1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BỔ SUNG VITAMIN C VÀ VITAMIN ADE VÀO THỨC ĂN ĐỂ TĂNG SỨC ĐỀ KHÁNG VÀ THEO DÕI KHẢ NĂNG TĂNG TRỌNG Ở HEO SAU CAI SỮA

73 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 464,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lượng thức ăn không được tiêu hóa sẽ là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn đường ruột phát triển làm phá vỡ trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa dẫn đế

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y

****************

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHI

BỔ SUNG VITAMIN C VÀ VITAMIN ADE VÀO THỨC ĂN

ĐỂ TĂNG SỨC ĐỀ KHÁNG VÀ THEO DÕI KHẢ NĂNG

TĂNG TRỌNG Ở HEO SAU CAI SỮA

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y

Giáo viên hướng dẫn

ThS ĐỖ VẠN THỬ

Tháng 08/2011

Trang 2

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ tên sinh viên thực tập: Nguyễn Thị Phương Chi

Tên luận văn: “Bổ sung vitamin C và vitamin ADE để tăng sức đề kháng và theo

dõi khả năng tăng trọng ở heo con sau cai sữa”

Đã hoàn thành sửa chữa luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn

và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi – Thú Y tháng 08/2011

Giáo viên hướng dẫn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Con mãi ghi ơn

Ba má đã suốt đời chăm lo, tận tụy vì tương lai con, là nguồn động lực lớn để tiếp bước cho lý tưởng của con thành hiện thực

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

ThS Đỗ Vạn Thử

Đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành biết ơn:

Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm

Quý thầy cô khoa Chăn Nuôi Thú Y

Đã tận tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập

Và xin chân thành cảm ơn:

Chú Võ Thanh Hùng, chủ Trại tuyển chọn giống và gieo tinh nhân tạo Hai Chung

Ban quản lý trại, các anh chị cán bộ kỹ thuật, các cô chú công nhân

Đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập tốt nghiệp

Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn thân yêu đã hết lòng chia sẻ, giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong những năm học vừa qua

Trang 4

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Đề tài nghiên cứu “Bổ sung vitamin C và vitamin ADE để tăng sức đề kháng

và theo dõi khả năng tăng trọng ở heo con sau cai sữa” được tiến hành tại Trại tuyển chọn giống và gieo tinh nhân tạo Hai Chung từ 10/03/2011 đến ngày 05/05/2011

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố Thí nghiệm được tiến hành trên 132 heo con cai sữa, được chia làm 3 lô với 2 lần lặp lại: lô ĐC cho ăn thức ăn cơ bản của trại, lô TN 1 và lô TN 2 cho ăn thức ăn cơ bản của trại có

bổ sung vitamin C và vitamin ADE trên hai mức khác nhau

Kết quả thu được như sau:

Trọng lượng bình quân của heo khi kết thúc thí nghiệm ở lô TN 1 và lô TN 2 cao hơn lô 1 ĐC, với độ chênh lệch giữa lô TN 1 và lô ĐC là 13,80 %, giữa lô TN 2

và lô ĐC là 7,07 % Sự khác biệt này có ý nghĩa về mặt thống kê (P < 0,05)

Hệ số biến chuyển thức ăn (FCR) ở 2 lô thí nghiệm thấp hơn lô ĐC, cụ thể như sau: lô TN 1 giảm 4,4 %, lô TN 2 giảm 3,8 % so với lô ĐC Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)

Tỷ lệ con tiêu chảy ở lô TN 1 và lô TN 2 thấp hơn lô ĐC lần lượt là 30,41 %

và 31,2 %, sự chênh lệch này cũng chưa đủ để có ý nghĩa về mặt thống kê P > 0,05

Tỷ lệ ngày con tiêu chảy của heo khi kết thúc thí nghiệm ở lô TN 1 và lô TN

2 thấp hơn lô đối chứng lần lượt là 35,52 % và 32,94 % Sự khác biệt này không có

ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0,05)

Tỷ lệ nuôi sống ở lô ĐC và các lô TN tương đương nhau 100 %

Chi phí trên 1 kg tăng trọng cao nhất là ĐC, kế đến lô TN 2, thấp nhất là ở lô

TN 1 Cụ thể lô TN 1 thấp hơn lô ĐC là 5,47 %, lô TN 2 thấp hơn lô ĐC là 4,17 %

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG

Trang tựa i

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii

LỜI CẢM ƠN iii

TÓM TẮT ĐỀ TÀI iv

MỤC LỤC v

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH SÁCH CÁC BẢNG x

DANH SÁCH CÁC HÌNH xi

DANH SÁCH SƠ ĐỒ xii

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2.1.1 Sinh lý tiêu hóa và hấp thu ở heo con 3

2.1.1.1 Heo con mới sinh 3

2.1.1.2 Quá trình tiêu hóa 4

2.1.1.3 Heo cai sữa 5

2.1.2 Những thay đổi tác động lớn đến heo con khi cai sữa 6

2.1.2.1 Thay đổi về nguồn thức ăn 6

2.1.2.2 Thay đổi bộ máy tiêu hóa của heo con khi cai sữa 7

2.1.2.3 Thay đổi về môi trường bên ngoài 8

2.1.3 Sự phát triển về kích thước bộ máy tiêu hóa heo con 8

2.1.4 Những nghiên cứu về bệnh tiêu chảy 9

Trang 6

2.1.4.1 Khái niệm 9

2.1.4.2 Cơ chế gây tiêu chảy trên heo 10

2.1.4.3 Nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa và bệnh tiêu chảy ở heo con 11 2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát dục của heo con cai sữa 15

