1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MAY DA GIÁN TIẾP TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP PHẪU THUẬT MẤT VÙNG DA LỚN TRÊN CHÓ

91 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 6,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Da và những thụ thể cảm giác nằm trên lớp lông phủ chống lại những chất hóa học, sự bức xạ và khi kết hợp với lớp mỡ dưới da, tạo thành một lớp đệm chống lại những tổn thương cơ học, tạo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI –THÚ Y

****************

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MAY DA GIÁN TIẾP TRONG

CÁC TRƯỜNG HỢP PHẪU THUẬT MẤT

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA CHĂN NUÔI –THÚ Y

****************

HỒNG CẨM PHƯƠNG

ỨNG DỤNG KỸ THUẬT MAY DA GIÁN TIẾP TRONG

CÁC TRƯỜNG HỢP PHẪU THUẬT MẤT

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ thú y

Giáo viên hướng dẫn

TS LÊ QUANG THÔNG

Tháng 08/2011

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ tên sinh viên thực tập: Hồng Cẩm Phương

Tên luận văn: “Ứng dụng kỹ thuật may da gián tiếp trong các trường hợp phẫu thuật mất vùng da lớn trên chó”

Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của Giáo viên hướng dẫn và các ý kiến

nhận xét, đóng góp của Hội Đồng Chấm Thi Tốt Nghiệp khoa ngày…

Giáo viên hướng dẫn

TS Lê Quang Thông

Trang 4

L ỜI CẢM TẠ

Xin tỏ lòng nhớ ơn sâu sắc đến cha mẹ, người đã sinh thành dưỡng dục và

suốt đời hy sinh cho con

Chân thành biết ơn sâu sắc đến TS Lê Quang Thông đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong

suốt quá trình thực tập tốt nghiệp và hoàn thành luận văn này

Chân thành cảm tạ: Ban Giám Hiệu, Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, cùng tất cả quý thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Tp

Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực tập tốt nghiệp

Chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các anh chị của Chi cục Thú y Tp HCM

đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp

Cảm ơn các bạn lớp Thú y khóa 32 đã nhiệt tình chia sẻ những vui buồn trong học tập cũng như hết lòng hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Sinh viên thực hiện

Hồng Cẩm Phương

Trang 5

TÓM T ẮT KHÓA LUẬN

Đề tài nghiên cứu “Ứng dụng kỹ thuật may da gián tiếp trong các trường hợp

phẫu thuật mất vùng da lớn trên chó” được thực hiện tại phòng thực hành môn cơ thể - ngoại khoa từ ngày 20/02/2011 đến ngày 30/05/2011

Với mục đích ứng dụng các kỹ thuật khâu da gián tiếp điều trị các trường

hợp mất da vùng rộng, khảo sát quá trình lành sẹo vết thương trên chó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 15 con chó khỏe mạnh, không mắc các bệnh về da Kết

quả thu được như sau:

Đối với vết thương mất da hình chữ nhật: phương pháp khâu da trực tiếp có thời gian lành vết thương là 13 ngày, không có biến chứng sau phẫu thuật Phương pháp khâu da gián tiếp có thời gian lành vết thương nhanh hơn là 11,75 ngày, biến

chứng sau phẫu thuật là vết thương bị nhiễm trùng và tích dịch

Đối với vết thương mất da hình tròn: phương pháp khâu da trực tiếp có thời gian lành vết thương là 12 ngày, không có biến chứng sau phẫu thuật Phương pháp khâu da gián tiếp có thời gian lành vết thương ngắn hơn là 10,75 ngày, biến chứng sau phẫu thuật là tích dịch ở vết thương

Đối với vết thương mất da hình bầu dục: phương pháp khâu da trực tiếp có

thời gian lành vết thương là 8 ngày Phương pháp khâu da gián tiếp có thời gian lành vết thương chậm hơn là 9,75 ngày Ở cả hai nhóm đều gặp biến chứng sau

