BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC [\ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP RT-PCR TRONG CHẨN ĐOÁN SỐT XUẤT HUYẾT DO V
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Tháng 07/2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
[\
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP RT-PCR TRONG CHẨN ĐOÁN SỐT XUẤT HUYẾT DO VI RÚT DENGUE GÂY RA
TẠI BỆNH VIỆN 175
Hướng dẫn khoa học: Sinh viên thực hiện:
TS.BS VŨ BẢO CHÂU DOANH THỊ NGA
CN CHU THỊ THU HÀ
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả lòng kính trọng và yêu thương, con xin tri ân công ơn sinh thành,
dưỡng dục của ba mẹ - những Người đã cho con được như ngày hôm nay
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu Trường Đại học Nông
Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ nhiệm Bộ môn Công nghệ Sinh học, cùng
toàn thể Quý thầy cô đã tận tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất và truyền đạt kiến thức
trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như thực hiện khóa luận
Tôi xin cảm ơn TS.BS Vũ Bảo Châu và CN Chu Thị Thu Hà đã hết lòng hướng
dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Xin cảm ơn các anh chị, cô chú cán bộ khoa Vi sinh vật – bệnh viện 175 và các
bạn cùng thực tập đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại bệnh
viện
Xin cảm ơn những người bạn đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên, chia sẻ
những buồn vui cùng tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện khóa luận
TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2011
Doanh Thị Nga
Trang 4TÓM TẮT
Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, do vi rút Dengue gây ra, trung gian
truyền bệnh chủ yếu là muỗi Aedes aegypti Dengue là vi rút RNA sợi đơn gồm bốn
týp huyết thanh khác nhau (DEN-1 đến DEN-4) Các týp vi rút Dengue có mối liên quan chặt chẽ thuộc chi Flavivirus, họ Flaviviridae
Trên thế giới, sốt xuất huyết gặp nhiều ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yếu
ở khu vực thành thị và ngoại ô SXHD, một biến chứng nguy hiểm tiềm tàng, lần đầu tiên được ghi nhận trong những năm 1950 tại Philippines và Thái Lan Hiện nay, SXHD đã lan đến hầu hết các nước châu Á và đã trở thành lý do nhập viện hàng đầu
và tử vong ở trẻ em trong khu vực Tỷ lệ mắc bệnh sốt xuất huyết đã tăng đáng kể trên toàn thế giới trong những thập kỷ gần đây Khoảng 2,5 tỉ người (2/5 dân số thế giới) - hiện nay có nguy cơ bị sốt xuất huyết Tuy nhiên, vấn đề chẩn đoán sốt xuất huyết trong thời kỳ đầu của bệnh là khó, lâm sàng chưa rõ ràng, đòi hỏi cận lâm sàng như kỹ thuật RT-PCR sẽ chẩn đoán nhanh, nhạy và đặc hiệu SXHD, định týp vi rút Dengue
Vì vậy đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu phương pháp RT-PCR trong chẩn đoán sốt xuất huyết do vi rút Dengue gây ra tại bệnh viện 175” được tiến hành để tìm hiểu tình hình bệnh sốt xuất huyết trên bệnh nhân tại Bệnh viện 175
Phương pháp nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật RT-PCR để xác định vi rút Dengue trong huyết thanh bệnh nhân, phát hiện sớm và xác định týp vi rút Dengue