2.1.5.1 Yếu tố di truyền 15

2.1.5.2 Yếu tố ngoại cảnh 16

2.1.6 Tổng quan về vitamin 17

2.1.6.1 Khái niệm 17

2.1.6.2 Nguyên nhân gây thiếu vitamin 17

2.1.7 Sơ lược về vitamin A 19

2.1.7.1 Cấu tạo hóa học 19

2.1.7.2 Vai trò sinh học và triệu chứng thiếu 19

2.1.7.3 Nhu cầu và nguồn cung cấp 20

2.1.8 Tổng quan về vitamin D 20

2.1.8.1 Khái niệm, cấu tạo 20

2.1.8.2 Vai trò và triệu chứng thiếu 21

2.1.8.3 Nhu cầu và sự cung cấp 22

2.1.9 Tổng quan về vitamin E 22

2.1.9.1 Khái niệm 22

2.1.9.2 Vai trò sinh học và triệu chứng thiếu 23

2.1.9.3 Nhu cầu và nguồn cung cấp 24

2.1.10 Vài nét về vitamin ADE dùng trong TN 24

2.1.11 Vitamin C và các vấn đề cần quan tâm 24

2.1.11.1 Vai trò sinh học và các triệu chứng thiếu Vitamin C 25

2.1.11.2 Nhu cầu và nguồn cung cấp 25

2.1.12 Tóm tắt các công trình nghiên cứu có liên quan 26

2.2 GIỚI THIỆU TRẠI CHĂN NUÔI 26

2.2.1 Vị trí địa lý 26

Trang 7

2.2.2 Nhiệm vụ của trại 27

2.2.3 Cơ cấu đàn 27

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 29

3.1 NỘI DUNG THÍ NGHIỆM 29

3.2 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM 29

3.2.1 Thời gian và địa điểm thực hiện thí nghiệm 29

3.2.2 Đối tượng thí nghiệm 29

3.2.3 Phương pháp khảo sát 29

3.2.4 Bố trí thí nghiệm 30

3.3 ĐIỀU KIỆN NUÔI DƯỠNG CHĂM SÓC HEO THÍ NGHIỆM 31

3.3.1 Thức ăn thí nghiệm 31

3.3.2 Chuồng trại 31

3.3.3 Chăm sóc, nuôi dưỡng 32

3.3.4 Vệ sinh thú y: theo quy trình của trại 32

3.3.5 Tiêm phòng 32

3.4 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 33

3.4.1 Tăng trọng 33

3.4.2 Lượng ăn và hệ số biến chuyển thức ăn 33

3.4.3 Chỉ tiêu về sức sống 34

3.4.4 Hiệu quả kinh tế 34

3.5 Xử lý số liệu 34

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35

4.1 TRỌNG LƯỢNG BÌNH QUÂN CỦA HEO LÚC ĐẦU THÍ NGHIỆM 35

4.2 TRỌNG LƯỢNG BÌNH QUÂN CỦA HEO KHI KẾT THÚC THÍ NGHIỆM 36

4.3 TĂNG TRỌNG BÌNH QUÂN CỦA HEO Ở CÁC LÔ THÍ NGHIỆM 38

4.4 TĂNG TRỌNG TUYỆT ĐỐI CỦA HEO Ở CÁC LÔ THÍ NGHIỆM 38

4.5 HỆ SỐ BIẾN CHUYỂN THỨC ĂN 39

4.6 LƯỢNG THỨC ĂN TIÊU THỤ CỦA HEO Ở CÁC LÔ THÍ NGHIỆM 41

Trang 8

4.7 TỶ LỆ CON TIÊU CHẢY, TỶ LỆ NGÀY CON TIÊU CHẢY 43

4.8 TỶ LỆ NUÔI SỐNG CỦA HEO THÍ NGHIỆM 45

4.9 TỔNG KẾT TOÀN THÍ NGHIỆM CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 46

4.10 SƠ BỘ VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ 46

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

5.1 KẾT LUẬN 48

5.2 KIẾN NGHỊ 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 52

Trang 9

HSBCTA : Hệ số biến chuyển thức ăn

TLCTC : Tỷ lệ con tiêu chảy

TLNCTC : Tỷ lệ ngày con tiêu chảy

TLNCBK : Tỷ lệ ngày con bệnh khác

TLNS : Tỷ lệ nuôi sống

TATTTB : Thức ăn tiêu thụ trung bình

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

TRANG

Bảng 2.1 PH ở những đoạn khác nhau của ống tiêu hóa heo con sau cai sữa 7

Bảng 2.2 Kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa heo con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi 8

Bảng 2.3 Cơ cấu đàn heo 28

Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm đợt 1 30

Bảng 3.2 Bố trí thí nghiệm đợt 2 30

Bảng 3.3 Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn VT-H02 31

Bảng 3.4 Lịch tiêm phòng heo con 33

Bảng 4.1 Trọng lượng bình quân của heo lúc đầu thí nghiệm 35

Bảng 4.2 Trọng lượng bình quân của heo khi kết thúc thí nghiệm 36

Bảng 4.3 Tăng trọng bình quân của heo ở các lô thí nghiệm 38

Bảng 4.4 Tăng trọng tuyệt đối của heo trong các lô thí nghiệm 39

Bảng 4.5 Hệ số biến chuyển thức ăn của các lô thí nghiệm 40

Bảng 4.6 Mức tăng trưởng của heo cai sữa trong khoảng trọng lượng 6 - 22 kg 41

Bảng 4.7 Lượng thức ăn tiêu thụ ở các lô thí nghiệm 42

Bảng 4.8 Tỷ lệ con tiêu chảy và tỷ lệ ngày con tiêu chảy 43

Bảng 4.9 Tỷ lệ heo con nuôi sống và tỷ lệ bệnh khác 45

Bảng 4.10 Tổng kết các chỉ tiêu theo dõi 46

Bảng 4.11 Sơ bộ về hiệu quả kinh tế giữa các lô thí nghiệm 47

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

TRANG

Hình 2.1 Công thức cấu tạo vitamin A 19

Hình 2.2 Công thức cấu tạo vitamin D 21

Hình 2.3 Công thức cấu tạo vitamin E 23

Trang 12

DANH SÁCH SƠ ĐỒ

TRANG

Sơ đồ 2.1 Cơ chế gây tiêu chảy trên heo 10

Trang 13

và ở vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á Hiện nay, nước ta đang có gần 23 triệu đầu heo, bình quân tốc độ tăng hàng năm là 3,9 %, đảm bảo cung cấp 80 % sản phẩm thịt cho thị trường trong nước và một phần cho xuất khẩu

Một trong những trở ngại đối với công tác chăn nuôi heo là tình hình dịch bệnh, dịch bệnh thường xuyên xảy ra đã gây nhiều thiệt hại cho nhà chăn nuôi làm hạn chế sự phát triển và làm giảm hiệu quả kinh tế Làm sao để duy trì và phát triển ngành chăn nuôi heo là vấn đề được các nhà khoa học, các công ty, các nhà chăn nuôi quan tâm Một trong những yếu tố quan trọng là vấn đề chăm sóc và dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng của vật nuôi nhằm tránh các bệnh thường gặp nhưng gây tổn thất lớn như: bệnh gây tiêu chảy, hô hấp, còi cọc

Hiện nay, người chăn nuôi đã áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao khả năng sinh trưởng và phát triển của heo con cũng như để phòng và trị bệnh tiêu chảy Việc bổ sung kháng sinh trong thức ăn trở nên phổ biến vì nó đáp ứng được các yêu cầu trên Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây thấy rằng nếu cứ sử dụng thường xuyên kháng sinh trong thức ăn như thế sẽ dẫn đến sự kháng thuốc, khi đó thì việc điều trị cũng như phòng ngừa dịch bệnh lại càng khó khăn hơn và khả năng tồn dư kháng sinh trong thịt là rất cao

Ngoài ra, giai đoạn nuôi heo cai sữa là giai đoạn khó khăn và quan trọng Heo chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài như: xa mẹ, tách bầy, phân đàn thí nghiệm, nhiệt độ

Trang 14

không có khả năng tổng hợp, phân tiết đủ do các tuyến tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh Trong giai đoạn này nếu không được chăm sóc tốt thì heo sẽ sinh trưởng kém và dễ mắc các bệnh đường tiêu hóa Vì vậy việc bổ sung vitamin C và ADE tăng sức đề kháng cho heo là điều cần thiết

Để có cơ sở cho việc tăng sức đề kháng ở heo con sau cai sữa và kích thích sinh trưởng nhằm làm tăng lợi nhuận cho nhà chăn nuôi Bên cạnh đó để tìm giải pháp thay thế kháng sinh sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, được sự phân công của Khoa Chăn Nuôi - Thú

Y Trường Đại học Nông Lâm TP HCM, bộ môn Cơ Thể - Ngoại Khoa, dưới sự hướng dẫn của ThS Đỗ Vạn Thử, chúng tôi tiến hành đề tài: “Bổ sung vitamin C và vitamin ADE để tăng sức đề kháng và theo dõi khả năng tăng trọng ở heo con sau cai sữa”

1.2 MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU

1.2.1 Mục đích

Xác định hiệu quả của việc bổ sung vitamin C và vitamin ADE trong khẩu phần

ăn lên sự tăng trọng và tăng sức đề kháng trên heo con sau cai sữa từ 26 - 60 ngày tuổi

Tính hiệu quả kinh tế

Trang 15

Chương 2

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Sinh lý tiêu hóa và hấp thu ở heo con

2.1.1.1 Heo con m ới sinh

Trong thời gian mang thai, cơ thể đã dần dần phát triển các tế bào phức tạp nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho thời kỳ sau cai sữa, mọi thứ đã được chuẩn

bị cho cuộc sống bên ngoài bụng mẹ Các chức năng của cơ quan tiêu hóa đã được phân chia vào thời kỳ đầu mang thai Sau đó cấu tạo của chúng trở nên hoàn thiện hơn làm tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng

Theo Đào Trọng Đạt và ctv (1995), heo con mới sinh không có sự sản sinh axit trong dạ dày Điều đó làm cho globulin miễn dịch trong sữa đầu cũng như vi khuẩn đi qua dạ dày vào ruột một cách dễ dàng Khi còn theo mẹ heo con đã quen

với sự tiêu hóa và hấp thu sữa từ đó sẽ làm gia tăng dòng vi khuẩn có lợi

Lactobacillus species plurie trong dạ dày và đường ruột Nhóm vi khuẩn này sử

dụng đường lactose trong sữa để sản sinh axit lactic, là nguyên nhân giảm pH trong

dạ dày Sự axit hóa này nhằm thúc đẩy quá trình tiêu hóa, ngăn chặn sự phát triển của các vi sinh vật có hại cho heo con

