÌNH TRẠNG TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO

MẸ TẠI XÍ NGHIỆP HEO GIỐNG CẤP I

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ Thú y

chuyên ngành Dược

Giáo viên hướng dẫn

TS NGUYỄN VĂN PHÁT

Tháng 08/2011

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ và tên sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THU ĐÔNG

Tên luận văn: “Khảo sát một số chứng/bệnh của hội chứng M.M.A trên

heo nái sau khi sinh và tình trạng tiêu chảy trên heo con theo mẹ”

Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi Thú Y

Ngày…….tháng…….năm 2011

Giáo viên hướng dẫn

TS NGUYỄN VĂN PHÁT

Trang 4

Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng toàn thể quý Thầy Cô trong khoa

đã tận tình truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt khóa học

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

TS Nguyễn Văn Phát đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành luận văn này

Chân thành cảm ơn

Ban Giám Đốc Xí Nghiệp Heo Giống Cấp I và cùng toàn thể cô chú, anh chị trong trại đã nhiệt tình giúp đỡ, chỉ dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp Xin cám ơn các bạn trong và ngoài lớp đã gắn bó chia sẽ vui buồn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Tp Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 08 năm 2011

Xin chân thành cảm ơn!

NGUYỄN THỊ THU ĐÔNG

Trang 5

Tỷ lệ kém sữa trên nái sau khi sinh chiếm 11,35 % và tỷ lệ nái viêm vú chiếm 3,78 % Tỷ lệ kém sữa và tỷ lệ viêm vú xảy ra tương đương giữa các lứa đẻ

Số heo con sinh ra bình quân trên ổ ở nhóm nái mắc M.M.A (10,61 con/ổ) cao hơn ở nhóm nái bình thường (9,41 con/ổ) Số con chọn nuôi bình quân trên ổ ở nhóm nái mắc M.M.A (9,32 con/ổ); ở nhóm nái bình thường (8,45 con/ổ) Trọng lượng sơ sinh bình quân trên ổ ở nhóm nái mắc M.M.A (1,56 kg/con); ở nhóm nái bình thường (1,60 kg/con)

Số heo cai sữa 8,34 con/ổ ở nhóm nái mắc M.M.A; 7,99 con/ổ ở nhóm nái bình thường Trọng lượng heo cai sữa và tỷ lệ nuôi sống ở nhóm nái bình thường (8,04 kg/con và 94,56 %) cao hơn nhóm nái mắc bệnh (7,10 kg/con và 89,42 %) Ngược lại tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở nhóm nái bình thường (3,48 %) thấp hơn ở nhóm nái mắc bệnh ( 9,73 %)

Vi khuẩn Staphylococcus spp., Streptococcus spp và E.coli phân lập được từ mẫu dịch viêm trên nái, E.coli từ mẫu phân heo con tiêu chảy Qua thử kháng sinh

đồ thì các vi khuẩn này đề kháng mạnh với một số loại kháng sinh như ampicillin, streptomycin, erythromycine, bactrim, chỉ còn nhạy cảm với một số ít kháng sinh (cephalexin, norfloxacin, tobramycin) nhưng với tần suất không cao (37,5 – 75 %)

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG

Trang tựa i

Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii

Lời cảm tạ iii

Tóm tắt iv

Mục lục v

Danh sách các chữ viết tắt viii

Danh sách các bảng ix

Danh sách các sơ đồ và biểu đồ x

Danh sách các hình xi

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ XÍ NGHIỆP HEO GIỐNG CẤP I 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Lịch sử phát triển 3

2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của xí nghiệp 3

2.1.4 Cơ cấu tổ chức và nhân sự 4

2.1.5 Cơ cấu đàn 4

2.1.6 Chuồng trại 4

2.1.7 Chăm sóc, quản lý và nuôi dưỡng 5

2.1.8 Qui trình vệ sinh thú y 7

2.2 MỘT SỐ CHỨNG/BỆNH TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH 8

2.2.1 Viêm tử cung trên nái 8

2.2.2 Viêm vú trên nái 13

Trang 7

2.2.3 Kém sữa, mất sữa 15

2.2.4 Hội Chứng M.M.A 16

2.3 TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ 17

2.3.1 Khái niệm về bệnh tiêu chảy 17

2.3.2 Nguyên nhân gây tiêu chảy 17

2.3.3 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy trên heo con 19

2.3.4 Biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh 19

2.4 LƯỢC DUYỆT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 20

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 22

3.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT 22

3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 22

3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT 22

3.4 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 22

3.4.1 Theo dõi nhiệt độ và ẩm độ của trại nái đẻ 22

3.4.2 Khảo sát tình hình mắc các chứng/bệnh của hội chứng M.M.A trên nái sau khi sinh 23

3.4.3 Khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng và tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ 24

3.4.4 Phân lập và thử kháng sinh đồ của một số vi khuẩn trong mẫu dịch viêm tử cung và mẫu phân heo con tiêu chảy 24

3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 26

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT NHIỆT ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ TRẠI NÁI 27

4.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CÁC CHỨNG/BỆNH CỦA HỘI CHỨNG M.M.A TRÊN NÁI SAU KHI SINH 28

4.2.1 Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú, kém sữa trên nái sau khi sinh 28

4.2.2 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa đẻ trên nái khảo sát 31

4.2.3 Tỷ lệ các dạng viêm tử cung trên tổng số nái viêm 32

4.2.4 Tỷ lệ viêm vú và kém sữa theo lứa đẻ trên nái khảo sát 33

4.3 KẾT QUẢ KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG VÀ TÌNH HÌNH TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ 34

Trang 8

4.3.1 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển heo con theo thể trạng nái 34

4.3.2 Tỷ lệ nuôi sống heo con đến 24 ngày tuổi theo thể trạng nái 36

4.3.3 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo thể trạng nái 37

4.4 PHÂN LẬP VÀ THỬ KHÁNG SINH ĐỒ MỘT SỐ VI KHUẨN TRONG MẪU DỊCH VIÊM TỬ CUNG VÀ MẪU PHÂN HEO CON TIÊU CHẢY 39

4.4.1 Kết quả phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ từ mẫu dịch viêm tử cung trên nái sau khi sinh 39

4.4.2 Kết quả phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ từ mẫu phân heo con tiêu chảy 41

4.5 KHẢO SÁT HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ CHỨNG/BỆNH TRÊN NÁI CỦA TRẠI 43

4.5.1 Hiệu quả điều trị một số chứng/bệnh trên nái ở trại 43

4.5.2 Hiệu quả điều trị tiêu chảy trên heo con theo mẹ 45

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46

5.1 KẾT LUẬN 46

5.2 ĐỀ NGHỊ 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ LỤC 52

Trang 9

Số heo con sơ sinh đẻ ra trên ổ

Số heo con sơ sinh chọn nuôi trên ổ

Tỷ lệ nuôi sống

Tỷ lệ ngày con tiêu chảy Trọng lượng sơ sinh bình quân Trọng lượng cai sữa bình quân Nhiệt độ trung bình buổi trong tháng

