Trong đó, xác định được 242 loài vi tảo hiện diện tại các thủy vực ven sông Tiền; 196 loài vi tảo tại các thủy vực ven sông Hậu thuộc 6 ngành và ngành tảo silic luôn chiếm ưu thế tại các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN CÁC LOÀI VI TẢO HIỆN DIỆN
TRONG CÁC THỦY VỰC VEN SÔNG TIỀN
VÀ SÔNG HẬU
Ngành học: CÔNG NGHỆ SINH HỌC Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ MỸ LINH Niên khóa: 2007 – 2011
Tháng 7/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
************
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN CÁC LOÀI VI TẢO HIỆN DIỆN
TRONG CÁC THỦY VỰC VEN SÔNG TIỀN
VÀ SÔNG HẬU
Hướng dẫn khoa học: Sinh viên thực hiện:
CNSH ĐẶNG NGỌC THUỲ
Tháng 7/2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
trình thực hiện đề tài này
tất cả tâm huyết, người đã tạo điều kiện để em có thể thực hiện tốt đề tài
Báo Môi Trường và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Thủy Sản Khu Vực Nam Bộ, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
em trong suốt quá trình học tập tại trường Thầy cô đã dạy cho em nhiều kiến thức bổ ích
tập trau dồi kiến thức thật tốt
TS Lê Đình Đôn đã tạo giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài, tạo cho em động lực cố gắng hoàn thành tốt đề tài
nghiên cứu khoa học, người đã truyền đạt kinh nghiệm quý báu với tư cách của một người chị và một người thầy
trong suốt 4 năm đại học cũng như trong lúc thực hiện khóa luận tốt nghiệp
con được học hành Cha mẹ đã luôn quan tâm, bên cạnh con và là chỗ dựa vững chắc cho con trong cuộc sống
Tp Hồ Chí Minh, ngày 6 tháng 7 năm 2011
Nguyễn Thị Mỹ Linh
Trang 4Do những tầm quan trọng hết sức đặc biệt của vi tảo đối với nghề nuôi trồngthủy sản, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát thành phần các loài tảo hiện diện
trồng thủy sản đánh giá chất lượng nguồn nước hiện tại, nguồn thức ăn tự nhiên, các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể làm cơ sở cho quy hoạch nuôi trồng và khai thác thủy sản nhằm góp phần phát triển bền vững và ổn định nguồn thủy sản trong vùng
Khảo sát sự biến động thành phần loài và mật độ vi tảo được thực hiện tại 10 điểm quan trắc ven sông Tiền, sông Hậu trong 2 tháng mùa khô (02/2011 và 04/2011) Các mẫu thu được cố định bằng dung dịch lugol Thành phần loài vi tảo được xác định theo phương pháp hình thái so sánh bằng cách quan sát các đặc điểm hình thái cấu tạo
tế bào vi tảo trên kính hiển vi Định lượng tế bào bằng buồng đếm Sedgwick- Rafter
có thể tích 1 ml
Kết quả cho thấy thành phần các loài vi tảo hiện diện trên sông Tiền và sông Hậu khá tương đồng Trong đó, xác định được 242 loài vi tảo hiện diện tại các thủy vực ven sông Tiền; 196 loài vi tảo tại các thủy vực ven sông Hậu thuộc 6 ngành và ngành tảo silic luôn chiếm ưu thế tại các thủy vực Phân bố của các loài tảo phụ thuộc chủ yếu vào độ mặn Bên cạnh đó, thông qua việc sử dụng chỉ số đa dạng của vi tảo để đánh giá chất lượng môi trường nước trong thủy vực có thể kết luận các thủy vực khảo sát có tình trạng chất lượng nước dao động từ ô nhiễm nhẹ đến ô nhiễm
Từ khóa: vi tảo, sông Tiền, sông Hậu, chỉ số Shanon- Wiener
Trang 5Due to the special importance of microalgae for aquaculture, we studied the thesis: "Investigating species composition of microalgae at monitoring sites along the Tien and Hau rivers" to contribute the aquaculture to assess current water quality, natural food sources, managers have the overall look as the basis for planning of aquaculture and capture fisheries to contribute to develop sustainably and stably of local aquatic resources
For investigating species composition and density of microalgae, samples were collected at 10 monitoring sites along the Tien and Hau rivers, in Feburary and April
2011 Samples were fixed by lugol solution Species composition of microalgae were determined by the method of comparative morphology on microscope Quantified by Sedgwick- Rafter counting cell champer with 1 ml
Results showed the species composition of microalgae in Tien and Hau rivers were fairly similar It was recorded 6 main algae phyla in that were the presence of
242 species in Tien river and 196 species in Hau river, with diatoms predominated Distribution of microalgae depended on variously the salinity Besides, by mean of using of Shanon- Wiener Index for assessing water quality, results were recorded water quality of investigated area ranged from oligosaprobe to mesosaprobe
Keywords: microalgae, Tien river, Hau river, Shanon- Wiener Index
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
SUMMARY iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH viii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2.Nội dung nghiên cứu 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1.Những nghiên cứu trước đây: 3
2.1.1.Nghiên cứu trong nước: 3
2.1.2.Những nghiên cứu trên thế giới 4
2.2.Đôi nét về đối tượng nghiên cứu 6
2.2.1.Hình thái và sự phân bố 6
2.2.2.Phân loại 7
2.2.2.1.Tảo lam (Cyanobacteriophyta) [11] 7
2.2.2.2.Tảo silic (Bacillarophyta) [11] 9
2.2.2.3.Tảo lục (Chlorophyta) [11] 9
2.2.2.4.Tảo mắt (Euglenophyta) [11] 10
2.2.2.5.Tảo giáp (Dinophyta) [11] 10
2.2.2.6.Tảo vàng (Xanthophyta) [43] 10
2.2.2.7.Tảo vàng ánh (Chrysophyta) [32] 11
2.2.3.Ý nghĩa của tảo đối với sinh môi 12
2.2.4.Đặc điểm khu vực khảo sát 14
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
3.2.Vật liệu 16
3.2.1.Dụng cụ 16
3.2.2.Hóa chất 16
3.3.Phương pháp nghiên cứu 16
3.3.1.Thời gian và vị trí thu mẫu 16
3.3.2 Phương pháp thu mẫu và bảo quản mẫu 19
3.3.2.1 Mẫu định tính 19
3.3.2.2 Mẫu định lượng 19
3.3.3 Phương pháp phân tích mẫu 19
3.3.3.1 Mẫu định tính 19
3.3.3.2 Mẫu định lượng 19
3.3.4 Xác định độ ô nhiễm qua chỉ số đa dạng 20
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 21
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1.Cấu trúc quần xã tại các điểm quan trắc trên sông Tiền và sông Hậu 22
Trang 74.1.1 Thành phần loài 22
4.1.2 Mật độ 26
4.1.3 Nhóm tảo gây hại 43
4.2 Chất lượng môi trường nước thông qua vi tảo 45
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tọa độ UTM của các điểm thu mẫu 17
Bảng 3.2 Thang điểm đánh giá chất lượng nước Henne & Rya Sunoko, 1995 20
Bảng 3.3 Thang giá trị tính đa dạng (theo Chen Qing Chao, 1994) 21
Bảng 3.4 Thang điểm đề xuất cho chỉ số tương đồng Sorensen, 1948 21
Bảng 4.1 Thành phần loài tảo hiện diện trong các thủy vực ven sông Tiền, sông 23
Bảng 4.2 Chỉ số tương đồng Sorensen tương ứng với các khu vực trong mùa khô 24
Bảng 4.3 Các loài ưu thế trong từng thủy vực khảo sát trên sông Tiền 39
Bảng 4.4 Các loài ưu thế trong từng thủy vực khảo sát trên sông Hậu 43
Bảng 4.5 Kết quả đánh giá chất lượng nước và mức độ đa dạng ven sông Tiền 46
Bảng 4.6 Kết quả đánh giá chất lượng nước và mức độ đa dạng ven sông Hậu 47
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.1 Vị trí điểm thu mẫu 18
Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ phân bố giữa các nhóm vi tảo ghi nhận trong thời gian khảo sát 22
Biểu đồ 4.2 Diễn biến thành phần loài tảo trong 2 đợt khảo sát tại từng thủy vực trên sông Tiền.25 Biểu đồ 4.3 Diễn biến thành phần loài tảo trong 2 đợt khảo sát tại từng thủy vực trên sông Hậu 26
Hình 4.4 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 27
Hình 4.5 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 28
Hình 4.6 Các loài tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 29
Hình 4.7 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 30
Hình 4.8 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 31
Hình 4.9 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 32
Hình 4.10 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 33
Hình 4.11 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 34
Hình 4.12 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 35
Hình 4.13 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 36
Hình 4.14 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta 37
Hình 4.15 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Chlorophyta Error! Bookmark
not defined.