Heo con sinh ra có tốc độ sinh trưởng nhanh, cường độ trao đổi chất lớn và

trọng lượng heo con tăng nhanh Trong vòng 10 - 14 ngày, thể trọng tăng gấp 2 - 3 lần, sau 2 tháng heo con có thể tăng lên đến 14 - 15 lần so với trọng lượng sơ sinh (Đào Trọng Đạt và Phan Thanh Phượng, 1996) Trong khi đó hệ tiêu hóa lại hoạt động yếu, một số men tiêu hóa còn thiếu Do đó dễ gây rối loạn tiêu hóa, làm giảm

sức đề kháng của cơ thể Khi bắt đầu cai sữa cấu tạo và chức năng của hệ thống tiêu hóa thay đổi nhanh nhất, là thời kì mà khả năng tiêu hóa dễ bị ảnh hưởng

Trang 16

2.1.1.2 Quá trình tiêu hóa

Nếu heo con được bú sữa đầu đầy đủ thì trong vòng 24 tiếng sau khi sinh, dạ dày, tuyến tụy, ruột non sẽ phát triển nhanh Sự phát triển này phụ thuộc vào sự phát triển của bề mặt nhung mao và vi nhung mao (microvilli) và chịu ảnh hưởng bởi hormone và các yếu tố sinh trưởng có trong sữa đầu

Sau khi heo con sinh ra lượng axit amin hấp thu và đường so với hàm lượng

chất đạm của tế bào thành ruột bị giảm sút Sữa đầu có tác dụng thúc đẩy hoạt động của sự thủy phân Các enzyme phân giải đường lactose, saccharose, maltose và protein 24 giờ sau sẽ tăng cao hơn so với lúc mới sinh Chỉ có chất đạm tại ruột là

giảm xuống Trước khi heo con sinh ra, quá trình tiết cortisol sữa bị ảnh hưởng bởi enzyme thủy phân Sau khi heo con sinh ra trong vòng 24 tiếng, lượng enzyme phân

giải saccharose và maltose cùng gia tăng, nhưng lượng phân giải fructose tăng nhiều hơn so với glucose

Ở thời kì đầu, khả năng tiêu hóa và bài tiết sucrose và maltose được phát triển riêng biệt Trong sữa đầu có các chất giúp heo con phát triển hệ thống tiêu hóa Hơn nữa cơ quan tiêu hóa đã được phát triển về cấu tạo và chức năng Nếu được bú

sữa thì lượng chất đạm và peptid sẽ được dự trữ đầy đủ Những chất này sẽ có tác

dụng tương hỗ cho ruột và bề mặt biểu bì Thông qua thành ruột sẽ tạo miễn dịch bảo vệ cho cơ thể

Theo Lê Hải (1981), heo con mới sinh đồng hóa tốt protein của sữa Trong

sữa đầu có chất ức chế trypsin bảo vệ protein khỏi bị phân hủy, điều này giúp cho heo con hấp thu tốt các immunoglobulin dưới dạng các phân tử nguyên vẹn Trong

dạ dày heo con, những ngày đầu có một lượng nhỏ trypsin và chymotrypsin, vì vậy heo con đồng hóa protein có nguồn gốc động vật và thực vật kém hơn nhiều so với protein sữa Mức tích lũy protein ở heo con vào các lứa tuổi 3 - 7, 14, 42 và 56 ngày

tuổi tương ứng với 31, 40, 50 và 67 g/ngày

Heo con đồng hóa đường sữa sau khi được lên men lactase của ruột non phân

giải lactose thành glucose Số lượng α-amylase và maltase trong ruột non tăng dần đến 5 tuần tuổi, nhờ đó lúc này heo con có khả năng tiêu hóa được tinh bột và

Trang 17

oligosaccharid Khác với heo trưởng thành, ở heo con mới sinh, glucid (đường, tinh bột) chuyển hóa không đáng kể thành axit lactic, sự chuyển hóa này xảy ra do kết quả lên men sữa trong dạ dày (Lê Hải, 1981)

Theo Frank và ctv (1996), sự hấp thu lipid dưới dạng axit béo tự do và monoglycerid theo quá trình thẩm thấu vào bạch huyết, sau đó được phân phối đi

khắp cơ thể Khả năng tiêu hóa chất béo của heo con tăng dần theo tuổi của chúng Tính dễ tiêu hóa của lipid có thể tăng từ 69 % trong tuần lễ đầu tiên sau khi cai sữa lên 88 % sau 4 tuần cai sữa Sự bài xuất lipase theo dịch tụy ở heo con có thể tăng đến 3 - 4 tuần tuổi song song với bài xuất mật, thúc đẩy sự phân giải và đồng hóa

mỡ nhờ đó được nhũ tương hóa tốt Tỷ lệ đồng hóa mỡ ở heo con tỷ lệ nghịch với chiều dài của các axit béo Các axit béo chưa bão hòa được hấp thu nhanh hơn so

với các axit béo đã bão hòa (trích dẫn Phạm Tất Thắng, 2004)

2.1.1.3 Heo cai sữa

Sau khi bú sữa đầu hệ thống tiêu hóa còn tiếp tục phát triển trong thời gian

bú sữa Nếu cai sữa càng chậm thì hệ tiêu hóa càng phát triển Sau khi cai sữa, ruột phát triển tốt thì heo con sẽ chuyển hóa dễ dàng chất dinh dưỡng từ cám

Cai sữa lúc 3 - 4 tuần tuổi thì gặp 2 khó khăn sau đây

Thứ nhất, heo con bị chuyển thức ăn từ sữa sang cám, lượng cám ăn vào ít, bởi vì cấu tạo và chức năng của thành ruột không thích nghi được với sự thay đổi nhanh chóng như trên Heo con mất một số thời gian để duy trì đà tăng trưởng (khoảng 5 ngày)

Thứ hai, khi tiến hành cai sữa ruột sẽ thay đổi chức năng hoàn toàn vì nguồn cung cấp dinh dưỡng bị thay đổi đột ngột Vì vậy cần xác định trước thời gian cai sữa và định hướng nuôi dưỡng cho đặc tính tiêu hóa của heo được thích nghi dần Tuy nhiên vấn đề có thể xảy ra là heo không chịu ăn cám và dẫn đến thiếu hụt dinh dưỡng

Giai đoạn sau cai sữa hệ thống enzyme (lactase, glucosidase, protease) lại giảm nhưng maltase lại tăng Do đó, khả năng hấp thu chất dinh dưỡng cũng giảm Ngoài ra, trong giai đoạn này hệ thống men tiêu hóa chưa phân tiết đầy đủ, do đó

Trang 18

thức ăn không được tiêu hóa và hấp thu một cách trọn vẹn Lượng thức ăn không được tiêu hóa sẽ là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn đường ruột phát triển làm phá

vỡ trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy

Sau khi cai sữa khoảng 10 ngày, dạ dày sẽ dần dần phát triển Tuy nhiên trong vòng 3 ngày đầu độ lớn ruột non bị giảm sút và sau 10 ngày cũng không thể hồi phục lại như ban đầu Thế nhưng ngược lại ruột già lại phát triển rất nhanh giúp heo con có thể sống độc lập sau cai sữa

Các cơ quan liên quan tới bộ máy tiêu hóa cũng phát triển hoàn toàn khác nhau Ví dụ như gan sau khi cai sữa ở tuần thứ hai phát triển rất nhanh góp phần gia tăng hoạt động trao đổi chất

2.1.2 Những thay đổi tác động lớn đến heo con khi cai sữa

2.1.2.1 Thay đổi về nguồn thức ăn

Thông thường heo con được cho làm quen với thức ăn khi 7 - 10 ngày tuổi

Và nguồn thức ăn chính của heo con là sữa mẹ đến khi cai sữa thì nguồn thức ăn rất ngon miệng, giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa này bị thay thế hoàn toàn bằng nguồn thức ăn mà chúng cho là thức ăn phụ với những thành phần khó tiêu hóa hơn và kém ngon miệng hơn Sự thay đổi này làm cho heo con ăn ít đi và có thể ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng và sức khỏe của heo Vì vậy thức ăn cho heo cai sữa ngoài việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng theo nhu cầu thì việc chế biến để tăng sự hấp dẫn, tăng tính thèm ăn và tăng tỷ lệ tiêu hóa, hấp thu thức ăn là rất quan trọng