Ẩm độ trung bình buổi trong tháng Bệnh Lở Mồm Long Móng

Viêm tử cung, Viêm vú, Mất sữa

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Qui trình tiêm phòng cho các loại heo của xí nghiệp 8

Bảng 4.1 Kết quả khảo sát nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi trại nái đẻ 27

Bảng 4.2 Mức nhiệt độ thích hợp cho heo 27

Bảng 4.3 Tỷ lệ viêm tử cung theo lứa đẻ trên nái khảo sát 31

Bảng 4.4 Tỷ lệ viêm vú và kém sữa theo lứa đẻ trên nái khảo sát 33

Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển trên heo con theo thể trạng của nái 34

Bảng 4.6 Tỷ lệ nuôi sống heo con đến 24 ngày tuổi theo thể trạng nái 37

Bảng 4.7 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo thể trạng nái 38

Bảng 4.8 Kết quả phân lập vi sinh vật trong mẫu dịch viêm 40

Bảng 4.9 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn phân lập từ mẫu dịch viêm tử cung 41

Bảng 4.10 Kết quả thử kháng sinh đồ của vi khuẩn E.coli 42

Bảng 4.11 Kết quả điều trị viêm tử cung, viêm vú, kém sữa tại trại 44

Bảng 4.12 Kết quả điều trị tiêu chảy tại trại 45

Trang 11

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ

Trang

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của xí nghiệp heo giống cấp I 4

Sơ đồ 2.2 Cơ chế gây viêm vú 14

Sơ đồ 2.3 Cơ chế hội chứng M.M.A 17

Sơ đồ 2.4 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy heo con 19

Biểu đồ 4.1 Tình hình sức khỏe trên nái sau khi sinh 28

Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ các dạng viêm tử cung trên nái viêm 32

Trang 12

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Chuồng heo nái nuôi con 5

Hình 4.1 Nái viêm tử cung dạng nhờn 29

Hình 4.2 Nái viêm tử cung dạng mủ 30

Hình 4.3 Nái viêm tử cung dạng mủ máu 30

Hình 4.4 Nái viêm vú 30

Hình 4.5 Heo con bị tiêu chảy 39

Trang 13

Chương 1

MỞ ĐẦU

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay ngành chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực

phẩm có nguồn gốc động vật cho người tiêu dùng Trong đó chăn nuôi heo thật sự trở thành ngành sản xuất hàng hóa được nhiều thành phần kinh tế tham gia, đầu tư phát triển với nhiều qui mô khác nhau

Trong lĩnh vực phát triển đàn heo giống, khâu chăm sóc, quản lý heo nái sinh sản và heo con theo mẹ có ảnh hưởng lớn đến thành tích sinh sản của nái và hiệu quả kinh tế chăn nuôi Mặc dù việc chăm sóc và phòng ngừa các bệnh về đường sinh sản của heo nái và các bệnh trên heo con theo mẹ luôn được người chăn nuôi đặc biệt quan tâm, song do điều kiện khí hậu nước ta nóng ẩm, công tác chăm sóc quản lý còn nhiều hạn chế nên dễ phát sinh bệnh trên nái và tiêu chảy trên heo con theo mẹ (Nguyễn Văn Út, 2007)

Trong đó, những chứng/bệnh thường gặp trên nái sau khi sinh như viêm vú, viêm tử cung, mất sữa có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của nái, làm giảm số lứa đẻ trong năm thậm chí có thể làm mất hẳn khả năng sinh sản của nái Không những thế đây còn là một trong những nguyên nhân gây tỷ lệ tiêu chảy ở heo con theo mẹ tăng cao do thành phần sữa mẹ thay đổi

Xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi – Thú y, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn

Phát, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát một số chứng/bệnh của hội chứng

M.M.A trên heo nái sau khi sinh và tình trạng tiêu chảy trên heo con theo mẹ”

Trang 14

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

Tìm hiểu các chứng/bệnh của hội chứng M.M.A trên nái sau khi sinh, ảnh hưởng của bệnh trên đến sinh trưởng phát triển của heo con để có biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả

1.2.2 Yêu cầu

Khảo sát ẩm độ và nhiệt độ chuồng nuôi

Theo dõi và ghi nhận nái viêm tử cung, viêm vú, kém sữa sau khi sinh

Theo dõi và ghi nhận tình trạng tiêu chảy trên heo con theo mẹ

Khảo sát mối liên quan giữa một số chứng/bệnh trên nái đối với sinh trưởng, phát triển của heo con

Trang 15

Chương 2 TỔNG QUAN

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ XÍ NGHIỆP HEO GIỐNG CẤP I

2.1.1 Vị trí địa lý

Xí nghiệp được xây dựng trên một triền đồi, nằm ở khu dân cư, có tường rào bao quanh, cách quốc lộ 1K khoảng 300 m về phía Tây rất thuận tiện cho việc vận chuyển

Diện tích xí nghiệp khoảng 4 ha

Địa chỉ: 168/6 – phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, TP HCM

2.1.2 Lịch sử phát triển

Trước năm 1945, xí nghiệp có tên là trại heo Chấn Hưng Sau năm 1975, các

cơ sở chăn nuôi được nhà nước tiếp thu và quản lý Hai cơ sở chăn nuôi Chấn Hưng

và Quyết Thắng được nhà nước tiếp thu và xác nhập thành một trại duy nhất lấy tên

là Chấn Hưng Trong thời gian này trại thuộc công ty Chăn Nuôi II

Năm 1981, trại đổi tên thành Xí Nghiệp Heo Giống Cấp I và đã nhập 3 giống: Yorkshire, Landrace, Duroc, với tổng số là 342 con Trong đó, nọc 42 con, nái 300 con với mục đích là làm phong phú nguồn gen

Năm 1992, xí nghiệp trực thuộc Sở Nông Nghiệp Nông Thôn TP HCM Năm 1997 đến nay, xí nghiệp trực thuộc tổng công ty Nông Nghiệp Sài Gòn

2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của xí nghiệp

Quản lý và bảo tồn các nguồn gen giống hiện có, tiếp nhận nguồn giống cao sản của các nước tiên tiến, nâng cao chất lượng đàn giống bằng các biện pháp

kỹ thuật, tổ chức khoa học và hiệu quả quá trình sản xuất con giống

Cung cấp heo đực hậu bị, nái hậu bị thuần và lai cho các hộ gia đình, các cơ

sở chăn nuôi lớn và vừa

Cung cấp tinh cho thị trường chăn nuôi

Trang 16

2.1.4 Cơ cấu tổ chức và nhân sự

Xí nghiệp được sự quản lý thống nhất, đứng đầu là Giám Đốc, kế đến là Phó giám đốc, và các bộ phận chức năng chuyên biệt đảm nhận những công việc khác nhau Cơ cấu tổ chức của xí nghiệp được trình bày qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của xí nghiệp heo giống cấp I 2.1.5 Cơ cấu đàn