phẫu thuật là bị đứt chỉ

Trang 6

M ỤC LỤC

TRANG

Trang tựa……… i

Phiếu xác nhận của giáo viên hướng dẫn……… ii

Lời cảm tạ……… iii

Tóm tắt khóa luận……… iv

Mục lục……… v

Danh sách các bảng……… xi

Danh sách các hình……… xii

Danh sách các biểu đồ, đồ thị……… xv

Chương 1 LỜI MỞ ĐẦU……… 1

1.1 Đặt vấn đề……… 1

1.2 Mục đích……… 2

1.3 Yêu cầu……… 2

Chương 2 TỔNG QUAN……… 3

2.1 Một số đặc điểm sinh lý trên chó……… 3

2.1.1 Thân nhiệt……… 3

2.1.2 Nhịp thở……… 3

2.1.3 Nhịp tim……… 3

Trang 7

2.1.4 Tuổi thành thục sinh dục và thời gian mang thai……… 3

2.1.5 Chu kì lên giống……… 3

2.1.6 Số con trong môt lứa và tuổi cai sữa……… 4

2.2 Cấu tạo và đặc điểm của da chó……… 4

2.2.1 Chức năng của da……… 4

2.2.2 Cấu trúc và đặc điểm của da……… 4

2.2.2.1 Biểu bì……… 4

2.2.2.2 Bì……… 6

2.2.3 Các phần phụ thuộc da……… 7

2.2.3.1 Lông……… 7

2.2.3.2 Cấu trúc các tuyến dưới da……… 10

2.3 Cấu trúc và đặc điểm lớp dưới da………11

2.4 Hệ thống mạch máu nuôi da……… 12

2.5 Các đường căng của da trên chó……… 13

2.5.1 Các đường căng của da trên chó……… 13

2.5.2 Biện pháp làm giảm sức căng da……… 14

2.6 Kim và chỉ may dùng trong may da……… 15

2.6.1 Kim may phẫu thuật……… 15

2.6.1.1 Tính chất của kim may tốt……… 15

2.6.1.2 Phân loại kim may……… 15

Trang 8

2.6.2 Chỉ may phẫu thuật……… 15

2.7 Các đường may da thông dụng……… 16

2.7.1 Những lưu ý khi thực hiện đường may……… 16

2.7.2 Những lưu ý khi thực hiện cột nút ở da……… 16

2.7.3 Một số đường may thông dụng……… 16

2.8 Phương pháp vô cảm……… 17

2.9 Các kỹ thuật may da trong những trường hợp mất da……… 17

2.9.1 Trường hợp khối u……… 17

2.9.2 Trường hợp khuyết tật có hình dạng bất thường……… 18

2.9.2.1 Khuyết tât hình tròn……… 18

2.9.2.2 Khuyết tật hình tam giác……… 21

2.9.2.3 Khuyết tật hình vuông và hình chữ nhật……… 23

2.9.2.4 Khuyết tật hình bầu dục……… 24

2.9.2.5 Khuyết tật hình lưỡi liềm……… 26

2.10 Những lưu ý khi thực hiện phẫu thuật may da……… 27

2.11 Sự lành sẹo của vết thương……… 27

2.11.1 Giai đoạn viêm nhiễm (giai đoạn cầm máu)……… 27

2.11.1.1 Quá trình đáp ứng mạch máu……… 27

2.11.1.2 Quá trình đáp ứng tế bào……… 28

2.11.2 Giai đoạn biểu mô hóa……… 28

Trang 9

2.11.3 Giai đoạn tăng sinh sợi……… 29

2.11.4 Giai đoạn trưởng thành……… 29

2.12 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lành sẹo của vết thương……… 29

2.13 Chăm sóc hậu phẫu……… 30

2.14 Lược duyệt các nghiên cứu có liên quan……… 30

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN……… 32

3.1 Thời gian và địa điểm……… 32

3.2 Đối tượng khảo sát……… 32

3.3 Nội dung khảo sát……… 32

3.4 Vật liệu thí nghiệm……… 32

3.4.1 Thuốc thú y……… 32

3.4.2 Thuốc sát trùng……… 33

3.4.3 Dụng cụ……… 33

3.5 Bố trí thí nghiệm……… 33

3.6 Chỉ tiêu khảo sát……… 33

3.7 Phương pháp thực hiện……… 34

3.7.1 Tiến hành phẫu thuật……… 35

3.7.2 Chăm sóc hậu phẫu……… 42

3.8 Các công thức tính……… 42

3.9 Phương pháp xử lý số liệu……… 43

Trang 10

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN……… 44

4.1 Kết quả dựa vào thời gian lành vết thương……… 44 4.1.1 So sánh thời gian lành vết thương giữa 3 lô thí nghiệm……… 44 4.1.2 So sánh thời gian lành vết thương giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng…

……… 45 4.2 Kết quả dựa vào bảng đánh giá tình trạng đau của thú sau phẫu thuật theo … phương pháp Glasgow……… 46 4.2.1 So sánh tình trạng đau của các thú giữa 3 lô thí nghiệm……… 46 4.2.2 So sánh tình trạng đau của các thú giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng

……… 47 4.3 Kết quả dựa vào việc kiểm tra sức khỏe của thú qua một số chỉ tiêu sinh lý

……… 48 4.3.1 So sánh thân nhiệt, nhịp tim (nhịp/phút), nhịp hô hấp (nhịp/phút) của các

4.3.2 So sánh thân nhiệt, nhịp tim (nhịp/phút), nhịp hô hấp (nhịp/phút) giữa thú

4.4 Kết quả dựa vào tỷ lệ biến chứng sau khi mổ……… 52 4.4.1 Tỷ lệ biến chứng sau khi mổ của các thú giữa 3 lô thí nghiệm……… 52 4.4.2 Tỷ lệ biến chứng sau khi mổ giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng……… 53

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… 54

Trang 11

5.1 Kết luận……… 54 5.2 Đề nghị……… 55

PHỤ LỤC

Phụ lục 3……… 64

Trang 12

DANH SÁCH CÁC B ẢNG

Bảng 4.1 Thời gian lành vết thương giữa 3 lô thí nghiệm……… 44

B ảng 4.2 Tình trạng đau của các thú giữa 3 lô thí nghiệm……… 46 Bảng 4.3 Tình trạng đau của các thú giữa thú thí nghiệm và thú đối chứng……

Trang 13

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Diễn biến sự tạo da dày với lông và tuyến bã……… 6

Hình 2.2 Diễn biến tạo lông có tuyến bã đi kèm……… 8

Hình 2.3 Cấu trúc một nang lông ghép……… 9

Hình 2.4 Hệ thống mạch máu dưới da ở chó và mèo……… 12

Hình 2.5 Các đường căng da trên chó……… 13

Hình 2.6 Hai bờ vết thương được ép thử trước khi may……… 14

Hình 2.7 Môt số đường may thông dụng……… 17

Hình 2.8 Khuyết tật hình tròn được may lại theo đường thẳng……… 18

Hình 2.9 Khuyết tật hình tròn được chỉnh sửa tạo hình thoi……… 19

Hình 2.10 Khuyết tật hình tròn được may lại theo phương pháp khâu 3 điểm…

……… 19

Hình 2.11 Khuyết tật hình tròn được may lại theo phương pháp khâu hình chữ S ……… 20

Hình 2.12 Kỹ thuật may da tạo góc 450 ………20

Hình 2.13 Kỹ thuật may da tạo góc 300 ………21

Hình 2.14 Khuyết tật hình tam giác được may lại theo phương pháp đơn giản… ……… 21

Hình 2.15 Khuyết tật hình tam giác được khâu lại bằng cách mổ thêm hai đường ……… 22

Trang 14

Hình 2.16 Tạo 1 hoặc 2 vạt da xoay ở góc khuyết tật……… 22

Hình 2.17 Khuyết tật hình chữ nhật được may lại theo phương pháp trực tiếp…

……… 23

Hình 2.18 Khuyết tật hình chữ nhật được đóng lại theo hình chữ H……… 23

Hình 2.19 Khuyết tật hình chữ nhật được đóng lại theo hình chữ U……… 24

Hình 2.20 Khuyết tật hình chữ nhật được che kín bởi 1 vạt da xoay………… 24

Hình 2.21 Khuyết tật hình bầu dục căng theo chiều thẳng đứng……… 25

Hình 2.22 Khuyết tật hình bầu dục căng theo chiều thẳng đứng được may lại tạo

3 đường thẳng……… 25

Hình 2.23 Khuyết tật hình bầu dục căng theo chiều thẳng nằm được may lại theo

Hình 2.24 Khuyết tật hình lưỡi liềm được đóng lại theo (1) bắt đầu ở điểm chính

giữa sau đó chia đều về hai phía (2, 3)……… 27

Hình 3.1 Kỹ thuật khâu vết thương hình chữ nhật theo phương pháp gián tiếp

Trang 15

Hình 3.4 Kỹ thuật khâu vết thương mất da hình tròn theo phương pháp trực tiếp

Trang 17

Chương1

L ỜI MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Ngay từ thời tiền sử, khi còn phải sống bằng phương thức săn bắn, hái lượm,

sống trong hang động, con người đã biết chế biến thức ăn đầu tiên bằng phương pháp nướng thịt thú rừng, sản phẩm thừa là xương động vật, đó là món khoái khẩu của chó rừng - một loài động vật có khứu giác rất phát triển và đó cũng chính là nguyên nhân khiến loài người và loài chó “tiếp cận” với nhau, sống cùng nhau