Heo sau cai sữa do thay đổi thức ăn mới khó tiêu hơn sẽ làm tăng pH của đường tiêu hóa, nhóm vi khuẩn có lợi sẽ giảm số lượng nhanh chóng và sau đó là sự sinh sôi và phát triển các dòng vi khuẩn có hại khác trong đường ruột Nếu những vi khuẩn có hại này có cơ hội thuận lợi, chúng sẽ tăng nhanh về số lượng, lấn át các nhóm vi khuẩn có lợi và gây hiện tượng loạn khuẩn đường tiêu hóa, từ đó gây tiêu chảy và các bệnh khác và cuối cùng là ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng của heo con

Trang 19

Bảng 2.1 PH ở những đoạn khác nhau của ống tiêu hóa heo con sau cai sữa

(Nguồn: Makkink, 1994; trích dẫn tài liệu hội thảo của công ty Biomin, 2004)

2.1.2.2 Thay đổi bộ máy tiêu hóa của heo con khi cai sữa

Màng nhày ruột non có những thay đổi khi heo được cai sữa ở 3 - 4 tuần

tuổi So với trước khi cai sữa, nhung mao (để hấp thu dưỡng chất) ngắn đi 75 % trong vòng 24 tiếng sau khi cai sữa và tình trạng ngắn này vẫn tiếp tục nhưng giảm

dần cho đến ngày thứ 5 sau cai sữa (Hampson and Kidder, 1986) Mào ruột lại sâu hơn bình thường Mào ruột là nơi mà tế bào của chúng sẽ di chuyển dần lên đỉnh nhung mao để trở thành tế bào ruột trưởng thành với vi nhung mao hấp thu chất dinh dưỡng Hamston (1986) không thấy có phản ứng viêm ở phần đầu ruột non

mặc dù Miller và ctv (1984) cho rằng việc thức ăn giặm trước khi cai sữa có thể là nguyên nhân khơi mào phản ứng viêm ở giai đoạn sau cai sữa (Nguồn: Trần Thị Dân, 2005)

Việc giảm chiều dài của nhung mao và hình dạng chưa trưởng thành của quần thể tế bào ruột (do tốc độ thay thế nhanh) có thể giúp giải thích tại sao heo cai

sữa tăng nhạy cảm đối với bệnh do Escherichia coli Những thay đổi của nhung

mao và mào ruột được thiết lập trong vòng 5 ngày và kéo dài trong ít nhất 5 tuần Ở heo chưa cai sữa, chiều cao của nhung mao ít thay đổi hoặc có thể giảm chút ít và

độ sâu của mào ruột tăng dần dần nhưng với tốc độ chậm hơn Do đó nếu cai sữa sớm thì cần lưu ý những thay đổi trên để có chế độ dinh dưỡng thích hợp

Nguyên nhân chính xác của những thay đổi trên vẫn chưa rõ ràng Ở heo chưa cai sữa, những thay đổi của nhung mao và mào ruột có thể do thay đổi dưỡng

Trang 20

chất trong ruột, biến dưỡng của vi sinh vật đường ruột (tạo axit béo chuỗi ngắn nên kích thích sự tái sinh tế bào) và các thành phần có tính kháng nguyên trong thức ăn

2.1.2.3 Thay đổi về môi trường bên ngoài

Khi heo con bị cách ly nghĩa là đã mất đi nguồn thức ăn hấp dẫn, mất sự bảo

vệ và nguồn sưởi ấm làm heo con bị ảnh hưởng lớn đến tâm lý, dẫn đến stress, hệ miễn dịch bị ảnh hưởng xấu heo con dễ bị bệnh và mắc bệnh ở giai đoạn này thì rất

nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong

2.1.3 Sự phát triển về kích thước bộ máy tiêu hóa heo con

Theo Trần Cừ và ctv (1985), bộ máy tiêu hóa ở heo con phát triển rất nhanh Heo sơ sinh, dung tích dạ dày nhỏ, đến 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần, ở 20 ngày tuổi thì sức chứa của dạ dày đạt 200 ml và đến 2 tháng tuổi có thể chứa 2 lít Ở ngày đầu dung tích ruột non khoảng 100 ml, 20 ngày sau đã tăng 7 lần và đến tháng thứ 3 đạt được 6 lít Ruột già ở heo sơ sinh có dung tích 40 - 50 ml, 20 ngày tăng lên 100 ml

và sau đó tăng rất nhanh cả về trọng lượng đến chiều dài ruột Sự phát triển nhanh

về kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa được ghi nhận trong bảng sau:

Bảng 2.2 Kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa heo con từ sơ sinh đến 70 ngày

tuổi

Tuổi (ngày)

Dung tích

dạ dày (ml)

Chiều dài (ml)

Dung tích (ml)

Chiều dài (ml)

Dung tích (ml)

(Nguồn: A V Kavasnhixki, 1951; trích dẫn bởi Trần Cừ, 1972)

Qua Bảng 2.2 ta nhận thấy, kích thước và dung tích bộ máy tiêu hóa của heo con chỉ phát triển mạnh ở giai đoạn từ 20 - 70 ngày tuổi, giai đoạn từ sơ sinh đến 20 ngày tuổi kém phát triển Do đó khả năng hoạt động của bộ máy tiêu hóa heo con

Trang 21

trong giai đoạn này còn kém nên khi heo con chuyển qua thức ăn hỗn hợp sẽ rất dễ gây bệnh đường ruột, nhất là tiêu chảy

Tóm lại, bộ máy tiêu hóa heo con phát triển chưa hoàn chỉnh về kích thước

và hệ thống men tiêu hóa, đồng thời rất dễ bị stress do điều kiện ngoại cảnh, do đó việc cai sữa phải tiến hành từ từ, thức ăn tập ăn phải thơm ngon (tốt nhất là giống mùi sữa mẹ), đầy đủ thành phần dinh dưỡng, dễ tiêu hóa

2.1.4 Những nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy

2.1.4.1 Khái niệm

Tiêu chảy là triệu chứng lâm sàn của một quá trình bệnh lý, sinh lý trên đường tiêu hóa mà biểu hiện là thú đi phân loãng, đôi khi có mùi tanh , có máu, chất nhầy, bọt khí… Roux đã định nghĩa “tiêu chảy là hội chứng đặc trưng bởi sự tống phân nhanh và phân nhiều nước” (dẫn liệu Nguyễn Thị Hải Yến, 2005)

Heo bị tiêu chảy thường mất nước, mất chất điện giải và kiệt sức Những heo khỏi bệnh thường chịu hậu quả còi cọc, thiếu máu, chậm lớn dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp và tỷ lệ chết cao Bệnh thường xuất hiện ở cả 3 lứa tuổi: heo sơ sinh, heo con theo mẹ và heo sau cai sữa

Trang 22

2.1.4.2 Cơ chế gây tiêu chảy trên heo

(theo Nguyễn Như Pho, 1995)

Sơ đồ 2.1 Cơ chế gây tiêu chảy trên heo

Nguyên nhân không

Giảm nhu

động ruột

Mất nước, mất chất điện giải

Ngộ độc, suy nhược

Trang 23

2.1.4.3 Nguyên nh ân gây rối loạn tiêu hóa và hội chứng tiêu chảy ở heo con

◊ Do đặc điểm của bộ máy tiêu hóa heo con

Trong vòng 2 tuần lễ sau khi sinh, heo con chỉ có thể tiêu hóa được sữa hoặc

loại thức ăn tập ăn với thành phần chủ yếu là sữa Trên những bầy heo quá đông, hoặc phải nuôi hộ vì heo nái mẹ mắc bệnh, nếu sử dụng thức ăn không đúng, thí dụ dùng sữa đặc có đường cho heo con bú sẽ dẫn đến tiêu chảy vì đường saccharose không thể được tiêu hóa trong giai đoạn này Sự tập ăn cũng phải được cân nhắc, phải sử dụng các loại thức ăn tập ăn có chất lượng cao, nếu tập ăn bằng thức ăn có

chất lượng kém, do heo con không thể tiêu hóa được sẽ dẫn đến tiêu chảy

◊ Do các yếu tố quản lý, chăm sóc chưa hợp lý với 6 vấn đề chủ yếu sau

Không cho heo con bú sữa đầu đầy đủ: sữa đầu ngoài thành phần dinh dưỡng cao, còn chứa các kháng thể từ mẹ truyền sang, giúp heo con phòng chống bệnh trong 3 - 4 tuần lễ đầu