Tổng đàn của xí nghiệp tính đến ngày 20/06/2011 là 3539 con, trong đó:

(Phòng kỹ thuật Xí Nghiệp Heo Giống Cấp I, 2011)

2.1.6 Chuồng trại

Hệ thống chuồng được phân thành nhiều khu vực và đặt tên theo thứ tự A, B,

C, giữa các chuồng có trồng xen các hàng cây như: Dừa, Mít, Bàng… giúp tạo bóng mát, điều hòa khí hậu chuồng nuôi Xí nghiệp có 7 khu chuồng chính được phân theo từng loại heo ở các giai đoạn nuôi khác nhau Chuồng nái khô và nái chửa,

Đàn sinh sản

Đực làm việc: 54

Heo đực thí tình: 2 con

Heo nái sinh sản: 400 con

Nái bầu: 291 con

Nái nuôi con: 79 con

Nái khô: 30 con Heo con theo mẹ: 658 con Heo con cai sữa: 752 con Đàn hậu bị: 2333 con Đực hậu bị: 1238 con Cái hậu bị: 1095 con Tổng đàn: 3539 con (không tính heo con theo mẹ)

Trang 17

chuồng nái hậu bị, chuồng heo nái nuôi con, chuồng heo cai sữa đến 60 ngày tuổi, chuồng heo 60 - 90 ngày, chuồng heo đực và cái hậu bị, chuồng nuôi heo đực giống

Chuồng trại khảo sát (chuồng heo nái nuôi con)

Gồm 5 chuồng: K, L, M, N, O Các chuồng đều có kiểu hở, mái đôi, lợp bằng tôn fibrociment Riêng chuồng K được thiết kế kiểu nửa kín nửa hở Mỗi ô đều

có hệ thống phun sương, quạt đẩy đầu dãy và quạt hút gió cuối dãy để điều hòa khí hậu khi trời nóng và màng che chắn khi trời lạnh Mỗi ô đều có hố sát trùng đầu chuồng, gần cửa ra vào

Mỗi chuồng gồm hai dãy song song, mỗi dãy có 20 ô được thiết kế theo kiểu chuồng củi song sắt, kích thước mỗi ô là 2,2 m x 1,87 m, phần chuồng bên trái là 0,80

m bên phải là 0,60 m Máng ăn heo mẹ bằng inox, sử dụng núm uống tự động Trong mỗi ô chuồng có bóng đèn tròn để sưởi ấm, ổ úm và khay tròn tập ăn cho heo con

Hình 2.1 Chuồng heo nái nuôi con

2.1.7 Chăm sóc, quản lý và nuôi dưỡng

2.1.7.1 Nái đẻ và nuôi con

Khi nái sinh luôn có công nhân trực, theo dõi kịp thời để giúp nái trong những ca đẻ khó, sốt Sau khi đẻ được theo dõi nhiệt độ liên tục trong vòng 3 ngày

để biết được nhiệt độ cơ thể, can thiệp kịp thời khi bị sốt có thể do nái bị hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa thì tiêm oxytocin, Genta – amox, truyền sinh lý

Trang 18

ngọt cho nái, không cho ăn nửa ngày, sau đó cho ăn rất ít rồi từ từ tăng lượng thức

ăn lên Mỗi ngày cho ăn 5 lần: sáng 2 lần, chiều 2 lần, tối 1 lần bằng thức ăn hỗn hợp số 10B với lượng tăng dần theo số ngày sau khi sinh, ngày sinh nhịn đói, ngày hôm sau ăn 1,5 kg sau đó mỗi ngày tăng 0,5 kg cho đến khoảng tối đa 5,6 kg

Heo nái không được tắm trong suốt thời gian nuôi con để tránh heo con bị ướt, lạnh dễ dẫn đến tình trạng bị tiêu chảy

2.1.7.2 Heo con theo mẹ

Heo con sau khi sinh được làm ấm bằng bột Mistran, bật đèn sưởi ấm cho heo con, cho heo bú sữa đầu càng sớm càng tốt, ngày sau đó lần lượt đếm số vú, cắt răng, cắt đuôi, cân trọng lượng heo con, bấm số tai heo, sát trùng bằng cồn iod Loại

bỏ những heo con bị dị tật, yếu, có trọng lượng nhỏ hơn 0,8kg

Tiêm Fe-dexan 2ml cho heo con lúc 3 ngày tuổi

Tập ăn cho heo con lúc 7 ngày tuổi

Tiêm ADE và Fe-Dexan lần hai lúc 10 ngày tuổi Tuyệt đối không tắm heo con Nếu heo con bị tiêu chảy sử dụng kháng sinh như tiamulin, marcrosone, enrofloxacin và truyền glucose, chất điện giải để trợ lực Heo con bị còi cũng được

hỗ trợ bằng cách tiêm glucose và chất điện giải vào xoang bụng

2.1.7.3 Thức ăn

Thức ăn hỗn hợp được xí nghiệp tự tổ hợp và mua thêm từ các công ty thức

ăn gia súc như: Proconco, An Phú…

Các loại thức ăn dành cho các loại heo như sau:

Heo tập ăn từ 7 – 15 ngày tuổi: cho ăn cám Vitalac (Proconco)

Heo con từ 15 – 30 ngày tuổi: cho ăn cám số 1505 (Proconco)

Heo từ khi cai sữa đến 60 ngày tuổi: cho ăn cám Delice B (Proconco) Heo đực và heo cái hậu bị: cho ăn cám số 8 (An Phú)

Heo nái nuôi con: cho ăn cám số 10B (An Phú)

Heo nái khô, chửa: cho ăn cám 10A (An Phú)

Heo giống số: cho ăn cám 1806 (Proconco)

Trang 19

Giá trị dinh dưỡng và định mức ăn hàng ngày của các loại heo được trình bày chi tiết ở phần phụ lục

2.1.8 Qui trình vệ sinh thú y

2.1.8 1 Vệ sinh thức ăn

Thức ăn được bảo quản trong kho tránh ẩm ướt, hạn chế nấm mốc, hư hại, kho được quét dọn sạch sẽ, cửa ra vào đóng kín không cho chuột, côn trùng vào cắn phá thức ăn, được kiểm tra kĩ trước khi xuất kho, các máng ăn nước uống cũng được vệ sinh kĩ trước khi cho ăn

2.1.8 2 Vệ sinh chuồng trại

Mỗi ngày công nhân quét dọn sạch sẽ khu vực chuồng trại và khu vực xung quanh Thường xuyên nhổ cỏ, khai thông cống rãnh tạo sự thông thoáng, hạn chế mầm bệnh từ những vật mang trùng

Đầu mỗi dãy chuồng đều có hố sát trùng, thuốc sát trùng sử dụng là Bio-sept, các xe cơ giới khi vào xí nghiệp đều được bảo vệ phun thuốc sát trùng và chạy qua

hố sát trùng ở cổng xí nghiệp để đảm bảo vệ sinh phòng dịch và hạn chế tối đa các bệnh từ nơi khác đến Thuốc sát trùng sử dụng là Bio-sept, Bestaquam-s, Virkon