Kết quả nghiên cứu: Kỹ thuật RT-PCR xác định được 35% trường hợp dương tính với vi rút Dengue RT-PCR có thể định rõ các týp vi rút DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4 tại bệnh viện 175 RT-PCR có giá trị phát hiện nhanh và chính xác vi rút Dengue trong chẩn đoán sốt xuất huyết
Trang 5
SUMMARY
The title of thesis: “Reaching RT-PCR method in the diagnose of Dengue hemorrhagic fever causing from Dengue virus at Hospital 175”
Dengue fever is an acute infectious disease, caused by Dengue virus, secondary
infections primarily Aedes aegypti, Dengue is a small single-stranded RNA virus
comprising four distinct serotypes (DEN-1 to DEN-4) These closely related serotypes
of the Dengue virus belong to the genus Flavivirus, family Flaviviridae
In the world, Dengue is occur more frequently in tropical and sub-tropical regions, predominantly in urban and semi-urban areas Dengue haemorrhagic fever, a potentially lethal complication, was first recognized in the 1950s during dengue epidemics in the Philippines and Thailand Today DHF affects most Asian countries and has become a leading cause of hospitalization and death among children in the region The incidence of Dengue has grown dramatically around the world in recent decades Some 2.5 billion people (two fifths of the world's population) - are now at risk from Dengue However, The diagnosis of Dengue fever during early days is dificulty, clinical symtoms are not clear, it is required doing some specicial tests to confirm virus Dengue, as RT-PCR test are necessary So reseach “Reaching RT-PCR method in the diagnose of Dengue hemorrhagic fever causing from Dengue virus at Hospital 175” was conducted to understand the situation of Dengue in patients at Hospital 175
Method: This study is applied RT-PCR technic to identify virus Dengue in serum
of the cases Dengue hemorrhagic feverof patient, to identify Dengue virus and determine Dengue type
Rresult: PCR technic is identified 35% of cases positive Dengue virus PCR can identify Dengue type I, type II, type III and type IV at Hospital 175 RT-PCR
RT-is a value quickly and accurately detect Dengue virus in the diagnosRT-is of hemorrhagic fever Dengue
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
SUMMARY iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Giới thiệu về bệnh sốt xuất huyết 3
2.1.1 Biểu hiện lâm sàng 3
2.1.1.1 Sốt Dengue (Dengue cổ điển) 4
2.1.1.2 Sốt xuất huyết huyết Dengue 4
2.1.3 Đường truyền lây 6
2.1.4 Miễn dịch 8
2.1.5 Điều trị và phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết 8
2.2 Tình hình bệnh sốt xuất trên thế giới 9
2.3 Tình hình bệnh sốt xuất huyết ở Việt Nam 11
2.4 Vi rút Dengue 12
2.4.1 Tính chất của vi rút Dengue 12
2.4.2 Cơ chế xâm nhiễm và nhân lên của vi rút Dengue 14
2.4.3 Sức chống chịu và cơ chế sinh bệnh học miễn dịch của vi rút Dengue 15
2.5 Một số phương pháp chẩn đoán bệnh sốt xuất huyết 16
2.5.1 Nuôi cấy vi rút 16
2.5.2 Huyết thanh học 17
Trang 72.5.2.2 Phản ứng hấp phụ miễn dịch gắn men (Enzyme-linked Immuno Sorbent
Asay - MAC ELISA) 17
2.5.3 Phương pháp real time PCR 18
2.6 Phương pháp RT-PCR (Reverse Transcription – Polymerase Chain Reaction) 18
2.6.1.2 Thành phần phản ứng PCR 18
2.6.1.3 Các giai đoạn của phản ứng PCR 19
2.6.2 RT-PCR (Reverse Transcriptase Polymerase Chain Reaction) 19
Chương 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