Chó nhờ vào bản năng trời sinh rất thính tai, mũi tốt, cũng như mắt nhìn vào ban đêm thấy rõ hơn con người và rất tỉnh ngủ, có trí thông minh, dễ huấn luyện nên con người đã sớm biết lợi dụng chó để bảo vệ và giúp đỡ cho mình Chó lại là

một giống vật có tình nghĩa nhất nếu so sánh với các con vật khác đã sống gần gũi với con người như trâu, bò, ngựa, heo…

“Man’s best friend - bạn tốt nhất của con người” câu nói này quả không sai trong thời đại ngày nay Ngoài việc nuôi chó để giữ nhà, chó còn được nuôi với nhiều mục đích khác nhau như: nuôi chó làm cảnh, chó làm xiếc, chó đua, chó phục

vụ công tác an ninh, quốc phòng… chó đã trở thành một thành viên trong gia đình Chính vì vậy công tác quản lý, chăm sóc loài chó càng được mọi người quan tâm hơn

Ông bà ta có câu: “chó liền da, gà liền xương” nhưng không phải trong trường hợp nào cũng đúng Một chú chó khi đã mất một vùng da lớn, đòi hỏi phải

tốn nhiều thời gian, chế độ chăm sóc chu đáo mới có thể hồi phục.Nhưng kết quả còn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đề kháng bệnh tật của chúng Mất một vùng

da lớn đồng nghĩa với nhiễm trùng và kéo theo nhiều bệnh tật xảy ra Trên thế giới

đã có nhiều phương pháp điều trị khác nhau như: khâu da, ghép da…Tại Việt Nam

gần như các bác sĩ phẫu thuật thú y chủ yếu áp dụng những kỹ thuật may da trực tiếp kiểu cũ cho những vết thương mất da lớn, điều này gây nên những biến chứng

Trang 18

sau phẫu thuật do sức căng của da như bị đứt chỉ, rách mô, nhiễm trùng, hoại tử…Vì vậy việc ứng dụng các kỹ thuật may da tiên tiến là điều cần thiết giúp điều

1.2 M ục đích

Ứng dụng các kỹ thuật khâu da gián tiếp điều trị các trường hợp mất da vùng

rộng, và khảo sát quá trình lành sẹo vết thương trên chó

Trang 19

Chương 2

T ỔNG QUAN

2.1 M ột số đặc điểm sinh lý trên chó (Trần Thị Dân và Dương Nguyên Khang, 2007)

2.1.1 Thân nhi ệt (đo ở trực tràng)

Thân nhiệt bình thường của chó trung bình là 38,40

C, biến động từ 38,90C

37,9-Chó con nhiệt độ không ổn định, có thể thấp hơn mức bình thường và sẽ ổn định trong vòng 1 tuần sau khi sinh

Sự trưởng thành sinh dục thường xuất hiện sớm ở những giống chó nhỏ con

và muộn ở giống chó lớn con Thời gian mang thai khoảng 58 - 64 ngày, trung bình

là 61 ngày

2.1.5 Chu kì lên giống

Thời gian lên giống biến động từ 3 - 21 ngày, thời điểm phối giống tốt nhất

từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 13 kể từ khi có dấu hiệu lên giống đầu tiên Khoảng cách giữa hai chu kì động dục 6 - 8 tháng, biến động từ 5 - 11 tháng

Trang 20

Mùa giao phối thường là tháng 1, 12

2.1.6 Số con trong một lứa và tuổi cai sữa

- Tuỳ theo giống chó lớn hay nhỏ, thông thường từ 1 - 10 con

- Chó mẹ ở độ tuổi 2 - 3,5 năm tuổi có số con đẻ ra và nuôi sống con tốt nhất

- Tuổi cai sữa là từ 8 - 9 tuần tuổi

2.2 C ấu tạo và đặc điểm của da chó (Fossum, 2002)

2.2.1 Chức năng của da

Mọi động vật đa bào đều được bao phủ bằng một màng bọc gọi là da, gồm

một hay nhiều lớp tế bào Da là một trong những bộ phận lớn nhất của cơ thể và chứa nhiều tuyến, thần kinh, mạch máu và các cơ khác nhau Ở chó con, da chiếm

24 % trọng lượng cơ thể, ở chó trưởng thành là 12 % Chức năng cơ bản của da là hàng phòng thủ đầu tiên giúp cơ thể tránh những ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài như các vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh Da là nguồn cung cấp vitamin D, các chất điện giải, nước, chất béo, cacbohydrate và protein Da còn tham gia vào quá trình trao đổi chất: hô hấp và bài xuất nhờ mạng lưới mao mạch, các tuyến nằm ở da Nhờ chứa những đầu thần kinh cảm giác da giúp cơ thể nhận cảm được áp lực, nhiệt

độ, cảm giác đau Da và những thụ thể cảm giác nằm trên lớp lông phủ chống lại

những chất hóa học, sự bức xạ và khi kết hợp với lớp mỡ dưới da, tạo thành một lớp đệm chống lại những tổn thương cơ học, tạo sự cách ly chống nóng và chống lạnh

2.2.2 Cấu trúc và đặc điểm của da

Da gồm hai lớp mô cấu trúc có nguồn gốc khác nhau là ngoại bì và trung bì

Lớp mô phía ngoài gọi là biểu bì, là lớp biểu mô đặc biệt có xuất nguồn từ ngoại bì

bề mặt Lớp mô phía trong gọi là bì, là loại mô liên kết đặc không đồng đều có nguồn gốc từ trung bì, nằm ngay bên dưới lớp biểu bì Độ dày của da thay đổi từ 0,5 đến 5,0 mm ở chó

Trang 21

2.2.2.1 Biểu bì (epidermis)

Biểu bì khởi đầu chỉ có một hàng tế bào xuất nguồn từ ngoại bì Sau đó tạo thêm một lớp tế bào đa diện ở phía trên gọi là chu bì (periderm), lúc này lớp bên dưới được gọi là lớp đáy (basal layer) Chu bì tiếp tục tăng sinh, tăng trưởng, sừng hóa và bong ra, rồi tiếp tục được thay thế bởi lớp tế bào đáy ở bên dưới Lớp đáy

của biểu bì tiếp sau đó được gọi là lớp mầm (stratum germinativum) vì tạo ra các tế bào mới, thay thế cho các lớp tế bào ở phía trên Các tế bào từ lớp mầm sẽ tạo nên lớp trung gian (intermediate layer) Sự thay thế ở lớp tế bào chu bì diễn ra tiếp tục cho đến thời điểm không tồn tại nữa và được thay thế bởi lớp sừng (stratum corneum) Lớp mầm cũng tăng sinh tế bào theo hướng đi vào phía trong và tạo nên các mào biểu bì (epidermal ridge), các mào biểu bì lại tạo ra các nhú biểu bì Trong

thời kỳ đầu trước khi sinh, các tế bào của mào thần kinh (neural crest) biệt hóa thành các nguyên bào sắc tố (melanoblast) Thân của nguyên bào sắc tố thường khu trú bên trong lớp đáy của biểu bì, còn các nhánh bào tương của chúng tiến vào xen

giữa các tế bào biểu bì ở bên trên Ở một số vùng trên da, lớp hạt (stratum granulosum) và lớp trong sáng (stratum lucidum) rõ ràng nhưng chỉ ở những nơi mà

sự sừng hóa chậm tiến triển, như chung quanh lỗ nang lông Hai lớp này phát triển

tốt ở bề mặt chân đệm nhưng lại thiếu ở những vùng khác đặc biệt là ở da vùng mũi

Lớp biểu bì dày ở những vùng lông phủ mỏng, ngược lại lớp biểu bì mỏng ở

những vùng dày đặc lông trưởng thành Và lớp biểu bì dày nhất trên vùng mũi, lớp đệm dưới chân

Chức năng của lớp biểu bì: lót mặt ngoài và bảo vệ cơ thể nhờ sự sừng hóa

Chứa hắc tố bào là những tế bào tạo ra sắc tố có tác dụng bảo vệ cơ thể đối với những tia bức xạ Biểu bì không chứa mạch máu nên vi khuẩn không xâm nhập vào

cơ thể nếu vết thương chưa sâu đến lớp bì

Trang 22

Hình 2.1 Diễn biến sự tạo da dày với lông và tuyến bã

(Nguồn Nguyễn Trí Dũng, 2005)

2.2.2.2 Bì (còn gọi là mô mạch liên kết), (dermis)

Bì có xuất nguồn từ trung mô ở ngay bên dưới ngoại bì bề mặt Phần lớn trung mô biệt hóa thành mô liên kết của lớp bì có nguồn gốc từ trung bì lá thành Tiếp đến các tế bào trung mô bắt đầu tạo ra sợi collagen và sợi đàn hồi Khi có các mào biểu bì xuất hiện, lớp bì nhô lên về phía biểu bì và tạo nên các nhú bì Lớp bì

gồm mạng lưới collagen và sợi đàn hồi, được bao quanh bởi lớp màng nhày polysaccharide Lớp này cung cấp hyaluronic acid, chondroitin sulfuric acid- hai thành phần quan trọng của lớp bì Collagen chiếm 90 % thành phần sợi bì Nguyên sợi bào, bạch cầu, tế bào huyết tố, đại thực bào có mặt xuyên suốt ở lớp bì, nhiều

nhất ở lớp bề mặt của lớp bì Thỉnh thoảng cũng gặp tế bào chứa sắc tố, tế bào mỡ

Trang 23

Lớp bì phong phú mạng lưới mao mạch, mạch bạch huyết, thần kinh, cơ dựng lông và nang lông, các tuyến bắt nguồn từ ngoại bì

Lớp bì ở chó và mèo phân chia thành hai lớp không rõ ràng, gồm lớp nhú nông và lớp lưới sâu Lớp nhú gồm các bó sợi collagen mịn đan dệt vào nhau, sợi đàn hồi mịn và các sợi lưới Sợi lưới ngưng đọng với chất dẻo hình thành nên màng

cơ bản Lớp lưới cũng gồm các bó sợi collagen đan vào nhau và các sợi đàn hồi Nhưng các sợi collagen ở trạng thái thô hơn, ít tế bào hơn và số lượng sợi đàn hồi ở lớp lưới nhiều hơn lớp nhú

Độ dày của da liên hệ trực tiếp với độ dày của lớp bì, nó tùy thuộc vào vị trí trên cơ thể, giới tính, giống, loài Da dày khi có lớp bì dày hơn 1 mm, tương tự da

mỏng khi lớp bì mỏng hơn 1 mm Da vùng bụng, vùng giữa các chi, loa tai trong là

những vùng da mỏng nhất trên chó

2.2.3 Các phần phụ thuộc da

Phần phụ thuộc hay còn gọi là màng phụ của da bao gồm nang lông, tuyến

mồ hôi, tuyến bã, tất cả đều bắt nguồn từ biểu bì Một số tuyến khác cũng bắt nguồn

từ biểu bì như tuyến vú, tuyến đuôi, túi hậu môn…

2.2.3.1 Lông (hair)

Phần cơ bản tạo nên lông là nang lông Nang lông có xuất nguồn từ lớp mầm của biểu bì, di chuyển tiến vào lớp bì ở bên dưới Phần sâu nhất của nang lông phôi thai được gọi là chồi lông có hình quả chùy, sẽ tạo nên hành lông (hair bulb) Các tế bào biểu bì của hành lông tạo ra mô nền mầm (germinal matrix) sẽ phát triển để trở thành lông Hành lông sau đó nằm lọt vào nhú lông trung mô (mesenchymal hair papilla) Các tế bào biểu bì bao quanh nang lông sẽ tạo nên bao chân lông biểu bì (epithelial root sheath), kéo dài tiếp tục với lớp đáy, còn các tế bào trung mô bao quanh nang lông sẽ tạo nên bao chân lông bì (dermal root sheath) Khi các tế bào

của mô nền mầm tăng sinh, chúng được đẩy vào bên trong bao chân lông biểu bì, rồi được đẩy dần lên về phía bề mặt da và bị sừng hóa, tạo nên phần thân lông (hair shaft)

