HỒ CHÍ MINH KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y **************** ĐẶNG HUY HOÀNG SO SÁNH HIỆU QUẢ PHÒNG BỆNH DO VI TRÙNG ACTINOBACILLUS PLEUROPNEUMONIAE BẰNG VIỆC KHÁNG SINH PULMOTIL® G200 PREMIX
Trang 1BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
****************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SO SÁNH HIỆU QUẢ PHÒNG BỆNH DO VI TRÙNG
ACTINOBACILLUS PLEUROPNEUMONIAE BẰNG VIỆC
KHÁNG SINH PULMOTIL®G200 PREMIX
Sinh viên thực hiện: ĐẶNG HUY HOÀNG Lớp: DH06TY
Ngành: Thú Y Niên khóa: 2006 - 2011
Tháng 8 năm 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
****************
ĐẶNG HUY HOÀNG
SO SÁNH HIỆU QUẢ PHÒNG BỆNH DO VI TRÙNG
ACTINOBACILLUS PLEUROPNEUMONIAE BẰNG VIỆC
KHÁNG SINH PULMOTIL® G200 PREMIX
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ ngành thú y
Giáo viên hướng dẫn
ThS NGUYỄN THỊ THU NĂM
Tháng 8 năm 2011
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực tập: Đặng Huy Hoàng
Tên luận văn: “So sánh hiệu quả phòng bệnh do vi trùng Actinobacillus pleuropneumoniae bằng việc tiêm phòng vaccine Coglapix® và sử dụng kháng sinh Pulmotil®G200 premix”
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm báo cáo tốt nghiệp Khoa ngày 19/08/2011
Giáo viên hướng dẫn
ThS Nguyễn Thị Thu Năm
Trang 4Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm Khoa cùng toàn thể quý thầy cô Khoa Chăn nuôi – Thú y
Bộ môn Vi sinh truyền nhiễm
Ban giám đốc và toàn thể anh chị em trong trại heo
Đã tạo điều kiện, giúp đỡ, truyền đạt kiến thức cho em trong thời gian học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
* Chân thành biết ơn
Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Năm đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
*Cám ơn
Anh chị đã luôn quan tâm và giúp đỡ em trong suốt quá trình đi học
Tất cả các bạn bè trong và ngoài lớp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài “So sánh hiệu quả phòng bệnh do vi trùng Actinobacillus pleuropneumoniae bằng việc tiêm phòng vaccine Coglapix® và sử dụng kháng sinh Pulmotil®G200 premix” được tiến hành từ 23/12/2010 đến 31/05/2011, tại trại chăn nuôi heo công nghiệp, thuộc huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh Khảo sát thực hiện trên 3 lô: lô thí nghiệm (lô TN) phòng APP bằng chủng vaccine Coglapix® 2 lần (7 và 10 tuần tuổi), lô đối chứng dương (ĐC(+)): phòng APP bằng cách trộn Pulmotil®
G200premix (tilmicosin – Elanco A.H.) trong thức ăn (1 kg/ tấn), lô đối chứng âm (ĐC(-)): sử dụng CTC (400 ppm/ tấn TĂ) + colistin (100 ppm/ tấn TĂ) theo qui trình của trại
Tỷ lệ mẫu dương tính qua 3 lần xét nghiệm: lô TN ở lần 1 là 71,50 %; lần 2 là 47,37 % và lần 3 là 65,52 %; lô ĐC (+): lần 1 là 78,95 %; lần 2 là 2,63 % và lần 3
là 33,33 %; lô ĐC (-): lần 1 là 12,50 % ; lần 2 là 12,50 % và lần 3 là 0 %
Tình trạng sức khỏe của heo: tỷ lệ ho và tỷ lệ ngày con ho ở lô TN 38,33 % và 0,65 %; lô ĐC (+) 25,83 % và 0,47 %; lô ĐC (-) 35 % và 0,69 % Tỷ lệ thở bụng và
tỷ lệ ngày con thở bụng: lô TN 14,17 % và 0,21 %; lô ĐC (+) 9,17 % và 0,13 % ; lô
ĐC (-) 5 % và 0,13 % Tỷ lệ ho + thở bụng và tỷ lệ ngày con ho + thở bụng ở lô TN
Mức độ hư hại trên phổi: ở lô TN 15,5 %, lô ĐC (-) 22,84 % và cao nhất ở lô
ĐC (+) 34,95 % Tỷ lệ mẫu có bệnh tích nghi nghờ do APP: ở lô TN 8,77 % , lô ĐC (+) 11,54 % và lô ĐC (-) 23,08 %
Chi phí cho 1 kg tăng trọng: ở lô ĐC (+) 25091 (VNĐ), lô TN 25765 (VNĐ)
lô ĐC (-) 26370 (VNĐ)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt luận văn iv
Mục lục v
Danh sách các chữa viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Danh sách các hình x
CHƯƠNG1MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vần đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Giới thiệu về trại heo 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Nhiệm vụ của trại 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 3
2.1.4 Chuồng trại và trang thiết bị 4
2.1.5 Cơ cấu đàn heo 5
2.1.6 Dinh dưỡng và thức ăn gia súc 5
2.1.7 Qui trình tiêm phòng 6
2.1.8 Quy định về vệ sinh phòng dịch 7
2.2 Cấu tạo của phổi và các yếu tố liên quan đến bệnh đường hô hấp trên heo 12
2.2.1 Cấu tạo của phổi 12
2.2.2 Các yếu tố liên quan đến bệnh đường hô hấp 12
2.3 Giới thiệu về bệnh do Actinobacillus pleuropneumoniae (APP) 13
Trang 72.3.1 Lịch sử 13
2.3.2 Căn bệnh học 14
2.3.3 Độc tố 15
2.3.4 Dịch tễ học 16
2.3.5 Cách sinh bệnh 17
2.3.6 Triệu chứng 18
2.3.7 Bệnh tích 19
2.3.8 Chẩn đoán 20
2.3.9 Điều trị 22
2.3.10 Phòng bệnh 23
2.4 Giới thiệu kĩ thuật ELISA (Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay) 24
2.4.1 Kỹ thuật ELISA trực tiếp 25
2.4.2 Kỹ thuật ELISA gián tiếp hay kỹ thuật “sandwich” 25
2.5 Giới thiệu về Pulmotil® G200 premix 26
2.6 Vaccine Coglapix® 27
2.7 Một số nguyên cứu về Actinobacillus pleuropneumoniae 27
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGUYÊN CỨU 29
3.1 Thời gian và địa điểm 29
3.2 Đối tượng khảo sát 29
3.3 Nội dung khảo sát 29
3.4 Phương pháp khảo sát 29
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 29
3.4.2 Đánh giá hiệu giá kháng thể 31
3.4.3 Khảo sát biểu hiện bệnh 33
3.4.4 Năng suất 34
3.4.5 Khảo sát bệnh tích phổi lúc giết thịt 35
3.4.6 Hiệu quả kinh tế 36
3.5 Phương pháp sử lý số liệu 36
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38
Trang 84.1 Đánh giá hiệu giá kháng thể chống APP 38
4.2 Khảo sát tình trạng sức khỏe của heo 40
4.2.1 Biểu hiện bệnh hô hấp 40
4.2.2 Hiệu quả điều trị bệnh hô hấp 41
4.2.3 Tỷ lệ con và tỷ lệ ngày con có triệu chứng tiêu chảy 42
4.2.4 Hiệu quả điều trị tiêu chảy 43
4.2.5 Tỷ lệ chết và loại thải 43
4.3 Khảo sát năng suất 44
4.4 Khảo sát bệnh tích phổi của heo thí nghiệm 45
4.4.1 Theo phương pháp của Christensen (1999) 45