Vệ sinh chuồng trống: sau khi heo chuyển đi nơi khác, rửa chuồng, xịt NaOH

5 % để qua 2 ngày, phun thuốc sát trùng, hai ngày sau xịt vôi vào chuồng, để ít nhất một tuần sau mới được nhận heo mới vào chuồng

2.1.8 3 Vệ sinh công nhân và khách tham quan

Vệ sinh công nhân

Công nhân trong xí nghiệp được mặc quần áo, nón, ủng, bảo hộ lao động trước khi xuống chuồng và sau khi rời khỏi chuồng phải tắm rửa sạch sẽ Công nhân không được mặc quần áo ở ngoài vào khu vực chăn nuôi và ngược lại Chỉ được di chuyển trong khu vực mình phụ trách

Các công nhân mới vào làm hay sinh viên vào thực tập phải được cách ly 3 ngày trước khi xuống khu vực chăn nuôi

Vệ sinh khách tham quan

Trang 20

Khách tham quan trước khi vào khu vực chăn nuôi được vệ sinh thân thể và thay quần áo của xí nghiệp, đi ủng bảo hộ và đi lên hố sát trùng khi đi xuống các dãy chuồng dưới sự hướng dẫn của các kĩ thuật viên hay công nhân của xí nghiệp, tuân thủ theo các qui định của xí nghiệp

2.1.8.4 Qui trình tiêm phòng

Các qui trình tiêm phòng một số bệnh truyền nhiễm cho heo tại xí nghiệp được trình bày ở Bảng 2.1

Bảng 2.1 Qui trình tiêm phòng cho các loại heo của xí nghiệp

(Nguồn: Xí Nghiệp Heo Giống Cấp I, 2011)

2.2 MỘT SỐ CHỨNG/BỆNH TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH

2.2.1 Viêm tử cung trên nái

Theo Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho, (1995) cho rằng heo nái bị viêm tử cung khi có chảy dịch, mủ từ đường sinh dục (âm môn) là dấu hiệu thường thấy khi heo nái bị viêm tử cung sau khi sinh thường kéo dài 3 – 7 ngày sau khi sinh Tùy thuộc vào mức độ của quá trình viêm mà dịch chảy ra có thể lẫn chất nhầy hay mủ Viêm tử cung thường xuất hiện trên nái sau khi sinh Khi viêm tử cung sẽ tổn thương lớp niêm mạc Từ đó, gây ảnh hưởng sự phân tiết PGF2α làm xáo trộn chu kì động dục, làm tăng tình trạng chậm

Loại

vaccine Đực giống Nái sinh sản Heo con Heo hậu bị

Dich tả 2 lần/năm 6 tuần trước

khi sinh

3 tuần và 7 tuần tuổi 26 tuần tuổi

FMD 2 lần/năm 5 tuần trước

khi sinh 8 tuần tuổi 12 tuần và

28 tuần tuổi

Giả dại 2 lần/năm 4 tuần trước

khi sinh - -

Mycoplasma - - 2 tuần tuổi -

E.coli - 3 tuần trước

khi sinh - 32 tuần tuổi

Trang 21

sinh và vô sinh Những tổn thương đường sinh dục nái sau khi sinh Khi có dịch tiết và dịch lẫn mủ, chính là biểu hiện của viêm (Nguyễn Văn Thành, 2002)

2.2.1.1 Nguyên nhân gây viêm tử cung

Do vi sinh vật

Theo Nguyễn Văn Thành (2002) và Võ Thị Minh Châu (2004), vi sinh vật

trong dịch viêm tử cung heo chủ yếu là streptococci, E.coli, staphylococci

Theo Aberes (1973), ngoài các vi khuẩn kể trên còn có hiện diện cả

Mycoplasma (trích dẫn bởi Nguyễn Hồng Nhiên, 2003)

Tóm lại, đa số các tác giả cho rằng hội chứng M.M.A không phải do nguyên nhân của bệnh truyền nhiễm Những vi sinh vật phân lập được đều là vi sinh vật cơ hội, có sẵn trong môi trường xung quanh, chuồng trại, nước tiểu, phân Sau khi sinh, nái thường mệt, giảm sức đề kháng, cổ tử cung mở, niêm mạc tử cung bị tổn thương, là điều kiện tốt cho chúng xâm nhập vào bộ phận sinh dục gây viêm nếu chuồng trại kém vệ sinh

Do quản lý chăm sóc

Theo Võ Văn Ninh (2007), trong thời gian mang thai tránh để cho nái dư thừa dưỡng chất dẫn đến nái mập, nái mập thì thường lười rặn, đẻ chậm, dễ gây tình trạng ngộp thai, chết thai khi hạ thai và sau khi đẻ mắc hội chứng M.M.A

Theo Frienes (1970), những yếu tố liên quan đến chăm sóc quản lý như môi trường, stress, dinh dưỡng sẽ làm giảm sức đề kháng, heo dễ mắc bệnh hơn (trích dẫn bởi Đặng Đào Thùy Dương, 2006) Theo Đặng Đắc Thiệu (1978), điều kiện môi trường thay đổi đột ngột (thời tiết, môi trường quá nóng hay quá lạnh), nếu nái thiếu vận động hoặc bị stress do nhốt chung quá đông, vệ sinh kém trong thời gian mang thai có thể dẫn đến hội chứng M.M.A (trích dẫn bởi Lê Kuy Ba, 2006)

Do dinh dưỡng

Comette (1950) cho rằng hội chứng M.M.A xảy ra là thiếu ăn nên khả năng chống bệnh giảm, vi trùng lan tràn từ bộ máy tiêu hóa đến bộ máy sinh dục (trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 2000)

Trang 22

Schenk Kolb (1962) cho rằng nếu thiếu vitamin A sẽ gây sừng hóa niêm mạc

tử cung, làm giảm sức đề kháng niêm mạc tử cung, gây viêm tử cung Summer và Ringarb (1960) cho rằng khẩu phần dư đạm, heo nái mập trước và trong kỳ mang thai dễ gây nên hội chứng M.M.A (trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 1995)

Nước uống có tầm quan trọng bậc nhất đối với nái trong giai đoạn mang thai

và giai đoạn tiết sữa nuôi con Theo Trần Thị Dân (2003), ít uống nước làm cho nái phải dự trữ nước của cơ thể bằng cách hấp thu nước từ dịch chất trong lòng ruột, do

đó heo nái có thể bị bón là nguyên nhân gây hội chứng M.M.A

Do tuổi và tình trạng sức khỏe

Theo Nguyễn Văn Thành (2002), ở lứa đẻ lần đầu, nái hậu bị có khung xương chậu chưa phát triển hoàn chỉnh sẽ dẫn đến tình trạng đẻ khó và tổn thương nặng trên niêm mạc đường sinh dục Trên heo nái già thường có sự giảm sút sức đề kháng, rặn đẻ kém làm ứ đọng sản dịch trong đường sinh dục tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập

và phát triển Những heo nái có thể trạng kém, mắc một số bệnh trong thời kỳ mang thai và sau khi sinh sẽ gia tăng nguy cơ mắc bệnh (Đặng Đào Thùy Dương, 2006)

