XÁC NH ẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Họ và tên sinh viên thực tập: BÙI VĂN PHÚC Tên đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của quy trình chăn nuôi lên khả năng tăng trọng và một số biểu hiện bệnh lý
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y ****************
KH ẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA QUY TRÌNH CHĂN NUÔI LÊN KH Ả NĂNG TĂNG TRỌNG VÀ MỘT SỐ BIỂU HIỆN BỆNH LÝ CỦA HEO CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 56 NGÀY
TU ỔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI MINH TOÀN,
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC và ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI – THÚ Y
****************
BÙI VĂN PHÚC
KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA QUY TRÌNH CHĂN NUÔI LÊN KH Ả NĂNG TĂNG TRỌNG VÀ MỘT SỐ BIỂU HIỆN
B ỆNH LÝ CỦA HEO CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 56 NGÀY
TU ỔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI MINH TOÀN,
LONG THÀNH, ĐỒNG NAI
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Chăn Nuôi (chuyên
ngành Sản Xuất Thức Ăn Gia Súc)
Giáo viên hướng dẫn
Tháng 08/2011
Trang 3XÁC NH ẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: BÙI VĂN PHÚC
Tên đề tài: “Khảo sát ảnh hưởng của quy trình chăn nuôi lên khả năng tăng trọng và
một số biểu hiện bệnh lý của heo con từ sơ sinh đến 56 ngày tuổi tại trại chăn nuôi Minh Toàn, Long Thành, Đồng Nai”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến
nhận xét, đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp khoa
……….Ngày……tháng……năm 2011
Giáo viên hướng dẫn
ThS NGUY ỄN KIÊN CƯỜNG
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Ông bà, cha mẹ - những người đã chăm sóc, dạy dỗ con nên người, để con có
được ngày hôm nay
Ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh,
Ban chủ nhiệm Khoa Chăn Nuôi – Thú Y,
Bộ môn Sinh Lý – Sinh Hóa,
Toàn thể thầy cô Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ
dạy, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại
trường,
Ban Giám Đốc Công Ty Cổ Phần Greenfeed Việt Nam,
Ban Giám Đốc Công Ty Trouw Nutrition,
Chị Vũ Thị Ngọc Vi là quản lý của trại heo Minh Toàn đã tận tình chỉ bảo, Anh Đặng Đình trưởng trại heo Minh Toàn cùng toàn thể anh chị em trong trại
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực tập tại trại
ThS Nguyễn Kiên Cường và PGS.TS Trần Thị Dân đã tận tình hướng dẫn,
động viên cũng như giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài
Tập thể lớp DH07TA – những người đã đồng hành cùng tôi, cũng như tất cả
bạn bè đã luôn bên tôi, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
SV BÙI VĂN PHÚC
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài : “Khảo sát ảnh hưởng của quy trình chăn nuôi lên khả năng tăng trọng
và một số biểu hiện bệnh lý của heo con từ sơ sinh đến 56 ngày tuổi tại trại chăn nuôi Minh Toàn, Long Thành, Đồng Nai” được tiến hành từ ngày 01/11/2010 đến ngày 12/02/2011 tại Trại chăn nuôi Minh Toàn, Tổ 7, Ấp An Lâm, Xã Long An, Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai
Trong giai đoạn khảo sát có 21 nái sinh với số heo con là 208 con được xếp vào lô I Các heo này được cho ăn 3 loại thức ăn của Công ty A và được chích Excede lúc 7 ngày tuổi và Draxxin sau cai sữa 7 ngày Ngoài ra nước uống còn bổ sung dung dịch Selko® – pH Lô đối chứng (lô II) không được tiến hành cùng lúc
mà được trại khảo sát trước đó và ghi nhận số liệu Lô II cũng có 208 heo con, được cho ăn 2 loại thức ăn của Công ty B Kết quả được chúng tôi ghi nhận như sau :
Trọng lượng trung bình cai sữa lúc 21 ngày tuổi của lô I (6,03 kg/con) và lô II (6,18 kg/con) không khác biệt có ý nghĩa Trong khi đó, trọng lượng trung bình chuyển thịt của lô I (18,97kg/con) cao hơn lô II (17,53 kg/con)
Tăng trọng tuyệt đối giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa của lô I là 217,1 g/con/ngày không khác biệt với lô II là 222,4 g/con/ngày Tuy nhiên, ở giai đoạn từ cai sữa đến chuyển thịt thì tăng trọng tuyệt đối của lô I (396,3 g/con/ngày) cao hơn nhiều so với lô II (331,1 g/con/ngày)
Hệ số chuyển hóa thức ăn của heo con từ cai sữa đến chuyển thịt của lô I là
1,19 kgTA/kgTT tương đương với lô II là 1,24 kgTA/kgTT