4.4.2 Đánh giá bệnh tích phổi theo hệ thống SPES 47
4.5 Hiệu quả kinh tế 48
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 51
Trang 9D ANH SÁNH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
IM: chính bắp (Intramuscular)
GP: ông bà (Grand Parents)
FMD: lở mồm long móng (Foot and Mouth Disease)
APP: Actinobacillus pleuropneumoniae
NAD: Nicotinamide Adenin Dinucleotide
PCR: kỹ thuật khuyếch đại gen (Polymerase Chain Reaction)
SPES: Slaughterhouse Pleurisy Evaluation System-hệ thống đánh giá viêm màng phổi ở lò mổ-
CF: phản ứng kết hợp bổ thể (Complement Fixation test)
2-ME:là chất khử để ngăn sự tạo thành cầu nối disulfide (2- mercaptoethanol) [O]: oxy nguyên tử
CTC: chlotetracycline
TĂ: thức ăn
TT: tăng trọng
FCR: hệ số chuyển hóa thức ăn (Feed Conversion Ratio)
SPF: Specifice Pathogen Free
Trang 10D ANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Mật độ nuôi đối với từng loại heo
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng các loại cám
Bảng 2.3 Qui trình tiêm phòng
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm
Bảng 3.2 Bố trí lấy máu xét nghiệm
Bảng 3.3 Chấm điểm viêm màng phổi nghi ngờ do APP
Bảng 4.1 Kết quả xét nghiệm kháng thể chống APP
Bảng 4.2 Tỷ lệ bệnh và tỷ lệ ngày con bệnh có triệu chứng hô hấp Bảng 4.3 Hiệu quả điều trị bệnh hô hấp trên 3 lô khảo sát
Bảng 4.4 Tỷ lệ con và tỷ lệ ngày con có triệu chứng tiêu chảy
Bảng 4.5 Hiệu quả điều trị tiêu chảy trên 3 lô khảo sát
Bảng 4.6 Tỷ lệ chết và loại thải
Bảng 4.7 Trọng lượng trung bình, tăng trọng bình quân, TTTĐ và FCR Bảng 4.8 Đánh giá bệnh tích phổi của heo thí nghiệm
Bảng 4.9 Các dạng bệnh tích thường gặp
Bảng 4.10 Bệnh tích phổi nghi ngờ do nhiễm APP
Bảng 4.11 Chi phí cho 1 kg tăng trọng
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Bệnh tích trên phổi do nhiễm APP
Hình 3.1 Vùng đánh giá bệnh tích đặc hiệu cho APP
Hình 4.1 Phổi nhục hóa
Hình 4.2 Viêm phổi hoại tử
Trang 12nề về mặt kinh tế cho người chăn nuôi vì heo bệnh bị còi cọc, chậm lớn, tiêu tốn thức ăn nhiều nhưng chậm tăng trọng và chi phí điều trị lớn
Theo Nicolet (1992) bệnh viêm phổi - màng phổi do Actinobacillus pleuro
pneumoniae (APP) trên heo xảy ra ở mọi lứa tuổi gây thiệt hại nhiều về kinh tế, ở nước ta bệnh xảy ra phổ biến xuất hiện trong mọi hình thức chăn nuôi đặc biệt nghiêm trọng ở các trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, heo không được tiêm phòng Tỷ lệ bệnh có thể đến 40% với tỉ lệ chết lên đến 24% (Biberstin và ctv, 1999) và khi bệnh chuyển sang mãn tính thì việc điều trị trở nên khó khăn Trong các đàn mắc bệnh kinh niên, Hunema (1986) ghi nhận tốc
độ phát triển hàng ngày không bị ảnh hưởng, mặc dù Hertley và ctv (1988) cho rằng viêm màng phổi sẽ tăng thêm một ngày nuôi thịt và khi bệnh có triệu chứng thì tăng thêm 8 ngày để đạt chuẩn hạ thịt Kohrbach và ctv (1993) chứng minh rằng sự cảm nhiễm hiện diện trong đàn thú thì mất 5 - 6 ngày để đạt trọng lượng hạ thịt (trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Nhằm mục đích cải thiện năng suất của các trại chăn nuôi trong tình hình dịch bệnh hiện nay, được sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Thị Thu Năm, chúng tôi tiến
Trang 13hành đề tài “So sánh hiệu quả phòng bệnh do vi trùng Actinobacillus pleuropneumoniae bằng việc tiêm phòng vaccine Coglapix® và sử dụng kháng sinh Pulmotil®G200 premix”
lô không sử dụng vaccine hay kháng sinh đặc hiệu (lô ĐC (-))
Lấy máu để đánh giá hiệu giá kháng thể chống bệnh APP
Biểu hiện bệnh trong quá trình khảo sát, năng suất sản xuất và hiệu quả kinh tế
Trang 14Vị trí địa lý của trại có thể nói là khá thuận lợi cho việc phát triển ngành chăn
nuôi (xung quanh trại diện tích rừng cao su chiếm đa số, dân cư thưa thớt)
2.1.2 Nhiệm vụ của trại
Sản xuất heo giống, heo thịt và heo con nuôi thịt trên cơ sở các giống ngoại
nhập như Yorkshire, Landrace, Duroc
2.1.3 Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của trại được trình bày qua sơ đồ sau:
Ban giám đốc
Trang 15
2.1.4 Chuồng trại và trang thiết bị
Các kiểu chuồng trại và mật độ với từng loại heo:
+ Chuồng cá thể: Sử dụng nuôi dưỡng heo đực làm việc, heo nái khô chờ phối, heo nái sau phối đến bầu 28 ngày và heo nái đẻ nuôi con
+ Chuồng tập thể: Sử dụng nuôi dưỡng heo bầu trên 28 ngày đến trước khi sinh một tuần, heo con sau cai sữa, heo hậu bị và thịt
Bảng 2.1 Mật độ nuôi đối với từng loại heo
/con)
Heo con sau cai sữa
Heo thịt từ 2 - 4 tháng tuổi
Heo thịt từ 4 - 4,5 tháng tuổi
Heo hậu bị > 6 tháng tuổi
Heo nái khô chờ phối
Heo nái chửa
Heo nái nuôi con
Heo đực giống
0,3 – 0,5 0,6 – 0,7 0,8 – 1,0 1,8 – 2,0 1,5 – 1,6 2,0 – 2,5 4,0 – 6,0 6,0 – 10,0
(Nguồn: phòng Kỹ Thuật của trại)
Hệ thống quạt thông thoáng: hoạt động tự động sau khi điều chỉnh hai núm chỉnh nhiệt độ và tốc độ
Núm nhiệt độ: nên để ở nhiệt độ 30 0
C
Núm tốc độ: nên để ở vị trí từ 3 – 5
Thời gian mở quạt từ 9giờ đến 15giờ 30 phút Tuy nhiên trong những điều kiện trời nóng bức hoặc không gió có thể mở quạt ngoài thời gian này
Hệ thống cho ăn bán tự động: thức ăn được phân phối 2 lần trong ngày vào lúc
sáng 7h và 15h hằng ngày Hệ thống này được làm vệ sinh định kì mỗi tháng bằng vòi phun nước
Trang 162.1.5 Cơ cấu đàn heo
Theo phòng Kỹ Thuật của trại, tính đến ngày 3 tháng 6 năm 2010 Tổng đàn (không tính heo con theo mẹ) là 12407 con, trong đó bao gồm:
- Đực giống: 40 con
- Nái sinh sản: 2512 con
- Hậu bị: 1540 con
+ Đực hậu bị 85 con
+ Cái hậu bị 1455 con)
- Heo con cai sữa: 3167 con
- Heo thịt: 5148 con
2.1.6 Dinh dưỡng và thức ăn gia súc
- Thành phần cơ bản của các loại thức ăn số 7, 8, 9, 10A và 10B của công ty thức ăn gia súc An Phú
- Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng các loại cám
Loại cám
Năng lượng ME