Trang 24

Nang lông ở phần thấp của lớp bì cũng mở rộng vào lớp cơ dưới da Những sợi lông đầu tiên xuất hiện có đặc điểm khá mảnh và nhạt màu, được gọi là lông tơ Các lông tơ này dần dần được thay thế bởi các lông cứng (coarser hair)

Cơ dựng lông (arrector pili muscle) bao gồm một bó các tế bào sợi cơ trơn,

có xuất nguồn từ trung mô ở xung quanh, sẽ gắn vào bao chân lông bì và các nhú bì

Những cơ này bám chặt vào các sợi đàn hồi và được kích thích bởi hệ thống thần kinh tự động

Hình 2.2 Diễn biến tạo lông có tuyến bã đi kèm

(Nguồn Nguyễn Trí Dũng, 2005)

Trang 25

Lúc mới sinh, nang lông ở chó phát triển từ nang lông đơn giản chỉ chứa một

sợi lông Khi được 28 tuần tuổi, các nang lông đơn giản sẽ kết hợp lại phát triển thành nang lông tổng hợp chứa từ 7 - 10 sợi lông nổi lên trên bề mặt da Nang tổng hợp chứa 1 sợi lông chính hoặc lông phòng vệ, được bao quanh bởi các lông tơ

mềm, mịn Thân lông hướng ra ngoài lỗ nang lông nhô lên bề mặt biểu bì, chúng chia nhánh vào các nang lông tương ứng nằm bên dưới tuyến bã Nang lông phòng

vệ lớn hơn và xuyên vào cơ dưới da Thông thường hình dạng của nang lông tổng

hợp sẽ tạo thành ba bó với một bó trung tâm lớn hơn hai bó còn lại

Hình 2.3 Cấu trúc một nang lông ghép

(Nguồn Fossum, 2002)

Giữa các giống, số lượng lông thay đổi theo mùa Số lượng lông trong 1 nang lông sẽ khác nhau và khác nhau ở các vùng của cơ thể Chó thường rụng nhiều lông vào mùa xuân hơn mùa hè, trong khi vào mùa đông số lượng lông ở mỗi bó sẽ tăng lên Hai yếu tố ảnh hưởng đến quá trình rụng lông trên thú là di truyền và môi trường

Trang 26

2.2.3.2 Cấu trúc các tuyến dưới da

Các tuyến dưới da bao gồm tuyến bã, tuyến mồ hôi, tuyến đuôi, túi hậu môn

và tuyến vú Cũng như nang lông, tất cả những tuyến này đều bắt nguồn từ ngoại bì phát triển vào lớp bì trong suốt giai đoạn phôi thai

Tuyến bã

Tuyến bã thường có chồi bắt nguồn từ thành bên của bao chân lông biểu bì của nang lông Các chồi tuyến bã tăng trưởng hướng vào mô liên kết ở xung quanh, phân nhánh và tạo nên các nang tuyến bã và ống tuyến bã Các tế bào ở vùng trung tâm nang tuyến bã tiêu đi, tạo nên chất bã nhờn Chất bã được tống xuất vào nang lông rồi qua đó đi ra khỏi bề mặt da Chất bã có tác dụng làm mềm lông da, tránh bị khô hoặc bị ẩm quá mức Người ta còn công nhận rằng, pheromone cũng được tiết

ra từ tuyến này ở một số loài Tuyến bã phát triển mạnh ở vùng cổ, vùng lưng và đặc biệt là vùng đuôi Tuyến bã gồm hai dạng là tuyến bã nông và tuyến bã sâu Tuyến bã nông có những ống dẫn tốt trong khi tuyến bã sâu lại có những ống dẫn đặt ở bên trong, vì vậy hoạt động phân tiết không thể thực hiện được Tuyến bã nông chứa chất béo còn tuyến bã sâu thì không Tế bào của tuyến bã sâu chứa tế bào

chất và protein Cơ tuyến bã sâu có thể tìm thấy trên da ở bao quy đầu và háng

Tuyến vú

Tuyến vú là sự kết hợp của các tuyến ngoại tiết hình ống và hình oval, cấu trúc giống với tuyến mồ hôi Trong suốt giai đoạn phôi thai, hình dạng tuyến vú không thay đổi hoặc thay đổi không rõ ràng ở con đực, hình dạng vú thay đổi nhiều

ở giai đoạn tiết sữa ở con cái

Túi h ậu môn

Túi hậu môn chứa cả tuyến mồ hôi (tuyến ngoại tiết) và tuyến bã Túi này

mỏng, phân tầng hình vảy vào lớp lót biểu bì Tuyến bã của túi hậu môn chạy theo đường dẫn ở cổ, còn tuyến mồ hôi tập trung ở vùng thấp của cơ thể Tuyến đuôi tập trung ở phần lưng của đuôi, khoảng từ đốt sống đuôi số 7 đến đốt sống đuôi số 9 Chiều dài của tuyến này thay đổi từ 2,5 cm đến 5,0 cm Hoạt động phân tiết ở tuyến này có thể tạo ra dạng nang hoặc khối u tùy thuộc từng loài

Trang 27

Tuyến mồ hôi

Tuyến mồ hôi gồm hai dạng là tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết Tuyến ngoại

tiết có cấu trúc hình ống hoặc hình túi, lớn, đơn giản, chúng có thể uốn quanh co

hoặc xoắn lại với phần phân tiết cuộn vòng và ống tiết thẳng Ống tiết của tuyến ngoại tiết đổ vào bao chân lông bên ngoài giữa bề mặt da và ống tiết chất bã nhỏ Tuyến nội tiết có hình ống, cuộn lại và cũng có cấu trúc đơn giản Các tuyến này đổ trực tiếp vào bề mặt của biểu bì Tuyến nội tiết được tìm thấy ở bề mặt chân đệm Tuyến mồ hôi phát triển tốt ở giống chó có lông mịn và dài

Tuyến mồ hôi thường được chia thành ba đoạn:

- Tiểu cầu mồ hôi là đoạn cong nằm trong hạ bì, là phần chế tiết ra mồ hôi, đường kính lớn hơn ống bài xuất

- Ống bài xuất: đoạn này chạy xuyên qua bì đến lớp mầm của biểu bì

- Đường mồ hôi: đoạn ống này xoắn ốc trong biểu bì lên đến bề mặt da

Chức năng của tuyến mồ hôi là bảo vệ da bằng cách tiết mồ hôi khi nhiệt độ môi trường tăng cao quá mức Hoạt động phân tiết của tuyến có thể tăng trong suốt giai đoạn viêm đặc biệt khi viêm ở những vùng có nhiều tuyến mồ hôi Vì vậy phải thường xuyên thay băng và vệ sinh sạch sẽ vết thương để tránh nhiễm trùng

Ngoài một số tuyến kể trên, còn xuất hiện thêm nhiều tuyến có cấu trúc và chức năng đặc biệt như: tuyến Moll’s ở mi mắt, tuyến ráy tai ở ống tai ngoài, tuyến bao quy đầu, tuyến âm hộ

2.3 Cấu trúc và đặc điểm lớp dưới da

Lớp dưới da hay còn gọi là hạ bì Đây là mô liên kết mỡ với mạng lưới collagen lỏng lẻo và các sợi đàn hồi Độ dày của lớp này khác nhau ở những vùng khác nhau của cơ thể Lớp này phát triển ít ở mi mắt, tai, bìu dái, và ở những vùng

mà da bám gần vào cấu trúc bên dưới

Những sợi đàn hồi ở lớp này ít bám vào xương, cơ, cân Một kết quả nghiên cứu gần đây cho biết lớp dưới da được cấu tạo bởi hai lớp không rõ ràng, gồm lớp

Trang 28

mô mỡ dưới da (adiposum subcutis) và lớp mô xơ dưới da (fibrosum subcutis), lớp này bao gồm cả lớp cơ dưới da

Mặc dù, lớp dưới da không phải thuộc cấu trúc của da, nhưng hệ thống mạch máu nuôi da phải đi qua lớp này để đến các lớp da bên trên Và cần lưu ý rằng, lớp

cơ dưới da giữ vai trò quan trọng trong các thao tác ở da trong quá trình phẫu thuật

Sự sắp xếp này thường gặp trên da nhưng cũng có thể khác nhau ở tai ngoài,

bề mặt chân đệm, núm vú, niêm mạc mũi, môi, mi mắt, bao quy đầu, âm hộ, hậu môn

Những hệ thống mạch máu ở 3 lớp da này nối liền nhau và được cung cấp

bởi hệ thống động mạch da chạy dưới da Những vùng mất da trên thú nhỏ, hệ

thống động mạch trực tiếp ở da co dãn một cách dễ dàng và cung cấp máu cho da khi da dãn hay di chuyển

Trang 29

Hình 2.4 Hệ thống mạch máu dưới da ở chó và mèo

(Nguồn Fossum, 2002) Hughes và Dransfield đã phân chia hệ thống động mạch ở chó thành hai nhóm lớn gồm: hệ thống mạch máu da phức tạp và hệ thống mạch máu da đơn giản

Hệ thống mạch máu da phức tạp phát triển và xuyên qua những cơ có cấu trúc lớn, cung cấp máu cho da Còn hệ thống mạch máu đơn giản chỉ phân một vài nhánh đến giữa hai lớp cơ trước khi cung cấp máu cho da Hệ thống mao mạch trên da chó phân nhánh, chạy song song với bề mặt da và là những động mạch trực tiếp nuôi da (Fossum, 2002)

2.5 Các đường căng của da trên chó

Vị trí vết thương, tính đàn hồi của những cơ chung quanh, hệ thống mạch máu dưới da và đặc tính của vết thương là những điều cần được xem xét trước khi

thực hiện phẫu thuật tái tạo cấu trúc Độ đàn hồi và độ căng của da được kiểm tra bằng cách nắm kéo và nâng một vùng da lên, sau đó buông ra, da nhanh chóng trở

lại hình dạng ban đầu

Một số phương pháp làm giảm độ căng của da như: tách mô liên kết bên dưới, chọn đường may giảm áp lực, sử dụng một số dụng cụ làm giảm độ căng da

bằng cách kéo dãn da hoặc mở rộng cơ

2.5.1 Các đường căng của da trên chó

Đường căng da được tạo nên bởi sức kéo của những sợi cơ bên trong da Một

số đường căng da thông thường đã được mô tả (hình 2.5), tuy nhiên sự khác nhau còn tùy thuộc vào giống, hình dáng, giới tính và tuổi của con vật

Trang 30

Hình 2.5 Các đường căng da trên chó

(Nguồn Fossum, 2002) Đường rạch thêm để giảm lực căng da nên song song hoặc chạy dọc theo đường căng da sẽ làm cho vết thương mau lành và tạo sẹo thẩm mỹ Vết thương nên được đóng lại theo chiều của đường căng da để tránh hoặc giảm mức căng da tối thiểu (hình 2.6)

Hình 2.6 Hai bờ vết thương được ép thử bằng tay trước khi may

(Nguồn Fossum, 2002)

2.5.2 Bi ện pháp làm giảm sức căng da

Bóc tách mô liên kết dưới da

Để giảm nhẹ sức căng, da phải được bóc tách bằng kéo mổ để tách rời da với

mô dưới da, giúp tăng tính đàn hồi của da, để có thể căng da qua vết thương Da nên được tách sâu đến lớp cơ bên dưới để bảo vệ mạng lưới dưới da, hệ thống mạch

Trang 31

máu chạy song song dưới bề mặt da Ở những vùng không có lớp cơ dưới da, da nên được tách đến lớp cân sâu đến lớp bì để bảo vệ động mạch da

- Tránh gây tổn thương đến đám rối dưới da bằng cách sử dụng kéo Metzenbaum

- Ở phần thân, việc bóc tách da được thực hiện giữa phần mô dưới da và lớp cân bên dưới

- Ở mặt, để tránh việc xâm hại dây thần kinh mặt (dây thần kinh số V), việc bóc tách da được thực hiện dưới lớp bì

- Da ở mỗi cạnh của góc khuyết cần được bóc tách một khoảng cách bằng với chiều rộng của vết thương

2.6 Kim và chỉ may dùng trong may da

2.6.1 Kim may ph ẫu thuật

2.6.1.1 Tính chất của kim may tốt

- Kim phải được chế tạo từ loại thép tốt, phải cứng để không bị cong, dẻo, để không bị gãy

- Kim không bị xoay, lật khi dùng kẹp kim

- Luôn bén nhọn để xuyên qua mô dễ dàng Và mặt ngoài kim phải láng

2.6.1.2 Phân loại kim may

Một cây kim may gồm có 3 thành phần:

- Đuôi kim: có lỗ hoặc không có lỗ Đuôi kim có lỗ sử dụng được nhiều lần nhưng dễ làm rách mô do đoạn chỉ ở đuôi kim gập đôi lại Ngược lại đuôi kim không có lỗ ít gây tổn thương mô hơn