3.2 Vật liệu và phương pháp 22
3.2.1 Đối tượng và số lượng mẫu 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4 Thiết bị, dụng cụ, vật liệu và hóa chất sử dụng 22
3.4.1 Thiết bị và dụng cụ dùng cho phản ứng RT-PCR 22
3.4.2 Kít và hóa chất ly trích gen - RNA 23
3.4.2.1 Hóa chất để trích biệt RNA từ các bệnh phẩm 23
3.4.2.2 Hóa chất để tổng hợp cDNA với mồi ngẫu nghiên 23
3.4.2.3 Hóa chất để chạy PCR 23
3.4.2.4 Hóa chất để điện di 24
3.5 Phương pháp tiến hành 24
3.5.1 Thu thập và bảo quản mẫu 24
3.5.2 Thực hiện ly trích bộ gen – RNA 24
3.5.3 Thực hiện phản ứng RT-PCR với mẫu đã ly trích 25
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Kết quả và thảo luận 27
4.1.1 Kết quả nghiên cứu RT-PCR 27
4.1.3 Kết quả RT-PCR trong định týp vi rút Dengue 29
4.1.2 Khảo sát tình hình mắc bệnh SXHD theo nhóm tuổi và giới tính 30
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 31
5.1 Kết luận 31
5.2 Đề nghị 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 8dUTP : Deoxyuracil triphosphate
EDTA : Ethylendiaminetetraacid acetic
ELISA : Enzyme-linked Immunosorbent Assay
IL : Interleukin
α-IFN : Interferon alpha
γ-IFN : Interferon gamma
PCR : Polymerase Chain Reaction
RANTES : Regrulated upon activation normal T cell expressed and secreted RNAse : Ribonuclease
RT-PCR : Reverse trancription – Polymerase Chain Reaction
SXHD : Sốt xuất huyết Dengue
sNS1 : Secreted non-structure
Tag : Thermus aquaticus
TBE : Tris – Borate – EDTA
UNG : Uracil – DNA glycosilase
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Thành phần bộ kít trích biệt RNA toàn phần từ các bệnh phẩm 23
Bảng 3.2 Thành phần bộ kít cDNAsynthesis 23
Bảng 3.3 Thành phần bộ kít dùng để điện di 24
Bảng 4.1 Đánh giá khả năng phát hiện bệnh SXHD của RT-PCR và Mac-ELISA 28
Bảng 4.2 Kết quả RT-PCR định týp vi rút Dengue 29
Trang 10
DANH SÁCH CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1 Các biểu hiện lâm sàng do vi rút Dengue gây ra 4
Hình 2.1 Dịch sốt Dengue trên toàn thế giới năm 2006 6
Hình 2.2 Cơ chế lây truyền sốt Dengue 7
Hình 2.3 Đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân mắc Dengue 8
Biểu đồ 2.1 Số lượng ca mắc SD/SXHD hàng năm 9
Hình 2.4 Cấu trúc của vi rút Dengue 13
Hình 2.5 Quá trình xâm nhiễm của Flavivirus 14
Hình 2.6 Các giai đoạn phản ứng của PCR 19
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ mẫu xét nghiệm PCR Dengue dương tính 27
Hình 4.1 Kết quả điện di PCR Dengue 29
Trang 11Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Sốt Dengue (Dengue fever, DF) và sốt xuất huyết Dengue (Dengue hemorrhagic
fever, DHF), được gọi chung là bệnh sốt xuất huyết do vi rút Dengue gây ra (chi Flavivirus, họ Flaviviridae) Vi rút này có 4 týp huyết thanh khác nhau là DEN-1,
DEN-2, DEN-3 và DEN-4
Trong những năm gần đây, bệnh sốt xuất huyết đã trở thành mối lo ngại lớn đối với sức khỏe cộng đồng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Bệnh đã phát triển thành dịch trên 100 quốc gia ở châu Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Tại Việt Nam, bệnh sốt xuất huyết lưu hành có tính địa phương, phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Trung bộ và vùng đồng bằng, duyên hải Bắc bộ Bệnh thường bùng phát, lây lan mạnh vào mùa mưa và ngày càng diễn biến phức tạp gây nên những biến chứng nặng nề, khó kiểm soát Mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp sốt xuất huyết Dengue cần nhập viện, phần lớn trong số đó là trẻ em Tỉ lệ tử vong trung bình vào khoảng 2,5%
