TÓM T ẮT KHÓA LUẬN Đề tài nghiên cứu “Khảo sát bệnh viêm vú và ảnh hưởng của việc áp dụng biện pháp vệ sinh thú y đến tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn” được tiến hành tại các hộ chăn nuôi bò sữa th
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
Bác sỹ thú y chuyên ngành dược
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN VĂN PHÁT
THÁNG 8/2011
Trang 2XÁC NH ẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: NGUYỄN ĐỨC TRUNG
Tên khóa luận: “Khảo sát bệnh viêm vú và ảnh hưởng của việc áp dụng biện pháp vệ sinh thú y đến tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn”
Đã hoàn tất khóa luận theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và ý kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa Chăn Nuôi – Thú Y ngày 18/08/2011
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN VĂN PHÁT
Trang 3L ỜI CẢM TẠ
Con xin gởi những lời tri ơn từ tận đáy lòng con đến ba mẹ, người đã sinh con ra, nuôi dưỡng con khôn lớn và dạy dỗ con nên người
Xin bày tỏ lòng biết đến thầy Nguyễn Văn Phát – Bộ môn Nội Dược và các
thầy cô trong khoa Chăn Nuôi Thú Y – Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Mính đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này, cũng như truyền đạt những kinh nghiệm lẫn nhận thức xã hội cho tôi trong
suốt thời gian học tập tại trường
Xin chân thành cảm ơn các anh, các chị trong Ban Khuyến nông công ty TNHH FieslandCampian Việt Nam, gia đình anh Nguyễn Quốc Bảo đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Cảm ơn những người bạn của tôi, các bạn đã nhiệt tình động viên, giúp đỡ tôi trong suốt những tháng năm đại học và chia sẻ cùng tôi biết bao nhiều niềm vui
nỗi buồn
NGUYỄN ĐỨC TRUNG
Trang 4TÓM T ẮT KHÓA LUẬN
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát bệnh viêm vú và ảnh hưởng của việc áp dụng
biện pháp vệ sinh thú y đến tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn” được tiến hành tại các hộ chăn nuôi bò sữa thuộc huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, thời gian từ tháng 01/2011 đến tháng 05/2011 Thí nghiệm được bố trí thành hai lô, trong đó lô thí nghiệm có sử
dụng các biện pháp vệ sinh như dùng dung dịch sát trùng bầu vú sau khi vắt sữa, định kỳ sát trùng chuồng trại, sử dụng riêng khăn sạch cho mỗi con và lô đối chứng không thực hiện các biện pháp vệ sinh như trong lô thí nghiệm
Kết quả ghi nhận được như sau:
(1) Tỷ lệ viêm vú
Tỷ lệ bò viêm vú lâm sàng qua đợt khảo sát chiếm 10,06% Tỷ lệ viêm vú tiềm
ẩn chiếm 57,79%, với tổng số vú viêm tiềm ẩn chiếm 39,95%, trong đó theo mức độ dương tính của CMT thì mức 2 (+) chiếm 15,59%, mức 3 (++) là 13,8% và mức 4 (+++) là 10,56%
(2) Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ vú viêm tiềm ẩn
Các yếu tố như lứa đẻ, tháng cho sữa, qui mô chuồng trại, mức độ vệ sinh tại trại
có ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn
(3) Khảo sát ảnh hưởng của việc vệ sinh thú y đến tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn
• Số lượng trung bình tế bào thân trong mẫu sữa ở hai lô trước khi tiến hành thí nghiệm không có sự khác biệt nhau Nhưng trong quá trình tiến hành thí nghiệm thì số lượng này ở hai lô có sự khác biệt nhau rõ rệt Trên lô thí nghiệm, số lượng này có xu hướng giảm, nhưng trên lô đối chứng thì ít giảm hơn
• Các mức CMT ở mức 3 (++) và 4 (+++) trên lô thí nghiệm giảm dần, riêng
mức 2 (+) lại tăng lên Trong khi đó, trên lô đối chứng, tỷ lệ vú viêm ở các mức CMT gần như vẫn giữ nguyên
Trang 5M ỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM TẠ iii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ x
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 CƠ THỂ - SINH LÝ BẦU VÚ 3
2.1.1 Tuyến sữa và một vài đặc điểm của tuyến sữa 3
2.1.2 Sự phát triển tuyến vú 4
2.1.3 Sự thay đổi ở tuyến sữa lúc phân tiết sữa 5
2.2 BỆNH VIÊM VÚ 6
2.2.1 Khái quát về bệnh viêm vú 6
2.2.2 Giới thiệu về tế bào bản thể (somatic cell) 6
2.2.3 Nguyên nhân gây viêm vú 7
2.2.3.1 Giống vật nuôi 7
2.2.3.2 Tuổi 7
2.2.3.3 Giai đoạn cho sữa 7
2.2.3.4 Cấu tạo bầu vú 7
2.2.3.5 Nguyên nhân vi sinh vật 8
2.2.4 Chẩn đoán bệnh viêm vú trên bò sữa 9
2.2.4.1 Chẩn đoán viêm vú lâm sàng 9
Trang 62.2.4.1.1 Dựa vào triệu chứng lâm sàng 9
2.2.4.1.2 Sản lượng sữa tụt giảm 11
2.2.4.2 Chẩn đoán viêm vú tiềm ẩn 11
2.2.5 Các biện pháp phòng bệnh viêm vú 12
2.2.5.1 Vệ sinh 12
2.2.5.1.1 Vệ sinh môi trường – chuồng trại 12
2.2.5.1.2 Vệ sinh cá thể bò 13
2.2.5.2 Kỹ thuật vắt sữa và thứ tự bò khi vắt sữa 14
2.2.5.3 Công tác quản lý 15
2.2.5.3.1 Yếu tố chuồng trại và tiểu khí hậu trong chuồng 15
2.2.5.3.2 Công tác thay thế đàn 16
2.2.5.3.3 Điều kiện dinh dưỡng 16
2.2.5.4 Phòng bệnh trong giai đoạn cạn sữa 16
2.2.5.5 Phòng bệnh bằng vắc xin 17
2.2.6 Điều trị viêm vú bò 17
2.2.6.1 Sử dụng kháng sinh để điều trị 17
2.2.6.2 Không sử dụng kháng sinh trong điều trị 18
2.2.6.3 Kết hợp cả 2 phương pháp điều trị 19
2.3 TÓM LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 19
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 21
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 21
3.1.1 Thời gian 21
3.1.2 Địa điểm 21
3.2 DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM 21
3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT 22
3.4 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 22
3.4.1 Nội dung 1: Khảo sát bệnh viêm vú trên bò sữa 22