- Thân kim: gồm thân thẳng hoặc thân cong Thân kim thẳng dùng may ở những nơi tương đối rộng, gần bề mặt cơ thể Thân kim cong may ở những nơi hẹp

và sâu (cong 3/8 và 1/2 thường dùng trong thú y)

- Mũi kim: gồm mũi kim tam giác để may những mô dai, chắc (da) hoặc mũi kim tròn để may mô mềm (ruột, cơ, mô dưới da)

Trang 32

2.6.2 Chỉ may phẫu thuật

Một số loại chỉ may thông dụng

• Ch ỉ phẫu thuật dùng trong may da

Chỉ nylon: không gây xót mô, không phản ứng viêm, không thấm nước, khó làm nút

• Ch ỉ phẫu thuật dùng trong may mô liên kết dưới da

Chỉ Polyglyconate (Maxon): có khả năng kềm giữ vết thương trong thời gian dài, duy trì sức bền cao, ít hoặc không bị hấp thu trong thời kì lành vết thương

Chỉ Polydioxanone (PDS): có tính co dãn, ít làm rách mô hơn chỉ đơn sợi, được hấp thu hoàn toàn trong 182 ngày sau khi may vào mô

2.7 Các đường may da thông dụng

2.7.1 Những lưu ý khi thực hiện đường may

Cầm nắm mô nhẹ nhàng,thực hiện những kỹ thuật đã được chấp nhận trong phẫu thuật, phải bảo quản hệ thống cung cấp mạch máu hiệu quả, không đè nát mô

2.7.2 Nh ững lưu ý khi thực hiện cột nút ở da

- Nút cột không được quá chặt, nút cột chặt sẽ ngăn cản sự lưu thông máu và gây hoại tử mô, làm chậm lành vết thương, gây đau và tự chấn thương Tất cả

những yếu tố này có thể dẫn đến vết thương bị hở ra, nhiễm trùng và làm gia tăng

sẹo

- Nút cột nên được đặt ở một bên vết mổ chứ không được đặt bên trên

- Khi may da đầu chỉ được chừa dài vừa đủ khi cắt để dễ dàng cho việc cắt chỉ sau này

Trang 33

2.7.3 Một số đường may thông dụng

Đường may dưới da walking

Đường may dưới da gián đoạn

Hình 2.7 Một số đường may thông dụng

(Nguồn Lê Văn Thọ, 2009)

2.8 Phương pháp vô cảm

Vô cảm là phương pháp làm cho thú bệnh mất cảm giác một cách tạm thời Tùy vào sự chi phối của thuốc đối với hệ thần kinh mà người ta chia ra 3 nhóm:

- Gây tê địa phương: thuốc chỉ tác dụng trên các dây thần kinh ngoại biên

Chỉ làm mất cảm giác của một vùng nào đó của cơ thể, thú bệnh vẫn tỉnh táo

- Gây tê vùng: thuốc sẽ ức chế những sợi thần kinh chi phối cho từng vùng

Trang 34

- Gây mê toàn diện: thuốc sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống thần kinh, bao gồm não bộ, tủy sống và hệ thần kinh ngoại biên Thú sẽ mất cảm giác toàn thân đồng thời mất ý thức tạm thời

2.9 Các kỹ thuật may da trong những trường hợp mất da

2.9.1 Trường hợp khối u

Phẫu thuật cắt bỏ luôn có vai trò chủ chốt trong điều trị các bướu đặc Phẫu thuật có một vài ưu thế so với các phương pháp khác: cắt trọn tại chỗ tại vùng toàn

bộ khối u, phẫu thuật không có tính sinh ung và thường không có tính ức chế miễn

dịch như hóa trị (Nguyễn Chấn Hùng, 2004)

Tuy vậy, phẫu thuật vẫn có nhược điểm: có khả năng đưa đến thương tật

hoặc tử vong, đặc biệt trên chó lớn tuổi, có sức miễn dịch kém

Trên quan điểm mô ung thư có khả năng phát triển không giới hạn và có thể sinh sôi nảy nở từ một vài tế bào còn sót lại thậm chí từ một tế bào thì nguyên tắc

phẫu thuật cắt bỏ là lấy đi toàn bộ mô bướu với một rìa cắt an toàn của mô lành

Việc cắt bỏ khối u bao gồm khối u, sinh thiết chứa bên trong, bờ rộng, dài, sâu của lớp cơ Đối với khối u lành tính, cắt bỏ khối u và 1cm lớp cơ Đối với khối u ác tính như khối u của tế bào mast, tế bào hắc tố, tế bào vảy… bờ rộng của khối u cần phải

mở rộng thêm 2 - 3 cm Sự xâm lấn của khối u được tác động bởi lớp cơ chung quanh, vì vậy lớp cơ này nên được cắt bỏ cùng với khối u, phải cắt bỏ tối thiểu đến

lớp cân nằm bên dưới tính từ bờ của khối u

2.9.2 Trường hợp khuyết tật có hình dạng bất thường

2.9.2.1 Khuyết tật hình tròn

Có 6 phương pháp:

May theo đường thẳng

Đối với khuyết tật có dạng hình tròn nhỏ, khi bờ da có thể áp sát vào nhau và không hình thành dạng tai chó lớn Đường may được thực hiện song song theo hướng căng của da, bắt đầu đường may ở chính giữa khuyết tật, dạng hình tai chó ở cuối hai đường may được cắt bỏ bớt da theo hình ellip và may kín lại (hình 2.8)

Trang 35

Hình 2.8 Khuyết tật hình tròn được may lại theo đường thẳng

(Nguồn Fossum, 2002)

Phương pháp chỉnh sửa tạo hình thoi

Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở chỉnh sửa khuyết tật hình tròn thành hình ellip hoặc hình thoi, bằng cách: thực hiện hai đường mổ hình tam giác ở phía trên và phía dưới của khuyết tật hình tròn, sau đó đóng vết thương theo hướng

thẳng đứng Độ dài của mỗi hình tam giác gấp 1,5 lần đường kính của khuyết tật hình tròn hay hình ellip có tỉ lệ của chiều dài so với chiều rộng là 4:1 (hình 2.9)

Hình 2.9 Khuyết tật hình tròn được chỉnh sửa tạo hình thoi

(Nguồn Fossum, 2002)