Hình 4.16 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Chlorophyta Error! Bookmark
not defined.
Hình 4.17 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Chlorophyta Error! Bookmark
not defined.
Hình 4.18 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Chlorophyta Error! Bookmark
not defined.
Hình 4.19 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Cyanophyta Error! Bookmark
not defined.
Hình 4.20 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Cyanophyta Error! Bookmark
not defined.
Hình 4.21 Các loài tảo xác định được thuộc ngành Euglenophyta Error! Bookmark
not defined.
Trang 11Hình 4.22 Các loài tảo xác định được thuộc ngành Euglenophyta Error! Bookmark
not defined.
Hình 4.23 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Euglenophyta và Dinophyta
Error! Bookmark not defined
Hình 4.24 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Dinophyta và Chrysophyta 38
Biểu đồ 4.25 Diễn biến mật độ tảo trong 2 đợt khảo sát tại từng thủy vực trên sông Tiền 39 Biểu đồ 4.26 Diễn biến mật độ tảo trong 2 đợt khảo sát tại từng thủy vực trên sông Hậu 42
Trang 12Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hai dòng chính sông Tiền, sông Hậu chi phối mạnh mẽ sự phát triển của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Sông Tiền, sông Hậu đóng vai trò khá quan trọng với mọi hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế trong vùng cũng như sự phát triển của vùng đồng bằng châu thổ hiện tại Ngay sau khi phân lưu từ dòng chính MeKong tại Phnôm-Pênh, nhờ lòng sông rộng lớn nên sông Tiền có khả năng chuyển tải một lượng lớn hơn sông Hậu, chiều dài của mỗi con sông là từ 200 - 250 km Hàng năm
thiết cho sự phát triển của sinh vật nước ngọt cũng như sinh vật nước lợ, mặn ở sông ven biển, trong đó là sự phát triển đa dạng, phong phú của các loài tảo
Tảo đóng vai trò là sinh vật sản suất, tạo ra năng lượng sơ cấp cho hệ sinh thái thủy vực, chúng là mắc xích đầu tiên của chuỗi trong lưới dinh dưỡng và cũng là một trong những nguồn oxy chính của hệ sinh thái Cấu trúc quần xã vi tảo trực tiếp chịu tác động của môi trường và bị thay đổi trước sự biến động của điều kiện môi trường , chính vì vậy mà vi tảo là một trong 7 nhóm sinh vật được dùng làm chỉ thị sinh học trong nghiên cứu đánh giá chất lượng nước (Đặng Thị Sy, 2005) Bên cạnh mặt có lợi, một số loài vi tảo gây ra không ít các tác hại cho ngành thủy sản và sức khỏe cộng đồng Khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi, một số loài tảo có khả năng phát triển mạnh gây nên hiện tượng nở hoa trong môi trường, sẽ giảm lượng oxy hòa tan, không những ảnh hưởng tới sự sống của các loài thủy sinh vật trong thủy vực mà còn ảnh hưởng tới cảnh quan và du lịch Hiện tượng nở hoa thường xảy ra trên diện tích lớn và đây cũng chính là lý do gây chết hàng loạt của tôm, cá và nhiều động vật thủy sinh khác đưa đến những thiệt hại lớn về kinh tế
Trong những năm gần đây, tình hình chất lượng nước của sông Tiền và sông Hậu đang có xu hướng giảm do chất thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp (nạn lạm dụng phân bón, thuốc trừ sâu, hóa chất…), từ các khu công nghiệp,
từ hoạt động sinh hoạt Bên cạnh vấn đề ô nhiễm, là vấn đề biến đổi khí hậu có khả
Trang 13năng sẽ làm cho thành phần loài tảo thay đổi Vì vậy, đề tài: “Khảo sát thành phần các loài tảo hiện diện trong các thủy vực ven sông Tiền và sông Hậu” được thực hiện nhằm góp phần giúp cho người nuôi trồng thủy sản đánh giá chất lượng nguồn nước hiện tại, nguồn thức ăn tự nhiên, các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể làm cơ sở cho quy hoạch nuôi trồng và khai thác thủy sản nhằm góp phần phát triển bền vững và ổn định nguồn thủy sản trong vùng
1.2 Nội dung nghiên cứu
Xác định thành phần các loài tảo hiện diện trong các thủy vực ven sông Tiền
và sông Hậu trong mùa khô
So sánh sự biến động của thành phần các loài tảo trong các thủy vực ven sông Tiền và sông Hậu trong mùa khô
Đánh giá chất lượng nước của các thủy vực thông qua chỉ số đa dạng sinh học
Trang 14Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Những nghiên cứu trước đây:
2.1.1 Nghiên cứu trong nước:
Nghiên cứu về các loài tảo chỉ thị:
Một nghiên cứu về tảo ở khu vực sông Ông Đốc (Cà Mau) ghi nhận vào mùa
mưa xuất hiện loài Desmogonium kuzianum, là loài tảo chỉ thị cho khu vực bị nhiễm
phèn do các khối nước bị đẩy ra từ khu vực nội đồng
Cũng theo Lê Huy Bá và Lâm Minh Triết (2000) trong vùng nước phèn đứng hay trong ruộng, nhất là ruộng lúa bón nhiều phân hữu cơ hay vùng sình lầy nhiều chất
hữu cơ thường bắt gặp giống Oedogigo, Microspora, chúng phát triển trong điều kiện
pH môi trường thấp
Nghiên cứu về sự phát triển của các loại vi tảo:
Theo Đỗ Thị Bích Lộc và ctv (1996) cho biết: vùng cửa sông Mekong và bán
nước, nước bị ô nhiễm bởi thức ăn dư thừa của tôm , kích thích tảo có kích thước nhỏ
như Oscillatoria (tảo lam), Spirogyra (tảo lục) phát triển
Thạnh-Cần Thơ, tảo phát triển với 4 nhóm chính: tảo lục, tảo mắt (Euglenophyta), tảo khuê (Bacillariophyta) và tảo lam trong đó tảo lục (33 - 38,4%) và tảo mắt (24,2 - 36,9%) chiếm ưu thế
Nghiên cứu về thành phần loài:
Nguyễn Văn Tuyên (2003) đã ghi nhận Việt Nam có 614/1274 loài tảo chiếm
Ngoài ra, tỉ lệ tảo mắt trong các vùng ô nhiễm của Việt Nam cũng rất cao , chứng tỏ rằng các thủy vực ô nhiễm này nhiễm phân chuồng , phân bắc rất nặng Điều này còn