Do rối loạn sinh lý nội tiết tố

Tuyến yên và tuyến giáp trạng giữ vai trò quan trọng trong sự sản xuất sữa Theo Đặng Đắc Thiệu (1978) và Nguyễn Như Pho (1985), Martin và cộng tác viên (1967), nhận thấy những heo nái mắc hội chứng M.M.A thường có buồng trứng nhỏ, tuyến giáp teo lại, tuyến thượng thận lớn lên, các mô trong tuyến thượng thận và tuyến yên thoái hóa, do đó các tác giả đã kết luận rằng: sự mất cân bằng về sản xuất kích thích tố có thể giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên trạng thái bệnh viêm tử cung trong hội chứng M.M.A (trích dẫn bởi Diệp Tố Khương, 2002)

Do sinh đẻ không bình thường

Heo nái đẻ khó do thai quá lớn, vị trí bào thai không bình thường, cấu tạo xương chậu hẹp, heo nái mập mỡ, heo rặn nhiều, tự gây tổn thương trên đường sinh dục Nái biếng rặn hoặc rặn yếu, thời gian đẻ kéo dài, tổn thương bộ phận sinh dục do can thiệp bằng tay của người đỡ đẻ không đúng… tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển (Nguyễn Văn Út, 2007)

Trang 23

Ensor (1957), Brooksbank (1958), Victor (1960) và Tharp (1970) đều đồng ý cho rằng sót nhau sẽ đưa đến chứng tắt sữa, nhiễm trùng và viêm tử cung Dù một miếng nhau nhỏ hay bào thai sót lại trong tử cung đều đưa đến chứng viêm tử cung Nhau và thai bị sót sẽ bị thối rữa trong tử cung từ 24 – 48 giờ là môi trường tốt cho

vi sinh vật phát triển và gây viêm tử (trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 2000)

2.2.1.2 Phân loại các dạng viêm tử cung

Viêm dạng nhờn

Viêm nhờn là thể viêm nhẹ thường xuất hiện từ 1 – 3 ngày sau khi sinh Ở dạng này niêm mạc tử cung bị tổn thương nhẹ, tử cung tiết nhiều dịch nhờn trong hoặc đục, lợn cợn có mùi tanh, sau vài ngày dịch tiết giảm dần, đặc lại Heo nái không sốt hay sốt nhẹ, nái vẫn cho con bú bình thường Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sức khỏe của heo nái cũng như sự phát triển của đàn heo con (Nguyễn Như Pho, 2002)

Viêm dạng mủ

Dạng viêm mủ là thể viêm nặng, số lượng vi sinh vật nhiễm vào tử cung nhiều hoặc do viêm tử cung dạng nhờn kế phát Heo nái thường sốt 40 – 41 0C, nái tăng hô hấp, kém ăn và thường nằm nhiều Lúc đầu dịch viêm lỏng, trắng đục sau chuyển sang nhầy đặc, lợn cợn, có màu vàng, xanh đặc, có khi có lẫn máu, mùi rất hôi tanh, viêm thường kéo dài 3 – 4 ngày và có thể đến 7 ngày Sau đó xuất hiện mủ đặc, dính mép âm hộ Nếu không can thiệp kịp thời nó sẽ chuyển sang dạng viêm rất nặng, dẫn đến viêm vú và mất sữa Do sức khỏe heo nái giảm thấp, vi trùng vào máu đến tuyến

vú gây viêm toàn bộ các bầu vú hoặc gây nhiễm trùng máu (Nguyễn Văn Thành, 2002) Theo Smith và ctv (1995), dạng viêm có mủ do các vi trùng sinh mủ tấn công

mạnh vào tử cung Kết quả khảo sát cho thấy staphylococci, Diplococcus, E.coli,

streptococci là các vi khuẩn chính gây bệnh (trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 2002)

Trang 24

tăng tần số hô hấp, khát nước, mệt mỏi, hay nằm, kém phản ứng với tác động bên ngoài, đôi khi đè cả con Nái có thể chết do nhiễm trùng máu, dịch viêm có mùi rất tanh Thành

tử cung viêm nặng dễ rách, các tiết vật và chất tiết có màu xám đen lẫn máu hay tế bào

2.2.1.3 Tác hại của viêm tử cung

Trên heo mẹ

Nái suy yếu, giảm sức đề kháng, giảm sản lượng sữa, ít cho con bú và hay đè con Những nái bị viêm có tổ chức tế bào tử cung thay đổi, dẫn đến giảm khả năng sinh sản của nái ở các lứa đẻ tiếp theo Nái khó đậu thai, thai dễ bị hư, khả năng nuôi con cũng không bình thường

Khi viêm thì các tế bào niêm mạc tử cung bị thay đổi, làm ảnh hưởng đến sự phân tiết prostagladin ở tử cung, làm giảm sự phân tiết prostagladin dẫn đến tồn thể vàng sau khi sinh gây chậm lên giống sau cai sữa

Mặt khác viêm tử cung còn làm cho niêm mạc tử cung bị biến đổi về mặt mô học, xơ hóa, điều này làm hạn chế sự định vị của thai, do đó làm giảm năng suất sinh sản của heo ở các lứa sau Nếu quá trình viêm kéo dài, sự xơ hóa xảy ra trên một diện tích lớn, viêm có thể lây lên phía trên gây viêm dính và xơ hóa ống dẫn trứng là nguyên nhân gây vô sinh

Trên heo con

Nái bị viêm vú làm giảm sản lượng sữa nên heo con đói, khát, còi cọc, giảm tăng trọng Heo con liếm phải sản dịch viêm của mẹ gây ra tiêu chảy, nếu nặng có thể gây chết

2.2.1.4 Biện pháp phòng và điều trị viêm tử cung

Trang 25

Nguyễn Như Pho và cộng tác viên (1991), đã khuyến cáo việc sử dụng chất xơ

9 % trong khẩu phần heo nái mang thai trong giai đoạn 84 – 114 ngày của thai kỳ sẽ giảm được hội chứng M.M.A Trên heo nái do chất xơ có vai trò như chất độn làm cho heo có cảm giác no Đồng thời, chất xơ còn làm tăng nhu động ruột, giảm táo bón Ensoe (1957), Broods Bank (1958), Fith (1960) đã cho rằng chứng táo bón là nguyên nhân chính gây ra hội chứng M.M.A (trích dẫn bởi Diệp Tố Khương, 2002)

Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho (1995) báo cáo sử dụng tetracycline hay phối hợp tetracycline và streptomycin chích cho nái một lần trước khi sinh có tác dụng ngừa bệnh