Việc chẩn đoán và phát hiện sớm nguyên nhân gây bệnh là hết sức quan trọng và cần thiết Hiện nay, có nhiều phương pháp chẩn đoán vi rút Dengue khác nhau như : nuôi cấy vi rút, huyết thanh học, RT-PCR (reverse transcription-polymerase chain reaction), real-time PCR Tuy nhiên, RT-PCR là kỹ thuật phổ biến có khả năng phát
hiện vi rút Dengue trong giai đoạn sớm của bệnh Đặc biệt, kỹ thuật RT-PCR còn có
khả năng xác định được týp vi rút Dengue, cần thiết trong việc theo dõi về mặt dịch tễ học và quản lý dịch bệnh
Do tính chất nguy hiểm và lây lan của dịch bệnh chúng ta cần phải có phương pháp chẩn đoán nhanh, nhạy và đặc hiệu để từ đó sớm có biện pháp ngăn chặn, phòng chống nhằm giảm thiểu sự lây lan của dịch bệnh gây nguy hại và tổn thất nặng nề cho người bệnh Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài :
“Tìm hiểu phương pháp RT-PCR trong chẩn đoán sốt xuất huyết do vi rút
Dengue gây ra tại bệnh viện 175”, nhằm mục tiêu sau :
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định sự hiện diện của vi rút Dengue trên mẫu huyết thanh bệnh nhân bằng kỹ thuật RT-PCR
- Xác định týp vi rút Dengue thường gặp trên bệnh nhân tại Bệnh viện 175
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát tình hình bệnh sốt xuất huyết qua nghiên cứu sự phân bố bệnh theo giới tính, nhóm tuổi tại bệnh viện 175
- Ứng dụng kỹ thuật RT-PCR để chẩn đoán sớm và xác định týp vi rút Dengue
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Giới thiệu về bệnh sốt xuất huyết
Vi rút Dengue là một loại vi rút gây sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue, trong
đó biểu hiện nặng nhất của sốt xuất huyết Dengue là sốc sốt xuất huyết có thể gây tử vong nhanh chóng cho bệnh nhân Bệnh này có khả năng lan truyền rộng rãi và gây thành dịch Dịch có tính chất chu kì thường 3 - 4 năm xảy ra một lần Phần lớn bệnh sốt xuất huyết do vi rút Dengue xảy ra ở các nước Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương Ở Việt Nam, bệnh sốt xuất huyết xuất hiện vào năm 1960 và số mắc, số chết
do bệnh sốt xuất huyết liên tục gia tăng trong những năm gần đây Đây là một trong những bệnh dịch gây mắc và chết cao nhất cho trẻ em nước ta trong những bệnh truyền nhiễm gây dịch hiện nay
Hai vụ dịch sốt xuất huyết được biết đến 1779 ở Indonesia và Cairo, nhưng đến
1944 mới xác định được vi rút gây bệnh Vi rút Dengue đầu tiên được Sabin tìm ra trong thế chiến II từ những binh lính đóng quân ở Calcuta, New guinea và Hawaii Các
vi rút Dengue đầu tiên được phân lập này gọi là DEN-1 và DEN-2 Sau đó Hammon tìm ra được 2 týp huyết thanh khác đó là DEN-3 và DEN-4 ở Manila vào 1956 Chỉ đến nay có rất nhiều vi rút Dengue được phân lập ở nhiều nơi trên thế giới song tất cả đều nằm trong 4 týp huyết thanh đã phân loại
Trước đây người ta nghi ngờ dịch Dengue lây truyền qua trung gian truyền bệnh, nhưng phải đến năm 1903 Graham mới đưa ra được dẫn chứng cụ thể và năm 1906
Bancroft đã chứng minh véc tơ truyền bệnh là muỗi Aedes aegypti
2.1.1 Biểu hiện lâm sàng