Phương pháp khâu 3 điểm

Thực hiện một đường may ở ba điểm cách đều nhau trên hình tròn Đường may này tương tự như một sợi dây, khi chúng ta kết thúc đường may bằng nút cột sẽ tạo thành một điểm gút ở trung tâm vết thương Lúc này từ một vết thương hình tròn lớn được phân ra thành ba vết thương hình ellip Tương tự tiếp tục đóng mỗi

vết thương hình ellip theo đường thẳng đứng (hình 2.10)

Trang 36

Hình 2.10 Khuyết tật hình tròn được may lại theo phương pháp khâu 3 điểm

(Nguồn Fossum, 2002)

Phương pháp khâu hình chữ S

Phương pháp này được thực hiện bằng cách rạch thêm ở hai đầu khuyết tật hình tròn hai đường cong, lúc này từ khuyết tật hình tròn ban đầu đã trở thành khuyết tật có dạng hình chữ S Bóc tách mô liên kết dưới da và bắt đầu đóng vết thương từ vùng trung tâm, sau đó tiến về hai phía (hình 2.11)

Hình 2.11 Khuyết tật hình tròn được may lại theo phương pháp khâu hình chữ S

(Nguồn Fossum, 2002)

• K ỹ thuật may da tạo góc 45 0

Phương pháp này được thực hiện khi việc ghép da ở các phương pháp trên

tạo hình tai chó và vùng da giới hạn có thể sử dụng được cho việc tái tạo Thực hiện đường mổ tạo hai nửa hình tam giác đều nhau ở hai vị trí đối diện nhau trên hình tròn cách đường căng da một góc 450

Các cạnh của mỗi nửa tam giác được thực

hiện sao cho đỉnh của điểm V nằm hướng về phía trục dài của khuyết tật Đường cao cua tam giác có độ dài bằng bán kính vòng tròn Bóc tách mô liên kết dưới da, xoay phần nắp da nửa hình tam giác (hình 2.12), sau đó may 4 đường may tạm thời

Trang 37

ở 4 điểm, lúc này khuyết tật hình tròn ban đầu biến đổi thành 5 khuyết tật hình thoi nhỏ Bờ của các khuyết tật biến đổi được áp sát vào nhau và may kín lại bằng đường may gián đoạn đơn giản

Hình 2.12 Kỹ thuật may da tạo góc 450

(Nguồn Fossum, 2002)

• K ỹ thuật may da tạo góc 30 0

Phương pháp này được thực hiện khi các phương pháp trên tạo ra dạng tai chó lớn và vùng da xung quanh khuyết tật nhiều đủ để tái tạo lại Kỹ thuật này làm

mất thêm 36 % da Hai hình tam giác bằng nhau được rạch thêm ở hai vị trí đối diện nhau của khuyết tật cách đường căng da một góc 300 Đường cao của tam giác có

độ dài bằng bán kính vòng tròn Bóc tách mô liên kết dưới da, xoay phần nắp da hình tam giác (hình 2.13), sau đó may 4 đường may tạm thời ở 4 điểm, lúc này khuyết tật hình tròn ban đầu biến đổi thành 5 khuyết tật hình thoi nhỏ Bờ của các khuyết tật biến đổi được áp sát vào nhau và may kín lại bằng đường may gián đoạn đơn giản

Hình 2.13 Kỹ thuật may da tạo góc 300

(Nguồn Fossum, 2002)

Trang 38

2.9.2.2 Khuyết tật hình tam giác

Có 2 phương pháp:

Phương pháp đơn giản nhất

Bắt đầu mũi khâu ở 3 đỉnh của tam giác sau đó tiến vào vùng trung tâm của khuyết tật Kết quả của các đường khâu là từ khuyết tật có dạng hình tam giác chuyển sang dạng chữ Y (hình 2.14)

Hình 2.14 Khuyết tật hình tam giác được may lại theo phương pháp đơn giản

(Nguồn Fossum, 2002)

Phương pháp gián tiếp

Nếu vết thương có dạng hình tam giác, ở những chỗ da căng theo chiều thẳng đứng, chúng ta cắt thêm hai đường phụ xuất phát từ hai góc của tam giác rồi may lại thành ba đường (hình 2.15)

Hình 2.15 Khuyết tật hình tam giác được khâu lại bằng cách mổ thêm hai đường

(Nguồn Fossum, 2002)

Hoặc chúng ta có thể tạo một vạt da, sau đó xoay vạt da theo hướng một nửa vòng tròn hoặc ba phần tư vòng tròn để vạt da che phủ vùng trung tâm vết thương (hình 2.16)

Trang 39

Hình 2.16 Tạo 1 hoặc 2 vạt da xoay ở góc khuyết tật

(Nguồn Fossum, 2002) Phương pháp này được sử dụng khi chỉ có một lượng da nhỏ ở một mặt của khuyết tật còn sử dụng được hoặc khi chúng ta kéo da từ một bên của khuyết tật kết

quả là tạo ra sự méo mó của các đường may (gần vùng mắt hoặc hậu môn)

Xoay nắp vạt cùng chiều với khuyết tật được sử dụng khi chỉ có một vùng da

nhỏ di chuyển được nhưng vùng da này lại được di chuyển từ hai bên của khuyết

tật

Vạt da tạo thêm cần đủ rộng (tỉ lệ chiều dài so với chiều rộng là 4:1) để tránh

tạo ra lực căng quá mức chung quanh vết thương Lực căng da cũng có thể được làm giảm bớt bằng cách di chuyển một vùng da có dạng hình tam giác nhỏ ở phần cuối của nửa vòng tròn đối diện với khuyết tật Hoặc chúng ta cắt ngược trở vào

phần căn bản của vạt da, lúc này vạt da dễ dàng di dời và xoay chuyển

Trang 40

Hình 2.17 Khuyết tật hình chữ nhật được may lại theo phương pháp trực tiếp

(Nguồn Fossum, 2002)

Phương pháp gián tiếp

Vết thương hình vuông, ở những nơi da căng theo chiều thẳng nằm Sửa lại các mép vết thương cho ngay ngắn rồi cắt thêm 4 đường từ 4 góc của hình vuông Chiều dài của mỗi đường cắt thêm gần bằng với cạnh của hình vuông, sau đó may lại với ba đường may Kết quả cuối cùng là vết thương được đóng lại theo hình chữ

của hình vuông rồi may lại tạo ra hình chữ U (hình 2.19)

Hình 2.19 Khuyết tật hình chữ nhật được đóng lại theo hình chữ U

(Nguồn Fossum, 2002)

Ngày đăng: 13/06/2018, 09:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w