Ở giai đoạn sơ sinh đến cai sữa, tỷ lệ heo tiêu chảy của lô I là 19,71 % thấp hơn lô II với 29,33 % (P < 0,05) và tỷ lệ ngày con tiêu chảy thì lô I (2,02%) cũng
thấp hơn lô II (3,91%) (P < 0,001) Tuy nhiên qua giai đoạn từ cai sữa đến chuyển
thịt thì lô I có tỷ lệ heo bị tiêu chảy khá cao là 23,53% không có sự khác biệt so với
lô II là 30,69 % (P > 0,05), tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở lô I (1,81%) thấp hơn lô II (2,59%) (P < 0,01)
Trang 6Đối với triệu chứng hô hấp, ở heo con theo mẹ không thấy xuất hiện Ở giai đoạn từ cai sữa đến chuyển thịt tỷ lệ heo có triệu chứng hô hấp và tỷ lệ ngày con có triệu chứng hô hấp của lô I (4,41% và 0,46%) thấp hơn rất nhiều so với lô II (19,8%
và 2,09%)
Như vậy quy trình chăn nuôi của lô I giúp heo tăng trọng nhanh hơn, sử dụng
thức ăn hiệu quả hơn, giai đoạn theo mẹ ít bị tiêu chảy hơn và giai đoạn sau cai sữa
ít bị hô hấp hơn so với quy trình của lô II
Trang 7MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn ii
Lời cảm tạ iii
Tóm tắt iv
Mục lục vi
Danh sách các chữ viết tắt ix
Danh sách các bảng, hình x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Tổng quan về Trại chăn nuôi Minh Toàn 3
2.1.1 Lịch sử hình thành 3
2.1.2 Cơ cấu đàn 3
2.1.3 Vị trí địa lý và diện tích mặt bằng 3
2.1.4 Hệ thống chuồng trại 4
2.1.5 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 5
2.1.6 Quy trình vệ sinh phòng bệnh 7
2.2 Đặc điểm sinh lý heo con 10
2.2.1 Heo con theo mẹ 10
2.2.2 Heo con cai sữa 11
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tăng trong của heo con 12
Trang 82.3.1 Dinh dưỡng 12
2.3.2 Giống 12
2.3.3 Bệnh tật 12
2.3.4 Môi trường nuôi heo con mới sinh 12
2.3.5 Các yếu tố khác 14
2.4 Một số triệu chứng thường gặp trên heo con 14
2.4.1 Tiêu chảy 14
2.4.2 Bệnh hô hấp 16
2.5 Sơ lược về kháng sinh sử dụng và Selko® – pH 18
2.5.1 Kháng sinh sử dụng 18
2.5.2 Selko® – pH 19
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 21
3.1 Thời gian và địa điểm 21
3.2 Đối tượng khảo sát 21
3.3 Nội dung khảo sát 21
3.4 Bố trí thí nghiệm 21
3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 23
3.5.1 Chỉ tiêu tăng trọng 23
3.5.2 Chỉ tiêu chuyển hóa thức ăn 25
3.5.3 Chỉ tiêu tình trạng sức khỏe 25
3.6 Xử lý số liệu 26
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Số nái khảo sát 27
4.2 Kết quả về tăng trọng 28
4.2.1 Trọng lượng trung bình của heo con sơ sinh 28
4.2.2 Trọng lượng trung bình heo con cai sữa 30
4.2.3 Trọng lượng trung bình lúc chuyển thịt 31
Trang 94.2.4 Tăng trọng tuyệt đối 33
4.3 Kết quả hệ số chuyển hóa thức ăn 35
4.4 Kết quả tình hình bệnh 36
4.4.1 Tỷ lệ tiêu chảy 36
4.4.2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 38
4.4.3 Tỷ lệ heo có triệu chứng hô hấp 38
4.4.4 Tỷ lệ ngày con có triệu chứng hô hấp 40
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC……….47
Trang 10DANH S ÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FMD : Foot and mouth disease (Bệnh lở mồm long móng)
PRRS : Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome (hội chứng rối loạn
hô hấp và sinh sản trên heo)
TLTBSS : Trọng lượng trung bình sơ sinh
TLTBCS : Trọng lượng trung bình cai sữa
TLCSTT : Trọng lượng cai sữa thực tế
TLTBCT : Trọng lượng trung bình chuyển thịt
TTTĐCS : Tăng trọng tuyệt đối giai đoạn sơ sinh – cai sữa
TTTĐCT : tăng trọng tuyệt đối giai đoạn cai sữa – chuyển thịt
LTATT : Lượng thức ăn tiêu thụ
HSCHTA : Hệ số chuyển hóa thức ăn
TLTC : Tỷ lệ tiêu chảy
TLNCTC : Tỷ lệ ngày con tiêu chảy
TLHH : Tỷ lệ heo có biểu hiện hô hấp
TLNCHH : Tỷ lệ ngày con có biểu hiện hô hấp
Trang 11DANH SÁCH CÁ C BẢNG, HÌNH
TRANG
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn heo của trại 3
Bảng 2.2 Quy trình cho ăn, lượng thức ăn và loại thức ăn 5
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn B1 và B2 6
Bảng 2.4 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn A1, A2 và A3 7
Bảng 2.5 Quy trình tiêm phòng heo con theo mẹ và sau cai sữa 8
Bảng 2.6 Quy trình tiêm phòng heo nái mang thai 9
Bảng 2.7 Quy trình tiêm phòng nái hậu bị (7 tháng tuổi và >100kg) 9
Bảng 3.1 Bố trí thí nghiệm 22
Bảng 3.2 Bảng hệ số hiệu chỉnh về 21 ngày tuổi 24
Bảng 4.1 Số nái khảo sát 27
Bảng 4.2 Hiệu quả điều trị nái viêm tử cung 28
Bảng 4.3 Trọng lượng heo con sơ sinh 29
Bảng 4.4 Trọng lượng trung bình heo cai sữa 30
Bảng 4.5 Trọng lượng trung bình chuyển thịt 32