Điều trị

Việc điều trị phải tiến hành càng nhanh càng tốt khi nái có dấu hiệu sốt cao và tiết dịch viêm Bệnh được điều trị kịp thời sẽ mau khỏi và ít ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nái Sự chậm trễ trong việc điều trị sẽ dẫn đến kéo dài thời gian điều trị, tử cung

bị tổn thương nặng, độc tố vi khuẩn vào máu gây nhiễm trùng máu và nái có thể chết

Thụt rửa tử cung cho nái viêm bằng các dung dịch thụt rửa phù hợp để loại bỏ bớt dịch viêm ra ngoài Nhưng phương pháp thụt rửa tử cung thường có thể gây di chứng tắc vòi trứng, viêm tắc cổ tử cung không thể thụ tinh trong các lần động dục kế tiếp

Biện pháp tốt hơn, sử dụng oxytocin tiêm, kích thích co bóp tử cung tống dịch hậu sản vừa kích thích tiết sữa, sau đó 1 – 2 giờ lại bơm dung dịch kháng sinh thích hợp vào bộ phận sinh dục nái (Võ Văn Ninh, 2007) Sử dụng kháng sinh phổ rộng như enrofloxacin, norfloxacin, nhóm tetracycline, hỗn hợp penicillin và streptomycin tiêm cho nái

Nái sốt cao, hạ sốt cho nái bằng thuốc hạ sốt và cấp vitamin C, truyền dịch

để tăng cường sức đề kháng cho nái Cho nái uống nước đầy đủ, đồ ăn nên ngon miệng và dễ tiêu (Nguyễn Như Pho, 2000)

2.2.2 Viêm vú trên nái

Viêm vú thường ít gặp hơn viêm tử cung, tuy nhiên viêm vú xảy ra ở cấp độ nào cũng đều ảnh hưởng đến sự tiết sữa và dạng viêm thường gặp nhất là viêm có mủ Viêm

vú có thể xảy ra ở một hoặc vài vú hoặc cả bầu vú bị viêm sưng cứng, màu đỏ bầm, khi

ấn vào còn để lại vết, vú không tiết sữa, sữa bị lợn cợn hoặc có lẫn máu Nếu chữa trị không kịp thời, vú bị teo lại, mất sữa, đôi khi còn xơ hoá, mất khả năng cho sữa

Trang 26

2.2.2.1 Nguyên nhân gây viêm vú

Viêm vú thường xảy ra do sự chăm sóc quản lý không tốt tạo điều kiện cho

sự kế phát nhiễm trùng Nền chuồng nhám hay heo con sơ sinh không được bấm răng kỹ làm tổn thương núm vú hoặc số heo con quá ít không bú hết lượng sữa do nái sản xuất, do kỹ thuật cạn sữa không hợp lý (Nguyễn Như Pho, 2002), do nái ăn nhiều đạm trong thời gian mang thai sữa được tiết nhiều, heo con bú không hết tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào bầu vú và gây viêm

Viêm vú thường do nhiều yếu tố tác động nhưng chủ yếu là do nhiễm trùng

kế phát các vi sinh vật như E.coli, Klebsiella spp., Enterobacter spp., Citrobacter spp., Staphylococcus spp., và Pseudomonas aeruginosa Hầu hết những vi sinh vật

kể trên là những vi sinh vật cơ hội có trong môi trường xung quanh nái, chúng lợi dụng khi bầu vú tổn thương sẽ xâm nhập vào bầu vú gây viêm

2.2.2.2 Cơ chế bệnh viêm vú trên nái sinh sản

Trang 27

Bấm răng heo con sơ sinh để tránh tổn thương bầu vú Đối với nái nhiều sữa cần tiến hành ghép bầy khi nái nuôi con ít để tránh tồn đọng sữa dư gây viêm vú

Điều trị tích cực khi nái bị viêm tử cung dạng mủ hoặc các vết thương trên bầu vú nếu có để tránh viêm kế phát

Điều trị

Khi điều trị nếu không hợp lý sẽ dẫn đến xơ hóa teo bầu vú, giảm sản lượng sữa ở

kỳ sau Như vậy, để điều trị có kết quả cần tiến hành cấp thuốc sớm, nên sử dụng các loại kháng sinh mẫn cảm với vi khuẩn gây bệnh Theo Nguyễn Như Pho (2002), các kháng sinh hiệu quả trong điều trị viêm vú là ampicillin, cephalexin, gentamicin, norfloxacin, kết hợp với corticoid để làm giảm viêm Tuy nhiên chỉ cấp kháng sinh 3 - 5 ngày

Trường hợp heo nái bị viêm vú gây kém sữa sau khi sinh có thể tiêm chích cho heo nái thêm oxytocin và gluconate calcium để sự xuống sữa được dễ dàng hơn giúp cho heo con bú được sữa đầu

2.2.3 Kém sữa, mất sữa

Chứng mất sữa thường đi kèm trong các bệnh gây sốt cao như viêm tử cung dạng có mủ, viêm phổi, thường xảy ra ngay sau khi đẻ 1 – 2 ngày có con sau 1 tuần sữa giảm dần rồi mất hẳn Trong bệnh viêm tử cung dạng nhờn, viêm vài bầu vú, sự mệt nhọc do sinh đẻ chỉ làm kém sữa trong một thời gian ngắn (2 - 3 ngày) Khi vắt các vú không thấy sữa chảy ra, vú thường teo lại Nếu bị viêm thì sưng cứng… Khi cho con bú heo mẹ xuống sữa ít, heo con la nhiều và gầy ốm

Theo Trần Thị Dân (2003), hội chứng kém sữa có thể xảy ra sau khi sinh vài ngày hoặc sau thời gian nái tiết sữa tốt trong 10 – 14 ngày đầu tiên của giai đoạn nuôi con

2.2.3.1 Nguyên nhân gây kém sữa, mất sữa

Do kế phát một số bệnh sản khoa như viêm tử cung, sót nhau, cơ thể sốt cao liên tục 2 – 3 ngày, nước trong máu và mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa

Do kế phát bệnh viêm vú, vú bị sưng dẫn đến mất sữa

Trang 28

Do cơ thể mẹ bị mất suy dinh dưỡng, từ lúc mang thai đến lúc đẻ, khẩu phần

ăn không đủ chất protid, glucid, lipid, khoáng, vitamin như: bột cá, bột thịt, rau xanh, củ quả, chất khoáng Ca, P, Cu, Fe… để cung cấp nguyên liệu cho tạo sữa

Do suy nhược một số cơ quan nội tiết tố như tuyến yên, tuyến giáp trạng làm lượng hormon prolactin, lacthormone, thyroxin không tiết ra ít nên khả năng tạo sữa giảm và khả năng trao đổi chất protid kém nên sản lượng và chất lượng sữa giảm

2.2.3.2 Biện pháp phòng và điều trị kém sữa, mất sữa

Vì vậy nếu heo nái bị viêm tử cung, sót nhau hoặc viêm vú phải điều trị ngay, vì đó

là những nguyên nhân gây mất sữa sau khi sinh

2.2.4 Hội Chứng M.M.A (Metritis Mastitis Agalactia)

Những biểu hiện lâm sàng sau khi sinh ở heo nái từ 12 - 18 giờ bao gồm tử cung tiết nhiều dịch viêm (viêm tử cung); vú sưng cứng, nóng và đỏ (viêm vú); sữa giảm hay mất sữa được gọi là hội chứng M.M.A