Nếu không tiêm phòng cho nái, việc heo bú sữa đầu cũng không tạo ra được cho heo con khả năng phòng bệnh Không úm cho heo con, hoặc úm không đúng quy cách làm heo con bị lạnh, hệ tiêu hóa sẽ hoạt động yếu, thể hiện qua sự giảm nhu động ruột, giảm phân tiết dịch tiêu hóa, dẫn đến tình trạng không tiêu, rồi viêm

Điều kiện vệ sinh kém: bao gồm không sát trùng chuồng nái trước khi sinh, cho nái ăn thức ăn kém phẩm chất, có chứa độc tố vi trùng hoặc nấm mốc Nguồn nước uống không sạch cũng được xem là nguyên nhân chính dẫn đến sự nhiễm trùng đường ruột

Trang 24

Các stress như cai sữa, nhốt lẫn với heo lạ có khả năng ngăn chặn chức năng của hệ thống miễn dịch Một số stress khác nhau làm tăng mức cortisol và các hormone khác trong hệ tuần hoàn của heo Cortisol hoạt động làm giảm sức đề kháng miễn dịch đối với các tác nhân lạ Cai sữa làm giảm đột ngột kháng thể thụ động cung cấp từ sữa và cùng với các stress khác sẽ làm tăng sự mẫn cảm của heo con với các bệnh đường ruột sau cai sữa (Straw và ctv, 1996)

◊ Do nhiễm trùng đường ruột

Sự nhiễm trùng đường ruột thường xảy ra với các loại mầm bệnh có sẵn trong chuồng trại (do sát trùng không hợp lý), do mầm bệnh từ heo mẹ truyền sang,

hoặc mầm bệnh có trong thức ăn, nước uống

Do vi khuẩn

Vi khuẩn là một trong những nguyên nhân quan trọng và chủ yếu gây tiêu chảy ở heo con theo mẹ Trong đường ruột của tất cả các loài gia súc đều có vi sinh

vật sinh sống Trong điều kiện bình thường vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân

bằng và có lợi cho cơ thể vật chủ Nhưng khi có các yếu tố gây bệnh tác động, trạng thái cân bằng trong hệ vi sinh vật đường ruột bị phá vỡ dẫn đến rối loạn tiêu hóa, các vi khuẩn đường ruột sinh sản phát triển, tăng cường độc lực, sản sinh độc tố tác động vào niêm mạc ruột làm viêm ruột nặng thêm, gây nên tình trạng bệnh lý trầm trọng

Theo Cù Hữu Phú (1999), nguyên nhân gây tiêu chảy ở heo con chủ yếu là

do vi khuẩn E coli chiếm tỷ lệ 85,71 % (trích dẫn từ Trương Lăng, 2005) Vi khuẩn

E coli được Eschrich phân lập năm 1985 E coli luôn có sẵn trong đường ruột của

động vật nhưng chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của động vật bị giảm sút do chăm sóc nuôi dưỡng kém, cảm lạnh, cảm nóng… Đây là một vi khuẩn chiếm nhiều nhất trong số các vi khuẩn hiếu khí sống trong đường tiêu hóa động vật Vi khuẩn này

thường gây bệnh lúc tập ăn, lúc mọc răng sữa, và lúc cai sữa với 3 thể bệnh

Tiêu chảy phân trắng do nhiễm E coli, không có triệu chứng ói, sốt, heo con không bỏ bú, lây lan chậm trong bầy, không xuất huyết hoặc loét ở niêm

mạc ruột

Trang 25

Tiêu chảy phân vàng, nhiều nước khi kết hợp với virus trên heo con theo

mẹ, do E coli kết hợp với virus, xảy ra trên heo con trong 2 tuần đầu sau sinh, lây lan nhanh trong bầy, kèm theo ói mửa, bỏ bú Heo con gầy sút nhanh do

mất nước nặng

Tiêu chảy nhiều nước phân xanh lá cây nhạt, nhiều nước trên heo con sau cai sữa Xảy ra trên heo con giai đoạn sau cai sữa hoặc nuôi thịt, ít lây lan trong bầy Tiêu chảy nhưng heo vẫn ăn uống, ít thấy dấu hiệu mất nước trừ trường hợp tiêu chảy kéo dài

Bệnh do vi trùng Salmonella (nhất là Salmonella cholerae suis) gây nên với

đặc điểm bại huyết, gây viêm dạ dày ruột, tạo mụn loét ở ruột già, thường gây viêm phổi (trên heo con 1 - 16 tuần tuổi), gây xáo trộn sinh sản (trên heo nái) Là một

bệnh truyền nhiễm xảy ra ở heo mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp ở heo 12 - 16 tuần tuổi Bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa khi sử dụng thức ăn, nước uống nhiễm khuẩn… Do nuôi nhốt chung với thú bệnh hoặc do heo mẹ nhiễm bệnh vi trùng lây sang bào thai hoặc do vi trùng có sẵn trong cơ thể heo, khi điều kiện ngoại cảnh, thời tiết thay đổi, heo bị stress, chăm sóc nuôi dưỡng kém hay sức đề kháng kém sức khỏe heo giảm sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển thành bệnh Biểu

hiện của bệnh: tiêu chảy phân vàng hôi thối, nhiều nước, sốt cao 40,5 - 41,50

C, xuất huyết vùng da mỏng, ruột viêm xuất huyết nhiều nơi, hạch ruột tăng thể tích và xuất huyết, lách sưng to, viêm phổi

Tiêu chảy ra máu do Treponema hyodysenteriae hay còn gọi là bệnh hồng lỵ

Bệnh thường xảy ra trên heo từ 6 tuần tuổi trở lên, tiêu chảy cấp tính ra máu tươi do

xuất huyết nặng ở ruột già, heo chết sau 2 - 3 ngày mắc bệnh Xoắn khuẩn xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, bệnh có tính chất địa phương, xâm nhập vào trại

do đưa heo nhiễm bệnh vào Mầm bệnh bài thải qua phân Khi điều kiện chăn nuôi kém, sức đề kháng heo giảm, heo dễ mắc bệnh, lây lan do nhốt chung với heo bệnh

Ở thể cấp tính heo tiêu chảy có nhiều chất nhầy, máu và nhiều điểm hoại tử trong phân tạo nên bệnh tích viêm manh tràng Thể mãn tính nối tiếp theo thể cấp tính, thân nhiệt giảm, tiêu chảy, gầy yếu dần rồi chết

Trang 26

Do virus

Người ta cũng chứng minh được virus là một tác nhân gây tiêu chảy, thường

thấy là Rotavirus, Coronavirus…và chúng thường kết hợp với vi khuẩn E coli

Bệnh viêm dạ dày - ruột truyền nhiễm do virus nhóm Coronavirus gây ra

Virus có vỏ bọc dễ bị phá hủy bởi các chất sát trùng nhưng chúng có khả năng kháng axit

Khi virus nhóm Coronavirus vào trong các tế bào, nó nhân lên và phá hủy tế bào trong vòng 4 - 5 giờ Khi tế bào chết, hàng ngàn phân tử virus được giải phóng

và nhiễm sang các tế bào khác Sau 4 - 5 chu kì nhân lên của virus, các tế bào của

bộ máy tiêu hóa đã bị giết chết, khi đó các chất dinh dưỡng không được tiêu hóa, nước không được hấp thu, mất dịch và các chất điện giải ở cơ thể gây ra tiêu chảy

Tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra trên heo con dưới 1 tháng tuổi và

thường được gọi là tiêu chảy sữa, tiêu chảy trắng hoặc tiêu chảy 3 tuần Tiêu chảy được đặc trưng bởi phân màu trắng hoặc vàng, thời gian tiêu chảy kéo dài

Rotavirus xâm nhập và phá hủy các tế bào màng nhầy ruột non, các nhung mao sẽ ngắn lại, các chất dinh dưỡng tiêu hóa không hoàn toàn và hấp thu kém, điều này gây tiêu chảy, mất nước, chất điện giải, giảm trọng lượng cơ thể và có thể gây chết

Triệu chứng: tiêu chảy phân vàng, nhiều nước, ruột non mỏng, căng phồng, chứa đầy dịch, không có viêm loét

Do ký sinh trùng và nguyên sinh động vật

Tác động thông qua việc tranh chấp chất dinh dưỡng với ký chủ, tiết độc tố, làm giảm sức đề kháng và làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, tạo điều kiện cho các tác nhân khác tấn công gây bệnh Ký sinh trùng lấy thể dịch, tổ chức tế bào

của ký chủ làm thức ăn và đồng thời gây tổn hại cho ký chủ về mặt sinh học Các loại ký sinh trùng như giun đũa, giun lươn, giun tóc, sán, lây nhiễm qua phân, nước tiểu, nước uống, rau sống gây bệnh tiêu chảy Heo nhiễm giun thường bị tiêu chảy, gầy ốm, chậm lớn mặc dù ăn nhiều

Bệnh giun đũa là bệnh giun tròn phổ biến nhất, gây ra bởi Ascaris suum

Giun ký sinh ở ruột non, hút các chất dinh dưỡng và tiết ra độc tố ảnh hưởng đến

Trang 27

phát triển của vật nuôi ký chủ Những ảnh hưởng chính do bệnh giun đũa gây ra tập trung ở ruột, gan, phổi và tim là tổn thương các cơ quan này khi ấu trùng di hành Khi ấu trùng di hành heo thường ho, heo con chậm phát triển, lông da xơ xác Ấu trùng gây viêm, xuất huyết gan và phổi Giun trưởng thành ký sinh làm viêm loét ruột Các sản phẩm của quá trình trao đổi chất của giun là độc tố trong cơ thể ký

chủ, làm thú trúng độc trường diễn, lông da không bóng mượt, còi cọc, chậm lớn, hay tiêu chảy

Bệnh cầu trùng do Isospora suis gây nên, gây bệnh tiêu chảy cho heo con từ

7 - 14 ngày tuổi Bệnh xảy ra nhiều vào mùa hè và mùa nóng Isospora suis là

nguyên sinh động vật (protozoa), có dạng hình cầu đường kính 20 micrometer, được gọi là noãn nang, là một trong những nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở heo con

Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới, tại châu Âu tỷ lệ nhiễm từ 26,9 - 62,25 % và ở Việt Nam bệnh phổ biến trong các trại, hộ chăn nuôi với tỷ lệ nhiễm từ 20 - 56 % Heo con bị nhiễm noãn nang từ đường tiêu hóa, khi bị nhiễm noãn nang đến ruột non xâm nhập vào vách ruột và trải qua chu trình phát triển phức tạp, thời gian này mất khoảng 4 ngày, sau đó heo có biểu hiện tiêu chảy và thải noãn nang ra ngoài môi trường qua phân Ở điều kiện thích hợp về nhiệt độ, ẩm độ và oxy chúng phát triển thành noãn nang gây nhiễm (Nguồn tin: Nông nghiệp Việt Nam)

Triệu chứng: heo con tiêu chảy, phân thường có dạng sệt đến dạng lỏng, màu

trắng đến vàng, không có máu trong phân và tỷ lệ chết rất thấp, nhưng bệnh làm hư

hại niêm mạc ruột đưa đến giảm sự hấp thu và heo chậm lớn

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát dục của heo con cai s ữa

2.1.5.1 Yếu tố di truyền

Di truyền là khả năng truyền lại cho đời sau các đặc điểm di truyền của chúng Khả năng này được xác định bằng cách tính tỷ lệ phần trăm di truyền trong việc tạo nên giá trị kiểu hình, gọi là hệ số di truyền (h2) Người ta thường sử dụng

hệ số di truyền theo nghĩa hẹp và nó được tính theo công thức: h2

= VA/VP

Với VA: phương sai do giá trị di truyền cộng gộp

Trang 28

VP: phương sai kiểu hình

Tính trạng tăng trọng sau cai sữa có mức độ di truyền trung bình h2

= 0,3

Giống: giữa các giống khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng và phát dục khác nhau Thông qua di truyền các cá thể đời sau thừa hưởng các gene quy định về khả năng sinh trưởng của bố mẹ Vì vậy, qua các cá thể các giống khác nhau đều giữ được các đặc điểm riêng của mình

Cá thể: trong cùng một giống giữa các cá thể khác nhau có thể có sự sinh trưởng và phát dục khác nhau, một phần do di truyền biến dị, phần khác là do trong quá trình hình thành giao tử các cá thể khác nhau có các kiểu gene khác nhau nên

một số cá thể có khả năng sinh trưởng tốt, điều này có ý nghĩa trong chọn lọc

2.1.5.2 Yếu tố ngoại cảnh

Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục của thú Nếu chúng ta có một kiểu di truyền tốt chưa phải là điều kiện duy nhất đảm bảo cho sự thành công Một kiểu di truyền tốt nếu không có ngoại cảnh tốt thì sẽ đem lại

hiệu quả kém

Bao gồm: nhiệt độ, ẩm độ, kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc, đều ảnh hưởng

trực tiếp đến sự phát triển của gia súc Điều kiện khí hậu khắc nghiệt làm cho con

vật dễ nhạy cảm với bệnh tật, giảm sức đề kháng

Heo cai sữa rất nhạy cảm với môi trường có nhiệt độ thấp, khi heo bị lạnh hệ

thần kinh phó giao cảm bị ức chế làm giảm sự tiết dịch và giảm nhu động ruột nên heo tiêu hóa không hết thức ăn tạo điều kiện cho các vi sinh vật có hại phát triển và gây tiêu chảy

Nhiệt độ: phải giữ ở mức 26 - 280C, cho heo ăn tự do hay nhiều lần trong ngày nhưng tránh rơi thừa thức ăn ra ngoài Nhiệt độ không thích hợp ảnh hưởng đến năng suất heo như làm heo dễ bị stress nhiệt, giảm sức đề kháng, tỷ lệ bệnh gia tăng, tiêu thụ thức ăn giảm

Ẩm độ: theo Hồ Thị Kim Hoa (2002) ẩm độ thích hợp cho vật nuôi dao động

từ 50 - 70 % Nếu ẩm độ thấp hơn 40 % hoặc trên 85 % ảnh hưởng xấu đến năng

suất heo

Trang 29

Quy trình nuôi dưỡng chăm sóc heo: dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến tốc độ sinh trưởng và phát dục của heo, mức độ dinh dưỡng khác nhau thì sự sinh trưởng và phát dục của vật nuôi sẽ khác nhau

Do bộ máy tiêu hóa của heo con phát triển chưa hoàn chỉnh, cho nên kỹ thuật cho ăn, khẩu phần dinh dưỡng đối với heo con là một vấn đề quan trọng

Theo Nguyễn Bạch Trà (1996), heo con bị tiêu chảy là do cắt nguồn enzyme được cung cấp từ nguồn sữa mẹ và nguồn thức ăn lạ vào gây xáo trộn trong đường tiêu hóa của heo con Nên cho heo ăn nhiều lần trong ngày và cho ăn mỗi lần một ít

Ăn tự do tránh làm rơi vãi thức ăn dưới nền chuồng, nếu thức ăn bị nhiễm bẩn heo con ăn phải sẽ gây nhiều bất lợi (Trích dẫn: Nguyễn Ngọc Vui, 2009)