Biểu hiện lâm sàng bệnh Dengue rất thay đổi Nhiễm trùng Dengue bao gồm một khoảng rộng các thể lâm sàng từ không triệu chứng đến có triệu chứng như sốt Dengue
cổ điển, sốt xuất huyết Dengue và hội chứng sốc Dengue
Trang 14Sơ đồ 2.1 Các biểu hiện lâm sàng do vi rút Dengue gây ra
2.1.1.1 Sốt Dengue (Dengue cổ điển)
- Nung bệnh: từ 3-15 ngày
- Khởi phát: những biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào lứa tuổi:
+ Trẻ còn bú và trẻ nhỏ có thể có triệu chứng sốt không đặc hiệu và phát ban + Trẻ lớn và người lớn: sốt cao đột ngột kèm nhức đầu, đau nhức 2 bên hố mắt, đau khắp người, đau cơ, đau khớp, mệt mỏi, chán ăn
- Toàn phát: sốt cao 39 - 400C, kèm theo các triệu chứng:
+ Xung huyết ở cùng mạc mắt, đau nhức quanh nhãn cầu
+ Ðau cơ, đau khớp, mệt mỏi, chán ăn
+ Sưng hạch bạch huyết
+ Phát ban ở ngoài da, ban dát sẩn hoặc ban kiểu sởi
+ Ðôi khi có xuất huyết ở da, niêm mạc Rất hiếm xuất huyết nặng gây tử vong + Số lượng bạch cầu bình thường hoặc hơi hạ, tiểu cầu bình thường
+ Hematocrit bình thường (không có biểu hiện cô đặc máu)
+ Sốt thường trong vòng 2 đến 7 ngày Tiên lượng tốt, không xảy ra sốc
2.1.1.2 Sốt xuất huyết huyết Dengue
Sốt xuất huyết Dengue không sốc:
- Hội chứng nhiễm trùng: sốt cao đột ngột, nhiệt độ 39 - 400C, sốt kéo dài 2 - 7 ngày, sốt kèm các triệu chứng như: mệt mỏi, chán ăn, đau bụng ở thượng vị hoặc hạ
Nhiễm vi rút Dengue
Không có triệu chứng Có triệu chứng
Nhiễm siêu vi Sốt Dengue cổ điển SXHD
Không sốc Có sốcKhông xuất huyết Có xuất huyết
Trang 15sườn phải, đôi khi nôn, gan to: ở trẻ em hay gặp hơn người lớn, đôi khi da xung huyết hoặc có phát ban
- Hội chứng thần kinh: đau người, đau cơ, đau khớp, nhức đầu, đau quanh hố mắt; trẻ em nhỏ sốt cao, đôi khi co giật, hốt hoảng
- Hội chứng xuất huyết: thường xuất hiện vào ngày thứ 2 của bệnh Trường hợp không có xuất huyết thì có dấu hiệu dây thắt dương tính
+ Các biểu hiện xuất huyết tự nhiên hoặc xuất huyết khi tiêm chích sẽ thấy bầm tím quanh nơi tiêm
+ Xuất huyết ngoài da: biểu hiện như các chấm xuất huyết, vết bầm tím, rõ nhất
là xuất huyết ở mặt trước 2 cẳng chân, mặt trong 2 cẳng tay, gan bàn tay, lòng bàn chân
+ Xuất huyết ở niêm mạc: chảy máu cam, chảy máu chân răng, xuất huyết dưới màng tiếp hợp, đi tiểu ra máu, kinh nguyệt kéo dài hoặc xuất hiện kinh nguyệt sớm hơn kỳ hạn
+ Xuất huyết tiêu hóa: nôn ra máu, đi đại tiện ra máu Khi có xuất huyết tiêu hóa nhiều, bệnh thường diễn biến nặng
Sốt xuất huyết Dengue có sốc:
- Khi bị bệnh sốt xuất huyết Dengue cần theo dõi sốc là biến chứng nặng dễ đưa đến tử vong Do đó phải thường xuyên theo dõi huyết áp, mạch, nhiệt độ, hematocrit,
số lượng nước tiểu
- Sốc thường xảy ra vào ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 của bệnh, nhiệt độ hạ xuống đột ngột, da lạnh, tím tái, bệnh nhân vật vã, li bì, đau bụng cấp Sốc xuất hiện nhanh chóng với mạch nhanh, nhỏ khó bắt, da lạnh nhớp mồ hôi, huyết áp hạ, huyết áp tối đa dưới 90 mmHg hoặc huyết áp kẹp (khoảng cách giữa tối đa và tối thiểu (20 mmHg)
- Nếu không xử lý kịp thời, sốc diễn biến rất nhanh với huyết áp tụt xuống nhanh
và đôi khi không đo được do mạch nhỏ khó bắt, bệnh nhân ở trạng thái lơ mơ, thở yếu
- Thời gian sốc thường ngắn và bệnh nhân có thể tử vong trong vòng 12 đến 24 giờ