3.4.2 Nội dung 2: Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm vú tiềm ẩn trên
cá thể bò 24
Trang 73.4.3 Nội dung 3: Khảo sát ảnh hưởng việc áp dụng vệ sinh thú y đến bệnh viêm
vú tiềm ẩn trên bò sữa 24
3.5 PHƯƠNG PHÁP ĐẾM SỐ TẾ BÀO BẢN THỂ TRONG SỮA BẰNG MÁY ĐẾM 25
3.5.1 Giới thiệu máy DCC 25
3.5.2 Thao tác phân tích 26
3.6 CÁC CÔNG THỨC TÍNH 28
3.7 QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 28
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 KẾT QUẢ KHẢO SÁT BỆNH VIÊM VÚ 29
4.1.1 Tỷ lệ viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn 29
4.1.2 Tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn ở các mức độ CMT 30
4.1.3 Xác định số lượng tế bào bản thể (somatic cell counts) trong sữa ở các
mức độ CMT bằng phương pháp đếm máy 32
4.2 Kết quả khảo sát những yếu tố liên quan đến bệnh viêm vú tiềm ẩn 33
4.2.1 Sự liên quan giữa lứa đẻ và viêm vú tiềm ẩn 33
4.2.2 Sự liên quan giữa tháng cho sữa và viêm vú tiềm ẩn 34
4.2.3 Sự liên quan giữa tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn theo qui mô trại 35
4.2.4 Sự liên quan giữa tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn theo mức độ vệ sinh tại trại 36
4.3 KẾT QUẢ VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP VỆ SINH THÚ Y TRONG VIỆC PHÒNG BỆNH VIÊM VÚ 37
4.3.1 Số tế bào thân được đếm bằng máy DDC của lô thí nghiệm và đối chứng 37
4.3.2 Các mức độ CMT của các thùy vú trong quá trình thí nghiệm 39
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2Đề nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PH Ụ LỤC 46
Trang 8DANH SÁCH CÁC B ẢNG
Bảng 3.1 Đọc phản ứng và đánh giá kết quả CMT 23
Bảng 4.1 Tỷ lệ cá thể bò và số vú viêm tiềm ẩn ở các mức CMT 30
Bảng 4.2 Số lượng tế bào thân trong 1 ml sữa ở các mức độ CMT 33
Bảng 4.3 Số lượng tế bào bản thể của lô thí nghiệm và đối chứng 38
Bảng 4.4 Kết quả so sánh số lượng tế bào bản thể của lô thí nghiệm và
lô đối chứng ở giai đoạn trước thí nghiệm 39
Bảng 4.5 Kết quả so sánh số lượng tế bào bản thể của lô Thí nghiệm 39
Bảng 4.6 Kết quả so sánh số lượng tế bào bản thể của lô Thí nghiệm 39
Bảng 4.7 Tỷ lệ vú viêm tiềm ẩn ở các mức độ CMT 40
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Các biểu hiện bất thường do viêm vú 10
Hình 2.2 Sữa bị đông vón bất thường 10
Hình 2.3 Nhúng núm vú vào dung dịch sát trùng 14
Hình 3.1 Độ đồng nhất sữa ở các mức CMT 23
Hình 3.2 Máy Delaval – Direct Cell Conter và bộ kit chuyên dụng 27
Hình 3.3 Các bước tiến hành để đếm mẫu 27
Trang 10DANH SÁCH BI ỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn 29
Biểu đồ 4.2 Kết quả tỷ lệ bò bị viêm vú tiềm ẩn theo số vú viêm trên cá thể 31
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn theo vị trí vú viêm trên cá thể 32
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn với lứa đẻ của cá thể bò 33
Biểu đồ 4.5 Tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn với tháng cho sữa 34
Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ viêm vú theo qui mô trại 36
Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ viêm vú theo mức độ vệ sinh trại 37
Trang 11DANH SÁCH CÁC CH Ữ VIẾT TẮT
STH Somatotropin hormone Kích thích tố tăng trưởng CMT California Mastitis Test Thử viêm vú theo phương
pháp California MIC Minimal Inhibition Concentration Nồng độ ức chế tối thiểu NSAID Non-steroidal anti inflammatory drug Thuốc kháng viêm không
chứa corticoid MRSA Methicillin-resistant Staphylococcus Staphylococcus aureus đề
aureus kháng với methicillin
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, do điều kiện kinh tế người dân phát triển, nên nhu cầu
sử dụng sữa và các sản phẩm từ sữa cũng đã bắt đầu tăng cao Điều này đã thúc đẩy cho ngành chăn nuôi bò sữa ở các địa phương phát triển, thế nhưng lại gặp một số
trở ngại gây ra bởi dịch bệnh Hiện tại, có rất nhiều bệnh gây ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế người chăn nuôi, nhưng bệnh viêm vú trên bò sữa hiện nay được đánh giá là
một bệnh gây ảnh hưởng cao nhất và trực tiếp đến người chăn nuôi bò sữa Do đó,
việc tìm ra các phương thức để giảm thiệt hại do bệnh gây ra là việc hết sức cần thiết
Khi thùy vú bị viêm, việc tiết sữa của thùy vú sẽ bị giới hạn và sản lượng cũng như chất lượng của sữa cũng bị giảm theo mức độ viêm của thùy vú Mặc dù đây không phải là một bệnh mới xuất hiện, thế nhưng việc phát hiện, phòng ngừa và điều trị bệnh vẫn còn nhiều nhược điểm Nguyên nhân chính của bệnh là do sự xâm hại của vi sinh vật vào bầu vú và gây viêm cho bầu vú Sau mỗi lần vắt sữa, bầu vú không được vệ sinh sạch sẽ, kênh sữa lại được mở rộng, tất cả các yếu tố này tạo điều kiện cho vi khuẩn dễ tấn công và gây viêm bầu vú
Việc điều trị bệnh khi bệnh xảy ra sẽ làm tăng chi phí chăn nuôi, sản lượng
và chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng Do đó, việc phòng tránh các nguy cơ gây bệnh là điều cần thiết Tuy nhiên, trong các cách phòng chống bệnh viêm vú thì việc phòng bệnh viêm vú bằng cách áp dụng các biện pháp vệ sinh thú y được
Trang 14xem là một biện pháp dễ dàng, hữu hiệu và ít tốn chi phí nhất để ngăn chặn từ đầu việc vi sinh vật xâm nhập vào bầu vú, từ đó làm giảm nguy cơ viêm vú do vi sinh vật gây ra
Được sự đồng ý của khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Phát và sự hỗ trợ của công ty FrieslandCampina Việt Nam, chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát bệnh viêm vú