2.1.6 Tổng quan về vitamin

2.1.6.1 Khái ni ệm

Vitamin là hợp chất hữu cơ có phân tử trọng tương đối nhỏ, có trong cơ thể với số lượng rất ít, nhưng không thể thiếu được, vì nó có vai trò rất quan trọng là tham gia cấu trúc nhóm ghép trong nhiều hệ thống enzym, xúc tác các phản ứng hóa học để duy trì mọi hoạt động sống bình thường như: sinh trưởng, sinh sản, bảo vệ

cơ thể và sản xuất các sản phẩm chăn nuôi…

2.1.6 2 Nguyên nhân gây thiếu vitamin

Trong các loại vitamin, người ta nhận thấy vitamin ADE và vitamin C thường hay thiếu so với nhu cầu trong những trường hợp stress do hoàn cảnh chăn nuôi công nghiệp, nhưng các vitamin này lại có vai trò rất quan trọng để giúp cho

hệ thống đề kháng cơ thể được củng cố vững chắc, chống lại sự xâm nhập của vi trùng, virus gây bệnh Ngày nay người ta còn thấy nó còn có ý nghĩa quyết định để thúc đẩy hệ thống tế bào bạch cầu thực bào các tế bào ung thư di căn trong máu

• Những nguyên nhân từ thức ăn

Có thể do thức ăn, nước uống qua đường miệng thiếu vitamin

Do thức ăn sử dụng không có đủ vitamin bởi vì trong chăn nuôi công nghiệp người ta thường sử dụng thức ăn hỗn hợp khô, hầu như sử dụng rất ít hoặc không sử

Trang 30

dụng rau xanh, mà vitamin phần lớn ở trong rau xanh Nếu như không bổ sung premix vitamin, thì tình trạng thiếu hụt hầu như không tránh khỏi

Do sự thu hoạch thức ăn không thích hợp Đặc biệt đối với thức ăn xanh thu hoạch quá non hoặc quá già thì hàm lượng vitamin, nhất là caroten đều thấp

Do quy trình chế biến thức ăn không thích hợp Tùy theo độ nhạy cảm với nhiệt độ và oxy của mỗi loại vitamin mà có mức độ hư hỏng khác nhau Xếp theo thứ tự độ nhạy cảm với nhiệt độ và oxy từ cao đến thấp như sau: vitamin C > vitamin E > vitamin A

Do dự trữ thức ăn không đúng quy cách làm cho vitamin trong thức ăn bị hư hỏng

Do cân đối các chất dinh dưỡng trong khẩu phần Có thể quá dư thừa một chất dinh dưỡng nào đó mà lại thiếu chất kia nên đòi hỏi cơ thể phải chuyển hóa nhiều gây ra mất bình quân trao đổi chất, từ đó nó cần nhiều vitamin để tham gia trong cấu trúc enzyme xúc tác các phản ứng Ví dụ: khi khẩu phần có nhiều chất béo chưa no như dầu thực vật, dầu mỡ cá thì cần lưu ý bổ sung thêm nhiều vitamin

E Vì vitamin E có chức năng chống oxy hóa nên nó bảo vệ tốt các axit béo chưa no trong thức ăn và trong cơ thể

Do mất cân đối giữa các vitamin với nhau Bởi vì phản ứng sinh hóa học không phải một vài enzyme thực hiện, mà nó là một chuỗi gồm nhiều enzyme khác nhau thực hiện Trong đó mỗi enzyme có một loại vitamin tham gia Ví dụ: sự tổng hợp vitamin C tốt khi có đủ vitamin A; sự hoạt hóa vitamin A mạnh khi có đủ vitamin E

Do trong thức ăn có chất kháng vitamin

Do sử dụng kháng sinh để trị bệnh cho gia súc lâu ngày làm mất quân bình vi sinh vật đường ruột, ức chế sự tổng hợp vitamin nhóm B của vi sinh vật trong ống tiêu hóa

• Những nguyên nhân do cơ thể thú

Mỗi giống thú, giai đoạn sản xuất khác nhau có nhu cầu vitamin khác nhau

Trang 31

Ở trạng thái bệnh lý: thú ở trạng thái bị stress, trạng thái nhiễm khuẩn, trạng thái nhiễm siêu vi cần nhiều vitamin hơn trạng thái sức khỏe bình thường

Nhóm nguyên nhân do môi trường và sự phát triển của thú

Thú nuôi nhốt hoàn toàn trong nhà thì dễ thiếu vitamin D hơn thú chăn thả ngoài trời

Nhiệt độ môi trường cao thú cần nhiều vitamin C hơn nhiệt độ bình thường Khi vận chuyển, chích ngừa thú cần nhiều vitamin C Gần đây người ta còn thấy, trước khi chích ngừa nếu bổ sung thêm 200 - 300 UI vitamin E trong vài ba ngày thì sự đáp ứng miễn dịch của thú rất cao

2.1.7 Sơ lược về vitamin A

2.1.7.1 Cấu tạo hóa học

Hình 2.1 Công thức cấu tạo vitamin A

2.1.7.2 Vai trò sinh học và triệu chứng thiếu

Đây là sinh tố cần thiết cho sự sinh trưởng, sinh sản và kháng bệnh

Về sinh trưởng, sinh tố A cần thiết cho heo đang thời kỳ tăng trưởng, nếu khẩu phần ăn hằng ngày thiếu heo sẽ chậm lớn, khả năng cho thịt giảm sút

Về sinh sản, sinh tố A rất cần cho heo đực và heo nái trong việc sản xuất ra giao tử Thiếu sinh tố A tinh dịch heo đực có ít tinh trùng và tinh trùng yếu, độ thụ tinh thấp còn trên heo nái thì có ít trứng rụng đặc biệt sinh tố A rất cần thiết để hình thành hoàng thể, cơ quan nội tiết sản xuất ra hormone progesterone giúp định vị phôi bào trong sừng tử cung, cho nên, nái thiếu sinh tố A thì thai đẻ ra sẽ ít Thiếu sinh tố A trầm trọng có thể cả đàn con của heo nái sinh ra không có tròng mắt

Về sự kháng bệnh, sinh tố A là chất cần thiết cho thị lực, thiếu sinh tố A làm cho thị lực kém, bị khô giác mạc dễ dẫn đến tình trạng mù mắt Sinh tố A giúp cho

Trang 32

da và niêm mạc bền vững chống lại sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh, đồng thời khi bị tổn thương giúp da và niêm mạc mau lành, giảm bớt sự xâm nhiễm mầm bệnh

2.1.7.3 Nhu cầu và nguồn cung cấp

Xác định nhu cầu

Có nhiều tài liệu, nhiều nước trên thế giới khuyến cáo nhu cầu khác nhau Nhưng nói chung ở thú non có nhu cầu cao nhất, kế đến là thú trong giai đoạn sinh trưởng, sinh sản, nuôi con, tiết sữa, đẻ trứng, sau cùng là thú vỗ béo, thú trưởng thành trong giai đoạn nuôi hậu bị

Nguồn cung cấp

Cấp qua nguồn thức ăn tự nhiên là cách cấp đơn giản, rẻ tiền và rất an toàn cho thú bởi vì nó ít khi vượt xa quá liều quy định gây ngộ độc cho thú Cung cấp đầy đủ rau xanh (lá cây họ đậu, cà rốt, bí đỏ…), nguồn thức ăn giàu caroten , từ đây

cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A Ngoài ra vitamin A còn chứa trong bột cỏ, bột lá khoai mì, lá bình linh sấy nhân tạo hoặc phơi khô có kỹ thuật, đây là nguồn caroten rất quan trọng cho gia súc gia cầm

Cung cấp qua nguồn vitamin tổng hợp: ngày nay vitamin A tổng hợp được sản xuất ra với số lượng rất lớn dưới dạng ester hóa bởi axit như axit acetat, axit phosphat, vitamin A palminat… Người ta cung cấp cho thú theo 3 con đường: vitamin A trong các premix, dùng để trộn vào trong thức ăn chăn nuôi; vitamin A hòa tan trong nước; vitamin A trong chế phẩm ADE dạng chích Nguồn vitamin A

ly trích từ dầu gan cá

2.1.8 Tổng quan về vitamin D

2.1.8.1 Khái niệm, cấu tạo

Vitamin D là một nhóm các sterol có chức năng tương tự như hormone, có hai loại chủ yếu là vitamin D2 (ergocanxi ferol) và D3 (cholecanxi ferol) Vitamin