- Không xử lý nhanh chóng thì sốc kéo dài sẽ gây toan chuyển hóa, giảm natri trong máu và xuất hiện đông máu nội quản rải rác gây xuất huyết trầm trọng ở hệ tiêu hóa và các cơ quan khác Bệnh nhân có thể xuất huyết não đưa đến hôn mê
Trang 16Phân loại mức độ nặng hoặc nhẹ của bệnh Dengue xuất huyết
Theo TCYTTG chia làm 4 mức độ
Dengue xuất huyết không sốc
- Ðộ I: sốt kéo dài 2-7 ngày, kèm theo các dấu hiệu không đặc hiệu (nhức đầu, đau người ), dấu hiệu dây thắt dương tính
- Ðộ II: dấu hiệu như độ I kèm theo xuất huyết ngoài da, niêm mạc, phủ tạng Dengue xuất huyết có sốc
- Ðộ III: có dấu hiệu suy tuần hoàn, huyết áp hạ hoặc kẹp, mạch nhanh yếu, da lạnh, người bứt rứt, vật vã
- Ðộ IV: sốc sâu mạch nhỏ khó bắt, huyết áp không đo được, chân tay lạnh (HA=0)
2.1.3 Đường truyền lây
Người nhiễm vi rút Dengue do muỗi cái thuộc chi Aedes đốt Muỗi Aedes aegypti
là véc tơ truyền bệnh chủ yếu ở hầu hết các khu vực bệnh lưu hành Muỗi Aedes aegypti hoạt động vào ban ngày và chỉ có muỗi cái mới đốt người và truyền bệnh Khi muỗi cái Aedes hút máu bệnh nhân nhiễm vi rút Dengue, vi rút này sẽ ủ bệnh trong cơ
thể muỗi khoảng 8 đến 11 ngày Trong khoảng thời gian sống còn lại sau đó, muỗi có nguy cơ truyền bệnh cho người Khi vi rút vào cơ thể người, chúng tuần hoàn trong
máu từ 2 đến 7 ngày Trong khoảng thời gian này nếu muỗi Aedes hút máu thì vi rút
được truyền cho muỗi
Trang 17Người là ổ chứa vi rút chính Ngoài ra người ta mới phát hiện ở Malaysia có loài
khỉ sống ở các khu rừng nhiệt đới cũng mang vi rút Dengue Aedes aegypti có nguồn
gốc từ châu Phi Loài muỗi này dần dần lan tràn ra hầu hết các khu vực có khí hậu nhiệt đới đầu tiên là nhờ tàu thuyền và sau đó có thể cả máy bay nữa Ngày nay có hai
loài phụ của Aedes aegypti là Aedes aegypti queenslandensis, một dạng hoang dã ở châu Phi không phải là véc tơ truyền bệnh chính, và Aedes aegypti formosus là muỗi
sống ở khu vực đô thị vùng nhiệt đới và là véc tơ truyền bệnh chính Trong quá khứ,
muỗi Aedes aegypti phải nhờ vào các vũng nước mưa để đẻ trứng Tuy nhiên ngày nay
quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ồ ạt đang cung cấp cho muỗi những hồ nước nhân tạo để muỗi đẻ trứng dễ dàng hơn nhiều
Hình 2.2 Cơ chế lây truyền sốt Dengue
(Nguồn: http://www.nature.com/nrmicro/journal/v5/n7/nrmicro1690-f2.jpg)
Aedes albopictus trước đây là véc tơ truyền bệnh chính của Dengue và hiện nay
vẫn còn là véc tơ quan trọng ở châu Á Loài muỗi này gần đây đã lan tràn đến khu vực Trung Mỹ, Hoa Kỳ và tại đây muỗi này là véc tơ truyền bệnh quan trọng thứ hai
Trong khi muỗi Aedes aegypti formosus chủ yếu sống ở khu vực đô thị thì muỗi Aedes albopictus lại cư trú chủ yếu ở vùng nông thôn Muỗi Aedes aegypti không truyền vi rút qua trứng, trong khi muỗi Aedes albopictus thì có khả năng này (dichbenh.com).
Trang 182.1.4 Miễn dịch
Hình 2.3 Đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân mắc Dengue
(Nguồn: http://www.nature.com)
Người bệnh nhiễm vi rút Dengue khi bị muỗi Aedes đốt mang vi rút rồi truyền
cho người lành Khi bị bệnh, cơ thể sẽ xuất hiện kháng thể IgM kháng Dengue tạm thời kéo dài 8 tuần và khi phát hiện kháng thể này trong huyết thanh chứng tỏ bệnh nhân đang bị nhiễm vi rút Dengue cấp tính hoặc vừa mới khỏi bệnh