và ảnh hưởng của việc áp dụng biện pháp vệ sinh thú y đến tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn trên bò sữa”
1.2 MỤC ĐÍCH
Hỗ trợ nông dân tìm ra phương pháp phòng tránh bệnh viêm vú tiềm ẩn trên
bò sữa
1.3 YÊU CẦU
Tiến hành điều tra tỷ lệ bệnh viêm vú trên bò sữa
Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh viêm vú
Thực hiện thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của biện pháp vệ sinh thú y đến việc tỷ lệ bệnh viêm vú tiềm ẩn trong đàn bò sữa
Trang 15Chương 2
2.1 CƠ THỂ - SINH LÝ BẦU VÚ
2.1.1 Tuyến sữa và một vài đặc điểm của tuyến sữa
Theo Lâm Thị Thu Hương (2005), tuyến sữa là loại tuyến mồ hôi, được biến đổi để thích ứng với chức phận tạo ra sữa Tuyến này chỉ phát triển mạnh ở thú cái Đây chỉ là một khối tròn dẹt nằm trong hạ bì, đẩy da phồng lên Tùy loại thú mà vị trí và số lượng tuyến thay đổi Trên ngựa, dê, cừu cái có một vú ở mỗi bên vùng bẹn, trong khi đó trên bò cái mỗi bên có hai vú
Mỗi vú là một tuyến gồm những nang chế tiết sữa và một hệ thống ống dẫn
sữa đổ vào xoang tích lũy sữa (còn gọi là bầu sữa) trước khi sữa được thải ra ngoài Trên ngựa, heo thì có nhiều hệ thống ống bài tiết sữa, còn đối với bò, dê và cừu chỉ
có một hệ thống ống dẫn Những ống này độc lập nhau và ngăn cách nhau bởi mô liên kết
Về mặt vi thể, mỗi tuyến vú nằm trong một khối mô liên kết, mô này phân nhánh và chia tuyến thành những thùy, trong mỗi thùy có các nang tuyến chế tiết và các ống bài xuất Ống bài xuất sẽ chạy vào vách liên kết để dẫn sữa vào bầu sữa
Trong thời kỳ hoạt động, các nang tuyến phát triển mạnh, nang có hình cầu
hoặc hình trứng Về cấu tạo, vách nang hợp bởi hai hàng tế bào Hàng ngoài là tế bào cơ – biểu mô, gồm những tế bào dẹt tạo thành mạng lưới hình giỏ Bào tương tế bào này có nhiều tơ cơ có tính co rút Hàng trong gồm những tế bào tuyến Tế bào này có hình dạng và cấu trúc thay đổi tùy giai đoạn hoạt động của tuyến Ở giai đoạn cuối của thời kỳ mang thai, các tế bào tuyến trở nên cao hơn, bào tương có
những hạt chất béo, axít ribonucleic càng lúc càng nhiều hơn, ty thể gia tăng số lượng, bộ Golgi gia tăng kích thước, nang tuyến chuẩn bị chế tiết
Trang 16Các nang tuyến hoạt động chế tiết theo chu kỳ, mỗi chu kỳ có ba giai đoạn, kéo dài khoảng ba giờ:
• Kỳ tích trữ: tế bào cao, có 1 – 2 nhân tròn, ty thể xếp thành que ở đáy tế bào, đỉnh tế bào có nhiều không bào và hạt mỡ Khi số lượng không bào và hạt mỡ tăng
dần thì tiểu vật biến đi
• Kỳ bài xuất: phần trên của tế bào bong ra mang theo một nhân rơi vào lòng nang tuyến và rơi ra trong đó (phương thức bán hủy)
• Kỳ khôi phục: phần còn lại của tế bào có nhân lớn lên, hệ tiểu vật được khôi
phục
Ống bài xuất của tuyến vú gồm ống bài xuất trong và gian tiểu thùy Thành ống lợp bởi hai hàng tế bào khối đơn, không có tính chế tiết Ở những ống lớn, phía ngoài màng đáy còn có mô liên kết đàn hồi Còn ở ống dẫn sữa lớn thì biểu mô dày,
gồm 3 – 4 tế bào đa diện, lòng ống có hình múi khế vì niêm mạc gấp lên
Trong thời kỳ không hoạt động, những nang tuyến xẹp xuống và thay bằng
mô liên kết mỡ Khi thú già, nang tuyến teo và biến đi, chỉ còn ống bài xuất nằm trong một khối mô liên kết và mỡ
2.1.2 Sự phát triển tuyến vú
(1) Giai đoạn bào thai: hàng vú đã thấy ở thai bò 35 ngày tuổi, hệ thống ống dẫn hoàn toàn phát triển vào cuối gia đoạn 2/3 của thai kỳ Thú đực cũng có hệ thống ống dẫn nhưng ngắn
(2) Giai đoạn sau khi sinh đến khi thành thục: trong thời kỳ đầu của giai đoạn sau sinh, tuyến vú phát triển song song với cơ thể Ở bò từ 3 tháng đến 1 năm tuổi, tuyến vú phát triển gấp 2 – 3 lần cơ thể, khi ấy mô mỡ và ống dẫn được tạo Vào
thời kỳ tiền thành thục của bò, có sự cạnh tranh giữa việc phát triển mô mỡ và mô tiết, nếu cho thú ăn quá nhiều thì mô mỡ phát triển và lấn át mô tiết, làm giảm tiềm năng cho sữa
Estrogen làm phát triển hệ thống ống dẫn và mầm nang tuyến ở đầu ống dẫn Kích thích tố tăng trưởng (STH) và glucocorticoid cũng cần cho sự phát triển của ống dẫn Sự phát triển tiếp theo của tuyến vú do progesterone và prolactin chi phối
Trang 17Ở gia súc, progesterone và estrogen được tiết theo chu kỳ nên estrogen và progesterone không thể được tiết cùng lúc, vì thế sự phát triển của tuyến vú chỉ được tiếp tục khi mang thai Tuy nhiên, nếu thiếu mô mỡ thì nang tuyến không phát triển bình thường, có lẽ nhờ các yếu tố tăng trưởng tại chỗ
(3) Giai đoạn mang thai: tất cả các loài gia súc đều phát triển tuyến vú rõ rệt trong lúc mang thai Sự phát triển phụ thuộc vào việc gia tăng đồng thời lượng estrogen và progesterone Estrogen kích thích tạo thụ thể tiếp nhận estrogen lẫn progesterone ở tế bào biểu mô tuyến vú Hàm lượng của 2 kích thích tố này thay đổi trong thời gian mang thai và tùy theo loài Tuy nhiên có thời kỳ cả estrogen và progesterone đều tăng, khi ấy sự phát triển và biệt hóa của mô tiết được kích thích Prolactin từ thùy trước tuyến yên cũng tăng trong lúc mang thai Ở thú nhai lại và người, nhau thai sản xuất lactogen (somatomammotropin), chất này bám vào thụ thể prolactin và kích thích phát triển tuyến vú giống như tác động của prolactin
Sự thay đổi của các kích thích tố nêu trên dẫn đến sự phát triển của mô tuyến
vú lẫn nang tuyến, đồng thời lượng mô mỡ giảm
2.1.3 Sự thay đổi ở tuyến sữa lúc phân tiết sữa