Hội chứng này làm giảm năng suất sinh sản của heo nái và gây tử vong cao trên heo con theo mẹ Viêm vú, viêm tử cung, mất sữa thường đi kèm với nhau hoặc xảy ra riêng lẻ, khi chúng xảy ra với mức độ nặng là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho các trại heo

2.2.4.1 Cơ chế gây hội chứng M.M.A

Trang 29

Sơ đồ 2.3 Cơ chế hội chứng M.M.A (Nguyễn Văn Thành, 2002)

2.3 TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO MẸ

2.3.1 Khái niệm về bệnh tiêu chảy

Theo quan điểm sinh học hiện đại thì tiêu chảy là một phản xạ bảo vệ của cơ thể trước những tác động trực tiếp đến cơ thể như vi khuẩn, virus, nhiệt độ, khẩu phần ăn Khi tiêu chảy kéo dài thì con vật bị mất nước, mất chất điện giải, máu cô đặc làm con vật gầy nhanh dẫn đến chết (Phùng Ứng Lân, 1985)

2.3 2 Nguyên nhân gây tiêu chảy

Do heo mẹ

Heo mẹ mắc hội chứng M.M.A, heo con bú sữa có sản vật viêm hoặc liếm dịch viêm tử cung rơi vãi trên nền chuồng dẫn tới tiêu chảy Trên những heo mẹ kém sữa hay mất sữa heo con bú ít hoặc không được bú sữa đầu thường có sức đề kháng kém cũng dễ phát sinh bệnh (Nguyễn Như Pho, 1995)

Ngược lại, ở những đàn heo có heo mẹ tốt sữa, heo con bú nhiều sữa không tiêu hóa kịp tạo môi trường thuận lợi cho những vi sinh vật có hại gây bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ (Võ Văn Ninh, 2007)

Do heo con

Kvanhixki (1960) cho rằng về chức năng và cấu trúc, bộ máy tiêu hóa heo con trong những ngày đầu chưa hoàn thiện, các men tiêu hóa chưa đầy đủ làm cho pH trong

Trang 30

dịch đường tiêu hóa cao tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn độc hại phát triển và gây bệnh Mặt khác heo con thiếu sắt (Fe) dẫn đến thiếu máu làm giảm sức đề kháng hoặc

heo con bị viêm rốn do E.coli dẫn đến tiêu chảy (Trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 1995)

Trong giai đoạn sơ sinh hàm lượng các men tiêu hóa tinh bột như α-amylase chỉ được phân tiết nhanh sau 3 tuần tuổi và men maltase chỉ phân tiết nhiều sau 2 -

3 tuần (Dương Nguyên Khang, 2005) Vì thế nếu thay đổi sữa mẹ bằng một chế độ

ăn nhân tạo cho heo con sẽ gây rối loạn tiêu hóa do thiếu một số men cần thiết

Theo Võ Văn Ninh (2006), thời kỳ heo con mọc răng cũng dễ mắc bệnh tiêu chảy Hoặc do heo con hay liếm nước đọng trên nền chuồng, ăn thức ăn của heo mẹ, bộ máy tiêu hóa không tiêu hóa được dẫn tới rối loạn gây tiêu chảy

Ở heo con sơ sinh lớp mỡ dưới da rất ít và thiếu mỡ nâu nên khả năng sản sinh nhiệt kém Khi stress lạnh kéo dài, heo con dễ bị rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy (Trần Thị Dân, 2003)

Do ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Do nhiều yếu tố của môi trường (thời tiết, khí hậu…) và thiết kế chuồng trại không phù hợp làm ẩm ướt, mưa tạt gió lùa, nền chuồng ẩm ướt, sự biến đổi đột ngột của thời tiết đều có thể gây tiêu chảy Trong đó yếu tố quan trọng nhất là độ

ẩm và nhiệt độ Độ ẩm thích hợp cho heo con vào khoảng 70 – 85 % Do đó trong những tháng mưa nhiều thì số heo con bị bệnh tiêu chảy tăng lên rõ rệt, có khi tới

90 – 100 % toàn đàn Vì vậy việc làm khô chuồng là vô cùng quan trọng

Theo Nguyễn Như Pho (1995), do bấm răng không kỹ, khi bú heo con làm trầy vú mẹ và heo con bú sữa của vú bị viêm Hoặc do quản lý, chuyển chuồng, nhập tách đàn gây stress cho heo heo cũng gây tiêu chảy (Huỳnh Thị Sao Ly, 2006)

Do vi sinh vật

Nhiễm trùng đường ruột do mầm bệnh có sẵn trong chuồng trại, do mầm bệnh từ heo mẹ truyền sang hoặc mầm bệnh có trong thức ăn, nước uống

Vi khuẩn: gồm hai nhóm chính, đó là nhóm vi khuẩn thường trú trong ống tiêu

hóa như E.coli, Samonella, Klebsiella, Proteus… nhóm vi khuẩn tạp nhiễm đồng

hành với thức ăn, nước uống và đường tiêu hóa như staphylococci, streptococci…

Trang 31

Virus: người ta cũng chứng minh được virus là một tác nhân gây tiêu chảy,

thường thấy là Rotavirus, Enterovirus, Coronavirus …

Ký sinh trùng: tác động qua việc tranh chấp chất dinh dưỡng với ký chủ, tiết độc tố làm giảm sức đề kháng và làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, tạo điều kiện cho các tác nhân khác tấn công

Theo Lê Minh Chí (1981), Đào Trọng Đạt và cộng tác viên (1964), Trần

Trọng Toàn (1977) cho rằng E.coli là tác nhân gây bệnh quan trọng so với nhiều vi

sinh vật gây bệnh tiêu chảy khác (trích dẫn bởi Nguyễn Như Pho, 2000)

2.3.3 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy trên heo con

Sơ đồ 2.4 Cơ chế sinh bệnh tiêu chảy heo con (Phùng Ứng Lân, 1985)

2.3.4 Biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh

Phòng ngừa

Hiện nay có rất nhiều khuyến cáo về các biện pháp phòng tiêu chảy trên heo con Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1995), để phòng chống tiêu chảy cho heo con cần: (1) giữ ấm cho heo con, vệ sinh chuồng trại sạch sẽ khô ráo tránh làm ướt lạnh heo heo mới sinh, (2) chế độ dinh dưỡng phù hợp cho nái lẫn heo con, hạn chế stress cho heo, (3) tiêm phòng cho nái, heo con đầy đủ

Nguyễn Như Pho (1995) cho rằng nên chích sắt cho heo con đúng liệu trình, tập

ăn sớm cho heo con, bổ sung vào thức ăn các chế phẩm sinh học như: Biolactyl

(Lactobicillus acidophilus, Lactobacillus casei), Biosubtyl (Bacillus subtilis) nhằm ức