(Kcal/Kg) 3215 3125 3000 3026 3100 Đạm thô (%) 17,8 16,4 14,5 16,2 16
Trang 17Loại heo Dịch tả FMD Aujeszky Parvo-Lepto Mycoplasma
Heo con theo mẹ
/M-Pac
Heo cai sữa
5 tuần tuổi Coglapest
Heo hậu bị
10 tuần tuổi Coglapest
Akipor
24 tuần tuổi Coglapest
10 tuần tuổi Coglapest
Decivac
Heo nái
6 tuần trước đẻ Coglapest
4 tuần trước đẻ Aftopor 2
Respisure 1 /M-Pac
(nguồn: phòng Kỹ Thuật trại)
Trang 18Ghi chú :
1) Aftopor 1: vaccine FMD type O
Aftopor 2: vaccine FMD type O và A
Aftopor 1/2: tùy tình hình dịch tễ sẽ sử dụng type O hoặc type O & A
2) Tất cả các loại vaccine đều chích 2 cc/liều/heo bất kể lớn nhỏ, trọng lượng Chỉ
có vacine Farrowsure B có liều là 5 ml/ heo
3) Vaccine nhược độc gồm có vaccine dịch tả (Coglapest), Aujeszky (P.Bergonia/ Akipor), còn lại đều là vô hoạt
4) Tất cả các loại vaccine đều chích thịt (IM)
2.1.8 Quy định về vệ sinh phòng dịch
- Đối với khu vực cổng A:
+ Tất cả khách vào trại đều phải thực hiện tiến trình vệ sinh sát trùng tại cổng A như sau: tắm sạch bằng xà bông tiệt trùng, thay quần áo tiệt trùng tại xí nghiệp, không để lẫn lộn quần áo mặc sinh hoạt thường ngày với quần áo đã tiệt trùng, mang ủng, rửa tay kỹ từ khuỷu tay đến bàn tay bằng dung dịch tiệt trùng Virkon 0,1 %, đi qua hố sát trùng
+ Đối với cán bộ công nhân viên vào trại phải rửa tay kỹ từ khuỷu tay đến bàn tay, đi qua hố sát trùng
+ Người đi xe 2 bánh vào cổng A phải xuống xe dẫn bộ qua hố sát trùng, rửa tay kỹ từ khuỷu tay đến bàn tay, giày dép phải dẫm lên tấm bố sát trùng ở nhà sát trùng
+ Người đi xe 3 bánh trở lên phải vào tắm rửa tiệt trùng bằng xà bông tiệt trùng, thay quần áo của xí nghiệp theo sự chỉ dẫn của bảo vệ Sau đó cho xe đi vào nhà sát trùng, dừng lại và phun xịt sát trùng trong 20 giây để sát trùng xe
+ Lịch thay nước ở hố sát trùng cổng A là vào mỗi thứ năm hàng tuần Tấm bố dẫm chân cho người đi bộ thay hàng ngày Bình nước rửa tay và nước phun xịt thay khi hết nhưng không được để lâu quá một tuần
+ Thuốc sát trùng sử dụng cho phun xịt và hố sát trùng là Bioxide 1 % Thuốc sát trùng sử dụng cho bình rửa tay là Virkon - S 0,1 %
Trang 19- Đối với khu vực cổng B: cổng B phải được khóa kín không sử dụng để ra vào nếu không có ý kiến của Giám đốc xí nghiệp Công tác tiêu độc sát trùng khu vực cổng B sẽ do tổ trưởng tổ ở lại đảm trách
- Đối với khu vực cổng C:
+ Tất cả khách vào trại đều phải thực hiện tiến trình vệ sinh sát trùng tại cổng C như sau: rửa tay kỹ từ khuỷu tay đến bàn tay bằng dung dịch tiệt trùng Virkon 0,1 %, đi ngang hố sát trùng có sẵn tấm bố, khoác quần áo tiệt trùng tại xí nghiệp (khoác áo phòng chống dịch, đeo khẩu trang, mang găng tay nylon), mang ủng
+ Người đi xe 2 bánh vào cổng C phải xuống xe dẫn bộ qua hố sát trùng, rửa tay kỹ từ khuỷu tay đến bàn tay, giày dép phải dẫm lên tấm bố sát trùng ở nhà sát trùng
+ Người đi xe 3 bánh trở lên phải xuống xe rửa tay kỹ từ khuỷu tay đến bàn tay, giày dép phải dẫm lên tấm bố sát trùng ở nhà sát trùng, khoác quần áo của
xí nghiệp theo sự chỉ dẫn của bảo vệ Xe phải được bảo vệ phun xịt trước trong lòng
xe và các ngóc ngách Sau đó tài xế cho xe đi vào nhà sát trùng, dừng lại và phun xịt sát trùng trong 10 giây để sát trùng xe
+ Hố sát trùng cổng C phải thay sau mỗi ngày xuất heo và sản phẩm khác Trong trường hợp đáy hố không chứa bùn hoặc thuốc chưa đổi màu thì để lại cho ngày hôm sau Hố dẫm chân cho người đi bộ thay hàng ngày Bình nước rửa tay
và nước phun xịt thay khi hết nhưng không được để lâu quá một tuần
+ Cuối mỗi ngày xuất heo, bảo vệ cổng C phải phun xịt sát trùng cho toàn
bộ diện tích khu xuất heo
+ Thuốc sát trùng sử dụng cho phun xịt và hố sát trùng là Bioxide 1 % Thuốc sát trùng sử dụng cho bình rửa tay là Virkon - S 0,1 %
+ Đối với cán bộ công nhân viên thuộc nhóm xuất heo bên ngoài khi vào lại trại phải vệ sinh tắm giặt sát trùng, thay quần áo bảo hộ sạch, thay ủng khác và
Trang 20vào trại phải rửa tay kỹ từ khuỷu tay đến bàn tay, đi ngang hố sát trùng có sẵn tấm
bố
+ Đối với cán bộ công nhân viên thuộc nhóm xuất heo bên trong phải vệ sinh sạch sẽ khu vực lồng cân heo ngay sau khi xuất heo xong
- Đối với kho thức ăn gia súc và kho thuốc thú y:
+ Người không có trách nhiệm không được vào kho Khi vào kho phải thay quần áo sạch và mang dép của kho theo sự hướng dẫn của thủ kho
+ Nhân viên bốc xếp phải mặc quần áo bốc xếp của xí nghiệp trang bị Thủ kho theo dõi giám sát và hướng dẫn nhân viên bốc xếp di chuyển trong những khu vực cần thiết
+ Tài xế xe không có nhiệm vụ không được bước ra khỏi cabin xe Trong trường hợp cần phải thay quần áo tiệt trùng như khách tham quan hoặc bốc xếp
+ Thủ kho và kế toán vật tư có trách nhiệm sắp xếp kho cho ngăn nắp theo kế hoạch luân chuyển kho, quét dọn và kiểm tra vệ sinh khu vực trong và ngoài kho hàng ngày
+ Hàng tuần vào mỗi chiều thứ sáu, thủ kho phải tổ chức phun xịt thuốc sát trùng Virkon-S 1 % trên nền kho và xung quanh kho Tổ chức cho hệ thống chuyển tải thức ăn chạy không tải 5 phút để vệ sinh bên trong hệ thống
Đối với nhà thay đồ:
+ Tất cả cán bộ công nhân viên của xí nghiệp khi vào khu vực chăn nuôi phải đi vào nhà thay đồ bằng cửa trước treo quần áo sinh hoạt thường nhật ở phòng ngoài vào phòng tắm tắm gội bằng xà bông diệt khuẩn thay đồ bảo hộ sạch ra ngoài bằng cửa sau mang ủng rửa tay từ khuỷu tay đến bàn tay
đi ngang hố sát trùng cách ly
+ Khi cán bộ công nhân viên đi từ khu sân chăn nuôi ra ngoài phải thực hiện theo trình tự ngược lại
+ Quần áo sinh hoạt thường nhật phải được treo ở phòng ngoài và không được tiếp xúc với quần áo bảo hộ Ủng phải được rửa sạch và treo lên giá ủng ở cửa sau Tuyệt đối không được mượn ủng của người khác để mang vào khu sản xuất