Ở bò và dê, cần 400 – 500 lít máu chảy qua mô tuyến vú để tạo 1 lít sữa Khi năng suất sữa đạt đỉnh cao, lượng máu đi đến tuyến vú chiếm 20% cung lượng tim Trong ngày cuối của thai kỳ, dòng máu đến bầu vú tăng nhiều nên xảy ra tình trạng phù thủng tuyến vú Đây là tình trạng tích dịch ở mô liên kết của bầu vú và mô liên
kết dưới da của vùng quanh bầu vú, tình trạng này cũng có thể do vị trí của bầu vú,
vì nằm phía dưới, thấp hơn tim Đây được xem là một tình trạng sinh lý bình thường Tuy nhiên, đối với một số bò cái, phù thũng gây khó vắt sữa vì thú có thể đau khi vắt sữa, khi ấy phải cho thú làm quen với việc vắt sữa một cách chậm rãi, nhất là đối với bò tơ Nếu phù thũng nặng, dòng máu đến mô vú bị giảm nên sức đề kháng giảm, tăng một phần nguy cơ cho bệnh viêm vú
Qua thực tế quan sát, đối với một số bò tơ khó vắt sữa, người nông dân khó
có thể vắt hết sữa trong bầu vú trong những ngày đầu sau sanh, thậm chí lên đến 3
Trang 18tuần sau khi sinh; điều này làm tồn một lượng sữa nhất định trong bầu vú và khả năng viêm nhiễm bầu vú tăng lên
Sau khi sản lượng sữa đạt đỉnh, lượng sữa sẽ giảm dần nhưng khả năng sản
xuất sữa vẫn được tiếp tục duy trì vài năm mà không cần mang thai lại Trong lúc tiết sữa, các tế bào biểu mô của nang tuyến bong tróc khỏi lớp đáy và chết theo chương trình Tuy nhiên, đây là những tế bào có khả năng phục hồi nên khả năng
tạo sữa của bầu vú được duy trì
2.2 BỆNH VIÊM VÚ
2.2.1 Khái quát về bệnh viêm vú
Bệnh viêm vú trên bò sữa là quá trình viêm tuyến vú với sự hiện diện của một hay nhiều loài (nhưng không quá 3 loài) vi khuẩn trong mô vú, dẫn đến sự gia tăng số lượng tế bào bản thể (somatic cell) trong sữa, đặc biệt là tế bào bạch cầu, đồng thời thay đổi tính chất vật lý và hóa học của sữa
Bệnh này dẫn đến hậu quả giảm sản lượng sữa, bầu vú bị biến chứng, mất
chức năng, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu kinh tế của người chăn nuôi Bệnh được chia thành hai dạng: viêm vú thể lâm sàng và viêm vú dạng tiềm ẩn (1) Viêm vú lâm sàng: là sự nhiễm trùng của bầu vú thể hiện rõ triệu chứng lâm sàng như sự thay đổi tính chất của sữa (sữa bị vón, loãng, màu sắc và mùi khác thường), hình dạng bầu vú (bầu vú sung huyết, sưng to)
(2) Viêm vú tiềm ẩn: là dạng viêm vú không có những biểu hiện bên ngoài như viêm vú lâm sàng Việc phát hiện viêm vú tiềm ẩn chỉ đạt hiệu quả thông qua phát hiện sự tăng bất thường lượng tế bào trong sữa Tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn thường cao hơn viêm vú lâm sàng và xảy ra trước tình trạng viêm lâm sàng Viêm vú tiềm ẩn cũng làm giảm sản lượng sữa cũng như ảnh hưởng chất lượng sữa, và rất có thể chuyển thành dạng viêm vú lâm sàng
2.2.2 Giới thiệu về tế bào bản thể (somatic cell)
Tế bào thân hay tế bào bản thể là những từ dùng để chỉ các tế bào xuất hiện trong sữa tươi Các tế bào này là những bạch cầu và tế bào biểu mô tuyến vú bong tróc, chúng được phân biệt với vi sinh vật nhiễm vào sữa Ở bò khỏe mạnh, có
Trang 19khoảng 30.000 – 300.000 tế bào/ml sữa Bình thường có khoảng phân nửa số tế bào
là bạch cầu trung tính Khi viêm vú, mật độ tế bào thân có thể tăng lên 10 – 100 lần
Do đó, mật độ về tế bào thân được xem là một chỉ dẫn về tình trạng sức khỏe bầu
vú Việc tăng mật độ tế bào này vừa phải có thể do kỹ thuật vắt sữa không đúng cách nhưng cũng cho thấy tình trạng nhiễm trùng mãn tính ở tuyến vú
2.2.3 Nguyên nhân gây viêm vú
2.2.3.1 Giống vật nuôi
Bò có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và chúng chỉ thích nghi với điều kiện khí hậu cũng như điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đặc trưng của vùng đó Khi di chuyển hay thay đổi môi trường sống, bò có thể không thích nghi được hoặc bị xáo trộn nặng dẫn đến giảm sức đề kháng Từ đó, những nguyên nhân gây bệnh có cơ
hội xâm nhập và gây bệnh cho thú Theo Sayed (2009), khi tiến hành khảo sát trên
350 con bò, gồm bò thuộc giống Friesian và bò nội địa thì tỷ lệ số bò giống Friesian
mắc bệnh viêm vú tiềm ẩn cao hơn giống bò nội địa
2.2 3.2 Tuổi
Theo Sayed (2009), có sự tương quan giữa việc số lượng vú viêm gia tăng theo tuổi của thú hay số kỳ cho sữa do sức đề kháng của thú giảm theo tuổi và cơ vòng đầu núm vú giảm đàn hồi
2.2.3.3 Giai đoạn cho sữa
Theo Tsonev P (1975), khi so sánh tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn với các tháng cho
sữa thì thấy rằng, tỷ lệ này cao nhất vào tháng thứ 2 và tháng thứ 3 của chu kỳ cho sữa Sau đó, tỷ lệ này giảm trong các tháng kế tiếp, tuy nhiên trong thời kỳ cạn sữa thì tỷ lệ này tăng cao trở lại
Thời kỳ đầu của giai đoạn cho sữa có nhiều yếu tố bất thường tác động lên tuyến vú Do sữa không được vắt trong khi tuyến vú vẫn tiếp tục tiết sữa làm cho
bầu vú rất căng, bò khó chịu
2.2.3.4 Cấu tạo bầu vú
Theo Nguyễn Văn Phát (2009), cấu trúc bầu vú có sự liên quan đến sự xâm
nhập của những mầm bệnh gây viêm vú Sự mất cân bằng bầu vú là một trong
Trang 20những tác nhân của nguy cơ gây viêm vú Một bầu vú được định nghĩa là cân đối khi tất cả 4 núm vú đều nằm trên cùng một mặt phẳng nằm ngang
Ngoài ra, đường kính của lỗ núm vú hay kênh vú và tính đàn hồi của cơ vòng đầu vú ảnh hưởng đến tốc độ vắt sữa Khi tốc độ vắt sữa tăng lên thì nguy cơ nhiễm trùng vú cũng tăng lên Những bò thường có dòng sữa chảy ra trước khi vắt sữa thường bị viêm vú cao hơn những bò khác cùng đàn Khi cơ vòng đầu núm vú bị
hở, sự liên hệ giữa bên trong bầu vú và môi trường bên ngoài xuất hiện trong thời gian dài, do đó nguy cơ vi sinh vật xâm nhiễm vào bầu vú tăng cao
Theo Badinand (1999) (trích dẫn bởi Nguyễn Văn Phát, 2009), những thùy
vú sau của bầu vú nhạy cảm với sự nhiễm trùng hơn những thùy vú trước do diện tích da bề mặt quá lớn nên dễ bị lạnh, chấn thương hoặc bị vấy nhiễm vi khuẩn từ phân và sản dịch
2.2.3.5 Nguyên nhân vi sinh vật
Nguyên nhân gây viêm vú chủ yếu là do vi khuẩn Trong đàn nếu có một bầu
vú bị viêm, thì đây là nguồn lây nhiễm chính của vi khuẩn Vi khuẩn luôn có mặt trong tự nhiên, sự hiện diện của chúng trong chuồng với mật độ càng lớn thì khả năng gây viêm vú cũng như gây bệnh cho bò sữa càng tăng Một số vi khuẩn gây viêm vú thường gặp là những loại sau:
(1) Streptococcus spp.: cầu khuẩn Gram dương, không di động, không bào tử, và
kỵ khí tùy nghi Giống này hiện diện chủ yếu trong môi trường, như đất, nền chuồng, trong đó có các loài gây bệnh viêm vú trên bò sữa như Streptococcus
agalactiae, Str dysagalactiae, Str uberis
(2) Staphylococcus spp.: cầu khuẩn Gram dương, không di động, không bào tử,
vi khuẩn hiếu khí tùy nghi, một số loài có giáp mô Giống này có khoảng hơn 20 loài, và loài gây bệnh viêm vú trên bò sữa là Staphylococcus aureus Loài này thường có mặt trên da núm vú, và tay người vắt sữa Chúng xâm nhập và phát triển trong ống dẫn sữa, đặc biệt là những nơi tổn thương ở đầu núm vú Việc lây lan loài này trong đàn thường qua trung gian là dụng cụ vắt sữa
Trang 21Các trường hợp viêm vú do S aureus thường vào giai đoạn cạn sữa, do lúc
đó người chăn nuôi không quan tâm nhiều đến bầu vú Việc cải tiến điều kiện vệ
sinh và sát trùng núm vú sẽ kìm hãm S.aureus và Staphylococcus spp
(3) Coliforms: là tên gọi chung cho một nhóm vi khuẩn Gram âm như E.coli,
Enterobacter, Klebsiella, chúng có nguồn gốc từ phân và hiện diện trong chất độn chuồng Các vi khuẩn Gram âm này không bám dính vào ống dẫn sữa và những tế bào biểu mô tiết sữa, mà chúng nhân lên nhanh chóng rồi chết đi, khi đó giải phóng
ra nội độc tố Độc tố này vào máu, gây hiện tượng viêm vú lâm sàng thể cấp tính Khi đó thú sốt hơn 40oC, thùy vú sưng to, nhạy cảm với kích ứng bên ngoài
Khi xác định viêm vú do coliforms thì không nên điều trị bằng kháng sinh vì
có thể làm tăng khả năng nhiễm độc của cơ thể Ta chỉ nên sử dụng kháng sinh liều thấp trong nhiều ngày
(4) Ngoài ra cũng có những tác nhân gây bệnh khác nhưng không phổ biến, như
Pseudomonas spp (có trong nước uống), Corynebacterium bovis và Mycoplasma
bovis (sinh vật trung gian giữa vi khuẩn và virus) Bệnh do các loài này gây ra mặc
dù ít gặp nhưng nếu có điều kiện phù hợp thì hậu quả của chúng cũng rất lớn
2.2.4 Chẩn đoán bệnh viêm vú trên bò sữa
2.2.4.1 Chẩn đoán viêm vú lâm sàng
2.2.4.1.1 Dựa vào triệu chứng lâm sàng
(1) Biểu hiện bất thường trên cơ thể bò
Viêm vú lâm sàng được chia thành các loại sau: viêm vú thể quá cấp tính, viêm vú thể cấp tính, viêm vú thể bán cấp tính và viêm vú thể mãn tính Trong đó,
ta có thể phát hiện bệnh qua các triệu chứng sau: bầu vú bị sưng, đỏ và có cảm giác nóng khi chạm vào, việc sờ nắn các bầu vú có thể gay đau cho bò Những triệu
chứng này phát sinh từ những thay đổi của thành mạch máu theo cơ chế viêm Ngoài ra, triệu chứng bất thường trên cơ thể bò sữa bị viêm vú, theo Roberson (2003), còn được đánh giá theo 6 chỉ tiêu như nhiệt độ trực tràng tăng, nhịp tim và
nhịp hô hấp tăng, xuất hiện sự mất nước nghiêm trọng, co bớp của dạ cỏ kém, và
xuất hiện dịch tiết màu vàng trong sữa
Trang 22Hình 2.1 Các bi ểu hiện bất thường do viêm vú (nguồn: tư liệu cá nhân)
(2) Biểu hiện bất thường về tính chất sữa
Một tiêu chuẩn vàng được đặt ra cho những người vắt sữa để kiểm tra liệu con bò có viêm vú hay không là vắt những tia sữa đầu của từng thùy vú vào cốc (strip cup) hay đĩa (strip plate) có nền tối và bề mặt đáy gợn sóng, rồi quan sát những thay đổi bất thường về mặt vật lý
Hình 2.2 S ữa bị đong vón bất thường (nguồn: tư liệu cá nhân)
Trang 23Tính chất vật lý của sữa khi bị viêm sẽ bị thay đổi và sự thay đổi đó phụ thuộc vào mức độ viêm của bầu vú Khi sữa được lấy ra từ vú viêm, độ đồng nhất
của nó sẽ bị thay đổi khi so sánh với sữa bình thường, sữa bị vón (ké) và có mủ Kế đến là màu sắc của sữa viêm, nó sẽ thay đổi từ màu trắng ngà sang màu trắng ngà hơi xanh vì có lẫn mủ, thậm chí có màu đỏ vì có lẫn máu, và độ nhớt cũng tăng theo tình trạng viêm của vú
Một cách khác để phát hiện viêm vú lâm sàng là lọc sữa đã được vắt qua một tấm vải lọc, quan sát những phần lợn cợn trên vải lọc Những phần lợn cợn không tan đó chính là sữa bị đông vón, máu hoặc những phần hoại tử từ vú bò Tuy nhiên,
với điều kiện chăn nuôi bò sữa nước ta hiện nay, cách này không phát hiện chính xác con bò nào viêm vú và thùy vú nào bị viêm vì nông dân thường vắt sữa từ 2 đến
3 con rồi mới đổ sữa qua vải lọc
2.2.4.1.2 Sản lượng sữa tụt giảm
Khi bò bị viêm vú lâm sàng, chức phận tạo và phân tiết sữa bị giảm, dẫn đến
sản lượng sữa thu được cũng bị giảm Tuy nhiên điều này rất khó nhận biết trên từng cá thể vì lượng sữa bị giảm đi khá nhỏ, chỉ trừ trường hợp thùy vú nào đó bị viêm và người nông dân không thể lấy sữa từ thùy vú đó
2.2.4 2 Chẩn đoán viêm vú tiềm ẩn
Có rất nhiều phương pháp chẩn đoán viêm vú tiềm ẩn như: thử cồn 70o, đo
độ dẫn điện hay xác định số lượng tế bào trong sữa bằng máy đếm điện tử hay đếm
trực tiếp trên kính hiển vi sau khi nhuộm Ngoài ra, một phương pháp khác cũng được thường sử dụng ngay tại các trang trại là ước lượng gián tiếp số tế bào trong
sữa qua thuốc thử CMT, phương pháp này được gọi là phương pháp CMT
Thuốc thử CMT là một loại thuốc thử tế bào bạch cầu Đây là hợp chất có
hoạt tính bề mặt (thay đổi sức căng bề mặt), có đặc tính làm gel hóa sữa có chứa tế bào Phương pháp này nhằm phát hiện bệnh viêm vú qua số lượng tế bào bản thể mà chủ yếu là bạch cầu trong 1 ml sữa Tỷ lệ xét nghiệm: 1 – 1 (giữa dung dịch CMT và
sữa)
Mặc dù nguyên tắc hoạt động của phương pháp CMT không cho chúng ta
Trang 24xác định được loại vi sinh vật gây bệnh và mức độ nhiễm vi sinh chính xác, nhưng phương pháp này dùng để chỉ ra thùy vú nào có số lượng tế bào bản thể cao Cho tới nay, đây vẫn là công cụ tốt để xác định thùy vú bị viêm khi số lượng tế bào bản thể hơn 500.000 tế bào/ml sữa Ta dùng phương pháp này để ướt tính DNA có trong sữa Dưới tác dụng của chất tẩy anione có trong CMT, các chất béo được hòa tan Điều này đồng nghĩa với việc màng tế bào và màng nhân tế bào cũng bị hòa tan, do
đó DNA của tế bào được bọc lộ và được nhuộm màu Khi DNA được giải phóng, việc này làm cho hỗn hợp trở nên quánh Nếu mức độ DNA trong hỗn hợp càng nhiều thì độ quánh của mẫu càng cao Kết quả đánh giá mức độ viêm vú tiềm ẩn
nặng hay nhẹ đều dựa trên mức độ kết dính của hỗn hợp
Công tác vệ sinh được đánh giá là một khâu chủ chốt trong công tác phòng
chống các bệnh nói chung và bệnh viêm viêm vú nói riêng Nếu ta thực hiện tốt việc
vệ sinh thì hiệu quả của việc phòng chống các bệnh trên đàn thú nuôi rất rõ rệt Trong công tác này, hai đối tượng cần chú ý là môi trường chuồng trại, bao gồm tất
cả các vật liệu liên quan đến đàn bò và cá thể vật nuôi
2.2.5.1.1 Vệ sinh môi trường – chuồng trại
Trong bệnh viêm vú, các tác nhân gây viêm là vi khuẩn và một số ít là vi
nấm Nguồn gốc của chúng từ thức ăn không được bảo quản đúng cách, trong phân, nước hoặc đất, nhưng chủ yếu từ chất lót chuồng Do đó, việc vệ sinh tốt, quản lý nguồn thức ăn sẽ làm giảm lượng vi sinh vật hiện diện trong chuồng nuôi và cũng làm giảm nguy cơ gây bệnh viêm vú
Bên cạnh đó, vì trong ngành chăn nuôi bò sữa, công tác thu hoạch sữa phần
lớn được thực hiện bằng máy vắt sữa, nên việc vệ sinh máy vắt sữa cũng phải được quan tâm, vì đây cũng là một yếu tố có khả năng lưu giữ và phát tán mầm bệnh
Trang 25Còn đối với những hộ chăn nuôi bò sữa nhỏ lẻ, yếu tố vệ sinh trong việc vắt sữa bằng tay cần được chú ý Tay người vắt phải được vệ sinh sạch sẽ, tốt nhất là vệ sinh với xà phòng có tính chất diệt khuẩn, nhằm hạn chế thêm một yếu tố lây truyền
mầm bệnh
2.2.5.1.2 Vệ sinh cá thể bò
Trên cơ thể động vật, hàng rào bảo vệ đầu tiên cho cơ thể tránh sự xâm nhập
của các tác nhân vi sinh vật gây hại từ bên ngoài là lớp biểu bì Lớp này kết hợp hoàn hảo với tuyến mồ hôi, giúp tạo một môi trường hạn chế sự phát triển của vi sinh có hại (Lâm Thị Thu Hương, 2008) Với đặc điểm chuyên biệt trên cơ thể bò không có tuyến mồ hôi, thế nên việc hạn chế sự xâm nhập và phát triển của vi sinh vật bằng hàng rào hóa học không đặc hiệu bị giảm Do đó, việc vệ sinh cá thể bò
cần được thực hiện nghiêm túc Có hai giai đoạn trong việc vệ sinh cá thể bò:
(1) Vệ sinh trước khi vắt sữa
Trước khi vắt sữa, bò cần được tắm sạch sẽ để loại bỏ các chất bẩn trên cơ
thể vì chúng có thể mang mầm bệnh Sau đó, người vắt sữa trước khi vắt cần rửa lại bầu vú, nhất là núm vú bằng nước sạch, lau khô bằng khăn mềm Sau đó, nên nhúng núm vú vào dung dịch thuốc sát trùng, sau khoảng 30 giây nên lau khô lại núm vú
bằng khăn riêng từng con Ta nên sử dụng khăn riêng cho từng cá thể bò, tránh tình trạng sử dụng khăn chung cho nhiều con vì việc này có khả năng gây phát tán mầm
bệnh cho cả đàn
(2) Vệ sinh sau khi vắt sữa
Sau khi vắt sữa, nên nhúng núm vú vào dung dịch thuốc sát trùng, và nên cho bò đứng trong khoảng 15 phút bằng cách cho ăn thêm cỏ, hạn chế tình trạng bò nằm ngay sau khi vắt sữa Lý giải cho việc này vì sau khi vắt sữa, cơ vòng đầu vú
vẫn còn mở, phải mất khoảng thời gian để chúng khép lại, lúc đó ta thực hiện sát trùng vùng da xung quanh núm vú nhằm hạn chế sự xâm nhập của vi sinh vật vào kênh núm vú, đồng thời hạn chế sự vấy nhiễm từ nền hoặc chất lót chuồng Tuy nhiên, việc vệ sinh bằng cách nhúng vú chỉ hạn chế được sự nhiễm trùng mới, không loại bỏ được các mầm bệnh cũ
Trang 26Hình 2.3 Nhúng núm vú vào dung d ịch sát trùng
(nguồn tư liệu cá nhân)
2.2.5.2 Kỹ thuật vắt sữa và thứ tự bò khi vắt sữa
Trong việc vắt sữa tươi, trước khi vắt sữa cho vào can, người vắt cần kiểm tra xem vú có viêm hay không bằng cách vắt vài tia sữa đầu cho vào khay nền tối và
kiểm tra xem sữa có bất thường nào hay không Để giảm thiểu tối đa việc lây lan, phát tán mầm bệnh giữa các cá thể trong đàn, những cá thể bị nghi ngờ viêm vú do lượng tế bào thân cao hoặc bị viêm vú lâm sàng cần được vắt cuối cùng Sau khi vắt
sữa xong, phải kiểm tra và đảm bảo đã vắt cạn sữa trong bầu vú, vì sữa còn tồn lượng dư trong bầu vú tạo điều kiện rất tốt cho vi sinh vật phát triển
Đối với máy vắt sữa, người sử dụng cần theo dõi và điều chỉnh các thông số
kỹ thuật của máy vắt đúng như yêu cầu của nhà sản xuất máy vắt Thông thường, áp suất chân không của máy vắt sữa đang hoạt động trong khoảng -48 kPa đến -44 kPa (khoảng -300 mmHg đến -275 mmHg) và tần số vắt khoảng 60 – 80 lần/phút Vì
nếu áp suất chân không càng cao thì áp lực tác động lên núm vú càng yếu hoặc không ổn định trong khi vắt sữa, cũng làm cho sữa còn động lại trong bầu vú Mặt khác, nếu tần số vắt quá cao, rất dễ gây khó chịu cho bò khi vắt sữa, thậm chí làm
Trang 27tổn thương đầu vú Cả hai yếu tố này rất dễ xảy ra, và có thể gây viêm vú hàng loạt trong đàn
2.2.5.3 Công tác quản lý
Một người chăn nuôi giỏi cần phải có công tác quản lý đàn vật nuôi thật tốt
và hiệu quả Trong chăn nuôi bò sữa nói riêng, công tác quản lý chuồng trại và đàn
vật nuôi có liên quan đến nhiều yếu tố như vệ sinh, kỹ thuật vắt, yếu tố vật lý chuồng trại, môi trường xung quanh
2.2.5.3.1 Yếu tố chuồng trại và tiểu khí hậu trong chuồng
Với điều kiện chăn nuôi như nước ta hiện nay, việc nuôi nhốt bò sữa trong chuồng thể hiện nhiều điểm bất hợp lý Hoạt động đứng lên nằm xuống và đi lại của
bò còn bị giới hạn do bò bị cầm cột nên việc chấn thương bầu vú là điều không tránh khỏi Việc thiếu diện tích chăn nuôi và việc nhốt quá đông bò trong ô chuồng, dẫn đến tình trạng bò húc và chen lấn nhau khi ăn Vì vậy, rất dễ hình thành các vết thương trên da, dẫn tới sự viêm nhiễm
Trong cấu trúc chuồng trại, việc sử dụng chất lót chuồng nhằm hạn chế các tổn thương do nền chuồng gây ra, thế nhưng việc sử dụng và vệ sinh chất lót chuồng không đúng cách cũng tăng nguy cơ gây bệnh nói chung và bệnh viêm vú nói riêng trên bò sữa
Việc hình thành tiểu hậu bất lợi trong chuồng nuôi do chuồng trại kém thông thoáng, ẩm ướt, và nhiệt độ cao làm cho bò sữa vốn quen với khí hậu lạnh rất dễ bị stress Khi thú bị stress, các hoạt động sinh lý bình thường của thú bị ức chế dẫn tới khả năng chống lại mầm bệnh suy giảm
Mặt khác, việc hình thành tiểu khí hậu bất lợi còn tạo điều kiện cho các mầm
bệnh khác phát triển Nguyên nhân của bệnh viêm vú một phần còn do các nguyên nhân nguyên phát khác mở đường, như viêm tử cung, viêm âm đạo, viêm móng, viêm khớp hay viêm phổi do Mycoplasma (Nguyễn Văn Thành, 2002) Do đó, việc
cải tạo môi trường kết hợp phòng ngừa các bệnh khác nằm trong khâu quản lý của người chăn nuôi có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Trang 28thể bò có bầu vú bị tổn thương do viêm vú cũng là một việc nên làm
Đối với các thể bò được đưa vào trong đàn để thay thế cũng phải được kiểm tra và đánh giá tình trạng sức khỏe nói chung và sức khỏe bầu vú nói riêng, khả năng sản xuất sữa, sinh sản, tránh mua phải bò già, có mắc các bệnh mãn tính
2.2.5.3.3 Điều kiện dinh dưỡng
Lượng thức ăn tối đa trong một ngày của một con bò sữa chiếm khoảng 10% trọng lượng cơ thể, bao gồm thức ăn thô xanh và thức ăn tinh Tỷ lệ giữa hai loại
thức ăn này cần được cân đối Nếu bò sữa chỉ ăn thức ăn thô xanh hoặc thức ăn tinh thì việc rối loạn biến dưỡng các chất như glucid, lipid, protein, xơ chắc chắn sẽ xảy
ra, dẫn đến việc cung cấp năng lượng cho các hoạt động sinh lý gặp khó khăn và con thú sẽ không đủ khả năng chống lại bệnh tật Việc cung cấp thêm các khoáng đa lượng cũng như vi lượng và vitamin cần được thực hiện đều đặn trong suốt quá trình chăn nuôi
2.2.5 4 Phòng bệnh trong giai đoạn cạn sữa
Hiện nay ở một số nước, người ta áp dụng một phương pháp cạn sữa nhanh đặc biệt như sau: Ngừng ngay việc vắt sữa khi cần cạn sữa, dù thấy bầu vú căng cũng không vắt Để tránh viêm vú do vi trùng gây nên, sau khi vắt lần cuối, bơm vào bầu vú một hỗn hợp kháng sinh dạng kem Hỗn hợp này phải có phổ diệt khuẩn rộng, phải được phát tán đều trong bầu vú, thời gian bán thải chậm, đồng thời không làm hại đến tuyến vú Sau khi bơm kháng sinh, đưa bò sang phòng cạn sữa, hay ô chuồng riêng được khử trùng từ trước và chịu quản lý về vệ sinh kỹ lưỡng Theo dõi trong thời gian 3 – 5 ngày, nếu có kết quả tốt thì đưa bò sang đàn cạn sữa
Trang 29Điều kiện quyết định thành công của phương pháp này là bảo đảm sạch khuẩn trong bầu vú Do đó, trước khi cạn sữa cần kiểm tra nếu vú bị sưng thì phải điều trị mới được cạn sữa Trước khi cạn sữa 24 – 36 giờ, không được cho ăn thức
ăn tinh và thức ăn kích thích tiết sữa (Nguyễn Xuân Trạch, 2006)
2.2.5.5 Phòng bệnh bằng vắc xin
Nguyên nhân gây nên bệnh viêm vú là do vi sinh vật, như Staphylococus
aureus, coliforms, Pseudomonas spp., Streptococus uberis, S dysagalactiae, … Vì
vậy việc phát triển các loại vắc xin giúp cho đàn bò có khả năng miễn dịch với các
loại vi sinh gây bệnh viêm vú là cần thiết Hiện tại, vắc xin viêm vú thương mại đã
có tại một số quốc gia có đàn bò sữa lớn, như Somato-Staph® và Lysigin® có giá trị đối với những nhiễm trùng do S aureus gây ra Ngoài ra còn có các vắc xin đối
với coliforms như J-Vac® và Endovac-Bovi®, các loại vắc xin này chứa các kháng nguyên nội độc tố giúp tạo các đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu với nội độc tố của coliforms Việc sử dụng vắc xin chống lại bệnh viêm vú do vi khuẩn gram âm đã trở thành tiêu chuẩn thực hành trên nhiều trang trại bò sữa tại Hoa Kỳ Hiệu quả của loại vắc xin này đã được chứng minh trong các thử nghiệm trên đàn bò đang cho
sữa, với tỷ lệ số ca nhiễm trùng mới giảm trên 40%
2.2.6 Điều trị viêm vú bò
Việc điều trị viêm vú được chia ra thành 3 phương pháp: sử dụng kháng sinh
để điều trị, không sử dụng kháng sinh để điều trị hoặc kết hợp cả hai phương pháp trên
2.2.6.1 Sử dụng kháng sinh để điều trị
Việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm vú ngày nay rất phổ biến, vì nó
đã đáp ứng được các yêu cầu như: nhanh chóng loại bỏ căn bệnh do nhiễm trùng, làm mất các dấu hiệu lâm sàng của bệnh Tuy nhiên việc lựa chọn loại kháng sinh