Kháng thể IgM xuất hiện từ ngày thứ 5 sau khi bệnh khởi phát, sau đó IgM tăng cao nhất trong 2 tuần rồi giảm nhanh sau 2 tuần kế tiếp, sau đó giảm chậm hơn và không còn phát hiện sau 30 – 60 ngày Kháng thể IgG xuất hiện sau đó ở mức tương đối thấp
Kháng thể IgG kháng Dengue xuất hiện muộn hơn và tồn tại nhiều năm hoặc suốt đời và có miễn dịch với týp Dengue gây bệnh Khi bị bệnh do một týp huyết thanh nào
đó của vi rút Dengue thì sẽ có miễn dịch suốt đời với týp Dengue đó, nhưng không có miễn dịch với các týp khác Do đó, nhiễm vi rút Dengue có thể bị mắc tới lần thứ 2 do týp huyết thanh khác gây bệnh
Trong tái nhiễm vi rút Dengue, kháng thể IgG xuất hiện sớm và tăng cao từ khoảng 2 tuần sau khởi bệnh, sau đó giảm dần Còn IgM ở mức tương đối thấp
Có khoảng 5% bệnh nhân tái nhiễm không phát hiện được kháng thể IgM nên chẩn đoán lúc này dựa vào sự gia tăng mạnh của kháng thể IgG
2.1.5 Điều trị và phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ mang tính điều trị triệu chứng và xử
Trang 19Biện pháp có hiệu quả nhất để phòng bệnh là tiêu diệt muỗi Aedes aegypti bằng
mọi phương pháp có thể thực hiện được Do chưa có vắc xin phòng bệnh nên việc giám sát và diệt muỗi là đường lối chính trong phòng chống sốt xuất huyết Dengue hiện nay
- Diệt muỗi Aedes aegypti
+ Giảm nguồn sinh sản của muỗi: loại bỏ các vật dụng chứa nước, đậy kín lu vại chứa nước sinh hoạt, khai thông nước tù đọng…
+ Phun hóa chất diệt muỗi như malathion, baytex…
+ Diệt lăng quăng: nuôi cá bảy màu, cá cảnh…
- Tránh muỗi đốt: ngủ mùng, mặc quần áo dài, đốt nhang muỗi, thường xuyên dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, sạch sẽ
- Tuyên truyền, giáo dục và huấn luyện về phòng chống sốt xuất Dengue: cần huy động, sử dụng các loại phương tiện thông tin, tuyên truyền như tranh ảnh, sách báo, phát thanh, truyền hình… để mọi người cùng tham gia phòng chống sốt xuất huyết
2.2 Tình hình bệnh sốt xuất trên thế giới
Biểu đồ 2.1 Số lượng ca mắc SD/SXHD hàng năm
(Nguồn: World Health Organization, 2008)
Trang 20Thái Lan, Malaixia và Việt Nam là ba nước có dịch lưu hành nặng nhất, đang phát triển rộng ra khắp nước cả các thị trấn và nông thôn Ở Thái Lan và Việt Nam, phổ biến là sốt xuất huyết Dengue, chủ yếu tấn công trẻ em Ở Malaixia, vẫn còn cả Dengue cổ điển và sốt xuất huyết Dengue xen kẽ, tấn công cả trẻ em và người lớn, do dịch đang lan về nông thôn và do dân di chuyển từ nông thôn về thành phố Tại ba nước này, vài năm gần đây dịch phát mạnh nhất từ trước tới nay: như năm 1980 ở Thái Lan, 1982 ở Malaixia, và 1983 ở Việt Nam, với những tỷ lệ mức trên 10 vạn dân là 92,
20 và 260
Tiếp đến Inđônêxia, Mianma, Xingapo và philipin là 4 nơi trước 1975 sốt xuất huyết Dengue cũng lưu hành rất nặng; với tỷ lệ mắc trên 10 vạn dân là 38,3 năm 1973 (Inđônêxia), 22,5 năm 1975 (Mianma), 66 năm 1973 (Xingapo) và 20,8 năm 1966 (Philipin) Hiện tại mức độ lưu hành đang có xu hướng giảm nhẹ ở 4 nước này với tỷ
lệ mắc trên 10 vạn dân năm 1982 còn 7,4 ở Inđonêxia, 4,7 ở Mianma, 8 ở Xingapo và
<1 ở Philipin Tại 4 nước này chủ yếu là sốt xuất huyết Dengue, lứa tuối mắc là trẻ em
<14 tuổi, phổ biến là 4 – 6 tuổi (Inđônêxia, Mianma), 5 – 9 tuổi (Philipin), riêng ở Xingapo, lứa tuổi bệnh nhân thời gian đầu từ 5 – 24 tuổi, đang chuyển dần sang lứa tuổi trẻ em