Trang 32

chế vi khuẩn gây bệnh và kích thích vi khuẩn có lợi phát triển Thường xuyên sát trùng chuồng trại, khử trùng nguồn nước nhằm hạn chế sự hiện diện của một số loại vi khuẩn

Điều trị

Ngay sau khi phát hiện heo tiêu chảy nên điều trị nhanh và tích cực Theo Nguyễn Như Pho (1995), cần cung cấp năng lượng, chất điện giải và sinh lý ngọt, cấp vào xoang bụng Tiêm hoặc cho uống kháng sinh để ngăn chặn vi sinh vật có hại phát triển, cấp vitamin và bổ sung khoáng chất Sau khi bệnh giảm và ngưng liệu trình kháng sinh được 24 giờ thì nên dùng các chế phẩm vi sinh như: Biolactyl, Biosubtyl… cho heo uống để phục hồi hệ vi sinh vật đường ruột Trong quá trình điều trị cần giữ ấm cho heo con, vệ sinh sạch sẽ chuồng trại và giữ chuồng luôn luôn khô ráo

2.4 LƯỢC DUYỆT CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Dương Minh Hùng (2005) khảo sát 200 nái tại xí nghiệp chăn nuôi heo Phước Long, thì tỷ lệ nái mắc hội chứng M.M.A chiếm 31,5 %, trong đó viêm tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất 14,5 % Những nái mắc hội chứng M.M.A có thời gian lên giống lại kéo dài (5,9 ngày/con), so với nái không mắc hội chứng M.M.A là 5,6 ngày/con Trọng lượng heo con cai sữa là 6,6 kg/con; số con cai sữa trên ổ thấp 8,1 con/ổ; tăng tỷ lệ tiêu chảy ở heo con (19,8 %) so với nái không mắc hội chứng M.M.A lần lượt là 6,9 kg/con; 8,8 kg/con và 16,1 %

Ngô Văn Sự (2007) khảo sát 73 heo nái sau khi sinh tại trại Thành An, ghi nhận tỷ lệ viêm tử cung là 32,8 % và cao nhất ở lứa ≥ 4 chiếm 34,61 %; tỷ lệ nái viêm vú là 2,7 % và cao nhất ở lứa 1 chiếm 6,66 %; tỷ lệ nái kém sữa là 8,2 % và cao nhất là lứa 1 chiếm 13,33 % Tỷ lệ heo con tiêu chảy chiếm 18,98 %; tỷ lệ ngày con tiêu chảy trên từng nhóm nái cao nhất là nhóm nái viêm vú 7,81 % Vi khuẩn

trong phân heo con tiêu chảy khi phân lập chủ yếu là E.coli nhạy cảm với colistin

(80 %), amoxicillin (70 %), tobramycin, norfloxacin, ofloxacin (60 %)

Đồng Văn Thắng (2009) khảo sát 327 heo nái sau khi sinh tại trại heo Darby – CJ Genetics, ghi nhận tỷ lệ viêm tử cung là 22,93 %, trong đó viêm tử cung dạng

Trang 33

nhờn chiếm 17,73 % cao hơn viêm dạng nhờn (5,2 %) Tỷ lệ kém sữa chiếm tỷ lệ 16,81 %, tỷ lệ nái viêm vú chiếm 3,06 %

Nguyễn Thị Ánh Hồng (2010) khảo sát 60 heo nái sau khi sinh, ghi nhận kết quả như sau: Tỷ lệ viêm tử cung trên nái sau khi sinh là 35 % Nái viêm tử cung dạng mủ chiếm tỷ lệ cao nhất (61,90 %), nái viêm nhờn là 33,33 %, nái viêm mủ máu là (4,76 %) và không ghi nhận được trường hợp viêm vú trên nái sau sinh Nái bình thường có tỷ lệ ngày con tiêu chảy thấp nhất 6,51 %, cao nhất ở nhóm nái viêm

mủ máu 15,35 % Các vi khuẩn phân lập được trong mẫu dịch viêm tử cung chủ yếu

là Staphylococcus spp và Streptococcus spp., trong mẫu phân heo con tiêu chảy là

vi khuẩn E.coli Các vi khuẩn này đề kháng với nhiều loại kháng sinh, và chỉ còn

nhạy cảm với một số ít loại kháng sinh nhưng với tần suất không cao

Nhận xét chung: Sau khi tìm hiểu một số công trình nghiên cứu liên quan đến các

chứng/bệnh trong hội chứng M.M.A trên nái sinh sản, thời gian lên giống lại trên heo nái cai sữa và tiêu chảy trên heo con theo mẹ, chúng tôi nhận thấy tình hình bệnh trên nái sinh sản qua nhiều đợt (nhiều năm) khảo sát của nhiều tác giả tại nhiều địa điểm khác nhau vẫn duy trì ở mức độ cao (bệnh trên nái sau khi sinh: Viêm tử cung từ 14,5 – 35 %; viêm vú từ 2,7 – 3,06 %; kém sữa từ 8,2 – 16,81 %)

và tỷ lệ ngày con tiêu chảy của heo con theo mẹ trên nái sau khi mắc bệnh cao hơn trên nái bình thường Vi khuẩn phân lập được trong mẫu dịch viêm trên nái và mẫu phân heo con tiêu chảy có xu hướng ngày càng đề kháng với nhiều loại kháng sinh

Vì vậy để hiểu rõ hơn về các bệnh sinh sản thường xảy ra trên nái sau khi sinh, ảnh hưởng của bệnh trên nái đến sinh trưởng và phát triển của heo con, đồng thời để có biện pháp phòng và điều trị hiệu quả nên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này

Trang 34

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

3.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT

Thời gian: đề tài được tiến hành từ 20/02/2011 đến 20/06/2011

Địa điểm khảo sát: xí nghiệp heo giống cấp 1, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Tp.HCM

Địa điểm xét nghiệm: Bệnh viện Thú Y trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM

3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT

Khảo sát 185 nái đẻ thuộc các giống Yorkshire, Landrace Nhật, Landrace Bỉ, Duroc, Pietrain và các giống lai khác ở các lứa 1, 2, 3, 4, ≥ 5

Heo con theo mẹ của những nái đẻ được khảo sát trên

Thời gian theo dõi từ khi sinh cho đến ngày cai sữa

3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT

(1) Theo dõi nhiệt độ và ẩm độ của trại nái đẻ

(2) Khảo sát tình hình viêm tử cung, viêm vú, kém sữa trên nái sau khi sinh

(3) Khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng và tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ

(4) Phân lập và thử kháng sinh đồ một số vi khuẩn trong mẫu dịch viêm tử cung và mẫu phân heo con tiêu chảy

3.4 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT

3.4.1 Theo dõi nhiệt độ và ẩm độ của trại nái đẻ

3.4.1.1 Dụng cụ

Nhiệt kế và ẩm kế

Ngày đăng: 13/06/2018, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm