Qua phân tích thành phần hóa học và xác định năng lượng thô bằng bomb calorimeter của 81 mẫu bột cá, 101 mẫu khô dầu đậu nành và 86 mẫu bột thịt xương, để tiến hành so sánh, đánh giá các
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
*****************
NGUY ỄN ĐỨC NHƯ
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VÀ ĐÁNH GIÁ LẠI CÁC PHƯƠNG TRÌNH HỒI QUY VỀ NĂNG LƯỢNG CỦA BỘT CÁ,
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kĩ sư chăn nuôi
Giáo viên hướng dẫn
TS DƯƠNG DUY ĐỒNG ThS LÊ MINH H ỒNG ANH
Tháng 08/2011
Trang 2PHI ẾU XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực hiện: Nguyễn Đức Như
Tên luận văn: “Bước đầu tìm hiểu và đánh giá lại các phương trình hồi
quy v ề năng lượng của bột cá, bột thịt xương và khô dầu đậu nành”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý
kiến nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa Chăn Nuôi – Thú
Y ngày….tháng 08 năm 2011
Ngày tháng 08 năm 2011 Giáo viên hướng dẫn
Trang 3L ỜI CẢM TẠ
Xin chân thành cảm ơn!
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng toàn thể quý thầy cô khoa Chăn Nuôi Thú Y đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Em xin ghi nhớ công ơn của thầy Dương Duy Đồng và cô Lê Minh Hồng Anh đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn và đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để em có thể
thực tập và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cám ơn cô Trần Thị Phương Dung, thầy Nguyễn Phúc Lộc,
cô Nguyễn Thị Lộc trong phòng phân tích và các thầy cô trong bộ môn Dinh Dưỡng Gia Súcđã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập
Con xin cám ơn Ba Má, và chị hai đã nuôi nấng, lo lắng, dạy dỗ con nên người, là động lực giúp con luôn vững bước trên con đường đã chọn Xin cám ơn
mọi người trong gia đình đã luôn động viên, cổ vũ cho con từ trước đến giờ
Xin được cám ơn tất cả những người thân, bạn bè, và tập thể lớp Chăn nuôi
33 đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Sinh viên thực hiện Nguyễn Đức Như
Trang 4Qua phân tích thành phần hóa học và xác định năng lượng thô bằng bomb calorimeter của 81 mẫu bột cá, 101 mẫu khô dầu đậu nành và 86 mẫu bột thịt xương, để tiến hành so sánh, đánh giá các phương trình hồi quy ước tính năng lượng thô, năng lượng tiêu hóa và năng lượng trao đổi của các nguồn INRA, NRC, ARC Kết quả thu được như sau:
kết quả của INRA tối ưu hơn về mặt thống kê
• V ới khô dầu đậu nành
Kết quả từ công thức ước tính năng lượng thô của INRA (2004) là 19,55 MJ/kg DM, của NRC (1998) là 19,66 MJ/kg DM và bomb calorimeter là 19,68 MJ/kg DM Sự khác biệt giữa các giá trị năng lượng thô có được qua các phương pháp trên là không có sự khác biệt về mặt thống kê Xây dựng được phương trình
hồi quy ước tính năng lượng thô với hệ số xác định R2 = 72,5 %
Trang 5Giá trị năng lượng tiêu hóa và năng lượng trao đổi ước tính theo hai phương pháp INRA(2004) lần lượt là 17,15 MJ/kg DM và 15,62 MJ/kg DM, theo NRC lần lượt là và 17,32 MJ/kg DM và 15,82 MJ/kg DM, sự khác biệt giữa các kết quả tương ứng từ hai nguồn không có ý nghĩa về mặt thống kê
từ hai nguồn là hoàn toàn có ý nghĩa Vì vậy, các công thức ước tính năng lượng
của INRA cũng được đề nghị áp dụng đối với bột thịt xương
Trang 6M ỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt iv
Mục lục vi
Danh sách các chữ viết tắt x
Danh sách các bảng xi
Danh sách các hình xi
Danh sách các biểu đồ xii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
Đặt vấn đề 1
Mục đích và yêu cầu 2
Mục đích 2
Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Vai trò của năng lượng đối với cơ thể thú 4
2.2 Các thành phần năng lượng của thức ăn 5
2.2.1 Năng lượng thô hay năng lượng tổng số của thức ăn (Gross Energy – GE) 4
2.2.2 Năng lượng tiêu hóa biểu kiến (Apparent Digestible Energy – DE) 6
2.2.3 Năng lượng trao đổi (Metabolizable Energy – ME) 6
2.2.4 Năng lượng mất dưới dạng nhiệt (Heat Increment – HI) 7
Trang 72.2.5 Năng lượng thuần (Net Energy – NE) 8
2.3 Các phương pháp ước tính giá trị năng lượng của thức ăn 8
2.3.1 Ước tính GE 9
2.3.2 Ước tính DE 9
2.3.3 Ước tính ME 10
2.4 Tổng quan về bomb calorimeter 10
2.5 Phương pháp phân tích hóa học 11
2.6 Tổng quan về nguyên liệu thí nghiệm 12
2.6 Nguyên liệu cung đạm 14
2.6.1 Bột cá 14
2.6.2 Bột thịt xương 15
2.6.3 Khô dầu đậu nành 16
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Thời gian và địa điểm 19
3.2 Đối tượng nghiên cứu 19
3.3 Nội dung nghiên cứu 19
3.4 Phương pháp nghiên cứu 19
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 20
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Kết quả phân tích của bột cá 21
4.1.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học 21
4.1.2 Kết quả phân tích năng lượng 23
4.1.2.1 Năng lượng thô 25
4.1.2.2 Năng lượng tiêu hóa và năng lượng trao đổi 27
Trang 84.2 Kết quả phân tích của khô dầu đậu nành 26
4.2.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học 26
4.2.2 Kết quả phân tích năng lượng 28
4.2.2.1 Năng lượng thô 29
4.2.2.2 Năng lượng tiêu hóa và trao đổi 31
4.3 Kết quả phân tích của bột thịt xương 32
4.3.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học 32
4.3.2 Kết quả phân tích năng lượng 34
4.3.2.1 Năng lượng thô 34
4.3.2.2 Năng lượng tiêu hóa và trao đổi 36
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ LỤC 43
Trang 9recherche agronomique
Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia (Pháp) NRC The National Research
SD Standard Deviation Độ lệch chuẩn
Trang 10DANH SÁCH CÁC B ẢNG
TRANG
Bảng 2.1 Năng lượng thô của một số dưỡng chất và thức ăn 4
Bảng 4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học của bột cá 21
Bảng 4.2 Kết quả phân tích năng lượng thô của bột cá 24
Bảng 4.3 Kết quả phân tích năng lượng tiêu hóa và trao đổi của bột cá 26
Bảng 4.4 Kết quả phân tích thành phần hóa học của khô dầu đậu nành 27
Bảng 4.5 Kết quả phân tích năng lượng thô của khô dầu đậu nành 29
Bảng 4.6 Kết quả phân tích năng lượng tiêu hóa và năng lượng trao đổi của khô dầu đậu nành 31
Bảng 4.7 Kết quả phân tích thành phần hóa học của bột thịt xương 32
Bảng 4.8 Kết quả phân tích năng lượng thô của bột thịt xương 34
Bảng 4.9 Kết quả phân tích năng lượng tiêu hóa và năng lượng trao đổi của bột thịt xương 36
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
TRANG
Hình 2.1 Sơ đồ thành phần năng lượng của thức ăn trong sự tiêu hóa và biến
dưỡng 5 Hình 2.2 Máy Bomb calorimeter C200 11 Hình 2.3 Sơ đồ cấu tạo cơ bản của Bomb calorimeter 11
Trang 12
DANH SÁCH CÁC BI ỂU ĐỒ
TRANG
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ năng lượng thô của bột cá qua các cach tính 25
Biểu đồ 4.2 Biểu đồ năng lượng thô của khô dầu đậu nành qua các cách tính 30
Biểu đồ 4.3 Biểu đồ năng lượng thô của bột thịt xương qua các cách tính 35
Trang 13Chương 1
1.1 Đặt vấn đề
Ngay từ thời xa xưa, chăn nuôi đã là một phần trong sinh hoạt và lao động
của con người, việc từng bước giải đáp cho những câu hỏi như: Vật nuôi ăn thức ăn
gì mau lớn nhất? Và cho ăn như thế nào là tốt nhất nhưng vẫn thu được lợi nhuận cao nhất? đã đưa ngành chăn nuôi ngày càng phát triển Hiện nay, với những tiến
bộ vượt bậc của khoa học kĩ thuật đã giúp con người tìm hiểu rõ hơn về thành phần
cấu tạo của từng loại nguyên liệu thức ăn, xác định được nhu cầu dinh dưỡng của
từng loại thú Đặt biệt là việc tính toán được giá trị năng lượng của khẩu phần đáp ứng cho từng giai đoạn phát triễn của thú Bên cạnh các loại nguyên liệu cung năng lượng như bắp, khoai mì, cám gạo, thì các loại nguyên liệu cung đạm như bột cá,
bột thịt xương, khô dầu đậu nành cũng đóng góp một giá trị năng lượng không nhỏ trong khẩu phần
Khi xây dựng khẩu phần cho một loại vật nuôi nào đó thì yêu cầu đầu tiên là
phải nắm rõ thành phần hóa học về mặt dinh dưỡng cũng như là giá trị năng luợng
của từng loại nguyên liệu Phương pháp phân tích hóa học giúp cho các nhà dinh dưỡng biết được thành phần hóa học, và giá trị năng lượng thô có được khi đem đốt
mẫu nguyên liệu trong thiết bị đo năng lượng, bomb calorimeter
Nhưng vấn đề thời gian luôn là yếu tố hàng đầu khi có yêu cầu cho kết quả phân tích năng lượng nhanh hơn, lúc này với những số liệu thành phần hóa học từ các tài liệu đã công bố, các nhà dinh dưỡng có thể đưa vào các phương trình hồi quy
về năng lượng từ kết quả nghiên cứu của nhiều nguồn khác nhau như NRC (The National Research Council), INRA (Institut national de la richerche agronomique),
Trang 14ARC (Agricultural Research Council)… Nhưng việc chọn phương trình nào để tính toán? Và mức độ tin cậy của kết quả thu được trong từng trường hợp cụ thể lại
là một vấn đề mới đặt ra
Để giải quyết vấn đề trên và cũng để khảo sát giá trị năng lượng của các nguyên liệu cung đạm trong thức ăn chăn nuôi Được sự hướng dẫn và giúp đỡ của
TS Dương Duy Đồng và Th.S Lê Minh Hồng Anh chúng tôi tiến hành đề tài:
“Bước đầu tìm hiểu và đánh giá lại các phương trình hồi quy về năng lượng của bột
cá, bột thịt xương và khô dầu đậu nành”
1.2 M ục đích và yêu cầu
1.2.1 M ục đích
So sánh và đánh giá lại các phương trình hồi quy ước tính năng lượng cho các nguyên liệu bột cá, bột thịt xương và khô dầu đậu nành từ các nguồn NRC, INRA và ARC
Xây dựng phương trình hồi quy ước tính năng lượng thô của bột cá, bột thịt xương và khô dầu đậu nành
1.2.2 Yêu c ầu
Đo giá trị năng lượng thô của các mẫu nguyên liệu bằng thiết bị bomb calorimeter
Xác định 5 chỉ tiêu: vật chất khô, protein thô, béo thô, xơ thô, khoáng tổng
số của bột cá, bột thịt xương và khô dầu đậu nành
Trang 15Chương 2
2.1 VAI TRÒ C ỦA NĂNG LƯỢNG ĐỐI VỚI CƠ THỂ THÚ
Theo Dương Thanh Liêm và cs (2006), việc sử dụng thức ăn nhằm mục đích chính là để sản xuất năng lượng cung cấp cho các hoạt động của cơ thể Trước hết, năng lượng được thú sử dụng cho các hoạt động sống như các vận động cơ học và các phản ứng trao đổi chất trong cơ thể Ngoài ra, thú còn dùng năng lượng để duy trì nhiệt độ cơ thể
Khi năng lượng trong thức ăn được cung cấp vượt quá nhu cầu duy trì thì thú sẽ sử dụng năng lượng dư thừa này vào các nhiệm vụ sản xuất Cụ thể như khi thú còn nhỏ, năng lượng thừa này được dự trữ chủ yếu trong protein của các mô
mới, thú trưởng thành dự trữ năng lượng thừa ở dạng mỡ và năng lượng thức ăn được chuyển hóa thành năng lượng của sữa trong trường hợp thú đang cho sữa, còn
với gà đẻ sẽ chuyển thành năng lượng chứa trong trứng Ngược lại, nếu như thức ăn không cung cấp đủ năng lượng cần thiết, để đáp ứng đủ nhu cầu của cơ thể thì thú
sẽ dùng tới lượng năng lượng được dự trữ trong các mô mỡ
Như vậy, tất cả các chất hữu cơ đều có thể dùng để cung cấp năng lượng nên giá trị dinh dưỡng của thức ăn còn được biểu thị bằng giá trị năng lượng của các
chất hữu cơ này (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Đơn vị năng lượng thường được dùng là:
Calo: là lượng nhiệt dùng để nâng 1 g nước lên 1 0C ở nhiệt độ 16,5 - 17,5
0C
Trên thực tế, calo là một lượng năng lượng nhỏ, nên trong các tiêu chuẩn
thức ăn năng lượng thường được dùng với đơn vị là:
Trang 16Kilocalo (kcal = 1000 cal)
Megacalo (Mcal = 1000 kcal = 1.000.000 calo)
Ngoài ra, trong dinh dưỡng hiện nay còn dùng đơn vị Joule (J):
• 1 Calo = 4,184 joules và Megajoule (MJ) =1.000.000 joules
• 1 Mcal =4,184 MJ; 1 MJ = 0,239 Mcal; 1 MJ =239 kcal
2.2 CÁC THÀNH PH ẦN NĂNG LƯỢNG CỦA THỨC ĂN
2.2 1 Năng lượng thô hay năng lượng tổng số của thức ăn (Gross Energy – GE)
Theo Dương Thanh Liêm và cs (2006), năng lượng thô hay năng lượng đốt cháy của một chất liệu có được khi chất liệu đó được đốt cháy hoàn toàn thành
những sản phẩm oxy hóa cuối cùng như CO2, H2O và các chất khí
B ảng 2.1 Năng lượng thô của một số dưỡng chất và thức ăn
Ch ất dinh dưỡng tinh
(Nguồn: Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Số liệu ở Bảng 2.1 cho thấy năng lượng của chất béo cao hơn năng lượng
của đường và protein Việc lý giải điều này dựa theo khái niệm năng lượng thô vừa
được đề cập ở trên rằng năng lượng thô của một chất liệu phụ thuộc vào mức độ
oxy hóa của chất liệu đó, và mức độ oxy hóa được thể hiện bằng tỉ lệ cacbon và hydro với oxy trong phân tử Tỉ lệ này như nhau ở tất cả chất bột đường nên có giá
trị năng lượng thô bằng nhau (khoảng 17,5 MJ/kg) Protein có năng lượng cao hơn đường vì trong phân tử có chứa những chất có thể bị oxy hóa như nitơ và sulphur
Với chất béo, trong phân tử có ít oxy hơn nên có giá trị năng lượng thô khá cao
Trang 17(khoảng 39 MJ/kg) Mặt khác, từ những số liệu trên có thể thấy rằng năng lượng
của chất béo cao gấp hai lần năng lượng của đường và protein
Hình 2.1 Sơ đồ thành phần năng lượng của thức ăn trong sự tiêu hóa và biến dưỡng (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
(Ghi chú:NL: năng lượng; các thành phần năng lượng mất được để trong khung)
Trang 182.2 2 Năng lượng tiêu hóa biểu kiến (Apparent Digestible Energy – DE)
Không phải tất cả năng lượng thô của thức ăn đều được thú sử dụng hết Một
phần của năng lượng bị mất dưới dạng các chất bài tiết: chất rắn, chất lỏng hay chất khí, phần khác bị mất dưới dạng nhiệt (Hình 2.1) Năng lượng tiêu hóa biểu kiến
của thức ăn là phần năng lượng của thức ăn được hấp thu vào cơ thể, có thể tính
bằng hiệu số của năng lượng thô của thức ăn trừ năng lượng thải ra trong phân:
DE = GE – FE Trong đó: DE : Năng lượng tiêu hoá biểu kiến
GE : Năng lượng thô
FE : Năng lượng trong phân
Năng lượng tiêu hóa này được gọi là năng lượng tiêu hóa biểu kiến vì trong phân ngoài phần thức ăn không tiêu hóa còn có những sản phẩm trao đổi chất của
cơ thể như các dịch tiêu hóa, biểu bì ruột bị bong ra (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Ở bò, cừu, năng lượng mất trong phân từ 40 – 50 % thức ăn thô và khoảng
20 – 30 % thức ăn tinh Ở ngựa, với thức ăn thông thường mất trong phân khoảng
35 – 40 % Ở heo với khẩu phần cân bằng thì năng lượng trong phân mất trung bình
20 % Những yếu tố ảnh hưởng trên năng lượng tiêu hóa cũng là những yếu tố ảnh hưởng trên sự tiêu hóa của thức ăn (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
2.2 3 Năng lượng trao đổi (Metabolizable Energy – ME)
Con thú tiếp tục bị mất năng lượng trong các chất chứa năng lượng trong nước tiểu và trong khí thải từ đường tiêu hóa Do đó, khi lấy năng lượng tiêu hóa
trừ năng lượng nước tiểu và năng lượng khí thải từ đường tiêu hóa sẽ có được phần năng lượng có thể chuyển biến trong cơ thể gọi là năng lượng trao đổi Năng lượng trao đổi được tính như sau: ME = GE – FE – UE – NL khí
Trong đó: ME : Năng lượng trao đổi
GE : Năng lượng thô
FE : Năng lượng trong phân
Trang 19UE : Năng lượng trong nước tiểu
NL : Năng lượng Ngoài ra, còn một số năng lượng nhỏ thải ra trong mồ hôi, da tróc, lông
rụng; nếu kể những phần này thì năng lượng trao đổi phải trừ thêm những phần này Tuy nhiên, phần năng lượng này thường không đáng kể nên thường không được tính đến (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Năng lượng trao đổi của thức ăn được xác định trong các thí nghiệm nuôi dưỡng (feeding trials) tương tự như thí nghiệm tiêu hoá, ở đây phân, nước tiểu, methan được thu thập và ghi chép cho từng cá thể gia súc Khi cần phải đo methan,
phải đưa gia súc vào các buồng hô hấp chuyên dụng (respiration chamber) Respiration chamber có thể dùng để đo nhu cầu năng lượng mà trước hết là nhu cầu duy trì của gia súc, năng lượng trao đổi của thức ăn, và khí methan thải ra từ gia súc nhai lại (methan emission) (Vũ Duy Giảng và cs, 2008)
2.2 4 Năng lượng mất dưới dạng nhiệt (Heat Increment – HI)
Quá trình tiêu hóa của thức ăn luôn luôn gắn liền với sự mất mát năng lượng hóa học dưới dạng rắn, lỏng, khí và cả dưới dạng nhiệt Trên cơ thể thú, trong tất cả các tế bào sống luôn diễn ra các phản ứng cần thiết cho sự sống và sinh ra năng lượng tỏa ra dưới dạng nhiệt Do đó, nhiệt độ luôn luôn thoát ra ngoài môi trường qua các phương thức trực tiếp như truyền nhiệt, bức xạ nhiệt hay gián tiếp là bốc hơi
Năng lượng mất dưới dạng nhiệt của thức ăn được thể hiện qua sự gia tăng
sản xuất nhiệt sau bữa ăn Năng lượng này có thể biến đổi từ 25 % đến 40 % hay hơn của năng lượng ăn vào Nguyên do của sự tăng nhiệt này là do năng lượng cần cho các quá trình tiêu hóa thức ăn và biến dưỡng các chất dinh dưỡng từ thức ăn
Việc nhai nuốt và tiết nước bọt đòi hỏi sự hoạt động của các cơ nên cần cung cấp năng lượng bằng sự oxi hóa các dưỡng chất Ở thú nhai lại, ăn thức ăn nhiều xơ, năng lượng ăn được tính bằng 3 – 6 % năng lượng trao đổi được ăn Ngoài ra, còn
có năng lượng nhiệt bởi vi sinh vật được tính khoảng 7 – 8% (Dương Thanh Liêm
và cs, 2006)
Trang 20Nhiệt tỏa nhiều hơn trong quá trình trao đổi chất Ví dụ, khi glucose bị ôxy hóa để tạo thành ATP, hiệu suất giữ năng lượng tự do giải phóng ra chỉ là 0,69 (hay 69%), 0,31 (hay 31%) năng lượng bị mất dưới dạng nhiệt Tương tự, việc tổng hợp các chất trong cơ thể như liên kết các acid amin tạo thành protein, 2,5 MJ năng lượng được giải phóng dưới dạng nhiệt cho mỗi kg protein tổng hợp được (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Do đó, năng lượng mất dưới dạng nhiệt thay đổi đáng kể tùy theo tính chất
của thức ăn, loài thú tiêu thụ và sự sử dụng các dưỡng chất cũng như hướng sản
xuất của thú Năng lượng này được tính bằng MJ/kg DM của thức ăn (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
2.2 5 Năng lượng thuần (Net Energy – NE)
Năng lượng thuần là năng lượng gia súc có thể sử dụng cho các mục đích
hữu ích: duy trì cơ thể và sản xuất (Vũ Duy Giảng và cs, 2008) Năng lượng thuần cho duy trì được sử dụng trong phạm vi cơ thể và thoát ra ngoài dưới dạng nhiệt Năng lượng thuần cho sản xuất là dùng cho tăng trọng, tạo sữa, trứng, lông hoặc tích trữ trong các sản phẩm dưới dạng năng lượng hóa học
Theo Dương Thanh Liêm và cs (2006), năng lượng thuần được tính như sau:
NE = ME – HI Hay NE = GE – FE – UE –NL khí – HI
Trong đó NE : Năng lượng thuần
ME : Năng lượng trao đổi
HI : Năng lượng dạng nhiệt
GE : Năng lượng thức ăn
FE : Năng lượng trong phân
UE : Năng lượng trong nước tiểu
NL : Năng lượng
Trang 212.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP ƯỚC TÍNH GIÁ TRỊ NĂNG LƯỢNG CỦA THỨC
(trích dẫn bởi Tôn Thất Sơn và cs, 2005)
• Theo các số liệu đã công bố về giá trị năng lượng thức ăn cho heo của INRA (2004) thì giá trị GE (MJ/kg DM) của các loại nguyên liệu cung đạm được xác định theo các công thức:
- Bột cá và bột thịt xương:
GE = 17,33 + 0,0617 × protein thô + 0,2193 × béo thô – 0,1867 × khoáng tổng số
- Khô dầu đậu nành:
GE = 17,14 + 0,0617 × protein thô + 0,0387 × xơ thô + 0,2193 × béo thô – 0,1867
× khoáng tổng số
• Theo ARC (1980), năng lượng thô trên thức ăn thú nhai lại được ước tính như sau:
GE (kJ/kg DM) = 22,6 × protein thô + 40,7 × béo thô + 19,2 × xơ thô + 17,7 × NFE
(Ghi chú: Các dưỡng chất được tính bằng g/kg vật chất khô, NFE: dẫn xuất vô đạm)
2.3 2 Ước tính DE
Từ những nghiên cứu về khả năng tiêu hóa trên heo, các nhà khoa học thuộc các tổ chức INRA và NRC đã đưa ra những phương pháp ước lượng giá trị năng lượng tiêu hóa như sau:
Theo INRA (2004), sau khi tính được giá trị năng lượng thô thì có thể ước tính được giá trị năng lượng tiêu hóa theo tỉ lệ DE/GE đã biết ứng với từng loại nguyên liệu cụ thể:
Trang 22- Bột cá: DE/GE = 0,85
- Khô dầu đậu nành: DE/GE = 0,877
- Bột thịt xương: DE/GE = 0,7 Theo NRC (Noblet và Perez, 1993), giá trị năng lượng tiêu hóa được ước tính theo công thức:
DE (kcal/kg DM) = 4151 – (122 × % khoáng tổng số) + (23 × % protein thô) + (38
× % béo thô) – (64 × % xơ thô)
2.3 3 Ước tính ME
Qua những nghiên cứu trên heo thì INRA và NRC cũng đã công bố những phương pháp ước tính giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn dựa trên giá trị năng lượng tiêu hóa hoặc dựa trên các phương trình hồi quy với hệ số tương quan nhất định, cụ thể như sau:
Theo INRA (2004), giá trị năng lượng trao đổi của từng loại nguyên liệu
thức ăn được ước tính theo các hệ số dựa trên các giá trị năng lượng tiêu hóa của
từng loại nguyên liệu:
thống tính toán năng lượng thức ăn của NRC Theo NRC (May và Bell, 1971) thì giá trị năng lượng trao đổi của thức ăn được ước tính theo phương trình hồi quy:
ME = DE × (1,012 – (0,0019 × % protein thô))
Với hệ số xác định R2 = 0,91
2.4 T ỔNG QUAN VỀ BOMB CALORIMETER
Thiết bị dùng để đo năng lượng thô của thức ăn được gọi là bomb calorimeter, cấu tạo cơ bản gồm một bomb được làm bằng kim loại kín và chắc
Trang 23
Hình 2.2 Máy đo năng lượng, bomb calorimeter C200
Mẫu được đốt cháy bằng dòng điện chạy qua hai điện cực trong bomb, qua trung gian một sợi chỉ đã kết nối với mẫu thức ăn Nhiệt tỏa ra khi đốt được hấp thụ vào bomb và nước xung quanh bomb Ghi nhận nhiệt độ của nước trước và sau khi đốt Khi đó, nhiệt sản xuất của thức ăn được tính từ nhiệt độ tăng lên, trọng lượng
và tỉ nhiệt của nước và của bomb
Bomb calorimeter được dùng để đo năng lượng thô của thức ăn, năng lượng thô của phân, nước tiểu và các chất thải khác của cơ thể (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Hình 3.1 Sơ đồ cấu tạo cơ bản của bomb calorimeter
2.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÓA HỌC
Phương pháp phân tích hóa học do các nhà khoa học Đức Heneberg và Stohmann tìm ra hơn 100 năm trước đây Hệ thống phân tích này chia thức ăn ra 6 nhóm: độ ẩm, khoáng, protein thô, chất chiết hữu cơ, xơ thô và dẫn xuất không
chứa nitơ
Trang 24Ưu điểm: điều kiện phân tích thuận lợi với dụng cụ thí nghiệm và hóa chất đều được trang bị trong phòng thí nghiệm và các loại hóa chất đều tương đối dễ mua, dễ pha chế, kết quả thu được là khá chính xác
Nhược điểm: tốn nhiều thời gian, chi phí hóa chất và dụng cụ thí nghiệm
Kết quả thu được chỉ thể hiện ở dạng thô, nếu cần tính toán về một chỉ tiêu cụ thể
chẳng hạn như protein thô thì phải thông qua việc xác định hàm lượng nitơ của mẫu nguyên liệu cần phân tích rồi nhân với hệ số 6,25 Do vậy, kết quả protein thô có được chỉ mang tính ước lượng chứ chưa phản ánh chính xác giá trị thực của protein trong mẫu thức ăn được phân tích
2.6 T ỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU THÍ NGHIỆM
2.6.1 Nguyên li ệu cung đạm
Theo Dương Thanh Liêm và cs (2006), một loại nguyên liệu được xem là để cung đạm khi hàm lượng đạm thô của nguyên liệu đó cao hơn nhu cầu về đạm thô
của đối tượng vật nuôi cần cung cấp Các nguyên liệu phổ biến để cung đạm trong
thức ăn gia súc là hạt họ đậu, khô dầu, bột cá và bột thịt xương Một số khác chỉ sử
dụng có điều kiện như bột sữa, bột huyết, men bia sấy khô
Trên thị trường hiện nay có khá nhiều loại nguyên liệu cung đạm ngoài các
loại vừa kể trên thì còn có khô dầu bông vải, khô dầu cao su, khô dầu mè, khô dầu
hạt cải v.v… Do đó, không thể thực hiện việc phân tích hết trên tất cả các mẫu nguyên liệu cung đạm Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, việc lựa chọn nguyên
liệu phân tích được dựa theo các tiêu chí như: mức độ phổ biến của nguyên liệu đó
ở Việt Nam hiện nay nhiều hay ít và đi kèm là khả năng tìm nguồn nguyên liệu để thu thập và phân tích, ngoài ra, việc hạn chế sử dụng do nghi ngại về độc tố cũng được xem xét để lựa chọn
Trong tài liệu của Dương Thanh Liêm và cs (2006) có viết về những hạn chế
của một số loại nguyên liệu cung đạm như sau:
- Bột huyết tuy có thể chứa đến 80 % protein thô, giàu lysine, nhưng rất thiếu isoleusine Khả năng tiêu hóa của bột huyết cũng
ấp do protein và acid amin đã bị hủy hoại một phần trong quá
Trang 25trình sử lý bằng nhiệt Trong khẩu phần không nên dùng quá 6 – 8
% bột huyết do mất cân đối acid amin và hơn nữa bột huyết cũng
dễ bị hư hỏng trong quá trình tồn trữ
- Khô dầu đậu phộng nhân có hàm lượng đạm khá cao (45 %) còn khô dầu vỏ chỉ chứa khoảng 30 – 35 % đạm thô nhưng cả hai đều
là nguồn mang độc tố aflatoxin rất lớn nên thường ít được sử dụng trong chăn nuôi công nghiệp Protein của khô dầu phộng cũng
chứa một số acid amin thiết yếu thấp hơn so với protein của khô
dầu đậu nành
- Khô dầu dừa chứa 20 – 24 % nhưng khi sử dụng nhiều trong khẩu
phần (trên 10 %) thường gặp trở ngại về mùi (sự ôi hóa) , hoặc gây tiêu chảy và làm mỡ heo mềm
- Khô dầu bông vải trích ly chứa tới 40 % protein thô nhưng có ít lysine và methionine hơn so với khô dầu đậu nành Khó sử dụng khô dầu bông vải trong thức ăn heo và gà vì độ ngon miệng kém
và còn do độc tố gossypol trong khô dầu
- Khô dầu cao su protein thô khoảng 21 – 30 %, tuy nhiên có chứa
một lượng acid cyanhydric độc cho người và gia súc, ngoài ra cũng dễ bị nhiễm nấm mốc sinh độc tố mycotoxin
- Các loại khô dầu khác như khô dầu hạt cải, khô dầu hướng dương, khô dầu cọ, v.v… đều chứa hàm lượng đạm thô trung bình và có
một hoặc nhiều yếu tố giới hạn như độc tố, mùa vụ, hay sản lượng không tập trung nên chỉ có thể xem xét sử dụng trong một số điều
kiện nhất định
- Đối với bột huyết tương chứa đến 78 % protein thô, yếu tố giới
hạn duy nhất là giá rất cao nên không thể dùng tỷ lệ cao, vì không kinh tế
Trang 26- Bột sữa béo chứa khoảng 33 % protein thô nhưng chỉ nên sử dụng khoảng 5 – 10 % trong thức ăn gà tuần tuổi đầu tiên thì có lợi về
sức khỏe cho gà, việc sử dụng nhiều hơn sẽ gây ra tiêu chảy
Từ những lý do trên cộng với thời gian giới hạn khi thực hiện đề tài nên chúng tôi đã lựa chọn 3 loại nguyên liệu để phân tích là bột cá, bột thịt xương và khô dầu đậu nành
2.6.2 B ột cá
Bột cá dùng cho gia súc là sản phẩm được chế biến từ các loại thứ phẩm
hoặc những phần bị loại thải từ cá của nhà máy chế biến thủy sản cho người
Những loại cá thường được dùng sản xuất bột cá là cá trích, cá mòi, cá cơm, cá tra,
cá ba sa Trên thế giới, các nước sản xuất nhiều bột cá chất lượng cao là Peru, Chile, Ecuado, Mỹ, Nam Phi Ở Việt Nam, khu vực có nguồn cá cơm dồi dào là Bình Thuận nhưng bột cá cơm của Việt Nam sản xuất cũng chỉ đạt khoảng 55% đạm, vùng đồng bằng sông Cửu Long là khu vực nuôi nhiều cá tra, ba sa đã góp
phần cung cấp một nguồn nguyên liệu dồi dào cho các nhà máy sản xuất bột cá
dựa trên hàm lượng muối sẽ được chia làm 2 loại: bột cá mặn và bột cá lạt Bột cá
lạt là những loại có hàm lượng muối dưới 5 % và đạm phải khoảng 50 % trở lên (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Bột cá tốt chứa nhiều protein chất lượng cao và cân đối trong đó có nhiều acid amin chứa lưu huỳnh, bột cá còn là nguồn cung cấp rất tốt các chất khoáng (calci, phospho và khoáng vi lượng) và vitamin Bên cạnh đó, bột cá cũng tạo độ ngon miệng cao cho thức ăn heo, gà
Các mô cơ của cá có nhiều amin tự do nên có mùi đặc trưng của cá Khi sử
dụng nhiều bột cá trong thức ăn heo, gà giai đoạn sắp xuất thịt sẽ tạo mùi Hiện
Trang 27tượng tương tự cũng xảy ra cho trứng gia cầm khi sử dụng thức ăn có nhiều bột cá (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Mỡ cá dễ tiêu hóa với hầu hết các loài động vật và là nguồn cung cấp các acid béo thiết yếu không bão hòa omega-3 và omega-6 Với thú nhai lại, bột cá được quan tâm sử dụng như một nguồn protein by-pass (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Khi sử dụng bột cá trong khẩu phần cần quan tâm đến khả năng bột cá bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh (Salmonellla, E coli), lưu ý trong việc sử dụng các loại
bột cá mặn vì nồng độ muối cao có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thú, nhất
bã Ở dạng ẩm, các nguyên liệu được đun nóng bằng hơi nước có dòng điện chạy qua, sau đó rút nước, ép để tách mỡ và sấy khô (Lê Đức Ngoan và cs, 2005)
Hàm lượng protein biến động từ 30 % đến trên 50 % Bột thịt xương là nguồn cung cấp calcium (7 – 10 %) và phospho hữu dụng (3,8 – 5 %) tốt Một số thành
phần nguyên liệu sản xuất bột thịt xương có giá trị sinh học của protein không cao Collagen trong gân, mô liên kết chứa nhiều hydroxy-prolin và hầu như không có cystein, cystin, tryptophan Các lông, sừng, móng chứa keratin là protein rất khó
Trang 28tiêu hóa Vì vậy, nhìn chung bột thịt xương có độ ngon miệng và chất lượng protein kém hơn so với khô dầu đậu nành (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Bột thịt xương giàu vitamin B1 Thường được bổ sung vào khẩu phần của gia súc, gia cầm để làm cân bằng axit amin trong đó và có thể sử dụng mức tối đa là 15% trong khẩu phần cho lợn và gia cầm (Lê Đức Ngoan và cs, 2005) Quá trình
tồn trữ cần thực hiện các biện pháp bảo quản tốt để mỡ khỏi ôi và mất vitamin
2.6.4 Khô d ầu đậu nành
Hạt đậu nành (Glicine max) là loại hạt họ đậu chủ lực được sử dụng để cung
cấp đạm trong thức ăn chăn nuôi hiện nay Năng suất hạt đậu nành không cao, khoảng trên dưới 1 tấn/ha nhưng do đậu nành là cây dễ trồng, thuộc họ đậu nên có tác dụng làm tốt đất và giá trị dinh dưỡng của hạt cao nên vẫn là nguồn thực liệu cung đạm chủ lực trong thức ăn chăn nuôi Các nước sản xuất nhiều đậu nành là Brazil và Trung Quốc
Hàm lượng đạm trong hạt đậu nành khá cao (khoảng 38 %) và nhiều béo (khoảng 18 %) nên trong chăn nuôi ít sử dụng hạt nguyên mà thường dùng khô dầu đậu nành (Dương Thanh Liêm và cs, 2006) Các nước xuất khẩu nhiều khô dầu đậu nành trên thế giới là Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh
Khô dầu đậu nành là phụ phẩm của quá trình chế biến dầu từ hạt đậu nành Hàm lượng dầu còn lại khoảng 10 g/kg Khô dầu đậu nành là một nguồn protein
thực vật có giá trị dinh dưỡng tốt nhất trong các loại khô dầu Thành phần axit amin
gần giống với protein sữa và dùng để thay thế một phần protein động vật trong khẩu phần vật nuôi Trong khô dầu đậu nành chỉ tồn tại một lượng nhỏ khoáng và nhiều vitamin, trừ vitamin B12
Cũng giống như bột đậu nành, khô dầu đậu nành có hàm lượng protein cao, chiếm khoảng 42 – 45 % theo vật chất khô Protein của khô dầu đậu nành cũng chứa hầu hết các axit amin thiết yếu, nhưng nghèo axit amin chứa lưu
huỳnh như cystine và methionine Methionine là yếu tố hạn chế thứ nhất ở các khẩu
phần có giá trị năng lượng cao Giá trị dinh dưỡng và các yếu tố hạn chế trong khô
ầu đậu nành gần giống với hạt đậu nành (Lê Đức Ngoan, 2005)
Trang 29Do đã qua xử lý bởi nhiệt trong quá trình chiết dầu nên khô dầu đậu nành khá an toàn khi sử dụng nuôi lợn và gia cầm Tuy nhiên, khô dầu chiết bằng trichloroethylene rất độc đối với một số vật nuôi, vì vậy không nên sử dụng (Lê Đức Ngoan và cs, 2005)
Trong trường hợp giá bột cá tăng quá cao, nếu vẫn sử dụng bột cá thì sẽ không mang lại hiệu quả kinh tế Lúc này, một khẩu phần căn bản gồm bắp – khô
dầu đậu nành nếu có bổ sung khoáng và B12 sẽ có thể sử dụng cho heo, gà với kết
quả tương tự như khẩu phần dùng thêm bột cá (Dương Thanh Liêm và cs, 2006)
Trang 30Chương 3
3.1 TH ỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
Thí nghiệm được thực hiệntrong thời gian từ 02/2011 đến 06/2011 tại phòng thí nghiệm thuộc bộ môn Dinh Dưỡng Gia Súc, khoa Chăn Nuôi Thú Y, trường Đại
Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Gồm 81 mẫu bột cá, 101 mẫu khô dầu đậu nành và 86 mẫu bột thịt xương được thu thập từ các nhà máy thức ăn, trại chăn nuôi tại các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai
3.3 N ỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu và đánh giá lại các phương trình hồi quy về năng lượng từ các nguồn tham khảo như NRC, INRA, ARC của các nguyên liệu cung đạm được sử
dụng phổ biến ở Việt Nam hiện nay như bột cá, bột thịt xương và khô dầu đậu nành Dựa trên việc xác định năng lượng thô bằng bomb calorimeter và phân tích 5
chỉ tiêu: vật chất khô, protein thô, béo thô, xơ thô, khoáng tổng số của từng mẫu nguyên liệu Xây dựng phương trình hồi quy ước tính năng lượng thô của bột cá,
bột thịt xương và khô dầu đậu nành trên cơ sở những số liệu đã phân tích được
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phân tích vật chất khô (DM) theo phương pháp sấy khô (AOAC 934.01)
- Phân tích protein thô (CP) theo phương pháp Kjeldahl (AOAC 984.13)
- Phân tích béo thô (EE) theo phương pháp Soxhlet (AOAC 920.39)
- Phân tích xơ thô (CF) theo phương pháp Henneberg và Stoman (AOAC 962.09)
Trang 31- Phân tích khoáng tổng số (Ash) theo phương pháp xác định hàm lượng tro toàn phần (AOAC 942.05)
- Xác định năng lượng thô của mẫu nguyên liệu bằng phương pháp đốt mẫu trong bomb calorimeter
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thô được xử lý bằng chương trình Excel 2007
Số liệu về các chỉ tiêu phân tích được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh
học, áp dụng trắc nghiệm Tukey, và phần mềm sử dụng là MINITAB 15.0
Trang 32Chương 4
Sau 4 tháng tiến hành thu thập và phân tích các mẫu nguyên liệu từ 02/2011 – 06/2011, chúng tôi đã thu được một số kết quả như sau:
4.1 K ẾT QUẢ PHÂN TÍCH CỦA BỘT CÁ
4.1.1 K ết quả phân tích thành phần hóa học
Các thành phần hóa học của bột cá được trình bày trong Bảng 4.1
B ảng 4.1 Kết quả phân tích thành phần hóa học của bột cá (%/DM)
Khoáng 81 22,44 24,72 0,459 4,128 10,41 34,80
Kết quả phân tích tỉ lệ vật chất khô trung bình là 90,751 % cao nhất là 98,68
% và thấp nhất là 81,48 %, cho thấy đa phần các mẫu bột cá đem phân tích đạt được yêu cầu về độ ẩm, hay công tác vận chuyển, bảo quản và xử lý mẫu theo đúng quy trình Kết quả này không có sự sai khác nhiều với kết quả của Nguyễn Thị
Thủy (2010) là 90,06 %, gần với công bố của Viện chăn nuôi (2008) là 89,75 %, và
với kết quả của Trần Trung Kiên (2009) là 90,00 %, và chênh lệch khá nhỏ so với
Trang 33trị vật chất khô của các mẫu bột cá được phân tích so với trung bình không quá lớn (SD = 2,229) nên tương đối dễ hiệu chỉnh trong việc tính toán
Tỉ lệ protein thô biến động khá nhiều từ 53,07 – 71,77 %, trung bình là 61,59
%, gần với kết quả của Viện chăn nuôi (2008) là 61,49 %, cao hơn nhiều so với số
liệu protein thô trong tài liệu của Dương Thanh Liêm và cs (2006) là 52,80 %, kết
quả của Nguyễn Thị Thủy (2010) là 52,39 %, của Trần Trung Kiên là 52,73 % Nguyên nhân của sự chênh lệch so với các tài liệu trên đây có thể vì phần lớn bột
cá được phân tích đều là bột cá lạt với độ đạm cao, quy trình chế biến tốt, ít lẫn tạp
chất Độ lệch chuẩn cao (SD = 4,348) có thể gây khó khăn hơn cho việc hiệu chỉnh
về giá trị trung bình, nhưng cũng cho thấy có sự đa dạng về các mẫu phân tích
Hàm lượng béo thô phân tích cao nhất là 20,06 %, thấp nhất là 2,21 %, trung bình là 10,19 %, , kết quả này cao hơn nhiều so với kết quả của Viện chăn nuôi (2008) là 4,05 %, của Dương Thanh Liêm và cs (2006) là 6,10 %, và cũng cao hơn
so với kết quả của Nguyễn Thị Thủy (2010) là 8,73 %, của Trần Trung Kiên (2009)
là 8,40 % Tỷ lệ béo thô phân tích được đều cao hơn so với các tài liệu tham khảo,
chứng tỏ các mẫu bột cá thường chưa qua công đoạn chiết bớt béo để làm giảm sự
ôi của chất béo trong bảo quản Ngoài ra, do nhiều mẫu bột cá được sản xuất từ cá nhiều mỡ như cá tra (có ít nhất là 30 mẫu cá tra đã được phân tích), với lượng mỡ trong cơ thể khá dồi dào so với nhiều loài cá khác cũng đẩy hàm lượng béo phân tích tăng cao đáng kể
Kết quả phân tích xơ thô biến động từ 0,26 – 1,15 %, độ lệch chuẩn nhỏ (SD
= 0,182) cho thấy ít có sự biến động về hàm lượng xơ trong các mẫu đã phân tích, hàm lượng trung bình là 0,78 %, gần giống với kết quả của Viện chăn nuôi (2008)
là 0,74 %, thấp hơn nhiều so với kết quả của Dương Thanh Liêm và cs (2006) là 1,80 %, của Nguyễn Thị Thủy (2010) là 1,56 %, và của Trần Trung Kiên (2009) là 1,60 % Kết quả thu được phản ảnh chất lượng bột cá tương đối tốt vì ít lẫn tạp
chất, vì chất xơ có trong bột cá rất ít
Hàm lượng khoáng trong bột cá phân tích được biến động nhiều từ 10,41 – 34,80 %, dẫn đến độ lệch chuẩn cao (SD = 4,128) cho thấy sự không đồng đều về
Trang 34hàm lượng béo giữa các mẫu, kết quả trung bình là 24,72 %, cao hơn so với kết quả
của Viện chăn nuôi (2008) là 21,73 %, thấp hơn so với kết quả của Dương Thanh Liêm và cs (2006) là 28,20 % Và kết quả trên gần với các kết quả của Nguyễn Thị
Thủy (2010) là 25,26 %, của Trần Trung Kiên (2009) là 25,31 % Như đã đề cập ở trên do số lượng mẫu phân tích có khá nhiều là bột cá tra (hàm lượng khoáng trên
20 %) nên kết quả có được là hợp với thực tế thí nghiệm Ngoài ra, vì bột cá cũng
là phụ phẩm nên các phần ít thịt của cá như đầu, đuôi, vi và xương cũng được tận
dụng để sản xuất bột cá làm thức ăn cho gia súc, gia cầm Vì vậy, nên bột cá thường có tỉ lệ khoáng khá cao
4.1.2 K ết quả phân tích năng lượng
4.1.2.1 Năng lượng thô
Năng lượng thô của bột cá được trình bày trong Bảng 4.2
Độ lệch chuẩn có được từ các phương pháp ước tính GE trong Bảng 4.2 có
sự tương đương nhau, thấp nhất là 1,201 (xác định theo INRA), cao nhất là 1,351 (xác định theo ARC) Giá trị năng lượng thô xác định bằng bomb calorimeter biến động từ 13,53- 21,66 MJ/kg DM Giá trị năng lượng thô xác định bằng các phương pháp ước tính của INRA, NRC và ARC biến động từ 12,37 – 22,22 MJ/kg DM Nhìn nhận ban đầu thấy rằng các kết quả thu được không có sự chênh lệch nhiều
Kết quả năng lượng thô thu được từ bomb calorimeter là 18,85 MJ/kg DM, theo công thức tính của INRA (2004) là 18,75 MJ/kg DM, của NRC (1998) là 19,04 MJ/kg DM, của ARC (1980) là 17,06 MJ/kg DM Về mặt thống kê, sự khác
biệt giữa kết quả năng lượng thô của INRA với kết quả của bomb calorimeter là không có ý nghĩa với P > 0,05 Giữa các kết quả năng lượng thô theo phương pháp ước tính của NRC và ARC so với giá trị năng lượng thô đo được từ bomb calorimeter có sự khác biệt hoàn toàn về phương diện thống kê với P < 0,001 Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể là do thời điểm diễn ra các nghiên cứu, đánh giá các mẫu, và tiếp nữa là do quá trình thu thập, chế biến dẫn đến thành phần hóa học trong các mẫu khác nhau nhiều, khi đó giá trị năng lượng thô cũng sẽ biến động theo