Trang 21+ Cán bộ công nhân viên được phân công trực sát trùng nhà thay đồ có nhiệm vụ phun thuốc sát trùng Bioxide 1 % khu vực xung quanh vào mỗi chiều thứ bảy, thay hố sát trùng cách ly bằng dung dịch Bioxide 1 %, và nước rửa tay bằng dung dịch Virkon-S 0,1 %
- Đối với khu vực chăn nuôi:
+ Khi vào khu chăn nuôi phải nhúng ủng vào hố sát trùng cách ly và di chuyển đến khu vực mình phụ trách Tuyệt đối không được đi qua lại giữa các tổ và giữa các dãy trong cùng một tổ khi không có sự điều động của tổ trưởng
+ Nếu có sử dụng xe đạp di chuyển nội bộ, phải cho xe đi ngang hố sát trùng cách ly trước khi xuống trại Xe của tổ nào chỉ di chuyển trong khu vực tổ đó ngoại trừ sự đồng ý của Giám đốc hoặc người được Giám đốc ủy quyền
+ Thanh cản (Barière) tại hàng rào cách ly khu vực chăn nuôi phải thường xuyên được hạ xuống Tài xế xe chuyên dùng vận chuyển thức ăn có trách nhiệm hạ xuống sau mỗi lần xe qua
+ Khi bước vào hoặc ra dãy chuồng phải nhúng ủng vào khay sát trùng để
ở đầu mỗi dãy Khay sát trùng phải được người phụ trách dãy thay mới thường xuyên bằng Bioxide 1 % Khi thay không được đổ nước cũ xuống hầm phân
+ Hàng tuần từ thứ hai đến thứ sáu, phải dọn sạch cỏ ra xa móng nền chuồng 1 m, quét sạch mạng nhện giăng trong dãy, vệ sinh ngăn nắp tủ thuốc thú y, gom rác và tập trung ve chai về kho để xuất đi vào chiều thứ sáu
+ Tổ chức phun xịt thuốc sát trùng định kỳ hàng tuần ở hành lang trong, ngoài dãy chuồng và đường lùa heo Sử dụng luân phiên hàng tháng giữa Virkon - S
1 % và Bioxide 1 %
- Về vệ sinh thức ăn:
+ Cuối mỗi đợt bơm thức ăn khi trong silo đầu dãy hết thức ăn, người phụ trách dãy cho hệ thống chạy không tải 5 phút, rút cửa chặn của hộp tiếp liệu để vệ sinh bên trong hệ thống
+ Đội cơ điện phải định kỳ vệ sinh bên trong silo đầu dãy mỗi tuần vào tháng nắng và mỗi 2 tuần vào tháng mưa
Trang 22Về vệ sinh nước uống:
+ Đội cơ điện có trách nhiệm sử dụng hệ thống xử lý nước, pha thuốc sát trùng nước định kỳ đúng theo quy trình xử lý nước sinh hoạt
+ Phụ trách dãy phải kiểm tra nguồn nước uống hàng ngày, vệ sinh máng uống thường xuyên
- Đối với khu nhà nghỉ và bếp ăn:
+ Chị bếp khi đi chợ về phải thay quần áo làm bếp từ ngoài cổng A Tắm rửa sát trùng rồi mới được vào khu bếp ăn
+ Tất cả dụng cụ đi chợ phải được chà rửa kỷ bằng xà bông tiệt trùng
Sau đó để phơi nắng
+ Khi chế biến, tất cả phế phẩm, thực phẩm thừa phải cho vào túi nylon
để đổ vào những nơi quy định
+ Chị bếp phải tổ chức vệ sinh sạch sẽ căn tin và bếp ăn hàng ngày Cuối tuần vào thứ bảy phải lau sàn nhà căn tin bằng nước lau nhà tiệt trùng
+ Hàng tuần vào chiều thứ bảy tổ trưởng tổ ở lại đêm phải tổ chức làm vệ sinh xung quanh căn tin, khu vực nhà ở và phun xịt thuốc sát trùng, thuốc diệt muỗi…
- Đối với khu xử lý nước thải:
+ Người đã làm việc bên khu xử lý nước thải phải có một bộ đồ bảo hộ riêng, ủng riêng Khi cần đi ngược vào trong khu chăn nuôi để thu gom phân tươi hoặc thu gom heo con và nhau thì cần phải thay lại quần áo bảo hộ khác, ủng khác, nhúng ủng vào hố sát trùng và rửa tay tiệt trùng kỹ từ khuỷu tay đến bàn tay
+ Người không có nhiệm vụ tuyệt đối không được đi qua khu xử lý nước thải
+ Hàng tuần vào mỗi thứ sáu, tổ trưởng tổ Quản lý môi trường phải tổ chức phun xịt Bioxide 1 % khu vực tập kết phân và xung quanh khu vực chứa phân tươi
Trang 232.2 Cấu tạo của phổi và các yếu tố liên quan đến bệnh đường hô hấp trên heo 2.2.1 Cấu tạo của phổi
Phổi gồm hai lá phổi: phải và trái Thông thường, dung tích của lá phổi phải lớn hơn lá phổi trái Phổi trái có ba thùy: thùy đỉnh, thùy tim thùy hoành cách mô Phổi phải tương tự như phổi trái nhưng có thêm thùy Azygot hay thùy giữa (Phan Quang Bá, 2008)
Phổi được bao bọc bởi màng phổi có cấu tạo bởi mô liên kết, mô đàn hồi và sợi cơ trơn Màng phổi luôn luôn được duy trì trong tình trạng căng rất cần cho cử động co giãn của hai lá phổi Lớp màng phổi được nối tiếp với mô gian bào Mô gian bào này chia phổi thành các tiểu thùy càng lúc càng nhỏ Mỗi tiểu thùy có tiểu phế quản tận cùng chia làm 2 - 4 vi phế quản Các vi phế quản dẫn không khí đến các phế nang bằng các ống phế nang Phế nang được xếp kế tiếp nhau, ngăn cách nhau bởi những vách rất mỏng và thông thương với nhau nhờ ống phế nang Đường kính phế nang khoảng 0,15 - 0,5 mm, thành phế nang là những tế bào biểu mô lát đơn với nhiều mô dày lên từ 0,1 - 0,5 µm gọi là “tâm vô hạch” Phế nang có hệ thống ty thể dồi dào tham gia vào việc thực bào và bảo vệ cơ thể Biểu mô phế nang tựa lên sườn collagen và sợi đàn hồi để liên hệ trực tiếp với lớp nội ngoại mạc của mạng lưới mao quản phổi Mạch máu, mạch bạch huyết và dây thần kinh đều nằm trong gian bào Máu đến phổi có hai đường: hệ tuần hoàn cơ năng và hệ tuần hoàn nuôi dưỡng phổi (Ngô Phương Nghị, 2003)
2.2.2 Các yếu tố liên quan đến bệnh đường hô hấp
* Độ vững chắc của hàng rào bảo vệ
Bộ máy hô hấp là cơ quan thường xuyên tiếp xúc với môi trường bên ngoài nên bệnh đường hô hấp sẽ rất dễ xảy ra nếu hàng rào bảo vệ (niêm mạc, các dịch tiết, lông rung bao phủ đường hô hấp) của cơ thể bị suy yếu (Đặng Thị Thu Hường, 2005)
* Các yếu tố nguy cơ
Có thể nói bệnh đường hô hấp được xem là hậu quả của các tác động phối hợp khác nhau như; vi sinh vật gây bệnh, môi trường, quản lý (cách cho ăn, loại thức ăn,
Trang 24kiểu chuồng…) Các yếu tố này được gọi chung là yếu tố nguy cơ Trong đó vi sinh vật gây bệnh là tác nhân quan trọng nhất Tuy nhiên khi xác định nguyên nhân gây bệnh trên đường hô hấp, cần có nhận định tổng quát để không bỏ sót các yếu tố tác động đến bệnh bên cạnh yếu tố vi sinh vật (Đặng Thị Thu Hường, 2005)
* Sự truyền lây
Sự truyền lây bệnh hô hấp trên heo thường theo hai con đường:
Con đường thứ nhất là sự tiếp xúc với các vật thể đã nhiễm bệnh (con người, côn trùng, dụng cụ chăn nuôi, heo từ nơi khác đến, các phương tiện vận chuyển…)
Để giải quyết vấn đề này cần có chế độ quản lý nghiêm ngặt ở trại chăn nuôi (Đặng Thị Thu Hường, 2005)
Con đường thứ hai rất quan trọng, là sự truyền lây qua không khí Đây là con đường khó tác động bằng chế độ quản lý vì có những bệnh có thể truyền ở khoảng
cách vài kilomet (Đặng Thị Thu Hường, 2005), ví dụ: bệnh hô hấp do Mycolasma
có thể truyền đi xa 3,2 km, và bệnh PRRS (Porcine Reproductive and Respiastory Syndrome) có thể truyền đi xa 3 km thậm chí đến 20 km (Trần Thanh Phong, 1996)
2.3 Giới thiệu về bệnh do Actinobacillus pleuropneumoniae (APP)
2.3.1 Lịch sử
Vào năm 1902, Ligniere và Spritz đã mô tả căn bệnh nhưng chưa hề đề cập ở nước ta Theo Pattison và ctv (1957) quan sát căn bệnh đầu tiên vào năm 1957, kế đến là Pattion năm 1961, Olander năm 1963 và Shop năm 1964 phát hiện tại một nông trại ở Argentina, Anh và Mỹ Vào thời điểm đầu tiên phân lập có thể là một
trong ba loài: Haemophilus liticus, Haemophilus parafluenza, Haemophilus
pleuropneumoniae Vào năm 1983, Pohl và cộng sự đã phân biệt được Haemophilus
influenza và Haemophilus pleuropneumoniae và chứng minh mối quan hệ giữa
Haemophilus pleuropneumoniae và Actinobacillus lignieseri từ đó vi khuẩn này
được đặt tên là Actinobacilus pleuropneumoniae (APP) Theo Bertschinger và Seifert (1978) mô tả các vi khuẩn trông giống như Pasteurella haemolytica, được
xem là nguyên nhân gây viêm phổi hoại tử, chúng có liên quan đến NAD (Nicotinamide Adenin Dinucleotide) không phụ thuộc vào biovar của APP (Pohl và
Trang 25ctv, 1983) và bây giờ gọi là APP biovar 2 (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Hiện nay, APP đã xuất hiện ở Việt Nam và trong nền chăn nuôi công nghiệp
Úc, APP được xem là nguyên nhân chính gây viêm màng phổi trên heo (Mireya, 2004; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
2.3.2 Căn bệnh học
APP gây bệnh trên đường hô hấp của heo là vi khuẩn Gam âm, hình que có vỏ bọc, trực khuẩn có capsule, không di động, không lông rung, không nha bào, kị khí tùy nghi Kích thước khuẩn lạc khoảng 0,5 – 1 mm, khuẩn lạc mọc tốt ở 370
C trên môi trường có thêm 5 - 10 % CO2 Sau 24 giờ nuôi cấy trên thạch máu vi khuẩn gây dung huyết Theo Philip (1990), có 2 loại khuẩn lạc được tìm thấy, một loại tròn màu xám và một loại, mềm, dẹp, bóng, cả hai đều gây dung huyết và cho phản ứng
CAMP (+) với đường dung huyết của vi khuẩn Staphylococus Vi khuẩn không phát
triển trong môi trường thạch máu khi không bổ sung NAD, biovar 2 không phụ
thuộc NAD nhưng đòi hỏi các nucleotid của pyridin hoặc tiền chất pyridin nucleotid
để tổng hợp NAD (Niven và Levesque, 1988) Có thể phân biệt Haemophilus
parasuis với Actinobacillus pleuropneumoniae bằng vòng dung huyết quanh khuẩn
lạc trên môi trường thạch máu (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005) APP biovar 1 chia làm 12 serovar Serovar 5 chia thành 2 type 5A và 5B Tính đặc hiệu của của huyết thanh được xác định bởi lớp vỏ polysaccharide và lipopolysaccharide của màng tế bào Tuy nhiên vài serovar có cấu trúc tương tự hoặc chuỗi lipopolysaccharide O giống nhau Điều này nhằm giải thích phản ứng chéo giữa serovar 1, 9 và 11, serovar 3, 6, 8, serovar 4 và 7 (Perry và ctv, 1990) Biovar 2 có 3 serovar được xác định (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Lớp vỏ bao quanh thành tế bào vi khuẩn đã được nguyên cứu và xác định serovar Vi khuẩn không có vỏ bọc cũng được nguyên cứu Có 3 loại protein tiết ra bên ngoài thuộc họ RTX (Repeats-in-toxin), ApxI gây dung huyết mạnh, có khối lượng phân tử là 105 - 110 KDa hiện diện trong các serovar 1, 5, 9, 10 ApxII gây
Trang 26dung huyết có khối lượng phân tử là 103 - 105 KDa, hiện diện trong tất cả các dòng trừ serovar 10 ApxIII không gây dung huyết có khối lượng phân tử 120 KDa, hiện diện trong serovar 2, 3, 4, 6, và 8 (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
2.3.3 Độc tố
Ngày càng có nhiều bằng chứng cho rằng số lượng độc tố đóng một vai trò quan trọng trong độc lực vi khuẩn (Macinnes và Smart, 1993) Với APP thì ngoại độc tố, lipopolysaccharide và capsule là những yếu tố quan trọng tạo nên độc lực của vi khuẩn Chúng đóng vai trò mấu chốt quyết định sự bảo vệ và nhận diện kháng nguyên APP Các yếu tố độc lực được tóm tắt như sau:
+ Ngoại độc tố
Ngoại độc tố của APP liên quan đến dấu hiệu lâm sàng (Rosendal và cs, 1980) dịch huyền phù từ APP có thể gây hoại tử và xuất huyết kết hợp với viêm màng phổi Ở nồng độ cao, độc tố APP là cytolysin có khả năng phân giải hồng cầu và giết chết các tế bào lympho, tế bào biểu mô, lympho T và đại thực bào (Macinnes
và Smart, 1993) Đặc tính thủy phân hồng cầu và gây độc tế bào của APP do sự phối hợp ít nhất của 3 loại protein: ApxI, ApxII và ApxIII Mỗi loại độc tố sẽ thủy phân hồng cầu và gây độc tế bào theo những cách khác nhau tùy theo chủng (Frey, 1995; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Độc lực của các serotype APP thay đổi từ mạnh tới yếu Sự thay đổi này do các loại độc tố của serotype tạo ra Serotype 5 bị đột biến sẽ không tiết ApxI hay ApxII không gây bệnh cho heo và chuột Điều này cho thấy ngoại độc tố là yếu tố độc lực quan trọng của APP serotype 5 (Inzana, 1991; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
+ Lipopolysaccharide
Lipopolysaccharide (LPS) là thành phần chủ yếu cấu tạo nên màng bên ngoài của APP và có khả năng gây hư hại mô LPS tinh khiết có khả năng gây hư hại phổi khác với những tổn thương do xuất huyết và hoại tử do nhiễm APP (Udeze
và cs, 1987) Sự tương tác giữa LPS và ngoại độc tố làm tăng độc lực của APP (Izana, 1991) Và người ta đã tin rằng LPS đóng vai trò trong viêm dính của APP
Trang 27Theo Blanger và ctv (1990) báo cáo rằng 83 % serotype có LPS ít trơn gây dính ít
và ở những chủng có vỏ capsule nhỏ, LPS là chất bám vào niêm mạc của hệ hô hấp Điều này đã gợi ý rằng LPS là yếu tố cần thiết trong sự xâm lấn của APP trong đường hô hấp (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
+ Capsule
Nhiều nguyên cứu chỉ ra rằng vỏ capsule của APP đóng vai trò quan trọng trong việc phòng thủ chống lại hệ thống miễn dịch của vật chủ (Macinnes và Smatr, 1993) Tất cả 12 serotype của APP được phân biệt bởi polysaccharide của capsule với thành phần và cấu trúc đặc trưng tạo ra miễn dịch đơn độc (Perry và cs, 1990) Capsule APP có tính kháng nguyên yếu (Fenwick và Osburn, 1986; Inzana và Mathison, 1987) Capsule tinh khiết không thể kích hoạt dòng thác bổ thể và không thể hiện độc lực (Warol và Inzana, 1994; Fenwick và Osburn, 1986) Vai trò chính
là để bảo vệ vi khuẩn không bị tiêu diệt bởi bổ thể trong trường hợp có và không có kháng thể capsule đặc hiệu (Inzana và cs, 1988) Tuy nhiên, serotype 5 đột biến không capsule trở nên nhạy cảm với sự tiêu diệt của bổ thể trong trường hợp không
có kháng thể đặc hiệu (Ward và Inzana, 1994) Điều này cho thấy capsule góp phần quan trọng kháng lại tác động gián tiếp của bổ thể Ngoài ra các serotype khác nhau
có mức độ độc lực khác nhau Các serovar có capsule lớn thì có độc lực cao hơn (Jensen và Bertran, 1986) Điều này cho thấy capsule có thể là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến độc lực của các serotype (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
2.3.4 Dịch tễ học
APP không tồn tại lâu trong môi trường xung quanh, đặc biệt trong môi trường khô ráo APP có thể truyền trực tiếp từ heo bệnh sang heo nhạy cảm (Wilson
và ctv, 1987) hay truyền qua các dụng cụ chăn nuôi, và phương tiện vận chuyển đã
bị nhiễm chất tiết của heo bệnh (Nicolet, 1992) Thời gian ủ bệnh rất thay đổi, trong thực nghiệm thời gian từ lúc biểu hiện bệnh đến khi chết khoảng vài giờ đến vài ngày Mặc dù nhiều lứa tuổi điều nhạy cảm với bệnh nhưng heo choai là nhạy cảm nhất Các yếu tố như vận chuyển, dồn chuồng, điều kiện khí hậu bất lợi có khả năng
Trang 28ảnh hưởng đến khả năng chống bệnh của con vật (Nicolet, 1992) Trong heo nhiễm bệnh APP trú ẩn ở hạch hạnh nhân, xoang mũi và những vùng phổi bị tổn thương (trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
APP phân bố khắp nơi trên thế giới vài serotype được xem là có độc lực thấp
và không có ý nghĩa dịch tễ ở một số nước nhưng lại là tác nhân gây bệnh ở một số nước khác APP chủng A2 và An5 từng được phân lập ở một số tỉnh ở miền bắc Việt Nam (Nicolet, 1970 trích dẫn bởi Yoshikazu Iritani, 2005) Theo Robert, (2003), hiếm có sự bảo hộ chéo giữa các chủng Miễn dịch mẹ truyền kéo dài khoảng 6 tuần Trong ổ dịch APP, tỷ lệ bệnh là 50 % và tỷ lệ chết có thể đến 10 % (Fewick và Henry, 1994; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
2.3.5 Cách sinh bệnh
Cách sinh bệnh của bệnh viêm màng phổi đã được nguyên cứu rất nhiều, cả về
sự phát triển bệnh tích lẫn mối quan hệ giữa vi khuẩn với các mô ở mức phân tử Cảm nhiễm thường do tiếp xúc hoặc do không khí Gây bệnh thực nghiệm đã chỉ rõ rằng vi khuẩn sống ở hạch hạnh nhân và định cư ở biểu mô phế nang Triệu chứng bệnh xuất hiện rất sớm sau khi gây bệnh với biểu hiện sốt và suy hô hấp, ở trường hợp cấp tính phổi phù và xuất huyết, biểu hiện rõ viêm phổi sợi huyết, đặc biệt ở những vùng viêm nhu mô phổi (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005) Trong tự nhiên vi khuẩn kết bám nhờ fibrin Trong phổi APP bị thực bào nhanh chóng bởi các đại thực bào phế nang và sản sinh độc tố ApxI, ApxII và ApxIII Tất cả các loại độc tố đó có chất độc tiềm tàng cho đại thực bào, tế bào nội
mô, tế bào biểu mô của phế nang và tế bào nội bì của mao mạch ở thành phế nang, ApxII kháng một cách đặc hiệu với đại thực bào ở phế nang Vi khuẩn dường như được bảo vệ với sự thực bào nhờ lớp vỏ bọc của chúng và dường như cũng đề kháng với hoạt động của bổ thể Cảm nhiễm đi cùng với các cytokine chẳng hạn như interleukin- 1β và IL-8 trong dịch phế nang, cũng xuất hiện trong mô bệnh tích rất sớm Mô hư hỏng do độc tố và cytokine cùng với cảm nhiễm làm cho bệnh tích phát triển Sự khác nhau về độc lực của serovar hoặc ngay cả trong những serovar giống nhau, sự khác nhau này do cấu trúc của lớp vỏ, thành phần LPS hoặc kiểu
Trang 29dung huyết Nhìn chung các serovar 1, 5, 9, 10 và 11 độc lực cao hơn các serovar khác (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Bệnh tích phổi là kết quả của các độc tố xảy ra sau 3 giờ khi gây bệnh thực nghiệm Thành phế nang tích dịch và mao mạch tụ huyết Dãn mạch bạch huyết với
sự hiện diện của các tế bào viêm, sợi huyết và dịch chất Tụ tập nhiều tiểu cầu và bạch cầu trung tính trong thành phế nang bị hư hại, huyết khối hiện diện trong các tiểu động mạch lẫn thành mạch hoại tử rồi phát triển thành nhồi huyết Vi khuẩn tụ tập trong phế nang bệnh và nhiễm trùng huyết có thể xảy ra Bờ của bệnh tích chứa đầy đại thực bào chết hay hư hỏng hoặc nhiều mảng tế bào và có thể thấy phần ranh giới với mô phổi chung quanh sau 4 ngày cảm nhiễm Dịch chứa vi khuẩn trong các tiểu phế quản, cho nên vùng trung tâm trở nên hoại tử và mô lành được hóa thớ Kháng thể được hình thành sau 14 ngày cảm nhiễm, hàm lượng kháng thể đạt tối đa trong 4 - 6 tuần cảm nhiễm và tồn tại ở mức thấp sau nhiều tháng Nái truyền kháng thể qua sữa đầu cho heo con sơ sinh và tồn tại trong 4 - 5 tuần, trong vài trường hợp bảo hộ này đạt tối đa trong 3 tuần Kháng thể bảo vệ được tất cả các phần kháng nguyên của vi khuẩn bao gồm vỏ bọc, kháng nguyên LPS (lipopolysaccharide), toxin, protein màng ngoài (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
2.3.6 Triệu chứng
Bệnh có thể chia làm 3 dạng quá cấp, cấp tính và mãn tính Triệu chứng của bệnh thay đổi tùy theo sức khỏe và khả năng miễn dịch của thú, điều kiện môi trường và mức độ bộc phát của yếu tố gây bệnh (trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Ở thể quá cấp một hay nhiều heo trong bầy hoặc khác bầy đột nhiên yếu ớt với thân nhiệt cao 41,50C, có thời kì ngắn ói mửa tiêu chảy, chảy máu mũi, miệng Thú bệnh nằm bẹp không có triệu chứng hô hấp nhưng tim và tuần hoàn yếu Thú chết trong vòng 24 - 36 giờ, trước khi chết trong miệng thú có nhiều dịch tiết lẫn bọt máu Hiếm có trường hợp thú chết đột ngột mà không biểu hiện triệu chứng của bệnh (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Trang 30Trong thể cấp tính thân nhiệt của thú tăng từ 40,5 - 410C Thú khó chịu và hôn
mê, giảm tính thèm ăn và ít uống nước, triệu chứng hô hấp là thở khó, tuần hoàn và tim yếu Ở dạng cấp tính thú có thể chết hoặc phục hồi, khi bệnh nổ ra qua 4 ngày
mà thú còn sống thì cũng có khả năng phục hồi (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Thể mãn tính phát triển sau khi triệu chứng cấp tính biến mất, thú sốt hoặc ho liên tục hoặc ngắt quãng với cường độ khác nhau, thú ăn ít và giảm tăng trọng, thể mãn tính thường chỉ phát hiện lúc giết mổ với bệnh tích đặc trưng của phổi Bệnh mãn tính là nguyên nhân lây lan mầm bệnh giữa các đàn (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Phát hiện thú bệnh bằng cách quan sát vận động miễn cưỡng của chúng Khi thú di chuyển, chúng tụt lại phía sau của bầy và vùng vẫy yếu ớt khi bị cầm cột Trong bầy thú bệnh mãn tính thường có nhiều thú không triệu chứng Các triệu chứng đó có thể do cảm nhiễm khác ở đường hô hấp Bệnh nguyên phát có thể quan sát xảy thai trên đàn nái bệnh, nhất là đàn SPF (Specifice Pathogen Free) Các triệu chứng khác như viêm nội tâm mạc, viêm khớp và abscess xuất hiện ở những vị trí khác trên cơ thể của heo là do serovar 3, mặc dù các serovar khác hiện nay cũng gây bệnh tích tương tự (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Trong giai đoạn sau của thể cấp tính, vùng phổi viêm sậm màu và rắn chắc với
ít hoặc nhiều viêm màng phổi sợi huyết, mặt cắt dễ vỡ Viêm màng phổi sợi huyết
Trang 31rõ rệt với thú bệnh chết trong giai đoạn cấp tính, ít nhất 24 giờ sau khi nhiễm và xoang ngực chứa dịch xuất thấm máu, viêm phổi dính sườn được quan sát sau khi
hạ thịt Bệnh tích ban đầu màu đỏ nâu hay đen trở nên sáng và rắn chắc hơn (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Bệnh tích co rút lại xem như sự phân giải đang tiến triển, cho đến khi bệnh tích kinh niên thì các cục bướu kích thước khác nhau vẫn còn, hầu hết ở các thùy hoành cách mô Các cục bướu trông như abcess không giới hạn bởi mô liên kết dày
và vùng viêm dính sườn Trong nhiều trường hợp bệnh tích phân rã và chỉ còn chút
ít viêm phổi dính sườn (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
2.3.8 Chẩn đoán
Viêm màng phổi là dấu hiệu nghi ngờ trong thể bệnh cấp Sự hiện diện của viêm màng phổi thoát dịch cấp với những vùng hoại tử mà xung quanh được bao bọc bởi những đám neutrophil tạo thành hàng rào xoắn ốc Thể kinh niên vùng viêm
Trang 32phổi rắn chắc ổ mủ rất rõ đi cùng viêm màng phổi và viêm màng quanh tim (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Khảo sát bệnh đại thể không có ý nghĩa cao trong chẩn đoán vì bệnh tích có thể nhầm lẫn với bệnh: dịch tả heo, dấu son, tụ huyết trùng cấp Nhưng phương pháp này có tính định hướng cho nhiều phương pháp khác như: phân lập, ELISA…( Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Cách tốt nhất là lấy mẫu vùng phổi viêm, dịch chất trong mũi và phế quản của thú mới chết Phết kính vùng phổi bệnh tích, tìm được vô số vi khuẩn Gam âm Xác định APP bằng test kháng thể huỳnh quang với men peroxidase, định serovar đặc hiệu trong chất trích của phổi bằng test đồng ngưng kết hoặc bằng ELISA (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Phân lập APP từ mô và chất tiết bằng cách sử dụng thạch máu 5% hồng cầu cừu Sau khi ủ trong điều kiện yếm khí ở 370C, xuất hiện những khuẩn lạc nhỏ gần
với đường cấy Staphylococcus aureus, mà xung quanh là vòng dung huyết (β) hoàn
toàn (đòi hỏi NAD) Cách này cho phép phát hiện nhanh vi khuẩn Thay đổi thạch máu bằng thạch chocolate thì vi khuẩn phát triển tốt nhưng khó phân biệt với các vi khuẩn khác Trắc nghiệm sinh hóa có thể tiến hành bằng cách chứng minh hiện tượng CAMP(+), hoạt tính urease và lên men đường mannitol Trong trường hợp
nhiễm hỗn hợp, nhất là đối với Pasteunella multocida và các vi khuẩn khác thì dùng
môi trường chọn lọc như đã khuyến cáo, Jacobsen và Nielsen (1995) mô tả môi trường phân lập vi khuẩn này từ hạch hạnh nhân Tuy nhiên phân lập sẽ thất bại nếu bệnh tích mãn tính hoặc đã chữa trị bằng thuốc (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Mặc dù phân lập APP còn gặp rất nhiều khó khăn, vì khả năng mọc của vi khuẩn này kém khi bệnh mãn tính hoặc điều trị bằng kháng sinh thì sẽ thất bại trong nuôi cấy Tuy vậy phương pháp chẩn đoán này hiện nay được xem là tiêu chuẩn vàng vì sau khi phân lập chúng ta có thể xác định serotype đang hiện hành, giúp cho việc sản xuất vaccine có hiệu quả (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Trang 33Có thể xác định APP bằng kĩ thuật PCR hoặc bằng test huyết thanh học hoặc dùng kháng thể đơn dòng hoặc kháng thể hấp thụ Có thể xác định serovar bằng PCR đối với gen cấu trúc hoặc bằng kháng thể đơn dòng Định type huyết thanh bằng phản ứng ngưng kết trên phiến kính hay bằng test đồng ngưng kết Trong nhiều trường hợp xác định lần cuối bằng khuếch tán trên thạch hoặc bằng ngưng kết hồng cầu gián tiếp Phân lập và định serotype thì cần thiết cho sách lược vaccine, nó chứng minh sự phân bố các serovar và cho chúng ta biết tình hình dịch tễ học để đánh giá và thực hiện các test huyết thanh học chuyên biệt nhằm kiểm soát bệnh (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Phát hiện kháng thể có giá trị thấp trong chẩn đoán nhưng cung cấp thông tin quan trọng trong kiểm soát dịch tễ học Có thể phát hiện kháng thể bằng nhiều cách
Từ phản ứng kết hợp bổ thể (CF) - Complement Fixation test - hoặc ngưng kết trong ống nghiệm bằng hai mercaptoethanol (2-ME) Phương pháp đơn giản bằng các phản ứng ELISA, với kháng nguyên đặc hiệu serovar, trong khi đó phát hiện kháng thể chống toxin và kháng thể trung hòa có thể vạch ra con đường phòng ngừa (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Trong trường hợp kiểm tra huyết thanh APP, kết quả ELISA nên được bổ sung bởi những thông tin từ việc phân lập vi khuẩn APP Những thú chết vì bệnh hô hấp phải được xem xét một cách toàn diện và sự phân lập APP cần phải kiên nhẫn Kết quả phân lập phải được ghi chép và dùng để kết hợp với kĩ thuật ELISA (Mireya, 2004) (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Chẩn đoán vi thể cũng được xem là phương pháp quan trọng, giúp ta khẳng định bệnh ở dạng cấp hay mãn tính, cho kết quả cao trong việc khảo sát dịch tễ học,
số lượng mẫu khảo sát lớn nhưng đây là phương pháp cố định mẫu nên không cho
ta biết serotype hiện hành (trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
2.3 9 Điều trị
APP thì nhạy cảm với nhiều loại kháng sinh nhưng sự đề kháng cũng rất nhanh khi sử dụng kháng sinh thường xuyên (Macinnes và cs, 1990) Serotype 5
Trang 34được phân lập ở Ontario thì kháng với tetracycline, serotype 7 thường xuyên kháng với nhóm betalactam (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Sự đề kháng rất nhanh đối với penicillin, streptomycin, sulfonamide, tetracyline và chloramphenicol là điều hết sức quan tâm Điều này thường thấy đối với các serovar 1, 3, 5 và 7 nhưng rất hiếm đối với các serovar khác đặc biệt là serovar 2, kháng thuốc qua trung gian plasmid, vì vậy làm kháng sinh đồ trong điều trị là rất cần thiết (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Liệu pháp kháng sinh chỉ hiệu quả khi thú bệnh ở giai đoạn đầu, thuốc có tác dụng làm giảm tỉ lệ chết Để đảm bảo tác dụng và nồng độ kháng sinh cao trong máu, tiêm nhắc lại là cần thiết Sự thành công phụ thuộc vào sự phát hiện bệnh, cấp nước đầy đủ, trộn kháng sinh vào nước uống cho hiệu quả tốt Tuy nhiên liệu pháp kháng sinh không loại trừ hết căn bệnh mà chỉ làm giảm biểu hiện lâm sàng của bệnh (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
Abcess ở phổi hoặc hạch hạnh nhân của thú bệnh kinh niên là nguồn chứa mầm bệnh quan trọng cho các đợt cảm nhiễm trong đàn Điều trị ngay giai đoạn đầu bằng cách chia nhóm nuôi trong môi trường không khí tốt và duy trì mãi cho đến khi hạ thịt, nơi nào không có điều kiện thì kiểm soát các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, độ thông thoáng và dùng vách ngăn thú bệnh trong ô chuồng để giảm tối
đa sự phát triển và lây lan bệnh Tiếp tục sử dụng thuốc và nâng liều sử dụng, không
sử dụng một loại thuốc trong thời gian dài, liên tục giám sát sự kháng thuốc của vi khuẩn Chiến lược thuốc đạt mục tiêu vào những thời điểm nguy cơ, điều này có thể được khẳng định bằng cách theo dõi triệu chứng, kiểm tra phủ tạng sau khi hạ thịt
và phát hiện kháng thể trong đàn Phải hủy bỏ toàn bộ phổi và hạch lâm ba phổi, thịt được phép sử dụng (Taylor, 1999; trích dẫn Phạm Đức Hiền, 2005)
2.3.10 Phòng bệnh
2.3.10.1 Vệ sinh phòng bệnh
Ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn bằng cách nhập heo ở những cơ sở giống an toàn dịch bệnh, có nguồn gốc lý lịch rõ ràng, nuôi cách ly trước khi nhập đàn
Trang 35Chuồng trại chăn nuôi phải đảm bảo cách ly với các khu vực khác, phải có hàng rào ngăn không cho súc vật, các loài gặm nhấm và hạn chế côn trùng ra vào trang trại Đầu chuồng, đầu trại phải có hố sát trùng, tiêu độc
Toàn bộ công nhân chăn nuôi, nhân viên kỹ thuật, khách tham quan, phương tiện vận chuyển ra vào trang trại phải được vệ sinh, tiêu độc khử trùng và mặc bảo
hộ lao động
Định kỳ phun tiêu độc khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng các loại thuốc sát trùng Phân, nước tiểu, chất thải trong chăn nuôi phải được thu gom xử lý bằng các phương pháp thích hợp Kiểm soát tốt các nguồn nguyên vật liệu khi đưa vào trang trại
Tránh sự tiếp xúc trực tiếp giữa các đàn heo bệnh và đàn heo khỏe mạnh Định kỳ kiểm tra vi khuẩn, xét nghiệm vi khuẩn
Thực hiện biện pháp chăn nuôi cùng vào - cùng ra Chăn nuôi với mật độ hợp lý
Chăm sóc nuôi dưỡng tốt đàn heo nhằm nâng cao sức đề kháng cho đàn heo, tạo môi trường thuận lợi để heo sinh trưởng phát triển
2.3.10.2 Phòng bệnh bằng vaccine
Hiện nay vaccine đang được sử dụng là vaccine chết và tái tổ hợp Vaccine chết sử dụng các serovar đặc hiệu Các chất bổ trợ đã được sử dụng, một vài vaccine gây bệnh tích hạt tại nơi tiêm chủng Vaccine thứ hai là vaccine tổ hợp từ các gen chịu trách nhiệm sản xuất toxin và protein màng ngoài, protein liên kết với sắt Loại vaccine này chống lại được tất cả các serovar (Hồ Thị Thanh Thảo, 2004)
2.4 Giới thiệu kĩ thuật ELISA (Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay)
* Nguyên lý
Thông thường sự kết hợp giữa kháng nguyên - kháng thể không thể phát hiện bằng mắt thường, kĩ thuật ELISA đã lợi dụng đặc tính hấp thụ tự nhiên của protein lên polyetylen để gắn kháng nguyên hoặc kháng thể lên giá rồi cho kháng nguyên hoặc kháng thể tương ứng có đánh dấu enzyme và tạo phản ứng Sau khi loại bỏ chất đánh dấu không kết hợp, cho thêm vào hỗn dịch chất hiện màu Nhờ hoạt tính