Bảng 4.6 Tăng trọng tuyệt đối 33
Bảng 4.7 Lượng thức ăn tiêu thụ và hệ số chuyển hóa thức ăn giai đoạn từ cai sữa đến chuyển thịt 35
Bảng 4.8 Tỷ lệ tiêu chảy 36
Bảng 4.9 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy 38
Bảng 4.10 Tỷ lệ heo có triệu chứng hô hấp 39
Bảng 4.11 Tỷ lệ ngày con có triệu chứng hô hấp 40
Trang 12C hương 1
MỞ ĐẦU
Chăn nuôi heo ở Việt Nam đã có từ lâu đời Theo một số tài liệu của khảo cổ
học, nghề chăn nuôi heo ở Việt Nam có từ thời đồ đá mới, cách đây khoảng 1 vạn năm Sự hình thành sớm nghề nuôi heo cùng với trồng lúa nước đã cho chúng ta
khẳng định nghề nuôi heo có vị trí hàng đầu Kể từ đó, chăn nuôi heo không ngừng phát triển và trình độ chăn nuôi ngày càng được nâng cao Các nhà chăn nuôi luôn
cố gắng tìm kiếm một quy trình tốt nhất nhằm giúp heo tăng trọng nhanh và mang
lại lợi nhuận cao cho người chăn nuôi Trong giai đoạn từ sơ sinh đến sau cai sữa, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng là một nhân tố chủ đạo để tạo ra được đàn heo có sự tăng trọng nhanh, ít bệnh tật Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của các quy trình chăn nuôi sẽ giúp cho người chăn nuôi dễ dàng chọn lựa quy trình thích hợp cho mình
Xuất phát từ thực tế đó, được sự phân công của Bộ môn Sinh Lý – Sinh Hóa, Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, được sự đồng ý của Trại chăn nuôi heo Minh Toàn và sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Kiên Cường và PGS.TS Trần Thị Dân, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
“Khảo sát ảnh hưởng của quy trình chăn nuôi lên khả năng tăng trọng và một số
biểu hiện bệnh lý của heo con từ sơ sinh đến 56 ngày tuổi tại Trại chăn nuôi Minh Toàn, Long Thành, Đồng Nai”
Trang 131.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Đánh giá ảnh hưởng của quy trình chăn nuôi lên khả năng tăng trọng và tình
trạng sức khỏe của heo con từ sơ sinh đến 56 ngày tuổi để từ đó chọn lựa qui trình chăn nuôi hiệu quả nhất áp dụng cho trại
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN
2.1.1 Lịch sử hình thành
Trại được xây dựng năm 2001 và mang tên là Trại heo Mẫn Thanh Từ năm
2006 đến nay, Trại heo Mẫn Thanh được Công ty Cổ phần Greenfeed Việt Nam thuê lại và đổi tên thành Trại heo Minh Toàn
2.1.2 Cơ cấu đàn
Tính đến ngày 01/11/2010 toàn trại có khoảng 1200 con Số lượng cụ thể và
tỷ lệ từng loại heo trong đàn được trình bày qua Bảng 2.1
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn heo của trại
Trại thuộc Tổ 7, Ấp An Lâm, Xã Long An, Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai
Trại chăn nuôi có tổng diện tích 16.256m2
với các vị trí tiếp giáp xung quanh như sau:
• Phía Đông giáp đường đi
• Phía Bắc giáp rừng chàm
• Phía Tây giáp ao cá
• Phía Nam giáp rừng chàm
Trang 15Trại được xây dựng trên vùng đất tương đối bằng phẳng, đường đi ra vào trại khá rộng nên rất thuận tiện cho việc vận chuyển thức ăn và heo ra vào trại (cách
Quốc Lộ 51 khoảng 1km)
Xung quanh trại được bao bọc bởi bức tường xi măng cao khoảng 2m
Nguồn nước sử dụng cho trại chăn nuôi được lấy từ giếng khoan trong khu vực trại Tổng nhu cầu dùng nước của trại chăn nuôi khoảng 18 m3/ngày Có 3 bể chứa với dung tích 4,5 m3/bể
Hệ thống chuồng trại gồm 5 khu: khu nái bầu, khu nái đẻ và nuôi con, khu cai sữa, khu thịt và khu cách ly
Khu nái bầu gồm nái mang thai, nái khô và 1 con đực thí tình Sàn chuồng được làm bằng xi măng, mái được lợp bằng tôn và có trang bị hệ thống phun nước
làm mát Khu nái bầu được chia làm 2 dãy, bên phải có 82 ô và bên trái có 78 ô và
1 ô nọc Mỗi ô có diện tích 2,3 m x 0,6 m (dài x rộng), ở giữa dãy chuồng có lối đi rộng 1,1 m, hai bên có đường đi cho nái ăn rộng khoảng 1,2 m Máng ăn được xây dựng dọc theo chiều dài dãy chuồng, được quét sạch sau khi ăn và xả đầy nước cho heo uống
Khu nái đẻ và nuôi con có hệ thống chuồng sàn với 32 ô chuồng được chia làm 2 dãy, mái lợp bằng tôn và lợp thêm một lớp xốp cách nhiệt Diện tích mỗi ô chuồng dài 2,1 m x rộng 1,8 m, mỗi ô đều được trang bị một bóng điện sửa ấm và một lồng úm cho heo con Ở giữa dãy chuồng có lối đi rộng 1,2 m, mỗi ô chuồng được trang bị một máng ăn cho nái bằng inox và hai máng ăn, máng uống cho heo con bằng nhựa Ngoài ra, ở đầu, giữa và cuối dãy còn có ba nhiệt kế để dễ dàng kiểm soát nhiệt độ trong chuồng
Khu cai sữa cũng là hệ thống chuồng sàn có 32 ô chuồng được chia làm 2 dãy Diện tích mỗi ô chuồng dài 2,1 m x rộng 1,8 m Mỗi ô chuồng đều có máng ăn bán
tự động, sàn được lót bằng đan nhựa, ở giữa dãy chuồng có lối đi rộng 1,2 m Mỗi ô nuôi từ 10 – 12 con
Trang 16Khu thịt được chia làm 3 khu nhỏ: khu A, khu B, khu C Mỗi khu có 20 ô chuồng được chia làm 2 dãy, mỗi ô chuồng với diện tích dài 6m x rộng 5m Mỗi ô được trang bị một máng ăn bán tự động, hai núm uống tự động, một bể đằm với diện tích 5 m2
Khu cách ly được xây dựng giống khu thịt, gồm 12 ô chuồng với diện tích dài
6 m x rộng 3,2 m, chủ yếu dùng để nuôi heo hậu bị mới nhập về
Tất cả các dãy chuồng đều có hệ thống bạt chán gió vào ban đêm
2.1.5 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
Loại thức ăn, lượng thức ăn và kiểu cho ăn tùy theo lứa tuổi và giai đoạn phát triển của heo và được trình bày qua Bảng 2.2 Khi cho ăn đồng thời cũng phải quan sát tình hình chung của từng cá thể để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp
Bảng 2.2 Quy trình cho ăn, lượng thức ăn và loại thức ăn
Loại heo Định mức
(kg/con/ngày)
Số lần cho ăn Loại thức ăn
Nái đẻ và nuôi con 2,0 – 7,0 3 lần/ngày 9055
Heo con theo mẹ 0,01 – 0,06 5 lần/ngày A1hoặc B1
Nguồn: số liệu do trại cung cấp Quy trình cho nái ăn:
Để nái ăn đầy đủ trong thời kì nuôi con, việc quản lý nái thời kỳ mang thai là
hết sức quan trọng Lượng thức ăn cho nái mang thai phụ thuộc nhiều yếu tố như
thể trọng của nái, thời gian mang thai, điều kiện ngoại cảnh… vì vậy lượng thức ăn cho nái bầu biến thiên từ 2,2 – 3,5 kg/con/ngày Trước khi đẻ, lượng thức ăn cho nái
Trang 17trong một ngày là khoảng 3,2kg Khi di chuyển sang chuồng đẻ tiếp tục cho ăn theo tiêu chuẩn nái mang thai Trước khi đẻ một ngày chỉ cho ăn khoảng 2,2kg/ngày Trước khi đẻ, nếu cho ăn quá nhiều nái sẽ gia tăng tỷ lệ mắc bệnh sau khi sinh như viêm tử cung, viêm vú … Trước khi đẻ 1 – 2 ngày giảm lượng thức ăn sẽ không ảnh hưởng tới trọng lượng sơ sinh heo con và sẽ giảm các trường hợp đẻ khó Sau khi
đẻ nên cho nái ăn 3 lần/ngày sẽ giúp tăng lượng thức ăn ăn vào và sẽ hạn chế được
sự giảm thể trọng
Quy trình cho heo con ăn:
Heo con theo mẹ được bắt đầu tập ăn lúc 5 ngày tuổi, thức ăn cho heo con tập
ăn được thay thường xuyên (sau 3 giờ) Sau khi cai sữa được 7 ngày thì chuyển qua chuồng cai sữa và được cho ăn tự do Bình thường trong giai đoạn từ sơ sinh đến chuyển thịt, heo con sử dụng 2 loại thức ăn là B1 và B2 (của Công ty B), còn khi
tiến hành thí nghiệm thì chúng ăn 3 loại thức ăn A1, A2 và A3 (Công ty A) Thành
phần của các loại thức ăn này được nêu ở Bảng 2.3 và Bảng 2.4
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn B1 và B2
Trang 18Bảng 2.4 Thành phần dinh dưỡng của thức ăn A1, A2 và A3
Đạm (%) 20 18
Chưa được công bố
Trang 19trước khi vào trại, đầu mỗi dãy chuồng cũng có một hố sát trùng để tránh lây lan
dịch bệnh giữa các dãy
Chuồng trại được phun thuốc sát trùng định kỳ 2 lần/ tuần với thuốc sát trùng Omnicide Sau khi chuyển hoặc bán heo chuồng được chà rửa sạch sẽ sau đó rắc vôi
bột và phun thuốc sát trùng Tiếp theo, để trống khoảng 3 ngày trước khi cho heo
mới vào Sát trùng chuồng sau mỗi lần tiêm vắc xin cho heo để tránh mần bệnh gia tăng
Qui trình tiêm phòng:
Hiện nay, tình hình dịch bệnh diễn biến rất phức tạp như: bệnh tai xanh, lở
mồm long móng, dịch tả… vì vậy, việc tiêm phòng vắc xin cho heo là thực sự cần thiết và phòng bệnh hiệu quả nhất
Tùy theo lứa tuổi và giai đoạn sinh lý mà qui trình tiêm phòng khác nhau Qui trình tiêm phòng của trại được trình bày qua các bảng sau:
Bảng 2.5 Quy trình tiêm phòng heo con theo mẹ và sau cai sữa
Tuần tuổi Ngày tuổi Tên bệnh được phòng Vắc xin Đường cấp
Trang 20Bảng 2.6 Quy trình tiêm phòng heo nái mang thai
Tuần mang
thai
Ngày mang thai
Tên bệnh được
12 84 Bệnh do E coli lần 1 Porcilis Tiêm bắp
14 98 Bệnh do E coli lần 2 Porcilis Tiêm bắp
Bảng 2.7 Quy trình tiêm phòng nái hậu bị (7 tháng tuổi và >100kg)
Sau khi
2 tuần PRRS Ingelvac prrs + diluent Tiêm bắp
4 tuần Bệnh do Parvovirus lần 1 Pocilils parvo Tiêm bắp
5 tuần PRRS Ingelvac prrs + diluent Tiêm bắp
7 tuần Bệnh do Parvovirus lần 2 Pocilils parvo Tiêm bắp
Nguồn: Số liệu do trại cung cấp
Trang 212.2 Đặc điểm sinh lý heo con
2.2.1 Heo con theo mẹ
Trong tử cung heo mẹ nhiệt độ luôn ổn định và cao hơn nhiệt độ bên ngoài Vì
vậy khi mới ra khỏi cơ thể heo mẹ thì heo con phải sử dụng một lượng lớn nhiệt để
chống lạnh Nếu nhiệt độ bên ngoài thấp, heo con không thể thích nghi ngay nên thường bị giảm thân nhiệt trong những ngày đầu sau khi sinh Do đó, nhiệt độ thích
hợp ở chuồng nuôi là 28 – 340
C Cùng với sự điều chỉnh thân nhiệt, thú non còn chuyển từ hô hấp qua cuống rốn sang hô hấp bằng phổi Cho nên trong lúc đỡ đẻ
cần tạo điều kiện tốt cho heo con hô hấp, phải lau sạch chất nhờn trên mũi
Ở heo con mới sinh, cơ quan tiêu hóa đã hình thành đầy đủ nhưng chức năng và
hoạt động cơ học chưa hoàn chỉnh Dạ dày heo con mới sinh rất ít pepsin nên protein được phân giải chậm, được tiêu hóa bởi trypsin Các emzyme tiêu hóa bột đường hoạt động kém do thiếu amylase trong tụy và maltase trong ruột
Heo con sơ sinh đến 25 ngày tuổi lượng acid chlohidric tiết ra trong dịch vị rất ít
và nó nhanh chóng kết hợp với dịch nhầy làm lượng acid chlohidric tự do trong dịch
vị rất thiếu, độ toan trong dạ dày thấp tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển và gây
bệnh đường ruột (Phùng Ứng Lân, 1985; dẫn liệu Lê Hiếu Thuận, 2007)
Trong giai đoạn này heo con có khả năng tăng trưởng nhanh, trọng lượng 7 ngày
tuổi gấp 2 lần trọng lượng lúc sơ sinh Trọng lượng 21 ngày tuổi gấp 2 lần trọng lượng lúc 7 ngày tuổi, và ở 4 tuần tuổi heo có trọng lượng gấp 5 lần trọng lượng sơ sinh Từ đó cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho nhu cầu sinh trưởng của heo con (Nguyễn Bạch Trà, 1998) Heo con từ 7 ngày tuổi có thể liếm láp thức ăn, do đó
tập cho heo con ăn sớm là một yêu cầu kỹ thuật giúp cho heo con phát triển nhanh không bị mất sức khi lượng sữa mẹ giảm dần từ ngày tuổi thứ 21 trở đi (Võ Văn Ninh, 1998)
Trang 222.2.2 Heo con cai sữa
Sau khi cai sữa chế độ ăn có sự thay đổi đột ngột về số lần ăn trong ngày và loại
thức ăn Bên cạnh đó, khả năng tiêu hóa thức ăn kém, và sức đề kháng của heo con
giảm rất nhiều trong giai đoạn này, do đó khả năng tiêu hóa rất hạn chế
Ngoài yếu tố dinh dưỡng, heo con còn chịu ảnh hưởng bởi tiểu khi hậu chuồng nuôi và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Do thay đổi chuồng nuôi, vận chuyển, ghép đàn… nên heo bị hàng loạt stress Ngoài ra, heo con khi cai sữa chịu lạnh kém vì xa
mẹ và hàm lượng mỡ dự trữ của cơ thể còn ít, do đó chuồng heo cai sữa cần có đèn
úm với nhiệt độ thích hợp
Màng nhầy ruột non có những thay đổi khi heo cai sữa ở 3 – 4 tuần tuổi Theo Hampson and Kidder, (1986) (trích dẫn bởi Trần Thị Dân, 2003), so với trước khi cai sữa, nhung mao (để hấp thu chất dinh dưỡng) ngắn đi 75% trong vòng 24 giờ sau cai sữa và tình trạng ngắn này vẫn tiếp tục giảm dần cho đến ngày thứ 5 sau cai
sữa Mào ruột là nơi mà tế bào của chúng di chuyển dần lên đỉnh nhung mao để trở thành tế bào ruột trưởng thành với vi nhung mao hấp thu chất dinh dưỡng Vài enzyme tiêu hóa (lactase, glucosidase, protease) bị giảm nhưng maltase lại tăng, do
đó khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của ruột cũng giảm Việc giảm chiều dài của nhung mao và hình dạng chưa trưởng thành của quần thể tế bào ruột (do tốc độ thay
thế nhanh) có thể giúp giải thích tại sao heo cai sữa tăng nhạy cảm với bệnh do
cấp thức ăn thơm ngon, đầy đủ chất dinh dưỡng và nhiệt độ phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của heo Qui trình chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại
hợp lý, nhằm đảm bảo không gây ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng và phát triển
của heo trong giai đoạn này
Trang 232.3 Các yếu tố ảnh hưởng tăng trọng của heo con
Dinh dưỡng là một yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trọng của heo con, dinh dưỡng có thể làm chậm tăng trọng trong trường hợp nuôi dưỡng thiếu năng lượng hay một vài chất dinh dưỡng thiết yếu
Nhu cầu dinh dưỡng phụ thuộc vào trọng lượng heo lúc cai sữa và khả năng tăng trọng của heo sau giai đoạn đó Thành phần thức ăn phải phù hợp với khả năng tiêu hóa của heo cai sữa (mềm và dễ tiêu hóa) Giai đoạn này hoạt động của enzyme tiêu hóa chưa phát triển hoàn chỉnh Do đó phải đảm bảo đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho heo con
Ngoài yếu tố dinh dưỡng ra thì công tác giống cũng ảnh hưởng rất nhiều đến
khả năng tăng trọng của heo con Nếu ngay từ đầu chúng ta không chọn lựa được
những đàn heo cha mẹ có thành tích sinh sản cao, trọng lượng lớn và những con
giống có hướng sản xuất cao…thì sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng của heo con sau này Những con giống có hướng sản xuất cao thường là giống heo thịt, nước ta có ba giống heo ngoại có sức sản xuất cao là Landrace, Yorkshire, Duroc
Bệnh tật cũng là một yếu tố góp phần quan trọng ảnh hưởng đến khả năng tăng
trọng của heo con Nếu chúng ta chăm sóc heo con không kỹ, hay do điều kiện thời
tiết bất lợi sẽ làm cho heo con dễ bị nhiễm bệnh Từ đó làm cho heo con mất đi khả năng chống trọi với bệnh tật và giảm sức ăn, những con nào không có sức đề kháng thì không vượt qua được và có thể chết, những con nào có sức đề kháng mạnh thì vượt qua được nhưng sẽ làm cho heo con bị còi, chậm lớn, giảm tăng trọng
Theo kiến thức chăn nuôi heo số 8 (Pig & Pork, 2010), đây là điều kiện đầu tiên để có một đàn heo khỏe mạnh, tránh bệnh tật, tăng trọng nhanh
Trang 24Trong trại đẻ, môi trường thích hợp cho nái và heo con là khác biệt nhau
Yếu tố môi trường nuôi của nái phải tính đến đầu tiên đó là nhiệt độ và độ ẩm Đối
với heo con, điều cần phải tính đến đầu tiên là nơi nghỉ ngơi thích hợp cho chúng
Vào trước ngày dự kiến sinh phải bật đèn úm Heo con có thể tự tìm đến nơi thích hợp sau khi sinh khoảng 24 tiếng Chính vì vậy cần duy trì nhiệt độ trong chuồng nái đẻ khoảng 220C Heo con nếu được bú sữa đầu sẽ nâng cao được hệ
miễn dịch, và kích thích heo mẹ tiết sữa nhiều hơn Nơi nghỉ ngơi của heo con phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
Duy trì nhiệt độ thích hợp cho heo con:
Nhiệt độ cần thiết cho heo con là 34 – 370
C Nhiệt độ này phù hợp với nhu
cầu sinh lý của heo con Nếu thấp hơn nhiệt độ này thì thân nhiệt heo con sẽ giảm sút Nếu heo con nằm ở nền lạnh thì sau 2 tiếng thân nhiệt sẽ giảm xuống 34 –
350C, nếu tiếp tục giảm nhiệt độ heo con có thể chết
Nhằm đảm bảo cho heo mẹ được đầy đủ thức ăn, cần duy trì nhiệt độ trong
trại đẻ thấp hơn so với nhiệt độ phù hợp với heo con Vì vậy, khu vực nái và nơi nghỉ ngơi của heo con cần phải được duy trì nhiệt độ riêng biệt Cần phải làm như
vậy để heo con không mất năng lượng cho việc duy trì thân nhiệt và có thể phát triển bình thường Để hạn chế nhiệt độ xuống thấp, trước thời gian đẻ, nên thiết kế khu vực sưởi ấm cho heo con, được chặn bằng các miếng chắn giúp tăng nhiệt độ khu vực heo con nằm, nên có cửa để heo con tự do ra vào
Phải giữ khô:
Ẩm độ của trại cao sẽ có hại cho heo con Nhiệt độ thích hợp cho heo con là
340C, nhưng nếu nền chuồng ẩm ướt thì thân nhiệt có thể xuống tới 24 – 290C Chính vì vậy trước khi nhập heo nái đẻ, chuồng trại phải được giữ khô hoàn toàn Tránh để khu vực sưởi heo con bị dơ bởi phân heo và nước tiểu, khiến heo con phải
ra ngoài ngủ, có thể dẫn đến bị cảm lạnh
Ngăn gió lạnh:
Nếu không khí lạnh tràn vào khu sưởi ấm heo con với tốc độ cao, heo con sẽ
bị lạnh Khu vực sưởi ấm là nơi ấm nhất ở trong trại, gió lạnh sẽ làm heo con không
Trang 25thoải mái, dễ bị bệnh vì vậy cần phải đảm bảo kín gió ở khu vực sưởi ấm của heo con
Heo mẹ là một yếu tố quyết định tăng trọng heo con, đặc biệt là heo con theo
mẹ Nguồn cung cấp chất béo trong sữa heo nái cho heo con là nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến sinh lý phát triển cơ thể heo con và xây dựng lớp mỡ bọc thân dày (Võ Văn Ninh, 2008) Heo con bú sữa mẹ có thể bị giới hạn tăng trưởng do sức sản xuất
sữa của nái thường không đủ cho heo con từ 8 – 10 ngày tuổi trở đi và khả năng tăng trưởng của mô cơ bị ảnh hưởng bởi thành phần sữa của nái (Trần Thị Dân, 2003)
Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2005) thì khối lượng sơ sinh và khối lượng 60 ngày tuổi có liên quan chặt chẽ với nhau Khối lượng sơ sinh cao, khối lượng cai sữa cao, dẫn đến khối lượng 60 ngày tuổi cũng cao
Bệnh tiêu chảy trên heo con rất đa dạng Đặc biệt gây viêm dạ dày, ruột, đi phân lỏng làm mất nước và chất điện giải, máu cô đặc làm con vật gầy nhanh dẫn đến tử vong hoặc con vật còi cọc chậm lớn (Nguyễn Như Pho, 2000)
Các nguyên nhân gây tiêu chảy
Tiêu chảy là hiện tượng thú đi phân với số lần và số lượng trong ngày lớn hơn
mức bình thường, đồng thời hàm lượng nước trong phân cũng tăng hơn bình
thường Nguyên nhân gây tiêu chảy cũng rất đa dạng, có thể chia làm 4 nhóm:
• Do đặc điểm bộ máy tiêu hóa: heo con mới sinh bộ máy tiêu hóa chưa hoàn
chỉnh, khả năng tiết axít HCl rất ít không đủ làm tăng độ toan của dạ dày Do vậy,
vi khuẩn bất lợi có điều kiện xâm nhập và phát triển trong đường tiêu hóa và sự phân tiết các men tiêu hóa ở dạ dày và ruột non cũng rất kém chỉ đủ tiêu hóa các
loại thức ăn như sữa
Trang 26• Do cảm nhiễm vi sinh vật: một số mần bệnh gây nhiễm trùng đường tiêu hóa
dẫn đến tiêu chảy hay gặp ở heo con như: viêm dạ dày ruột truyền nhiễm do
• Do yếu tố ngoại cảnh: không cho heo con bú sữa đầu đầy đủ, không úm heo con hoặc úm không đúng cách làm cho heo con bị lạnh, hệ thống tiêu hóa hoạt động
yếu, giảm nhu động ruột, giảm phân tiết dịch tiêu hóa dẫn đến tình trạng không tiêu, viêm ruột, tiêu chảy, không cấp sắt cho heo con, điều kiện vệ sinh kém …
• Do heo m ẹ: theo Nguyễn Như Pho (1995), trong thời gian nái mang thai, sự
thiếu hụt protein, vitamin A, các khoáng (Cu, Fe, Zn) trong thức ăn cũng làm rối
loạn trao đổi chất ở bào thai, nên heo con sinh ra yếu và đề kháng kém, từ đó dễ
mắc bệnh Heo mẹ mắc bệnh sẽ dẫn đến kém sữa, sốt sữa và có thể không cho con
bú, vì vậy heo con bú ít hoặc không bú được lượng sữa đầu nên giảm sức đề kháng,
từ đó dễ phát sinh bệnh Ngoài ra theo Phùng Ứng Lân (1986), heo mẹ mắc hội
chứng M.M.A (Mastitis, Metritis, Agalactia) chảy dịch viêm xuống nền chuồng, heo con liếm phải dịch viêm cũng bị viêm ruột tiêu chảy Heo mẹ không được tiêm phòng đầy đủ các bệnh mà heo con dễ mắc phải, thì heo con không có sức đề kháng
với bệnh
Hậu quả của tiêu chảy (Nguyễn Tất Toàn, 2010)
+ Hậu quả của tiêu chảy cấp: Mất nước rất nhiều qua phân dẫn đến máu cô đặc, khối lượng tuần hoàn giảm và dẫn đến trụy tim mạch Rối loạn huyết động học cũng dẫn đến tình trạng rối loạn chuyển hóa các chất như chuyển hóa yếm khí làm tình trạng nhiễm acid càng nặng thêm nên gây ra nhiễm độc thần kinh, gây dãn
mạch và cuối cùng đưa đến tăng rối loạn huyết động học và hình thành vòng xoắn
bệnh lý ngày càng trầm trọng
+ Hậu quả của tiêu chảy mãn: Tiêu chảy mãn không gây tình trạng mất nước tuy nhiên, tiêu chảy kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn hấp thu, thiếu protein, vitamin, muối canxi từ đó đưa đến tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu máu, còi xương Cách phòng:
Chuồng trại phải thường được vệ sinh sạch sẽ khô ráo và phải phun thuốc sát
Trang 27trùng định kỳ Nước uống và thức ăn phải đảm bảo vệ sinh sạch sẽ Ổ đẻ phải được sát trùng, tiêu độc trước khi chuyển nái vào chuồng Heo con phải luôn được giữ ấm
Các thể hô hấp:
Thở thể hỗn hợp: bình thường gia súc thở thể này (trừ chó), khi thở thành
bụng và thành ngực hoạt động nhịp nhàng
Thở thể ngực: lúc gia súc thở thành ngực hoạt động rõ (cơ liên sườn ở vùng
ngực) còn thành bụng và cơ hoành hoạt động ít hay không hoạt động Các gia súc
thở thể ngực là có bệnh (trừ chó), một số bệnh thường gặp: viêm phúc mạc, liệt cơ hoành, bị thương cơ hoành, những ca bệnh làm thể tích xoang bụng tăng lên như giãn dạ dày, chướng hơi dạ cỏ, chướng hơi ruột, bội thực dạ cỏ, bang nước Ngoài
ra, còn có một số nguyên nhân khác như gan sưng to, lách sưng to, bàng quang căng
do bí tiểu
Thở thể bụng: khi gia súc thở thành bụng hoạt động rõ, thành ngực hoạt động
yếu hay không hoạt động (chỉ có cơ hoành và cơ bụng hoạt động) Gia súc thở thể
bụng khi bị viêm màng phổi, tích nước xoang ngực, có thể bị liệt cơ liên sườn, gãy
cơ liên sườn (Nguyễn Tất Toàn, 2008)
Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh đường hô hấp:
Bệnh đường hô hấp ở heo có thể xảy ra do nhiều yếu tố khác nhau nhưng có
thể chia làm 2 nhóm chính đó là yếu tố truyền nhiễm và yếu tố không truyền nhiễm
Yếu tố truyền nhiễm là những mần bệnh có khả năng gây bệnh đường hô hấp như virus, vi khuẩn, kí sinh trùng Các yếu tố truyền nhiễm do vi khuẩn có thể kể
Trang 28hyopneumoniae gây viêm ph ổi mãn tính, Mycobacterium làm cho phổi nhiễm trùng
thứ cấp từ bệnh ở vùng bụng, P multocida gây viêm phổi, phổi sung huyết, xuất
huyết, H parasuis gây viêm đa khớp, viêm phổi sợi huyết, viêm màng não, A
do virus trên heo như cúm heo do họ Orthomyxoviridae; cảm nhiễm trên đường hô
hấp do Coronavirus; virus gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên heo
(PRRS) Bệnh do kí sinh trùng có thể do giun phổi Metrastrongylus spp tác động
lên bộ máy hô hấp do phá hủy niêm mạc, tiết ra độc tố làm suy giảm hệ thống miễn
dịch của cơ thể Khi heo nhiễm giun phổi gây ra viêm phổi, viêm phế quản, gây ho cho thú (Lê Hữu Khương, 1996)
Yếu tố không truyền nhiễm gồm có dinh dưỡng, di truyền, môi trường bao
gồm vệ sinh chuồng trại, tiểu khí hậu chuồng nuôi cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành bệnh trên đường hô hấp
Dinh dưỡng đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của cơ thể chống
lại các tác nhân gây bệnh từ môi trường ngoài Cung cấp vitamin và khoáng chất không đủ thì làm tỷ lệ cảm nhiễm bệnh tăng lên Theo Bacman (1981), vitamin (A, B1, B2, PP, C) giúp cơ thể kháng bệnh như: cúm, viêm họng, bệnh giảm rõ rệt khi
sử dụng các vitamin này (trích dẫn Phan Diệp Ngân, 2001) Canxi, photpho thì ít được chú ý hơn Tuy nhiên thiếu bất cứ chất dinh dưỡng nào cũng làm cho bệnh
trầm trọng hơn Heo con theo mẹ với bệnh viêm mũi cấp tính sẽ tiêu thụ ít thức ăn,
trở nên còi cọc, chậm lớn Heo thịt có thể giảm sức ăn, giảm tăng trọng và trở nên
ốm còi
Môi trường: nhiệt độ, độ ẩm, tiểu khí hậu chuồng nuôi thay đổi quá cao hay quá thấp cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trọng và sức đề kháng của heo Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho mần bệnh xâm nhập và phát triển Theo Lundchein (1979), yếu tố di truyền cũng liên quan đến rối loạn hô hấp Đã có những
khảo sát trên đàn heo trong cùng điều kiện chăn nuôi, chăm sóc, quản lý giữa đàn heo thuần Hampshire và Yorkshire có tỷ lệ viêm teo xoang mũi cao hơn nhiều so
với đàn heo thuần Landrace (Phan Công Trạng, 2007)
Trang 292.5 Sơ lược về kháng sinh sử dụng và Selko® – pH
Excede
Thành phần: Excede có chứa các tinh thể axit tự do của ceftiofur (trong 1ml Excede có chứa 50 mg Ceftiofur), là một phổ rộng kháng sinh cephalosporin hoạt động chống lại vi khuẩn gram dương và vi khuẩn gram âm (bao gồm sản xuất beta – lactamase chủng)
Liều và cách sử dụng: thuốc được tiêm bắp cho heo con lúc 7 ngày tuổi và chỉ tiêm 1 lần, liều tiêm bắp 0,2ml/ heo con
Tác dụng: để ngăn ngừa các bệnh về đường hô hấp liên kết với Actinobacillus
pleuropneumonia, Pasteurella multocid, Haemophilus parasui, Streptococcus suis
Tác dụng: ngăn ngừa và điều trị những bệnh hô hấp cấp tính và mãn tính trên
heo con do: Mycoplasma hyopneumonea gây ra (b ệnh suyễn), Pasteurella multocid
(bệnh tụ huyết trùng), Actinobacillus pleuropneumoniae (bệnh viêm màng phổi),
Trang 302.5.2 Selko® – pH
Selko® – pH là sản phẩm dạng dung dịch, có tính chất cộng hưởng đặc biệt
của hỗn hợp các acid hữu cơ và muối amonium, giúp acid hóa nước, sát khuẩn nước
uống, tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, tối ưu hóa cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột và tăng cường khả năng tiêu hóa của thú nuôi, với liều sử dụng thấp
Thành phần bao gồm acid Formic E 236, acid Acetic E 260, Amonium Formate E 295, đồng E4 Tất cả các thành phần đều tuân thủ theo tiêu chuẩn của
cộng đồng Châu Âu, các acid hữu cơ sử dụng đều có khả năng phân hủy sinh học Selko® – pH có phổ hoạt động rộng, qua đường nước uống vào trong dạ dày và ruột non của động vật, ức chế sự phát triển của vi khuẩn, nấm men và nấm mốc
Cơ chế tác động của selko® – pH:
Trước tiên selko® – pH làm giảm nhanh pH của nước uống, tạo điều kiện
sống không thích hợp cho vi sinh vật, sau đó các acid hữu cơ đi qua thành tế bào và làm hư hại chức năng của tế bào do đó có tác động là tiêu diệt các mần bệnh là vi khuẩn, nấm men và nấm mốc ở trong nước uống và đường ống
Các acid hữu cơ có tác động hỗ trợ quá trình acid hóa của dạ dày (đặc biệt ở thú nhỏ), tạo điều kiện tối ưu để hấp thu dưỡng chất và tiêu hóa thức ăn do hoạt hóa enzymes tiêu hóa (pepsins)
Muối amonium của acid (mức pKa cao) phá hủy tế bào vi khuẩn, có tác dụng
diệt khuẩn mạnh ở đường tiêu hóa (pH 6,5) của thú nuôi
Tác dụng diệt khuẩn có chọn lọc, cho phép những vi khuẩn có lợi phát triển, làm cho đường ruột khỏe mạnh tiêu hóa tốt
Liều dùng:
Sử dụng selko® – pH với liều 1 – 3 lít/1000 lít nước uống tùy theo chất lượng nước, hệ thống nước uống và mục đích sử dụng để đạt hiệu quả trên thú nuôi
Lợi điểm của selko® – pH:
Acid hóa nước uống và làm giảm mầm bệnh trong nước
Kiểm soát tiêu chảy trên heo, đặc biệt tiêu chảy do thay đổi thức ăn, chuyển chuồng hoặc sử dụng kháng sinh dài ngày