và cách sử dụng kháng sinh cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả điều trị bệnh Các yếu tố của một kháng sinh trị viêm vú tốt như sau:
• Phổ kháng khuẩn rộng
Trang 30• Kháng sinh chỉ cần một lượng nhỏ đã có thể diệt được mầm bệnh (MIC
thấp)
• Vi sinh vật không đề kháng lại kháng sinh
• Có sinh khả dụng và khả năng khuếch tán vào bầu vú cao
• Thời gian bán hủy dài trong cơ thể, nhưng không được hấp thu và tích trữ tại các mô khác trong cơ thể
Hiện tại có một số kháng sinh diệt khuẩn được dùng trong điều trị viêm vú như penicillin, ampicillin, cephalosporin, các kháng sinh họ aminosides như tetracyllin, streptomycin Các loại kháng sinh này thường được điều chế dạng tiêm
mà đa phần là dạng huyễn dịch và cũng có loại dạng pomade bơm vào bầu vú Tuy nhiên, ngày nay có một vài loại thuốc kháng sinh đã bị đề kháng bởi vi sinh vật
như: S aureus đã đề kháng được penicillin hay ampicillin
Trên thị trường hiện nay đã xuất hiện thêm 1 loại kháng sinh thuộc nhóm cephalosporin thế hệ thứ 3, mang tên ceftiofur, với những tên thương mại như Citius®, EXCEDE®, Naxcel® Loại kháng sinh này ra đời nhằm giúp việc điều trị
bệnh viêm vú hiệu quả hơn, tránh tình trạng vi khuẩn kháng lại các loại kháng sinh trước đây
Nếu việc điều trị được tiến hành nhưng vẫn không mang lại hiệu quả thì ta
cần nghĩ ngay đến hội chứng MRSA Đây là hội chứng nhiễm khuẩn do S aureus
đề kháng với methicillin và các dòng tụ cầu khác đa đề kháng gây ra (staphylococi negative coagulation) Nếu xác định được nguyên nhân gây bệnh viêm vú là các
chủng trên thì kháng sinh nên sử dụng là vancomycin (Lê Minh Trí, Huỳnh Thị
Ngọc Phương, 2010) Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam vẫn chưa có ghi nhận nào
về trường hợp MRSA trên bò sữa
2.2.6 2 Không sử dụng kháng sinh trong điều trị
Ngoài việc sử dụng kháng sinh như một liệu pháp để điều trị bệnh viêm vú,
việc sử dụng các loại thuốc khác cũng cần phải chú ý Tuy nhiên liệu pháp này không chấm dứt được nguyên nhân gây bệnh, nó chỉ giúp cho cơ thể thú mất đi các triệu chứng lâm sàng hoặc diệt các tác nhân cơ hội như nấm mốc hay nấm men
Trang 31Một điển hình trong phương pháp này là sử dụng các thuốc kháng viêm không chứa corticoid (NSAID), như ketoprofen Loại thuốc kháng viêm này được
chỉ định để làm giảm viêm và đau liên quan đến viêm khớp, chấn thương cơ, xương trên trâu bò, ngoài ra việc cấp những liều liên tục ketoprofen cho thấy có thể cải thiện đáng kể các ổ viêm vú cấp tính, gồm viêm vú do coliforms
2.2.6.3 Kết hợp cả 2 phương pháp điều trị
Đây được xem như là lựa chọn chủ yếu trong việc điều trị viêm vú Dưới tác động của kháng sinh, vi sinh vật gây bệnh sẽ bị tiêu diệt, cắt đứt yếu tố gây bệnh,
những chất kháng viêm, chất lợi tiểu sẽ nhanh làm giảm hiện tượng sưng, phù; các
chất sát trùng sẽ đảm bảo các tác nhân gây hại cơ hội khác bị diệt Tất cả chúng tạo nên một điều kiện lý tưởng cho bầu vú nhanh chóng phục hồi lại chức năng
2.3 TÓM LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
(1) Nguyễn Văn Thành (1998) tiến hành phân lập 35 mẫu sữa viêm lâm sàng và
47 mẫu viêm tiềm ẩn ở quận 12 và huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh Kết quả cho
thấy Staphylococus aureus chiếm tỷ lệ cao nhất (68,29%), tiếp đến là Streptococus spp (39,02%), Pseudomonas spp (4,87), E coli (3,65%) và cuối cùng là Citrobacter
(1,21%)
(2) Nguyễn Văn Phát (2009) khảo sát trên đàn bò tại khu vực Tp Hồ Chí Minh
và các vúng phụ cận từ năm 2002 đến năm 2007 cho thấy mức độ vệ sinh có liên quan rất rõ đến tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn, vệ sinh khá tốt thì tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn thấp hơn so với mức vệ sinh trung bình và vệ sinh kém (35,45% so với 41,85% và 84,46% thùy vú viêm)
(3) Yang Liguo và cộng sự, (2009) cho biết việc dùng gel povidone iodine trong điều trị bệnh viêm vú trên đại gia súc có tỷ lệ điều trị khỏi bệnh viêm vú tiềm ẩn có thể lên tới 86,43%, còn đối với viêm vú lâm sàng thì tỷ lệ này đạt 78,03%, thậm chí
có thể đạt 93,75% tại một số trại
(4) Pankey, J.W và cộng sự (1983) đã thực hiện thí nghiệm kiểm tra mức độ
hiệu quả của việc sử dụng dung dịch nhúng vú có chứa iodophor ở các nồng độ thấp
khác nhau để chống lại Staphylococcus aureus trong bệnh viêm vú Kết quả cho
Trang 32thấy có sự khác biệt rõ rệt trong tỷ lệ diệt khuẩn giữa các nồng độ với nhau Ở nồng
độ 0,1% thì tỷ lệ diệt S aureus là 73%, 0,25% là 55,8%, 0.3% là 70,8%, 0,5% là
74,49%, và tỷ lệ này cao nhất ở nồng độ 1% với 94,4% vi khuẩn bị tiêu diệt
(5) Sérieys, F (1996) “Khảo sát hiệu quả của hai chất nisin và polyvinylpyrrolidone (PVP) iodophor được dùng trong việc nhúng vú bò trước và sau khi vắt sữa” Thí nghiệm đầu được thực hiện trên 6 đàn bò và 291 con bò trong
8 tháng, với PVP – iodophor 0,25% Kết quả cho thấy không có sự viêm nhiễm nào mới do Staphylococcus aureus, Streptococcus uberis và Corynebacterium bovis (P
< 0,05) trên lô thí nghiệm Thí nghiệm thứ 2 được thực hiện trên 367 con bò trong 7 tháng, một lô dùng dung dịch nhúng vú có chứa nisin và lô còn lại dùng PVP iodophor 0,5% Cả hai đều được nhúng trước và sau khi vắt sữa Kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa tỷ lệ viêm vú mới giữa 2 lô, tuy nhiên tỷ lệ viêm vú mới
do S aureus trên lô dùng nisin cao hơn lô dùng PVP – iodophor 0,5% (P = 0,06)