có nghĩa là các vi khuẩn Gram âm (Gr-), gây ra các bệnh đường ruột lan truyề n bằng đường nước rất phổ biến
Theo báo cáo kết quả quan trắc về một số yếu tố môi trường cùng thành phần phiêu sinh vật tại 8 điểm quan trắc nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu của Trung tâm
Trang 15Quan trắc, Cảnh báo Môi trường và Phòng ngừa dịch bệnh Thủy sản khu vực Nam Bộ thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (2008) thì có tổng số 194 loài tảo hiện diện thuộc 6 ngành tảo (tảo silic, tảo lục, tảo lam, tảo mắt, tảo hai roi, tảo vàng ánh), trong đó chiếm ưu thế là tảo silic ; xuất hiện các loài tảo có khả năng sinh độc tố
microcystin, Microcystis aeruginosa trong thành phần định tính tại Vĩnh Ngươn (An
thấp tại Mỹ Tho vào đợt khảo sát tháng 04/2008 với mật độ chỉ 1.600 tế bào/lít Riêng
loài Microcystis wesebergii không thấy xuất hiện trở lại
Theo báo cáo kết quả quan trắc về một số yếu tố môi trường cùng thành phần phiêu sinh vật tại 8 điểm quan trắc nước ngọt ven sông Tiền , sông Hậu của Trung tâm Quan trắc, Cảnh báo Môi trường và Phòng ngừa dịch bệnh Thủy sản khu vực Nam Bộ thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II (2009) ghi nhận sự xuất hiện của 2 loài
tảo lam có khả năng tiết độc tố microcystin , Microcystis wesebergii trong thành phần
định tính tại một số trạm Mỹ Tho , Hóa An, Dầu Tiếng và Mộc Hóa (1000 tế bào/lít)
trong đợt tháng 12/2009 và Microcystis aeruginosa tại Vĩnh Ngươn (An Giang) với
mật độ rất cao 2.550.000 tế bào/lít (03/2009)
2.1.2 Những nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về sự phát triển của tảo:
Theo báo cáo của Shillo (1965) khi nghiên cứu ở hồ Canada cho thấy khi bón nitơ từ 7 - 18 g/m3/tuần, hoàn toàn loại được tảo lam, đồng thời tảo lục và tảo khuê sẽ thay thế Tuy nhiên, ở những ao nuôi thủy sản luôn có nồng độ nitơ vô cơ cao sẽ có tảo
lam phát triển mạnh
Theo Lewis (1978), nghiên cứu trên hồ Lanao ở Philippines thấy rằng, khi môi trường có dinh dưỡng thấp, thông thường tảo khuê và lớp tảo giáp trần phát triển trước tiên Khi các chất dinh dưỡng tăng, tiếp nối sẽ là tảo lục đến tảo lam và sau đó là lớp tảo giáp hai roi
Theo nghiên cứu của Sze (1981), trên sông Potomac, quần thể tảo phát triển dọc theo dòng chảy, tảo khuê có kích thước nhỏ với tốc độ sinh trưởng nhanh phát triển ở đầu nguồn nơi có dòng chảy mạnh có ít chất dinh dưỡng, kế tiếp chúng được thay thế bởi nhóm tảo có tốc độ sinh trưởng chậm hơn là tảo khuê kích thước lớn hơn và tảo lục, cuối cùng nơi có dòng chảy chậm mang nhiều chất dinh dưỡng thì tảo lam phát triển
Trang 16Theo Robarts và Zohary (1987), ở nhiệt độ trên 25oC phần lớn tảo lam có tốc
độ phát triển cao nhất, nhiệt độ này cao hơn nhiệt độ tối ưu của nhóm tảo lục và tảo
khuê Ðiều này giải thích tại sao phần lớn tảo lam nở hoa trong suốt mùa hè
Theo Luuc, R M và cộng sự (1999), tảo lam có mối liên hệ chặt chẽ với nồng
độ nitơ và phospho trong thủy vực hơn là các loại tảo khác Ðiều này có nghĩa là chúng có thể cạnh tranh mạnh hơn các nhóm tảo khác ở điều kiện môi trường phospho
và nitơ bị giới hạn Hơn nữa, tảo lam có khả năng dự trữ phospho một cách đáng kể, chúng có thể chứa đủ lượng phospho để thực hiện việc phân chia từ 2 đến 4 tế bào, điều này tương ứng với việc gia tăng sinh khối của chúng gấp 4 - 32 lần Tỉ lệ nitơ: phospho thấp có lẽ thuận lợi cho sự nở hoa của tảo lam
Nghiên cứu về các loài tảo gây độc:
Theo Suvapun (1992) ghi nhận sự nở hoa của Trichodesmium là nguyên nhân
tử vong của tôm nuôi dọc theo bờ tây Vịnh Thái Lan, tác giả đã chứng minh rằng với
mật độ khoảng 700.000 mao tản/lít đủ để giết chết ấu trùng cá Chẽm (Lates calcarifer)
trong vòng 24 giờ Những nghiên cứu gần đây nhất của Long và Carmichael (2002)
cho thấy các loài Trichodesmium sản sinh các độc tố PSP và microcystin Sự nở hoa của Trichodesmium khá phổ biến trong vùng biển cận nhiệt đới và nhiệt đới, sự nở hoa
này có lẽ góp phần đáng kể vào sự cố định đạm trong đại dương (Carpenter và Capone 1992)
Những nghiên cứu về sử dụng tảo làm sinh vật chỉ thị:
(Biological Monitoring Working Party), sử dụng tình trạng số loài và sự phân bố của động vật đáy không xương sống để đánh giá mức độ ô nhiễm của thủy vực
Falme nghiên cứu về tảo làm chỉ thị cho sự ô nhiễm hữu cơ trong m ôi trường nước và thống kê được 21 giống gồm 4 ngành tảo khác nhau bao gồm tảo lục (Chlorophyta, gồm 9 giống), tảo lam (Cyanobacteriophyta, gồm 6 giống), tảo silic (Baccillariophyta, gồm 2 giống) và tảo mắt (Euglenophyta, gồm 4 giống) có ý nghĩa chỉ thị cho ô nhiễm hữu cơ trong thủy vực (trích dẫn bởi Lê Huy Bá, 2000)
Kolkwitz và Masson (1908) dựa vào 300 loài vi khuẩn, tảo và nấm để chia mức
- Ô nhiễm nặng (Polysaprobic): ít loài nhưng số lượng , sinh khối của mỗi loài lớn
Trang 17- Ô nhiễm vừa (Mesosaprobic): đa dạng loài tăng, số lượng, sinh khối mỗi loài ít hơn Có 2 dạng:
Phormidium
• β-mesosaprobic: có thể gặp các giống tảo silic (Navicula, Diatoma,
Melosira…), tảo lục (Scenedesmus, Spirogyra, Cladophora…)
- Ô nhiễm ít (Oligosaprobic): sự đa dạng về loài tương đối cao , nhưng số lượng
và sinh khối không đáng kể
Tại Bắc Mỹ, nhiều nghiên cứu trên bộ Desmidiales thuộc ngành tảo lục cho thấy mối quan hệ mật thiết của các loài này với thủy vực phú dưỡng (olygotrophy), điều kiện môi trường nước hơi acid:
- Ruicka (1977) khẳng định Closterium aciculare thường được tìm thấy rải rác
trong các hồ bị phú dưỡng hóa có sự nở hoa của tảo lam và có pH 6,7 - 8,5 [39]
- Brook (1981) khẳng định tỉ lệ giữa các loài tảo thuộc nhóm Desmid và các loài khác sẽ chỉ thị cho trạng thái dinh dưỡng của các hồ
Cosmarium, Staurastrum tại các hồ phú dưỡng hóa , có thể chỉ thị cho môi trường giàu chất dinh dưỡng
nitrate, nên đòi hỏi môi trường phải có sự hiện diện của ammoniac để tiếp tục phát triển
2.2 Đôi nét về đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Hình thái và sự phân bố
Hình thái tảo rất đa dạng, từ dạng đơn bào, đến rất lớn và phức tạp như Tảo bẹ
khổng lồ và Tảo vòng Các tảo nhỏ (1x1,5 µm) như Micromonas và các loài Chlorella
(5-8 µm) tương đương kích thước vi khuẩn nhưng chúng có nhân Các tảo bẹ lớn chiều dài có thể đạt 60 m các kiểu hình thái cơ thể là đơn bào, tập đoàn, sợi, màng, bản, ống
và cao hơn là kiểu cây có bộ phận giống rễ, thân và lá (Đặng Thị Sy, 2005)
Tảo thủy sinh sống bên trong , bên trên, ở giữa hay sát mặt nước Trong mỗi thủy vực đều có tảo sống phù du (plankton), sống đáy (benthos) và sống ở màng nước (neustonic) Tảo sống trong nước có nồng độ muối dưới 0,5 ‰ gọi là tảo nước ngọt
Trang 18Tảo sống trong nước có độ muối từ 0,5 ‰ - 32 ‰ là tảo nước lợ, còn trong nước có độ muối trên 32 ‰ là tảo nước mặn (Đặng Thị Sy, 2005)
phần tảo trong các thủy vực nước ngọt còn phụ thuộc vào giá trị pH Ngoài ra, phân bố của tảo còn phụ thuộc vào tốc độ dòng chảy , đặc tính nền đáy, vị trí địa lý và khí hậu Ngày nay do tác động mạnh mẽ của con người lên môi trường nước đã làm thay đổi và tạo thành nhiều loại hình thủy vực có đặc tính lý hóa khác nhau và khác xa với đặc tính ban đầu của chúng, do vậy các kiểu khu hệ tảo là cực kỳ phong phú (Đặng Thị Sy, 2005)
2.2.2 Phân loại
Về hệ thống phân loại , cũng có nhiều hệ thống rất khác nhau cho các ngành vi tảo nói riêng và tảo nói chung Trong đó, hệ thống phân loại tảo được sử dụng phổ biến nhất hiện nay chia tảo thành 9 ngành, phân bố chủ yếu ở các thủy vực nước ngọt
và biển:
Trong đó, 2 ngành tảo nâu và tảo đỏ là các loài rong biển , phân bố chủ yếu ngoài biển và có kích thước khá lớn
Ngành tảo vàng và vàng ánh thường gặp trong các thủy vực nước ngọt có độ dinh dưỡng trung bình hay nghèo
Riêng 5 ngành tảo lam , tảo silic, tảo lục, tảo giáp, tảo mắt là những ngành có nhiều loài thường thấy nhất trong thủy vực nội địa và ven biển
2.2.2.1 Tảo lam (Cyanophyta)
Đây là nhóm những sinh vật chưa có cấu trúc nhân điển hình (Prokaryota), có khả năng quang tự dưỡng
Trang 19Cơ sở phân loại tảo lam chủ yểu dựa trên các đặc điểm về hình thái:
nhau, thường có dạng hình cầu hoặc elíp
- Dạng tập đoàn : có nhiều tế bào li ên kết với nhau bằng chất nhầy Hình dạng tập đoàn cũng rất khác nhau: hình cầu, elíp, hình bản, hình khối
- Dạng sợi: có cấu trúc đa bào , gồm nhiều tế bào liên hệ với nhau qua sợi liên bào đi qua các lỗ trên mỗi tế bào Tế bào đầu ngọn thường có hình dạng đặc biệt và khác nhau , thường được dùng là đặc điểm để phân loại các loài Các sợi có thể đứng đơn độc hay kết với nhau thành màng hay váng nhờ chất nhầy
Trước đây, tảo lam được chia thành 3 lớp với nhiều bộ khác nhau , dựa trên các
Anagnostidis (1999), tảo lam được chia thành 4 bộ:
nhầy hoặc không
- Oscillatoriales: gồm các cá thể dạng sợi Các tế bào trên sợi phân chia theo mặt phẳng thẳng góc với chiều dài của sợ i, trên sợi không có tế bào dị hình (heterocyst), tế bào nghỉ (akinetes, spore)
- Nostocales: gồm các cá thể dạng sợi Các tế bào phân chia thẳng góc hay chéo góc với chiều dài của sợi Trên sợi có tế bào dị hình và tế bào nghỉ Sợi không có sự phân nhánh
- Stigonematales: gồm các thể dạng sợi Trên sợi có tế bào dị hình , tế bào nghỉ và có sự phân nhánh thật sự
Tảo lam phân bố chủ yếu ở nước ngọt , tập trung nhiều ở những nơi nhiều chất dinh dưỡng, có dòng chảy yếu
Trang 202.2.2.2 Tảo silic (Bacillarophyta)
Mỗi tế bào có 2 mảnh vỏ silic úp lồng và o nhau như cái hộp , mảnh vỏ trên
(connesting band) Trên vỏ có chạm trổ nhiều vân hoa với hình dạng khác nhau
Tế bào có nhiều dạng khác nhau : hình hộp tròn, hình trụ, hình trứng, hình hộp, hình chữ S, hình que…
Dựa vào cấu trúc vân hoa trên vỏ và hình dạng vỏ để phân biệ t các loài tảo silic khác nhau
Tảo silic được chia làm 2 bộ:
- Tảo silic trung tâm (Centrales): cấu trúc vân hoa trên vỏ sắp xếp theo hình dạng tỏa tia từ 1 điểm hay một số điểm làm trung tâm Tế bào thường có dạng hình bầu dục , hình hộp tròn hay hình ống Trên mặt vỏ tế bào thường
có gai, lông gai hoặc u lồi , không có cấu tạo rãnh dài hay rãnh giả Thể sắc
tố thường có dạng hạt nhỏ và nhiều
- Tảo silic lông chim (Pennales): vân hoa trên mặt vòng vỏ tế bào có dạng đối xứng hai bên theo dọc trục dài hoặc tuyến giữa các mặt vỏ giống như dạng
các loài thuộc bộ này có rãnh dài (raphe) ở mặt vỏ và thường có khả năng di động Sắc tố có dạng tấm, dạng bản, chỉ một số ít có dạng hạt nhỏ
(thường gặp ở tảo silic lông chim), ưa nước có dòng chảy, ít gây bẩn cho môi trường
2.2.2.3 Tảo lục (Chlorophyta)
Tế bào tảo có nhiều dạng rất khác nhau : hình cầu (Chlorella, Chlorococcum), dạng hình quả trứng (Oocystis), dạng hình hạt đậu (Dictyospharium), dạng hình trụ (Hydrodiction), hình chùy (Actinastrum)…
(Scenedesmus, Golenkinia), một số tế bào ở phần cuối thu nhỏ lại có hình kim thẳng
đứng hoặc cong (Ankistrodesmus, Tetradesmus)
Tảo lục chủ yếu phân bố trong các thủy vực nước ngọt có dòng chảy yếu , ưa môi trường bẩn vừa và ít
Trang 212.2.2.4 Tảo mắt (Euglenophyta)
Tảo mắt gồm các cơ thể đơn bào , có nhiều hình dạng khác nhau , phần lớn có hình bầu dục hay hình lá trầu dẹt Đầu tế bào thường lõm vào , hình thành rãnh ngắn hẹp đi tới một không bào dự trữ lớn tạo thành điểm mắt của tế bào
hay cứng và khô ng thể biến đổi hình dạng (Phacus) Trên màng thường có các vân hình xoắn (Phacus) hay các lỗ nhỏ tiết nhầy ra ngoài (Euglena) Chất nguyên sinh
trong tế bào chứa nhiều giọt nước nhỏ và thể màu Thể màu có thể có dạng hìn h lá hoặc hình sao
Tế bào có thể có 1 hay 2 roi tùy theo loài Tế bào có nhân to và rõ rệt , hạch nhân có dạng lưới khi bắt màu nhuộm
Tảo mắt có hai bộ : Euglenales và Pernematales Trong đó , bộ Euglenales thường gặp gồm cá c chi: Euglena (Tảo mắt ), Phacus (Tảo lá trầu ), Trachelomonas
(Tảo hủ) và Lepocinclis (Tảo không biến hình)
Tảo mắt phân bố chủ yếu ở nước ngọt , nơi có dòng chảy yếu , giàu dinh dưỡng hữu cơ
2.2.2.5 Tảo giáp (Dinophyta)
Tảo đơn bà o chuyển động với hai roi Roi của tảo giáp không đều nhau , nằm trong rãnh ngang và rãnh dọc Roi ở rãnh ngang có tác dụng chuyển động vòng quanh, roi ở rãnh dọc làm vận động co rút
Tế bào có màng bằng periplast (Gymnodinium), hoặc bằng cellulose với các mảnh giáp (Peridinium) Mảnh giáp gồm nhiều tấm ghép lại với nhau Trên các tấm có
nhiều lỗ nhỏ làm tăng thêm diện tích bề mặt và dễ trôi nổi Sắc tố có dạng hình bản , trên sắc tố có chứ a hạt tạo bột Không bào co rút liên kết với miệng tế bào , gần rãnh dọc có một điểm mắt
Đặc điểm nhận biết các loài tảo giáp chủ yếu dựa trên cấu tạo vỏ giáp , vị trí các roi, vị trí các mảnh và điểm mắt
Tảo giáp rất nhạy cảm với độ bẩn hữu cơ trong các thủy vực, chúng đòi hỏi một lượng chất hữu cơ nhất định có trong môi trường, vì vậy chúng rất dễ nở hoa trong môi
trường giàu dinh dưỡng, gây nên hiện tượng thủy triều đỏ như Noctiluca scintillans và một số loài thuộc chi Gonyaulax, Gymnodinium
2.2.2.6 Tảo vàng (Xanthophyta)
Trang 22Hình thái tảo vàng rất đa dạng : đơn bào có lông roi , hình amíp, hình hạt, dạng tập đoàn, dạng sợi đơn hay sợi có phân nhánh Các dạng đơn bào chuyển động và các động bào tử của các dạng khác thường có 2 lông roi không đều nhau , lông roi dài thường có lông và dài gấp 4 - 6 lần lông roi ngắn và hướng về phía trước , còn lông roi ngắn trơn nhẵn và hướng xiên so với trục dọc hay hướng hẳn về phía sau Cũng có khi
có hay nhiều lông roi xếp thành từng đôi không đều, đính ở phía cực tế bào
Thành tế bào cấu tạo bởi cellulose và thường nguyên vẹn (trừ chi Tribonema
thành tế bào gồm hai mảnh)
Mỗi tế bào có từ 2 đến 6 sắc lạp hình khay Thành phần sắc tố gồm có chlorophyl a, chlorophyll c, carotenoid, xanthophyl Tản thường có màu vàng lục
Sản phẩm quang hợp không phải là tinh bột mà là leucosin và lipid
Sinh sản sinh dưỡng theo cách phân đôi tế bào hay từ một phần của tập đoàn Sinh sản vô tính bằng các động bào tử được sinh ra từ nang động bào tử
(zoosporangium) Cũng có loài sinh sản vô tính bằng bất động bào tử, bằng tự than bào
tử (autospore) hay bằng bào tử màng dày Sinh sản hữu tính thấy ở Tribonema với hai loại giao tử là bất động và di động ; Botrydium với giao tử chuyển động, đẳng giao hay
dị giao
Tảo vàng thường gặp trong cá c thủy vực nước ngọt có độ dinh dưỡng trung
Sắc tố trong tế bào là chlorophyll a, chlorophyll c, carotenoid và xanthophyl
Do đó màu của tảo thay đổi từ vàng kim , vàng xanh hay nâu xanh Sản phẩm quang hợp tạo thành không phải là tinh bột mà là leucosin
Sinh sản bằng cách phân chia tế bào , sinh sản vô tính bằng động bào tử Chỉ rất
ít loài có sinh sản hữu tính đẳng giao Hợp tử hình thành thường có dạng túi , thành túi silic nên vững chắc, có thể giúp chúng vượt qua các điều kiện bất lợi
Trang 23Phân bố chủ yếu ở các thủy vực nước ngọt chưa bị ô nhiễm có mức dinh dưỡng trung bình hay nghèo , có khí hậu lạnh hay mát Phần lớn đời sống tự dưỡng , phù du, một số loại dị dưỡng, ít gặp các loài sống ở đáy nước
Nhiều loài tảo vàng á nh là thức ăn cho động vật phù du Khi nước nhiều chất hữu cơ hay giàu đạm tảo vàng ánh có thể gây ra hiện tượng “nở hoa nước” , gây mùi tanh thối
2.2.3 Ý nghĩa của tảo đối với sinh môi
Tảo nói chung và vi tảo nói riêng có vai trò rất quan trọng trong tự nhiên và trong đời sống nhân loại Trong các thủy vực nước ngọt tảo cung cấp ôxy và hầu hết thức ăn sơ cấp cho cá và các động vật thủy sinh khác Tảo góp phần bảo vệ môi trường nuôi thủy sản bằng cách tiêu thụ bớt lượng muối khoáng dư thừa Canh tác biển là nhằm trồng và thu hoạch các tảo sinh khối lớn và có hàm lượng dinh dưỡng cao Nhiều tảo biển còn khai thác để sản xuất thạch (agar), alginate, sản phẩm giàu iod Nhiều tảo đơn bào được nuôi trồng công nghiệp để tạo ra những nguồn thức ăn cho ngành nuôi tôm hay thuốc bổ trợ giàu protein, vitamin và vi khoáng dùng cho người Một số
vi tảo được dùng để sản xuất carotenoid, astaxanthin, các acid béo không bão hòa Tảo silic tạo ra các mỏ diatomid, đó là loại nguyên liệu xốp, nhẹ, mịn được dùng trong nhiều ngành công nghiệp (Nguyễn Lân Dũng,
Trong phạm vi đề tài này , ta quan tâm đến vai trò của tảo đối với thiên nhiên , môi trường
- Tảo là sinh vật sản xuất trong các hệ sinh thái thủy vực , do đó là một mắt xích trong sự cân bằng sinh thái môi trường Không có tảo thì không có chu trình vật chất trong thủy vực (Trần Văn Vỹ, 1995)
thức ăn không thể thay thế cho ấu trùng của các loài tôm, cua, cá và thân mềm
Ở Nhật Bản , tiến sĩ Fujinaga (1946) cho rằng tảo Skeletonema costatum và
Chaetoceros sp là thức ăn khởi đầu tiên quyết cho ấu trùng tôm từ giai đoạn Zoea đến Postlava Theo Wyban và Sweeney (1992), sức tiêu thụ thức ăn của tôm trong bể có tảo gấp hai lần trong bể nước sạch, thêm vào đó từ giai đoạn giống trở đi tôm he không bắt được tảo, nhưng chúng cũng là nguồn cung cấp carbon quan trọng thông qua các động vật phiêu sinh (trích dẫn từ Đặng Thị Sy, 2005)
Trang 24• Tốc độ tăng trưởng và sinh sản của tảo rất nhanh (Chlorella tăng trọng gấp đôi
trong 3 giờ, 1 cá thể tảo Silic tạo ra 100 triệu cá thể trong 1 tháng) (Trần Văn
Vỹ, 1995)
aminoacid và có khả năng được hấp thụ đến 60 - 80%; lipid là các acid béo không no, chiếm 20 - 35%; hydrodcarbon chiếm 20 - 40%, là các loại đường đôi dễ tan và động vật dễ hấp thụ ; các vitamin E, K, C, PP, vitamin nhóm B và tiền vitamin A (Trần Văn Vỹ, 1995)
tham gia vào việc cân bằng oxy trong khí quyển thông qua việc tạo oxy trong lớp nước mặt, để trao đổi oxy với không khí (Trần Kiên và Phan Kiên Hồng, 1990)
tự làm sạch thủy vực bị ô nhiễm , gián tiếp tham gia vào việc sử dụng chất hữu cơ, muối kim loại nặng, các chất phóng xạ (Đặng Ngọc Thanh, 2007)
- Bên cạnh những mặt có lợi mà tảo mang lại thì tảo còn có những tác hại như sau:
ưu (nhất là thành phần dinh dưỡng N , P), từ đó gây ra các tác hại cho môi trường và hệ sinh thái thủy vực (Dương Ngọc Dũng, 2007)
thiếu oxy trong các thủy vực về đêm, làm chết cá và các thủy sinh động vật
• Phát triển các quá trình phân giải kị khí, do sự thiếu hụt oxy trong thủy vực, tạo
Dũng, 2007)
• Tiết vào môi trường các độc tố gây tác động xấu lên sự sinh trưởng , phát triển
và sinh sản của các thành phần sinh vật khác nhau trong thủy vực , thậm chí là gây chết hàng loạt (Đặng Ngọc Thùy, 2005)
Trang 25 Độc tố gan (Hepatotoxin): Microcystin (do Microcystis aeruginosa,
M viridis, Anabaena flos-aquae, Oscillatoria agardhii, …),
Nodularin (do Nodularia spumigena)
Anatoxin-a (do Anabaena flos-aquae, một số loài Microcystis, …), Paralytic Shellfish Poison (do Anabaena circinalis, Lyngbya wollei,
…)
toxins): Aplysiatoxins (do Lyngbya majuscule), …
2.2.4 Đặc điểm khu vực khảo sát
An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre,
An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ, chiếm trên 4% diện tích lưu vực và là điểm thoát nước cuối cùng của lưu vực sông Mekong Đồng bằng có hai mặt giáp biển Đông và vịnh Thái Lan dài hơn 600 km, mỗi năm vùng đất bằng
được xem là một vùng đất ngập nước rộng lớn nhất Việt Nam Yếu tố tự nhiên này,
ngoài sự tăng trưởng rất mạnh về canh tác lúa và rau trái , vùng ĐBSCL rất thuận lợi cho việc phát triển thủy sản phong phú, đa dạng với môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn (Lê Anh Tuấn, 2007)
Khi chảy xuống hạ lưu Phnôm Pênh, sông Mekong chia thành 2 nhánh chảy ra biển Đông qua Việt Nam là sông Tiền và sông Hậu Hạ lưu sông Mekong thuộc ven sông Tiền và sông Hậu chiếm diện tích lớn nhất so với ĐBSCL (rộng 1.200.000 ha, chiếm 29,18%), dòng chính hạ lưu sông Mekong tại Việt Nam dài 225km và chảy trên nền đáy bằng phẳng được tạo bởi phù sa có lớp bùn cát lỏng nên dòng chảy dễ bị xói
lở Chính tính chất bằng phẳng của địa hình mà hạ lưu sông Cửu Long chảy qua (độ dốc chỉ đạt 1cm/km) cùng với hình t hái sông nhiều nhánh tạo điều kiện cho sự xâm nhập mặn sâu vào nội địa nhất là vào mùa khô (Đoàn Văn Tiến, 2001)
Chế độ dòng chảy sông Mekong thành 2 mùa rõ rệt là mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11 với lượng dòng chảy chiếm 90% tổng lượng dòng chảy năm và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 Sự khác nhau khá lớn về chế độ thủy văn trong năm đã gây nên tình trạng lũ lụt nặng do dư thừa nước vào mùa lũ còn về mùa cạn do khan hiếm nước
Trang 26ngọt nên đường mực nước trong sông c ó xu hướng phụ thuộc vào mực nước triều Lũ lụt bồi đắp phù sa cho đồng ruộng , mở rộng vùng sinh sống của thủy sinh vật , tạo nên các bãi đẻ mới cho tôm cá ở các vùng kế cận, trong khi đó thủy triều tạo nên vùng sinh cảnh của sông ven biển có sức sản xuất của thủy sinh vật vào loại cao nhất với nhiều đại diện có giá trị kinh tế (Đoàn Văn Tiến, 2001)
Trang 27Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Trường Và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Thủy Sản Khu Vực Nam Bộ, Viện Nghiên Cứu
Nuôi Trồng Thủy Sản II
3.2 Vật liệu
3.2.1 Dụng cụ
- Lame và lamelle
Pha 100 gam KI với 1 lít nước cất (1)
50 gam Iod dạng tinh thể pha vào 100 ml axít acetic (2)
Trộn đều dung dịch (1) và dung dịch (2)
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thời gian và vị trí thu mẫu
Trang 28- Thu mẫu tại 10 điểm trên các thủy vực ven sông Tiền và sông Hậu: các thủy vực từ thượng lưu, trung lưu rồi đến cửa sông, có độ mặn thay đổi
Bảng 3.1 Tọa độ UTM của các điểm thu mẫu
Trang 29Hình 3.1 Vị trí điểm thu mẫu
Vĩnh hòa Vĩnh
Trang 303.3.2 Phương pháp thu mẫu và bảo quản mẫu
3.3.2.1 Mẫu định tính
Mẫu được thu bằng lưới thu mẫu phiêu sinh có kích cỡ mắt lưới là 25 µm Lưới được kéo theo chiều nằm ngang trong khoảng thời gian từ 3 - 5 phút cho đến khi nước trong cốc lưới có màu đặc trưng của tảo Các mẫu thu được cố định bằng dung dịch lugol, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, loại mẫu được ghi trên nhãn
3.3.2.2 Mẫu định lượng
Lọc 60 lít nước mẫu qua luới phiêu sinh sẽ thu được một thể tích khoảng 100
ml cho vào lọ đựng mẫu Sau đó cố định mẫu bằng dung dịch lugol, lắc đều và đánh dấu mẫu Các thông tin về mẫu được ghi như đối với mẫu định tính
3.3.3 Phương pháp phân tích mẫu
Mẫu được phân tích tại phòng thí nghiệm của bộ môn Môi Trường thuộc Trung Tâm Quốc Gia Quan Trắc, Cảnh Báo Môi Trường Và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Thủy Sản Khu Vực Nam Bộ, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II
3.3.3.2 Mẫu định lượng
Mẫu định lượng được cô lại còn 30ml, sau khi để lắng 48 giờ Khuấy đều mẫu
và dùng pipette hút 1 ml cho vào buồng đếm Sedge Wick Rafter Cell có thể tích 1000
µl tương ứng với 1000 ô vuông nhỏ Mật độ tảo sẽ được kiểm tra dưới kính hiển vi quang học có độ phóng đại 100 lần Di chuyển buồng đếm theo một hướng nhất định
và ghi nhận số lượng tế bào của từng loài Từ số lượng tế bào đó, tính được số lượng tế bào trong 1 lít mẫu Mỗi mẫu định lượng được đếm 3 lần
Trang 31Công thức tính:
Số lượng tế bào được tính toán như sau:
n: Số ô đếm a: Hệ số cô đặc
3.3.4 Xác định độ ô nhiễm qua chỉ số đa dạng
định tính và định lượng của quần xã sinh vật cùng với trạng thái môi trường
Trong đó: ni: Số lượng tế bào của loài thứ i
N: Tổng số lượng tế bào các loài trong mẫu nghiên cứu Dựa trên những kết quả giá trị H’, áp dụng thang điểm của Henna & Rya Sunoko,
1995, sẽ cho biết hiện trạng môi trường từng thời điểm nghiên cứu
Bảng 3.2 Thang điểm đánh giá chất lượng nước Henne & Rya Sunoko, 1995
S: Số lượng loài
No/mL= C x106/ (n x a)
Trang 32Dựa trên kết quả Dv tính toán được, đối chiếu với thang giá trị tính đa dạng
điểm nghiên cứu
Bảng 3.3 Thang giá trị tính đa dạng (theo Chen Qing Chao, 1994)
Trong đó: Sc là số loài chung của 2 trạm
Si, Sj là số loài của quần xã thứ i và j
Dựa trên kết quả S tính toán được, đối chiếu với thang điểm đề xuất cho chỉ số tương đồng (Sorensen, 1984), sẽ cho biết mức độ giống nhau vầ thành phần loài vi tảo của các thủy vực tại thời điểm nghiên cứu
Bảng 3.4 Thang điểm đề xuất cho chỉ số tương đồng (Sorensen, 1948)
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Thống kê và xử lý số liệu theo phần mềm Primer 5
j i
C
S S
S S
+
= 2 .
Trang 33Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Cấu trúc quần xã tại các điểm quan trắc trên sông Tiền và sông Hậu
Chlorophyta 19%
Cyanophyta 12%
Euglenophyta 13%
Dinnophyta 8%
Chrysophyta 1%
Bacillariophyta Chlorophyta Cyanophyta Euglenophyta Dinnophyta Chrysophyta
Biểu đồ 4.1 Tỉ lệ phân bố giữa các nhóm vi tảo ghi nhận trong thời gian khảo sát
Nhìn chung, thành phần loài tảo trong cá c thủy vực khảo sát tương đối phong phú với ưu thế là tảo silic (47%), trong đó các nhóm tảo silic có nguồn gốc nước mặn
như Coscinodiscus, Chaetoceros, Biddulphia và Rhizosolenia tập trung ở các điểm thu mẫu cuối nguồn, còn các nhóm tảo có nguồn gốc nước ngọt như Melosira, Navicula và
Nitzschia tập trung ở các điểm đầu nguồn Sự hiện diện phong phú của tảo silic có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo nguồn thức ăn tự nhiên có giá trị dinh dưỡng đối với
cá và các nhóm loài động vậ t thủy sinh trong thủy vực Tảo lục là loài chiếm ưu thế
thứ 2 với tỉ lệ 19%, với sự hiện diện chủ yếu c ủa các nhóm Pediastrum, Scenedesmus
Trang 34Đặc điểm 2 ngành ưu thế là tảo silic và tảo lục phù hợp vớ i báo cáo của Nguyễn Văn Tuyên về cấu trúc khu hệ tảo nội địa Viêt Nam [22]
Tảo lam, tảo mắt và tảo giáp hiện diện trong các thủy vực với thành phần loài chiếm tỉ lệ đáng kể Còn tảo vàng ánh xuất hiện với thành phần loài rất thấp, chỉ nhận diện được 3 loài
Số lượng loài và dưới loài cao nhất ở chi Coscinodiscus (15 loài), tiếp theo là chi Phacus (11 loài), chi Euglena (10 loài), chi Oscillatoria (10 loài), các chi còn lại
có số lượng loài và dưới loài từ 10 trở xuống
Trong đó, thành phần loài tảo trên sông Tiền, sông Hậu qua 2 đợt khảo sát được thống kê trong bảng 4.1
Bảng 4.1 Thành phần loài tảo hiện diện trong các thủy vực ven sông Tiền, sông Hậu
ở đợt 2 đặc biệt trong đó là các loài thuộc ngành tảo lam và tảo mắt
Dựa trên phương pháp tính toán về chỉ số tương đồng Sorensen: ta tính được chỉ số tương đồng giữa quần xã vi tảo trên sông Tiền với sông Hậu là 0,79 Suy ra, thành phần loài tảo trên sông Tiền và sông Hậu là rất tương đồng
Sự tương đồng về thành phần loài vi tảo của các thủy vực ven sông Tiền, sông Hậu theo mặt cắt ngang tương ứng với các vùng nước (Hình 3.1)
Trang 35Bảng 4.2 Chỉ số tương đồng Sorensen tương ứng với các khu vực trong mùa khô
sông Hậu
Cần Thơ trên sông Hậu; ** Thủy vực nước lợ: Mỹ Tho trên sông Tiền, Đại Ngãi trên sông Hậu; *** Thủy vực nước mặn: Cửa Tiểu trên sông Tiền, Mỏ Ó trên sông Hậu
Tại các thủy vực nước ngọt trên cả hai sông có mức độ tương đồng về thành phần loài vi tảo là rất tương đồng, điều này chứng tỏ sự đồng nhất về môi trường của các thủy vực ở đây
Tại các thủy vực nước lợ thì mức độ tương đồng về thành phần loài hiện diện là kém, cho thấy về sự không đồng nhất về môi trường của các thủy vực Cụ thể là sự khác biệt về độ mặn ở hai thủy vực Mỹ Tho và Đại Ngãi
Tại các thủy vực nước mặn trên sông Tiền , sông Hậu thì thành phần loài hiện diện là tương đồng với nhau
Cụ thể về sự biến động về thành phần loài vi tảo, sự khác biệt về thành phần loài tảo giữa các thủy vực ven sông Tiền và sông Hậu được thể hiện qua Biểu đồ 4.2 và 4.3
Diễn biến thành phần loài vi tảo tại thủy vực khảo sát trên sông Tiền
Khi đi từ thượng lưu cho đến vùng hạ lưu của sông Tiền thì cấu trúc về thành phần loài vi tảo có sự thay đổi theo độ mặn
Tại các thủy vực nước ngọt (Vĩnh Hòa, Mỹ Hiệp, Mỹ Thuận) thì thành phần loài tảo khá phong phú, chiếm ưu thế là cả 2 loài tảo silic và tảo lục, tiếp đó là tảo lam
và tảo mắt với tỉ lệ đáng kể, tảo giáp và tảo vàng ánh xuất hiện ít Trong đó, tảo silic là
các loài có nguồn gốc nước ngọt, cụ thể là: Atheya spp., Melosira moliniformis,
Melosira granulata, Melosira varians, Stephanodiscus hantzschii, Synedra ulna, và
các loài thuộc chi Nitzschia
Trang 36Mỹ Tho là thủy vực thuộc khu vực nước lợ nhưng lại nằm giáp với vùng nước ngọt nên cấu trúc thành phần tảo giống với thành phần loài tảo của nước ngọt (tảo silic chiếm ưu thế, tảo lục, tảo lam, tảo mắt có số lượng thành phần loài cao)
Càng về phía hạ lưu do sự xâm mặn của nước biển do đó các loài có nguồn gốc biển (các chi tảo Silic) thay thế dần các loài ở nước ngọt (các loài tảo Mắt, tảo Lục)
Cửa Tiểu là thủy vực cửa sông, có độ mặn tương đối cao, nên thường chỉ có các loài tảo silic và tảo giáp xuất hiện, vì đây là các loài tảo ưa mặn và chịu mặn
Trong đó là sự xuất hiện của các loài tảo silic chịu mặn như Skeletonema costatum,
Dithylium brightwellii và các loài thuộc chi Coscinodiscus; còn tảo giáp là các loài
Ceratium furca, Dinophysis caudata và các loài thuộc chi Protoperidinium như:
Protoperidinium claudicans, Protoperidinium crassipes, Protoperidinium oblongum, Protoperidinium oceanicum, Protoperidinium pallidum, Protoperidinium pellucidum, Protoperidinium pentagonum
Bacillariophyta Chlorophyta Cyanophyta Euglenophyta Dinnophyta Chrysophyta
Biểu đồ 4.2 Diễn biến thành phần loài tảo trong 2 đợt khảo sát tại từng thủy vực trên sông Tiền
Diễn biến thành phần loài vi tảo tại thủy vực khảo sát trên sông Hậu
Tương tự, diễn biến về thành phần loài tảo tương ứng với các thủy vực nước ngọt trên sông Hậu cũng giống với ở các thủy vực nước ngọt sông Tiền Thành phần tảo lục tại các thủy vực nước ngọt ven sông Hậu thì thấp hơn ven sông Tiền
Tại thủy vực Đại Ngãi do nằm sâu trong khu vực nước lợ gần giáp với nước mặn nên thành phần loài tảo khác với tại thủy vực Mỹ Tho (thành phần tảo silic chịu
lợ và mặn chiếm ưu thế cao, các thành phần còn lại xuất hiện ít)
VH: Vĩnh Hòa MH: Mỹ Hiệp MTU: Mỹ Thuận MTO: Mỹ Tho CTU: Cửa Tiểu
Trang 37Điểm khác biệt của thủy vực ven biển Mỏ Ó trên sông Hậu so với thủy vực Cửa Tiểu trên sông Tiền là số lượng loài tảo giáp thấp hơn rất nhiều Do tại thủy vực này lượng tổng chất rắn lơ lửng rất cao dẫn đến việc cản trở quá trình phát triển của nhiều loài tảo
Đối với tảo silic, cũng có sự khác biệt về thành phần loài giữa các thủy vực Ở các thủy vực nước ngọt thì tảo silic thường là những loài thích ứng với độ mặn thấp
(các loài thuộc các giống Melosira, Navicula, Surirella) Ở các thủy vực nước lợ thì
tảo silic thường là những loài có thể chịu mặn và chịu lợ cụ thể như các loài
Bacteriastrum hyalinum, Coscinodiscus asteromphalus, Coscinodiscus lineatus, Coscinodiscus oculus – iridis, Coscinodiscus subtilis, Nitzschia paradoxa, Nitzschia sigma var intercendens, Triceratium favus Còn ở các thủy vực nước mặn ở cửa sông
thì hiện diện chủ yếu các loài thích ứng với độ mặn cao (các loài thuộc các giống
Coscinodiscus, Dithylium, Skeletonema, Thalasionema)
Đối với ngành tảo mắt, các loài hiện diện thuộc các giống Euglena, Phacus,
Strombomonas, Trachelomonas là những loài nước ngọt và ưa môi trường dinh dưỡng nên chỉ được tìm thấy tại các thủy vực nước ngọt Trong đó, xuất hiện số lượng loài nhiều là tại thủy vực An Hòa, Cần Thơ của sông Hậu, và Mỹ Thuận, Mỹ Tho của sông Tiền do tại các thủy vực này có lượng dinh dưỡng cao hơn, nhất là nitơ (NH4+) và phosphor (PO43-)
Bacillariophyta Chlorophyta Cyanophyta Euglenophyta Dinnophyta Chrys ophyta
VN: Vĩnh Ngươn AH: An Hòa CTO: Cần Thơ ĐN: Đại Ngãi MO: MỎ Ó
Biểu đồ 4.3 Diễn biến thành phần loài tảo trong 2 đợt khảo sát tại từng thủy vực trên sông Hậu
Kết quả cụ thể về thành phần các loài tảo xác định được tại 10 thủy vực khảo sát ven sông Tiền và sông Hậu trong 2 đợt khảo sát được thể hiện qua các hình sau (từ Hình 4.4 cho tới Hình 4.24)
Trang 38
Hình 4.4 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta (1) Actinoptychus sp.; (2) Achnanthes sp.; (3) Amphiprora alata; (4) Amphiprora sp.; (5) Amphora sp.; (6) Asterionella japonica; (7) Atheya spp; (8) Bacteriastrum hyalinum;(9) Biddulphia dubia; (10) Biddulphia heteroceros; (11) Biddulphia longicruris; (12) Biddulphia mobiliensis; (13) Biddulphia recticulum; (14) Biddulphia regia; (15) Biddulphia sinensis; (16) Biddulphia sp.; (17) Biddulphia tuomey; (18) Cerataulina compacta
Trang 39
Hình 4.5 Các loài vi tảo xác định được thuộc ngành Bacillariophyta (1) Campylodiscus sp.; (2) Campyloneis sp.; (3) Chaetoceros affinis; (4) Chaetoceros curvisetus; (5)
Chaetoceros decipiens; (6) Chaetoceros lorenzianus; (7) Chaetoceros peruvianus; (8)
Chaetoceros diversus; (9) Chaetoceros sp2.; (10) Cocconeis sp.; (11) Coscinodiscus
asteromphalus; (12) Coscinodiscus bipartitus; (13) Coscinodiscus excentricus