Tại Ấn Độ và Xri Lanca mặc dù đã có sốt xuất huyết từ 1963 – 1964 (Ấn Độ) và
1966 – 1967 (Xri Lanca), và mặc dù ở các thành phố A.aegypti vẫn nhiều hơn A.albopictus, nhưng tới nay Dengue cổ điển vẫn phổ biến và chiếm ưu thế hơn sốt xuất
huyết Dengue Tại Bangladet và Lào, mặc dù có sốt xuất huyết Dengue từ 1962 và
1968, nhưng tới nay mức độ lưu hành vẫn nhẹ
Riêng Trung Quốc, cho tới 1980, 2 vụ dịch năm 1978 ở Quảng Đông và năm
1980 ở Hải Nam là Dengue cổ điển
Tóm lại tại khu vực Tây Thái Bình Dương, sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue ngày càng trở thành vẫn đề y tế nghiêm trọng ở những nước nhiệt đới Trong 20 năm gần đây, bệnh đã được thông báo ở 29 trong số 37 nước của vùng, như Cambodia, Trung Quốc, Lào, Malaixia, Philipin, Xingapo, Việt Nam và nhiều quần đảo Dịch bệnh đang có xu hướng tăng dần từ 1993 đến 1998 Riêng từ 1993 đến 1997, đã có 552.088 ca bệnh được thông báo trong vùng đó 70% số ca là của Việt Nam Tỷ lệ tử
Trang 211% do hiểu biết về cơ chế sinh bệnh và trình độ cấp cứu đã được cao Tuy vậy, ở vài nước tử vong còn cao hơn 4% (Bùi Đại, 1999)
2.3 Tình hình bệnh sốt xuất huyết ở Việt Nam
Ở Việt Nam từ năm 1913, Gaide đã thông báo về bệnh Dengue cổ điển tại miền Bắc và miền Trung Năm 1929, Boyé có viết về một vụ dịch Dengue cổ điển (1927) tại miền Nam
Năm 1958, lần đầu tiên Chu Văn Tường và cộng sự căn cứ trên một số bệnh nhi ở Bệnh viện Bạch Mai thông báo về một số dịch nhỏ sốt xuất huyết ở Hà Nội Năm
1960, hai dịch nhỏ phát ra ở Cái Bè và An Giang (Nam Việt Nam) được chẩn đoán lâm sàng là sốt xuất huyết Trong năm đó một vụ dịch Dengue cổ điển lớn nhất bùng
ra ở gần hết các tỉnh miền Bắc Tới năm 1963, vụ dịch Dengue xuất huyết đầu tiên được xác định mầm bệnh ở Việt Nam đã nổ ra ở đồng bằng sông Cửu Long Từ đó Dengue xuất huyết tăng dần và lan rộng ra cả nước, từ các thành phố đông dân lan về các thị trấn nông thôn, phát ra 17 thành những vụ dịch lớn dần, lúc đầu cách 5 – 6 năm, về sau mau hơn, vào những năm 1963, 1969, 1973, 1975, 1977, 1979, 1980,
1987
Năm 1969, bùng ra một vụ dịch Dengue xuất huyết đầu tiên ở phía Bắc Năm
1983 là năm có Dengue xuất huyết trên phạm vi cả nước lớn nhất từ trước tới nay với
260 bệnh nhân trên 10 vạn dân Ở Việt Nam, Dengue xuất huyết phân bố không đều: lưu hành nặng và quanh năm ở các tỉnh đồng bằng Nam Bộ và ven biển miền Trung, lưu hành nhưng theo mùa ở những tỉnh đồng bằng sông Hồng, lưu hành nhẹ và ngắn trong vài tháng ở Tây nguyên và một số tỉnh biên giới phía bắc Tới năm 1983 – 1984, Dengue xuất huyết đã có mặt ở hầu hết các tỉnh, trừ vài tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu,… và cũng từ năm 1960 tới nay không thấy xuất hiện dịch Dengue cổ điển Ở các tỉnh phía Nam, Dengue xuất huyết chủ yếu là bệnh của trẻ em lứa tuổi từ 4 – 8 tuổi, ở phía Bắc, người lớn cũng vẫn
bị bệnh, nhưng bệnh gặp nhiều ở trẻ em, nhiều nhất ở lứa tuổi 8 – 15 tuổi Tử vong vì Dengue xuất huyết từ 15,5% - 10,6% những năm 1964 – 1974 đã giảm xuống khoảng 1,20% những năm 1975 – 1983
Từ 1975 – 1987, trong cả nước, dịch Dengue xuất huyết xuất hiện hàng năm, xu hướng tăng dần, phát triển thành dịch lớn vào những năm 1975, 1977, 1979, 1980,