D2 có nguồn gốc thực vật, là dẫn xuất của chất ergosterol trong cây cỏ dưới tác động của tia cực tím, còn vitamin D3 bắt nguồn từ chất 7-dehydrocholesterol là dẫn

Trang 33

xuất oxy hóa của cholesterol trong cơ thể động vật Dưới tác dụng của tia tử ngoại thì 7 - dehydrocolesterol sẽ mở mạch nối 9 - 10 biến thành vitamin D3

Công thức cấu tạo:

Hình 2.2 Công thức cấu tạo vitamin D

2.1.8.2 Vai trò và triệu chứng thiếu

Vai trò

Điều tiết sự hấp thu canxi và photphor ở ruột theo phương thức là nó kích thích sự hình thành protein vận chuyển đặc biệt trong lông nhung của tế bào niêm mạc ruột, protein đó là Ca-binding protein (CaBP), giúp mang canxi xuyên qua màng tế bào vào bên trong Cũng giống như vậy sự trao đổi này ảnh hưởng đến sự hấp thu photphor và sự thải tiết của nó qua thận Cũng bằng phương thức vận chuyển này để mang canxi tích lũy vào xương cùng với photphor

Những dạng hóa học khác nhau của vitamin D có tác dụng điều tiết sự sinh sản, sự chín của trứng, sự cốt hóa các tế bào sụn và tăng cường hệ miễn dịch

Triệu chứng thiếu

Còi xương, xốp xương, loãng xương: sự thiếu hụt vitamin D ở động vật non đưa đến bệnh còi xương, ở động vật trưởng thành bệnh xốp xương hay loãng xương Bởi vì protein CaBP không chỉ cần thiết cho sự hấp thu canxi đến xương,

mà còn đến ống dẫn trứng, đến tử cung để tạo nên vỏ trứng Nếu thiếu loại protein vận chuyển này thì trứng thiếu canxi đưa đến vỏ mềm, vỏ mỏng dễ bể

Trang 34

Rối loạn sinh sản: vitamin D còn ảnh hưởng trực tiếp lên buồng trứng của gia cầm và động vật có vú trên cương vị như là một prohormone, vì vậy nếu thiếu sẽ gây ra tình trạng vô sinh, có liên quan đến tuần hoàn chất khoáng

2.1.8.3 Nhu cầu và sự cung cấp

Cơ thể động vật có khả năng dự trữ vitamin D với số lượng tương đối ít trong gan, máu và trong da Do đó việc cung cấp thường xuyên là rất quan trọng

Trong chăn nuôi tự nhiên, thú được chăn thả ngoài trời, nhờ tác dụng của ánh sáng mặt trời mà chất 7-dehydrocholesterol biến đổi thành vitamin D3 thỏa mãn được nhu cầu cho thú Trái lại, chăn nuôi công nghiệp, nuôi nhốt thú trong chuồng suốt đời nên khả năng tự tổng hợp vitamin D không thể có được Vì lẽ đó nhất thiết phải bổ sung

Nhu cầu trung bình 500 - 1000 UI/100 kg thể trọng/ngày Số lượng này tăng giảm tuỳ theo trạng thái sinh lý (khoẻ, ốm)

Vitamin D dự trữ ở gan, sữa, bơ, nấm, enzyme, dầu thực vật Cho gia súc tắm nắng là một biện pháp tốt để tăng cường vitamin D Sinh tố D cũng được tổng hợp nhân tạo và cung cấp cho heo qua dạng tiêm hay vitamin premix

2.1.9 Tổng quan về vitamin E

2.1.9.1 Khái ni ệm

Là thuật ngữ chỉ một số các vitamin E hợp chất thiên nhiên và tổng hợp, có tác dụng ngăn cản oxy hóa các thành phần thiết yếu trong tế bào, bảo vệ màng tế bào khỏi sự tấn công của các gốc tự do

Vitamin E là một loại vitamin rất dễ hòa tan trong chất béo, tồn tại ở dạng

dầu sánh màu vàng kim hoặc vàng nhạt

Trang 35

Hình 2.3 Công thức cấu tạo vitamin E

Vị trí cacbon số 6 trên vòng tocopherol bị oxy hóa thành dạng –OH Hợp chất này rất nhạy cảm, dễ dàng mất hydro để trở thành liên kết =O với vòng Nhờ tác dụng này mà nó trở thành chất chống oxy hóa

2.1.9.2 Vai trò sinh học và triệu chứng thiếu

Vitamin E là một trong những vitamin có tác động sinh học nhiều mặt nhất, ảnh tưởng rõ nhất đối với quá trình sinh sản

Hai hiện tượng bệnh lý khi thiếu vitamin E là:

Các biến đổi ở đường sinh dục

Thoái hóa loạn dưỡng cơ

Ở động vật đực: Khi thiếu vitamin E thì tế bào sinh tinh bị thoái hóa, tinh trùng kém hoạt động, chất lượng tinh dịch giảm, dẫn tới không có khả năng thụ tinh

Ở động vật cái: Khi thiếu vitamin E, phần lớn các quá trình sinh dục (như

động dục, rụng trứng, thụ tinh) vẫn duy trì, nhưng phôi thai không thể phát triển được vì có những biến đổi chai xơ niêm mạc tử cung, phôi thai chết yểu

Bên cạnh đó, vitamin E được xem là một chất chống oxy hóa ở màng tế bào ngăn chặn sự hình thành các peroxy và bảo vệ các axit béo chưa no đặc biệt là axit linoleic, axit linolenic, axit arachidonic Nếu thiếu viatmin E thì các peroxy hình thành tấn công gây bệnh tích trên tiểu não, ta gọi là bệnh viêm nhũn não, gây bệnh tích trên cơ gọi là bệnh trắng cơ

Theo Võ Văn Ninh (2007), khẩu phần có hàm lượng sinh thố E cao có thể làm gia tăng đáp ứng miễn dịch của cơ thể Còn theo Dương Thanh Liêm và cs,

Trang 36

(2006), nếu thiếu tác dụng chống oxy hóa của vitamin E thì heo con rất nhạy cảm với sắt, khi thiếu vitamin E thì Fe++ dễ dàng biến thành Fe+++ làm hư hại chức năng hồng cầu, myoglobin và hệ thống cytochrome

2.1.9.3 Nhu cầu và nguồn cung cấp

Mầm ngũ cốc như lúa, đậu là nơi chứa nhiều tocopherol (15 - 30 mg%) nên dùng làm nguồn vitamin E trong chăn nuôi kích thích sinh sản cho gia súc (nuôi đực giống cần bổ sung thức ăn hạt nẩy mầm) Ngoài ra còn có ở dầu thực vật, bắp cải, chuối, chanh

Nhu cầu vitamin E thay đổi theo khẩu phần, trạng thái sinh lý, nếu khẩu phần thức ăn chứa nhiều lipid và protein thì lượng vitamin E sẽ tăng lên Gà, vịt đẻ cần 1,2 mgl/ngày; trâu bò liệt chân cần tiêm 500 - 800 mgl/ngày Mức bình quân trên heo vào khoảng 15 - 22 UI vitamin E/kg thức ăn

2.1.10 Vài nét về vitamin ADE dùng trong TN

Soluble ADE (Công ty International Nutrition, USA)

2.1.11 Vitamin C và các vấn đề cần quan tâm

Vitamin C hay axit ascorbic là một chất dinh dưỡng thiết yếu cho các loài sinh trưởng bậc cao và cho một số nhỏ các loài khác Sự hiện diện của ascorbat là cần thiết trong một loạt các phản ứng trao đổi chất của tất cả các động vật, cây cối

và được tạo ra trong cơ thể bởi hầu như tất cả các cơ thể sinh vật loại trừ loài người Đây là một chất được mọi người biết đến rộng rãi là một vitamin mà thiếu nó thì sẽ gây ra bệnh scorbut cho con người

Ngày đăng: 13/06/2018, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm